HI. MỘT SÓ LƯU Ý TRONG VIỆC SỬ DỤNG PHƯƠNG TIỆN DẠY HỌC
II. MỘT SỐ HÌNH THỨC TỎ CHỨC DẠY HỌC ĐẠI HỌC CƠ BẢN
1.1. Giờ lên lớp lý thuyết
Giờ lý thuyết là hình thức triển khai đạy học trên lớp với mục đích truyền đạt khối lượng kiến thức lý thuyết để người học lĩnh hội nội dung dạy học một cách
hệ thống, có tính logic thông qua việc trình bày, phân tích, chứng minh, ...của giảng viên. Giờ lý thuyết có chức năng sau:
- Cung cấp cho sinh viên những vấn đề khái quát nhất có tính hệ thống về nội dung môn học, các cách tiếp cận vấn đề và phương pháp nghiên cứu.
- Giúp sinh viên có những định hướng và công cụ trong việc tự nghiên cứu để giải quyết vẫn dé hoc tập.
- Kích thích sinh viên mở rộng và tìm kiếm, khai thác vấn đề mới.
Vì vậy, giảng viên lên lớp giờ lý thuyết phải đảm bảo tốt các yêu cầu về nội
dung dạy học: chính xác khoa học, hệ thống, logic. Trong quá trình giảng dạy cần chỉ ra được mối liên hệ giữa các vấn đề trong nội dung đạy học, kết hợp giữa lý luận với thực tiễn cuộc sống, định hướng cho người học cách nghiên cứu các vẫn đề của môn học.
- Giờ giảng lý thuyết trên lớp được tổ chức theo các bước cơ bản sau:
+ Tổ chức lớp: On định lớp học, chuẩn bị làm việc.
+ Mở bài: Tích cực hoá tri thức làm chỗ dựa cho việc nắm tri thức mới: Giúp
người học tái hiện những tri thức cần thiết, huy động tri thức bằng nhiều hình thức
sinh động (ví dụ: Đưa người học vào tình huống có vấn đề) để thu hút người học vào bài mới một cách tự nhiên.
+ Giảng bài mới: Tổ chức, điều khiển sinh viên chủ động, tích cực, độc lập
nắm tri thức mới.
+ Chốt kiến thức (Củng cố tri thức mới): Giúp sinh viên củng cô tri thức vừa học bằng cách gắn tri thức mới với vốn kinh nghiệm đã có.
+ Tổng kết bài học: Thông báo ngắn gọn những nội dung đã học mà người học cần nắm vững.
+ Hướng dẫn sinh viên tự học, tự nghiên cứu: Dưới dạng câu hỏi, bài tập dựa vào các tài liệu học tập của môn học.
- Ưu điểm:
+ Tạo điều kiện đảo tạo hàng loạt sinh viên đáp ứng yêu cầu dạy học với quy mô lớn.
+ Đảm báo cho sinh viên lĩnh hội tri thức một cách khoa học, hệ thống phù hợp với yêu cầu khoa học sư phạm.
+ Đảm bảo sự thống nhất trong phạm vi toàn quốc về các mặt kế hoạch và nội dung dạy học.
+ Tạo điều kiện thuận lợi cho việc bồi dưỡng tinh thần tập thể cũng như các
phẩm chất đạo đức khác cho sinh viên.
- Nhược điểm
+ Sinh viên không có đủ thời gian để năm vững ngay tri thức và kỹ năng, kỹ xảo.
+ Giảng viên không có điều kiện để chú ý đầy đủ đến đặc điểm nhận thức
riêng của từng sinh viên.
+ Sinh viên không có điều kiện để thoả mãn nhu cầu nhận thức rộng rãi và
sâu sắc những tri thức vượt ra ngoài phạm vi quy định của chương trình.
Mặc dù là hình thức dạy học cơ bản nhất nhưng do có những ưu và nhược điểm trên, nên cần có sự hỗ trợ của các hình thức dạy học khác. |
1.2. Giờ Seminar
Seminar là một trong những hình thức dạy học đại học cơ bản, trong đó đưới sự điều khiển trực tiếp của giảng viên, sinh viên trình bày, thảo luận, tranh luận về
những vấn đề khoa học nhất định. Đây là một hình thức dạy học bắt buộc trong
đào tạo theo tín chỉ, được triển khai sau giờ lên lớp lý thuyết. Nội đung seminar được giảng viên giao trước để sinh viên tìm tòi, nghiên cứu và tranh luận công
khai trên lớp. Giảng viên đóng vai trò là người điều khiến, tổng kết và đánh giá.
Thiếu một trong hai đặc trưng trên, seminar sẽ mất tác dụng vì vậy không nên lẫn lộn seminar với thảo luận, tranh luận không theo chủ đề khoa học hoặc không có giảng viên hướng dẫn.
Các chức năng cơ bản của Seminar:
+ Chức năng nhận thức: Giúp sinh viên mở rộng, đảo sâu tri thức, biết nêu và giải quyết những thắc mắc khoa học có liên quan đến nghề nghiệp trong tương lai nhằm thu được những tri thức mới và phương pháp mới. Thông qua hình thức tổ chức dạy học này, sinh viên phải biết nhận xét, phân tích, đánh giá ý kiến của người
khác. Đồng thời biết bảo vệ ý kiến của bản thân với những luận cứ vững chắc, hình
thành năng lực diễn đạt, phát triển khả năng tư duy độc lập, sáng tạo.
+ Chức năng giáo dục: Giúp sinh viên tự bồi dưỡng niềm tin khoa học, hình thành thói quen làm việc có kế hoạch, nghiêm túc, nâng cao tính trung thực, dũng cảm bảo vệ quan điểm của mình,...từ đó hình thành hứng thú, say mê khoa học.
Đồng thời, sinh viên có thể kiềm chế, khắc phục những nhược điểm của bản thân như rụt rè, thiếu suy nghi,...
+ Chức năng kiểm tra, tự kiểm tra: Giúp giáo viên kiểm tra được trình độ nhận thức của sinh viên để điều chỉnh hoạt động giảng dạy của mình. Đồng thời,
giúp sinh viên tự đánh giá và điều chỉnh bản thân.
Seminar là hình thức tổ chức dạy học có chức năng đặc trưng cơ bản nhất là kiểm tra, tự kiểm tra. Sinh viên phải tham gia đầy đủ với sự chuẩn bị chu đáo đề cương thảo luận hay báo cáo và tích cực tham gia vào việc tranh luận, thảo luận góp phần tìm kiếm chân lý cho những vấn đề khoa học nêu ra. Vì vậy có những yêu cầu đối với giảng viên và sinh viên như sau: Giảng viên là cố vấn, trọng tài khoa học trong tô chức, điều khiển các buổi seminar. Do đó, seminar cần được tổ chức có kế hoạch và có nội dung, cả giảng viên và sinh viên phải có sự chuẩn bị
thật chu đáo. Nội dung triển khai trong giờ seminar cần đảm bảo tính có vấn đè, tính xác thực và tính khả thi, không trùng lặp với những nội dung đã giảng trong giờ lý thuyết. Phương pháp thực hiện cần đa dạng, linh hoạt, tránh nhàm chắn, đơn điệu, kém hứng thú đối với sinh viên.
1.3. Giờ thực hành
Giờ thực hành được triển khai sau giờ học lý thuyết, có ý nghĩa củng có trí thức, hình thành kỹ năng, kỹ xảo nghè nghiệp, xây dựng phẩm chất, đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên. Giờ thực hành được tổ chức dựa trên sự quan sát giảng viên làm mẫu và việc thực hiện tự lực của sinh viên dưới sự hướng dẫn của giảng viên nhằm hoàn thành các bài tập của môn học.
Thông thường, giờ thực hành gồm 3 giai đoạn: Chuẩn bị, thực hiện, kết thúc.
- Giai đoạn chuẩn bị: Giáng viên chọn đề tài thực hành, xác định phương án thực hành, chuẩn bị các thiết bị cần thiết.
- Giai đoạn thực hiện: Gồm 4 bước cơ bản sau:
+ Bước 1: Giảng viên khơi dạy động cơ học tập đối với nội dung môn học và giup sinh viên hiểu được nhiệm vụ học tập.
+ Bước 2: Giảng viên làm mẫu để sinh viên quan sát và tiếp thu.
+ Bước 3: Sinh viên nêu lại và giải thích được cách thực hiện.
+ Bước 4: Sinh viên luyện tập, giảng viên quan sát, đánh giá và điều chỉnh cho sinh viên.
- Giai đoạn kết thúc: Giảng viên phân tích kết quả thực hành so với mục tiêu dạy học đề ra, giải đáp các thắc mắc của sinh viên và củng cố kiến thức thông qua nội dung thực hành.
Thực hành được hiểu là hình thức luyện tập gắn liền với từng bộ môn, từng
chuyên đề. Luyện tập thường được thực hiện với ba mức độ sau:
- Luyện tập tái hiện nhằm củng cô tri thức đã học;
- Luyện tập vận dụng nhằm đi chuyên những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo từ tình huống quen thuộc vào tình huống mới, từ bộ môn này sang bộ môn kia;
- Luyện tập sáng tạo nhằm vận dụng toàn điện những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo đã có vào các tình huống khác nhau, gắn liền với nghề nghiệp tương lai của sinh viên.
Muốn cho các hình thức luyện tập mang lại hiệu quả, cần chú ý một số yêu
cầu sau đây: .
- Luyện tập phải có mục đích, yêu cầu rõ ràng:.
- Phải nắm vững lí thuyết rồi mới luyện tập;
- Phải luyện tập một cách thường xuyên, có hệ thống và kiên trì;
- Phải luyện tập bằng nhiều cách khác nhau, với nhiều dạng khác nhau;
Thực hành theo nghĩa rộng được coi là hình thức thực hành bộ môn (hoặc liên môn), là đi kiến tập, thực tập. Hình thức này giúp cho sinh viên rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo ở trong thực tiến... Tùy theo từng trường, từng khoa, từng bộ môn mà xây dựng nội dung thực hành cho thích hợp.
Qua thực hành, sinh viên có điều kiện thuận lợi để kết hợp học tập với lao động
sản xuất theo ngành nghề, với thực nghiệm và nghiên cứu khoa học. Vì vậy, thực hành bộ môn có tác dụng mở rộng tầm hiểu biết, rèn luyện những kỹ năng, kỹ xảo,
bồi dưỡng hứng thú khoa học cũng như hứng thú nghề nghiệp cho sinh viên.
Hiện nay, do yêu cầu nâng cao chất lượng đào tạo, các trường đại học có xu hướng tăng cường thực hành một cách hợp lí trên cơ sở đảm bảo trình độ lý thuyết cao và hiện đại. Trên thực tế, người ta đã quy định tỉ lệ thông thường giữa số tiết
thực hành trên số tiết lí thuyết là 1 trên 2 (áp dụng cho các hình thức luyện tập);
đồng thời có quy hoạch hợp lí về thực hành bộ môn qua các năm học. Mặt khác, quy định hệ thống các bài thực hành có tính chất luyện tập xây dựng quy chế cho hình thức thực hành bộ môn, trong đó đã quy định chế độ kiểm tra và đánh giá
hoạt động thực hành. Vì vậy, để góp phần nâng cao chất lượng đào tạo ở đại học, mỗi sinh viên cần tham gia đầy đủ các buổi, các đợt thực hành và hoàn thành với chất lượng cao những bài tập đã quy định. Giảng viên có trách nhiệm hướng dẫn
thực hành cho sinh viên và thường xuyên tiến hành kiểm tra, giám sát để có biện pháp điều chỉnh, hỗ trợ sinh viên khi cần thiết.
* Những yêu cẫu đối với hình thức tổ chức dạy học trên lớp
_~ Về mặt tư tưởng: Quá trình dạy học đại học với nhiệm vụ trang bị tri thức,
kỹ năng, kỹ xảo cho sinh viên đã bồi dưỡng cơ sở thế giới quan khoa học và những phẩm chất con người cần có. Vì vậy, thông qua dạy học, sinh viên đã được cung cấp những luận điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí
quen đạo đức. Trong quá trình đạy học cần uốn nắn kịp thời những lệch lạc của sinh viên cũng như những biểu hiện không đúng đắn trong cách nhìn đối với thế
giới tự nhiên, với xã hội, với con người....Nhất thiết phải gắn chặt tác dụng của
giáo dục tư tưởng với nội dung bài học làm cho việc giáo dục tư tưởng được tự nhiên, không gò bó.
- VỀ mặt lý luận dạy học: Cần xây dựng một hệ thống các bài học thuộc nhiều loại khác nhau, tuỳ theo mục tiêu, nhiệm vụ của môn học cũng như từng bài học, có kế hoạch thực hiện nghiêm túc. Đối với mỗi bài học cần xây dựng và thực hiện linh hoạt cấu trúc bài học một cách hợp lý đáp ứng yêu cầu của mục đích, nhiệm vu day hoc nhăm đảm bảo tính quy luật của quá trình dạy học đồng thời đáp ứng được từng tình huống dạy học cụ thể. Cần vận dụng linh hoạt các nguyên tắc, phương pháp, phương tiện dạy học nhằm phát huy cao độ tính tự giác, tích cực, độc lập nhận thức của sinh viên. Các dạng tổ chức dạy học cần được phối hợp một cách hợp lý nhằm quan tâm đến toàn lớp đồng thời quan tâm đến từng sinh viên trong tiến trình dạy học. Việc củng cố, ôn tập kiểm tra cần được tổ chức đúng mức
dưới đạng một bải học riêng biệt hoặc trở thành yếu tố của loại bài khác, tạo điều kiện cho sinh viên khắc sâu những điều đã học một cách kịp thời. Bài học trên lớp vừa
phải là cơ sở cho các hoạt động học tập tiếp theo (tự học, tự nghiên cứu, tham
quan...) vừa phải thực hiện vai trò định hướng đối với chúng.
- Về mặt tâm lý: Giảng viên cần năm được đặc điểm tâm lý chung của cả lớp
và đặc điểm tâm lý của từng sinh viên để có thể đối xử phù hợp và có hiệu quả
day hoc, giáo dục. Cần quan tâm bồi dưỡng cho sinh viên thái độ tích cực học tập (vi du: chú ý trong giờ học). Vì thế, giảng viên cần vận dụng linh hoạt nội dung và.
phương pháp đạy học, tổ chức hợp lý nhịp điệu dạy học, bồi dưỡng hứng thú nhận thức cho sinh viên. Cần có thái độ thân mật nhưng nghiêm túc, chan hoà những không suỗồng sã, vui vẻ nhưng không đùa cợt, tự tin nhưng biết tự chủ... Thái độ, phẩm chất, tác phong của giảng viên có ảnh hưởng rất lớn đến sinh viên trong quá trình dạy học nói chung và quá trình lên lớp nói riêng.
2. Hình thức tổ chức dạy học ngoài giờ lên lớp 2.1. Giờ tự học, tự nghiên cứu
Hoạt động tự học, tự nghiên cứu của sinh viên bao gồm việc chuẩn bị cho các giờ học trên lớp (lý thuyết, seminar, thuc hanh,...) va tw hoc có hướng dan (nghiên cứu, đọc tài liệu, hoàn thành cac bai tap ca nhân, bài tập nhom,...).
Mục tiêu chính của tự học là rèn luyện cho sinh viên khả năng tự nghiên cứu,
học hỏi, khả năng độc lập phát hiện và giải quyết vẫn đề với các nguồn tài liệu,
kinh nghiệm và những kiến thức, kỹ năng được triển khai trên lớp. Việc triển khai tự học có hướng dẫn cho sinh viên cần đám bảo các yêu cầu sau:
- Tinh logic, hệ thống và gắn kết với các hình thức dạy học khác
- - Nội dung có tính thực tiễn cao
- Có các điều kiện, nguồn lực hỗ trợ đầy đủ
-_ Có sự chuẩn bị chu đáo cá từ phía giảng viên lẫn sinh viên Ý nghĩa của tự học
-- Mở rộng, đào sâu, hệ thống hoá và khái quát hoá những điều đã học ở trên
lớp, làm vốn hiểu biết được hoàn thiện.
- Rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo vận dụng những tri thức của mình vào các tình
huống kế cả tình huống nảy sinh từ cuộc sống. |
A 2 Von waht bX ak Ân 22a
- Chuan bị lĩnh hội những tri thức mới bằng cách đọc trước Os nm @- Bì ® am, on E
làm trước câu hỏi, bài tập theo sự chỉ dẫn của giảng viên.
-_ Tự bồi đưỡng tỉnh thần trách nhiệm, tính tự giác độc lập, tính kỷ luật tính tổ chức, tính kế hoạch trong học tập.
-_ Giúp sinh viên tự lực nắm vững tri thức, kỹ năng, kỹ xảo về nghề nghiệp tương lai.
- Tự học không những giúp sinh viên không ngừng nâng cao chất lượng và hiệu quả học tập khi ngồi trên phế nhà trường mà còn rèn luyện năng lực tự học, tự nghiên cứu của người cản bộ tương lai.
Một số nguyên tắc tự học
Thông thường, khi tiến hành hoạt động tự học, sinh viên sẽ gặp khá nhiều mâu thuẫn như mâu thuẫn giữa khối lượng công việc phải hoàn thành và chất
lượng cần đạt được; mâu thuẫn khối lượng, chất lượng công việc với các điều kiện chủ quan (ý thức và trình độ tổ chức tự học, điều kiện sức khỏe...) và các điều
kiện khách quan (tài liệu, điều kiện sinh hoạt...). Dé giải quyết được các mâu thuẫn, đảm bảo được chất lượng tự học, sinh viên phải biết xây dựng và thực hiện kế hoạch cũng như thời gian biểu tự học. Khi xây dựng kế hoạch tự học và nhất là
- Đảm bảo thời gian tự học cho từng môn phủ hợp với khối lượng thông tin tương ứng.
- Đảm bảo xen kẽ, luân phiên một cách hợp lý các dạng tự học, các bộ môn có tính chất khác nhau.
- Đảm bảo xen kẽ, luân phiên một cách hợp lý giữa tự học và nghỉ ngơi.
- Đảm bảo tính mềm dẻo và tính thực tế của kế hoạch và thời gian biểu tự học.
- Thực hiện kế hoạch và thời gian biểu tự học.
Một số điều kiện thực hiện hình thức tự học hiệu quả
- Làm cho sinh viên thấy tam quan trọng của việc tự học, từ đó ý thức va dần
dần có hứng thú và nhu cầu đối với công việc đó...
- Đảm bảo cho sinh viên đủ thời gian tối thiểu để tự học. Cụ thê là các nội
dung yêu cầu cần được tính toán sao cho có thể hoàn thành trong thời gian qui định phù hợp với lịch học cuả sinh viên.
- Các biệt hoá bài tập về nhà trên cơ sở những bải tập cho ca lớp.
- Đảm bảo cho các bài tập có tính đa dạng, bài tập đòi hỏi vận dụng tri thức vào các tình huống quen thuộc, có bài tập đòi hỏi phải vận dụng vào những tỉnh
huống mới nhất là những tình huống gắn với đời sống, gắn với sản xuất đòi hỏi
phải có cách giải quyết sáng tạo.
- Bồi đưỡng cho sinh viên phương pháp học tập.
- Tạo cơ sớ vật chất cho việc tự học, có phương tiện học tập tối thiểu (giáo trình, sách tham khảo...).
- Kiểm tra thường xuyên và nghiêm túc bài làm ở nhà dưới nhiều hình thức.
Đề tăng tính chủ động, tích cực của sinh viên, việc tự học, tự nghiên cứu của
người học là một hoạt động bắt buộc nhằm đảm bảo sự cân đối hợp lý giữa tải
trọng kiến thức và thời gian tiếp xúc trực tiếp giữa giảng viên và người học.
Tự học mang lại những hiệu quả to lớn trong dạy học nói riêng và giáo dục nói chung. Nó phải là hình thức học tập cơ bản và suốt đời của mỗi người. Giảng viên tổ chức tốt hoạt động tự học của sinh viên sẽ làm giảm đi nhịp độ và sức ép
của việc giảng dạy. Họ có điều kiện giải quyết những tải liệu khó với tốc độ chậm
hơn và tăng thời gian cho các hoạt động chủ đạo của sinh viên. Đồng thời tăng