NHIỆM VỤ CỦA QUÁ TRÌNH DẠY HỌC ĐẠI HỌC

Một phần của tài liệu Giáo trình lý luận dạy học đại học (Trang 30 - 35)

QUÁ TRÌNH DẠY HỌC ĐẠI HỌC

IV. NHIỆM VỤ CỦA QUÁ TRÌNH DẠY HỌC ĐẠI HỌC

Nhiệm vụ của quá trình dạy học đại học được xác định dựa trên mục tiêu dạy học của các trường đại học. Có ba nhiệm vụ chủ yếu sau:

1. Dạy nghề ở trình độ cao

Trang bị cho sinh viên hệ thống những tri thức khoa học, kỹ năng, kỹ xảo tuong ung vé mot linh vuc khoa học nhất định ở trình độ hiện đại để sau khi ra trường có khả năng lập nghiệp.

Trong quá trình hình thành và phát triển xã hội, loài người đã thu lượm được những tri thức phản ánh những kinh nghiệm phong phú, sâu sắc trong cuộc đấu tranh với tự nhiên, xã hội và trong tư duy. Những kinh nghiệm này được loài người tích lũy và khái quát dưới dạng các sự kiện khoa học, các khái niệm, các định luật, định lý, tư tưởng khoa học, học thuyết ... mà được gọi là những tri thức khoa học. Những tri thức này luôn được các thế hệ sau

kế thừa một cách có phê phán đồng thời không ngừng phát triển và hoản

thiện trên cơ sở khái quát hóa, hệ thống hóa thành những tri thức của nhân . loại. Những tri thức này vô cùng lớn, mỗi con người trong suốt cuộc đời của mình không sao có thể nắm hết được. Vì vậy, nhiệm vụ của nhà trường là

giúp sinh viên nắm vững hệ thống tri thức mà xã hội loài người đã tích lũy

được. Nắm vững tri thức có nghĩa là hiểu, nhớ và vận dụng được tri thức vào

hoàn cảnh thực tiễn đã biết hoặc trong hoàn cảnh mới.

Hệ thống tri thức bao gồm những sự kiện khoa học; những lý thuyết; những tri thức về phương pháp nhận thức khoa học nói chung: những kinh nghiệm hoạt động sáng tạo; những tri thức đánh giá. 1)Những sự kiện khoa học đó là những tri thức phản ánh sự vật, hiện tượng, quá trình hoạt động đang diễn ra trong cuộc

sống; 2) Những lý thuyết là tri thức phản ánh kết quả của quá trình khái quát hóa,

hệ thống hóa, tổng hợp hóa những tư tưởng, quan điểm của nhân loại về một lĩnh | vực khoa học nào đó; 3) Những tri thức về phương pháp nhận thức khoa học nói chung và phương pháp học tập, nghiên cứu nói riêng là điều kiện để phát triển năng lực hoạt động trí tuệ góp phần nâng cao chất lượng của quá trình dạy học ở đại học;

4) Những kinh nghiệm hoạt động sáng tạo là cơ sở của những hoạt động sáng tạo của con người: phát hiện tình huống mới trong các điều kiện quen thuộc, tự lực

chuyến các tri thức, kỹ năng sang tình huỗng mới; tìm tòi, phát hiện những yếu tố mới nảy sinh; 5)Những tri thức đánh giá là những hiểu biết có liên quan đến khả

năng nhận xét, phân tích, phê phán, đánh giá những quan điểm, học thuyết...Những tri thức này giúp cho sinh viên có cái nhìn bao quát và sâu sắc hơn các vấn đề trong công việc cũng như trong cuộc sống.

Trong nhà trường, hệ thống tri thức sinh viên được cung cấp phân thành bốn nhóm: Tri thức khoa hoc co ban, tri thức khoa học cơ sở, tri thức khoa học chuyên ngành và tri thức công cụ.

- Tri thức khoa học cơ bản là những tri thức tạo nên nền tang dé sinh viên có thể học tốt những tri thức cơ sở và tri thức chuyên ngành của mình.

- Tri thức cơ sở của chuyên ngành bao gồm tri thức đại cương về chuyên ngành được hình thành trên nền táng của tri thức cơ bản đồng thời là chỗ đựa cho tri thức chuyên ngành.

- Tri thức chuyên ngành là tri thức giúp sinh viên có thể nắm vững tri thức trực tiếp có liên quan đến nghề nghiệp tương lai. Nó bao gồm những tri thức về chuyên môn rộng và phần nào về chuyên môn hẹp.

- Tri thức công cụ là tri thức giúp sinh viên nắm được ba loại tri thức trên như Logic hoc, Phương pháp luận nghiên cứu khoa học...

Những tri thức này phản ánh những thành tựu mới nhất về các lĩnh vực khoa

học, phản ánh xu thế phát triển của thời đại và phù hợp với chân lý khách quan. Nó

bao gồm những quan điểm, lý thuyết, phương pháp có tác dụng làm cho thế giới quan của sinh viên được hoàn thiện hơn, năng lực nhận thức phát triển hơn, hoạt động cá nhân phong phú và hiệu quả hơn...

Trên cơ sở trang bị cho sinh viên hệ thống những tri thức, các trường đại học cần rèn luyện cho sinh viên hệ thống những kỹ năng, kỹ xảo cần thiết đáp ứng yêu cầu đào tạo đội ngũ lao động có tri thức, có tay nghề, có năng lực thực hành. Kỹ năng là

khả năng thực hiện có kết quả một hành động nhất định trên cơ sở tri thức có

được. Có thể nói kỹ năng là tri thức trong hành động. Kỹ xảo là khá năng thực hiện một cách tự động hoá một thao tác hay công việc nhất định, nó thể hiện sự thành thạo trong hành động của con người. Tuỳ theo yêu cầu đảo tạo của ngành học mà xác định hệ thống các kỹ năng, kỹ xảo cơ bản và chuyên biệt phù hợp với mục tiêu đào tạo.

2. Dạy phương pháp nhận thức

* Bôi dưỡng cho sinh viên phương pháp luận khoa học, phương pháp nghiên cứu và phương pháp tự học

- Phương pháp luận bao gồm hệ thống các luận điểm cơ bản và hệ thống các phương pháp cụ thể về một lĩnh vực khoa học nhất định. Trong đó các luận điểm mang tính quy luật chỉ đạo hệ thống các phương pháp và ngược lại, hệ thống các phương pháp là cách thức, con đường, phương tiện hoạt động nhằm đạt tới mục đích nghiên cứu nhất định dưới sự chỉ đạo của các luận điểm cơ bản.

- Phương pháp nghiên cứu khoa học là cách thức, con đường

khoa học, phân tích, xử lý chúng làm sáng tỏ vấn đề nghiên cứu để giải quyết nhiệm

vụ nghiên cứu và cuối cùng đạt được mục đích nghiên cứu.

- Phương pháp tự học của sinh viên là cách thức hoạt động tích cực, chủ động, tự lực và sáng tạo nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục đích, nhiệm vụ

học tập, nghiên cứu nhất định. Đó là các cách thức: xây đựng kế hoạch, tổ chức thực hiện kế hoạch và kiểm tra đánh giá kết quả thực hiện kế hoạch thông qua việc

lựa chọn và vận dụng phối hợp các phương pháp, phương tiện dạy học nhằm thực hiện tối ưu mục đích, nhiệm vụ day hoc đại học.

Nhiệm vụ này giúp cho sinh viên nắm vững được một hệ thống kiến thức về

thế giới và cuộc sống loài người, vừa hiểu sâu, hiểu rộng, vừa biết vận dụng chúng vào hoạt động thực tiễn để hình thành kỹ năng hoạt động trí tuệ và thực hành, tạo nên văn hóa cuộc sống.

* Phát triển năng lực hoạt động trí tuệ của sinh viên

Sự phát triển trí tuệ nói chung được đặc trưng bởi sự tích lũy vốn tri thức và

tích lũy các thao tác trí tuệ thành thạo, vững chắc. Đó là quá trình chuyển biến về

chất lượng trong quá trình nhận thức của sinh viên .

Năng lực hoạt động trí tuệ được thể hiện ở năng lực vận dụng các thao tác trí tuệ. Đặc biệt là các thao tác tư duy: Phân tích, tổng hợp, so sánh, trừu tượng hóa, khái quát hóa.

Quá trình chiếm lĩnh tri thức diễn ra một cách thông nhất giữa một bên là

những tri thức với tư cách là cái được phản ánh với một bên là các thao tác trí tuệ

với tư cách là phương thức phản ánh. Hệ thống tri thức mà sinh viên nắm được là

nhờ các thao tác trí tuệ và ngược lại, chính các thao tác trí tuệ được hình thành, phát triển trong quá trình chiếm lĩnh tri thức, rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo.

Trong quá trình dạy học ở đại học dưới sự tô chức, điều khiển của giảng viên, sinh viên không ngừng phát huy tính tích cực nhận thức, tự rèn luyện các thao tác

trí tuệ và dần hình thành các phẩm chất hoạt động trí tuệ.

- Tính định hướng: Sinh viên nhanh chóng, xác định chính xác đối tượng của hoạt động trí tuệ, mục đích phải đạt tới và con đường tối ưu để đạt được mục đích đó.

- Bề rộng của hoạt động trí tuệ: Sinh viên có thể tiến hành hoạt động này

trong nhiều lĩnh vực, nhất là những lĩnh vực có liên quan mật thiết với nhau. Đáp

ứng được mong muốn hiểu biết của sinh viên với các vấn đề có liên quan đến nội dung, chương trình dạy học trong phạm vi nhà trường.

- Chiều sâu của trí tuệ: Sinh viên tiến hảnh hoạt động trí tuệ theo hướng di vào năm được ngày càng sâu sắc bản chất của sự vật, hiện tượng trong khách quan. Nó giúp cho sinh viên phân biệt được cái bản chất với cái không bản chất;

bản chất với hiện tượng; nhanh chóng năm bắt được các qui luật của hiện thực

khách quan; đề phòng hoạt động trí tuệ nông cạn, hình thức chủ nghĩa... để có thé

chiếm lĩnh nội dung dạy học một cách có chất lượng và hiệu quả.

- Tính linh hoạt: Sinh viên tiễn hành hoạt động trí tuệ không những nhanh chóng mà còn có khả năng di chuyển hoạt động trí tuệ từ tình huống này sang tinh huống kia một cách sáng tạo. Giúp cho sinh viên thích ứng với các tình huống nhận thức khác nhau, đảm bảo cho việc năm tri thức mới một cách nhanh chóng, hiệu quả hơn.

- Tính mềm dẻo: Hoạt động trí tuệ đặc biệt là hoạt động tư duy của sinh viên được tiến hành một cách linh hoạt theo các hướng xuôi, ngược khác nhau. Nó giúp cho sinh

viên dễ dàng thích ứng với các chiều hướng đối ngược với nhau.

- Tính độc lập: Sinh viên tự mình phát hiện được vấn đề, tự mình đề xuất cách giải quyết và tự mình giải quyết được. Nó giúp cho họ chủ động trong hoạt động nhận thức.

- Tính nhất quan của hoạt động trí tuệ phản anh tính lôgic của hoạt động nhận thức, đảm bảo được sự thống nhất của tư tưởng chỉ đạo từ đầu đến cuối không có mâu thuẫn.

- Tính phê phán của hoạt động trí tuệ: Sinh viên biết phân tích, đánh giá các ý kiến, quan điểm, lý thuyết, phương pháp của người khác đồng thời đưa ra được ý kiến của mình và bảo vệ được ý kiến của mình.

- Tính khái quát: Giải quyết mỗi loại nhiệm vụ nhận thức nhất định, sinh viên sẽ hình thành mô hình giải quyết khái quát tương ứng. Từ mô hình giải quyết khái

quát này sinh viên có thê giải quyết những nhiệm vụ cùng loại. Nhờ đó, sinh viên

dễ dàng thích ứng với việc giải quyết các nhiệm vụ nhận thức tương tự.

Tất cả các phẩm chất trí tuệ này có mối quan hệ với nhau và thống nhất đảm bảo cho hoạt động nhận thức đạt kết quả cao nhất với sự tốn kém ít nhất về sức

lực, thời gian trong những hoàn cảnh và điều kiện nhất định.

Quá trình dạy học được tổ chức đúng đắn sẽ thúc đây sự phát triển năng lực và các phẩm chất trí tuệ của sinh viên và ngược lại sự phát triển đó sẽ tạo điều kiện cho hoạt động dạy học đạt chất lượng cao hơn. Sinh viên muốn hoàn thành nhiệm vụ nhận thức trong một giai đoạn nào đó của quá trình đào tạo thì phải đựa vào vốn tri thức đã có và làm nó phong phú thêm, hoàn thiện hơn. Mặt khác, trong quá trình đó, các phẩm chất và năng lực hoạt động trí tuệ nói chung, trình độ tư duy nghề nghiệp nói riêng cũng không ngừng nâng cao và hoàn thiện. Như thế, những tri thức

mới, trình độ phát triển mới của hoạt động trí tuệ lại là cơ sở mới, tiền đề mới cho

giai đoạn dạy học tiếp theo ở mức độ cao hơn.

3. Hình thành thế giới quan khoa học, nhân sinh quan và những phẩm chất đạo đức nói chung và đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên

Trên cơ sở giúp sinh viên năm vững hệ thống tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, phát

triển các phẩm chất trí tuệ mà hình thành cho họ cơ sở thế giới quan khoa học,

những phẩm chất đạo đức nghề nghiệp nói riêng và phẩm chất nhân cách nói chung theo mục đích giáo đục đã đề ra.

Thế giới quan là hệ thống quan điểm về tự nhiên, xã hội và tư duy con người.

Thế giới quan qui định xu hướng chính trị, tư tưởng, đạo đức và các phẩm chất nhân cach; chi phối cách nhìn nhận, thái độ và hành động của mỗi cá nhân. Trong xã hội có giai cấp, thế giới quan mang tính giai cấp. Thế giới quan của giai cấp công nhân là thế giới quan khoa học nhất, tiến bộ nhất. Chính vì vậy, trong quá trình dạy học phải quan tâm đầy đủ đến việc giáo dục cho sinh viên cơ sở thế giới quan khoa học để giúp cho họ có suy nghĩ đúng, thái độ đúng, hành động đúng.

Cùng với việc hình thành thế giới quan khoa học còn bồi dưỡng cho sinh viên những phẩm chất theo mục đích giáo dục đã để ra, như làm tròn trách nhiệm của người công dân, yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, năng động, chủ động, sáng tạo, v.v... thông qua nội dung, phương pháp, hình thức tô chức dạy học ở đại học.

Dạy học ở đại học không chỉ chú ý đến kiến thức khoa học, mà còn chú ý đến kiến thức đời thường, kiến thức xã hội. Dạy học không chỉ chú ý đến

phương pháp học tập, phương pháp lao động mà còn chú ý đến phương pháp làm người. Sinh viên không chỉ học chữ mà còn học làm người, có nhân cách, có phẩm giá, có ích cho xã hội. Giáo dục nhân cách là một nhiệm vụ quan trọng của quá trình day hoc dai hoc, là mục tiêu của quá trình dạy học đại học.

Ba nhiệm vụ của quá trình dạy học gắn bó chặt chẽ, tác động biện chứng với

nhau và cùng phát triển. Mỗi nhiệm vụ là tiền đề của nhiệm vụ khác, nhiệm vụ này là

kết quả của nhiệm vụ kia. Trang bị kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo là cơ sở cho sự phát triển trí tuệ và giáo dục sinh viên. Sự phát triển trí tuệ của sinh viên là kết quả của

trang bị kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo và là điều kiện để giáo dục sinh viên tốt hơn.

Thực hiện đồng thời cả ba nhiệm vụ này sẽ tạo ra sản phẩm cuối cùng của quá trình dạy học. Đó chính là nhân cách sinh viên đáp ứng yêu cầu của xã hội.

Một phần của tài liệu Giáo trình lý luận dạy học đại học (Trang 30 - 35)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(193 trang)