HÌNH THỨC TỎ CHỨC DẠY HỌC HIỆN ĐẠI (DỰA TREN NEN TANG CONG NGHE)

Một phần của tài liệu Giáo trình lý luận dạy học đại học (Trang 142 - 149)

HI. MỘT SÓ LƯU Ý TRONG VIỆC SỬ DỤNG PHƯƠNG TIỆN DẠY HỌC

II. HÌNH THỨC TỎ CHỨC DẠY HỌC HIỆN ĐẠI (DỰA TREN NEN TANG CONG NGHE)

1. Hình thức dạy học trực tuyến (kLearning)

Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 Hội nghị Trung ương 8 khóa XI

về đối mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đã khơi nguồn đôi mới và mở ra

cơ hội mới cho sự phát triển giáo đục Việt Nam khởi đầu bằng những đối mới tư

duy về quản lý, xác định quan điểm chỉ đạo là: “Đổi mới hệ thống giáo dục theo hướng mở, linh hoạt, liên thông giữa các bậc học, trình độ và giữa các phương thức giáo dục, đào tạo. Chuẩn hóa, hiện đại hóa giao duc va dao tao” [19]. Thi nhất, xây dựng nên giáo dục mở Việt Nam tiên tiến theo yêu cầu đặt ra của Nghị quyết số 29-NQ/TW và hướng đến tiệm cận nền giáo dục mở tiên tiến của các nước trong khu vực. 7ệ hai, phỏt triển nền giỏo dục mở bỡnh đẳng, tạo cơ hội học tập cho tất cả mọi người, khơi đậy tài năng của sinh viên; xây đựng và phát triển hệ thống công nghệ thông tin hỗ trợ việc học tập và tra cứu... Bởi vậy, dạy

học trực tuyến theo hướng mở, linh hoạt là phù hợp với xu thế thời đại.

Tính mở trong dạy học trực tuyến được hiểu theo nhiều cách khác nhau. Theo 'Walker, khái niệm “mở” trong dạy học trực tuyến là thuận tiện, hiệu quả, đủ khả năng đạt được, bền vững và có sẵn với mọi người học và người dạy [37]. Tác giá Downes cho rang: Tinh mé bao gém: có thể truy cập, thích hợp, được công nhận,

giá cả hợp lý [36]. Ngoài những thuộc tính trên, tính mở thường được hiểu là nguồn lực sẵn có cho mọi người tái sử dụng trong những bối cảnh khác nhau. Tác giả Wiley đã mô tả 4 đặc tính mở với đại diện của bốn chữ “R”. Mỗi chữ “R” đại diện cho từng mức độ tăng dần tính mở như sau: Reuse (Tái sử dụng): Là mức độ

cơ bản nhất của tính mở. Người dạy và người học có thể tìm kiếm và chủ động lưu lại những tài liệu mà họ thấy phù hợp với nhu cầu của bản thân để sử dụng khi

cần thiết. Redistribute (Tái phân phối): Người dạy và người học có thể chia sẻ và nhận chia sẻ với đồng nghiệp và các học viên khác. Revise (Chỉnh sửa lại): Người dạy và người học có thê chọn lọc hay chuyển ngữ một cuốn sách hay bài báo có

giá trị cho bài giảng của mình. Remix (Kết hợp): Sự kết hợp từ 2 hoặc nhiều

nguồn khác nhau để tạo thành một nguồn mới [38]. Với các mức độ về tính mở trong đào tạo trực tuyến, các trường đại học có nhiều hơn cơ hội để tiếp cận các nguồn lực giáo dục từ các quốc gia phát triển. Giảng viên sẽ có cơ hội tìm kiếm, sử dụng và phân phối các nguồn lực đó trong quá trình giảng đạy mà không bị hạn chế quá nhiều về mặt bản quyền. Có thê thấy, tính mở được hiểu ở các khía cạnh sau: 1) La tinh cong khai và tự do sử dung nguồn tài liệu nhằm thúc đây việc lĩnh hội nguồn tri thức diễn ra nhanh hơn, xoá bỏ nhiều rào cản trong học tập và nghiên cứu; 2) Chính sách tham gia không giới hạn của người học, không cần chứng nhận kiến thức hay bằng cấp mới có thể tham gia khoá học; 3) Nội dung của khoá học có thể tái sử dụng trong mục đích học tập và giảng dạy. Tính mở được hiểu là nguồn lực sẵn có cho mọi người tái sử dụng trong những bối cảnh khác nhau. Người học có nhiều hơn cơ hội để tiếp cận các nguồn lực giáo dục.

Chẳng hạn thông qua nguồn học liệu mở, người học có thê tiếp cận các thông tin với sự đa dạng các hình thức trình bay, da dang tac gia, nguồn thông tin,...

Việc học tập sẽ trở nên đễ dàng và thuận tiện khi có các công cụ học tập trực tuyến hỗ trợ. Sinh viên học cách thích nghi với các công cụ hỗ trợ học tập phù hợp với khả năng của mỗi cá nhân. Ngày nay, không chỉ sử dụng máy tính cho dạy học trực tuyến mà đã tiến đến bước sử dụng Mobil E-Learning. Thiết bị mobile sẽ làm giản tiện hơn việc học trực tuyến va sé lam tang sé lượng người

học lên. Đối với sinh viên, Mobil E- Learning nghĩa là sự kết nỗi và linh hoạt

được tăng cường, đồng nghĩa với tính linh hoạt của đạy học trực tuyến càng được tăng lên, sinh viên có thể học mọi lúc, mọi nơi, ngay cả trong thời gian đi chuyển đến nơi làm việc của họ bởi chỉ đơn giản là có một chiếc smartphone bên cạnh.

Dạy học trực tuyến tận dụng được lợi thế của mạng Internet, lợi thế của sự mô

phỏng như tạo lớp học, danh sách, xây dựng thời khóa biểu, phân bổ giờ học,

tương tác và thảo luận, học liệu. Đồng thời, đội ngũ giảng viên tham gia giảng dạy:

cũng được lựa chọn kỹ lưỡng để bảo đảm chuyên tải bài giảng với chất lượng cao

nhất, hấp dẫn nhất đối với sinh viên. Tính chất chuyên sâu của bài giảng và tính

chất chuyên nghiệp của kỹ năng giảng dạy được tăng cường. Nếu chương trình được tiêu chuẩn hóa thành các cấu phần và đơn nguyên hoàn chỉnh, được ghi âm và ghi hình để sử dụng ở nhiều khóa học thì giảng viên có chất lượng bài giảng tốt nhất và tính chuyên nghiệp cao nhất sẽ được lựa chọn. Việc làm này tạo điều kiện

để tối đa hóa lợi ích sinh viên. Nếu có thé, bài giảng của các giảng viên đầu ngành

về môn học hoặc học phần được lựa chọn làm mẫu sẽ được sao chép, mô phỏng và áp dụng đại trà.

Trong dạy học trực tuyến, tính mở, linh hoạt được thể hiện ở các nội dung cơ bản sau:

Thiết kế chương trình đào tạo, bối dưỡng

Giảng viên là người chịu trách nhiệm thiết kế chương trình đào tạo, bồi dưỡng với sự hỗ trợ của các chuyên viên công nghệ. Các công đoạn tiến hành xây dựng chương trình đảo tạo, bồi dưỡng bao gồm: 1) Khảo sát, lên kế hoạch cho khoá học dam bao tinh kha thi và thu hút sinh viên đăng ký tham gia; 2) Tiến hành thu thập các tài nguyên học tập (sách, tài liệu tham khảo, các tài nguyên khác hỗ trợ cho môn học); 3) Biên soạn đề cương và xây dựng hướng dẫn dạy học dựa trên công nghệ đa phương tiện; 4) Xây dựng các video bài giảng có sự hỗ trợ của studio xử lý phim ảnh;

5) Hoạch định hoạt động của khoá học (Cách thức sinh viên tương tác học tập, sử dụng phương tiện học tập, hình thức kiểm tra, đánh giá,...).

Một khoá học sau khi được thiết kế xong sẽ được triển khai trong hệ thống.

Khoá học sẽ được phổ biến trên các phương tiện truyền thông nhằm chiêu sinh sinh viên. Sẽ có bộ phận đảm trách nhiệm vụ giao tiếp với sinh viên, cho phép ghi danh và báo cáo tiến trình học tập. Có bộ phận đảm nhiệm việc quản lý hồ sơ sinh viên, các khoá học trong hệ thống và đảm bảo sao cho các khoá học được tổ chức và vận hành song song không xảy ra tình trạng chồng chéo và tuân thủ theo kế hoạch của khoá học. Một thành phần rất quan trọng trong hệ thống đạy học trực tuyến là quản lý học tập, có vai trò sau: 1) Đảm bảo tính khả dụng của các tài nguyên học liệu có thể truy xuất bởi các sinh viên bao gồm: đề cương, sách, bài

giảng, video bài giảng và các tài nguyên đa phương tiện khác; 2) Cung cấp cơ chế tương tác trong cộng đồng học tập: sử dụng các phần mềm học tập tương tác, diễn đàn trao đổi môn học và các trang mạng xã hội: Facebook, WIkl,...; 3) Đảm nhiệm công tác kiểm tra, đánh giá chất lượng học tập của sinh viên trong suốt quá trình dạy học.

Hoạt động chính của sinh viên: 1) Tu hoc, tự nghiên cứu: Sinh viên hoc qua tài liệu hướng dẫn tự học (dạng texf), bài giảng đa phương tiện (slide, video, audio). Việc theo dõi bài giảng của sinh viên sẽ được hệ thống ghi nhận và được tính vào phần đánh giá điểm chuyên cần của học viên; 2) Trao đổi, thảo luận, giải đáp: Bao gồm các hoạt động tương tác qua hệ thống công nghệ thông tin hễ trợ, email, điện thoại, điễn đàn trao đổi...; 3) Luyện tập: sinh viên sẽ có bài luyện tập

dưới dạng trắc nghiệm, tự luận, tự luận có giải thích... để ôn tập, kiểm tra lại phần kiến thức đã học; 4) Kiểm tra, đánh giá: Trong thời gian diễn ra lớp học, luôn có

một hệ thống kiểm tra, đánh giá cho cả giảng viên và sinh viên. Học viên sẽ có các bài kiểm tra tính điểm đưới dạng trắc nghiệm, tự luận, bài tập nhóm,... kết quả được tổng hợp để tính điểm cho sinh viên.

Trong suốt quá trình học trực tuyến, học viên có thể học theo thời gian biểu mà mình định ra, không vị gò bó bởi thời gian và không gian lớp học mặc dù vẫn đang ở trong lớp học “ảo”. Sinh viên có thê tự đỉnh hướng cho mình bằng cách chọn khoá học phù hợp nhất với trình độ, sở thích, mục tiêu của bản thân. Đồng

thời có thể tự điều chỉnh nhịp điệu khoá học nhanh chậm theo thời gian mình sắp

xếp hay do khả năng tiếp thu của bản thân.

Hình thành kho học liệu

“Học liệu điện tử là tập hợp các phương tiện điện tử phục vụ dạy và học, bao gồm: sách giáo trình, sách giáo khoa, tài liệu tham khảo, bài kiểm tra đánh giá, bản trình chiếu, bảng đữ liệu, các tệp âm thanh, hình ảnh, video, bài giảng điện tử, phầm mềm đạy học, thí nghiệm áo,...” [27].

Học liệu điện tử có 2 tính năng: 1) Tính năng điện tử: Học liệu điện tử có thé hoạt động được trên môi trường có mmternet hoặc không có internet. Co thé xem học liệu điện tử trên máy tinh hoặc các thiết bị đọc học liệu điện tử. Học liệu điện tử có khả năng tích hợp các loại hình công nghệ tiên tiến, hiện đại của công nghệ thông tin nhằm truyền tải thông tin, dạy học và nghiên cứu được tốt nhất; 2) Tính

năng tương tác, phản hồi: Học liệu điện tử đảm bảo mối liên hệ tương tác, có hội

thoại hoặc có phản hồi- giao tiếp qua lại giữa học liệu điện tử với người dùng một cach kip thoi.

Hệ thống học liệu cần phải được xây dựng đa dạng, đáp ứng các yêu cầu, hình thức khác nhau của sinh viên và sử dụng kho học liệu dùng chung.

Yêu cầu đối với học liệu điện tử:

- Đảm bảo tính định hướng vào việc thực hiện mục tiêu bài học: Mỗi bài học trong học liệu điện tử cần định hướng vào các mục tiêu chuẩn về kiến thức, kỹ năng và thải độ. Chú ý xác định trọng tâm của bài học.

- Đảm bảo tính chính xác, khoa học, đầy đủ và súc tích của nội dung: Bài học cần có cầu trúc rõ ràng, có sự liên kết giữa các phần; từ ngữ dễ hiểu, chính xác về mặt khoa học; hệ thông bài tập phong phú, đa dạng, đảm bảo tính phù hợp với học viên.

- Đảm bảo tính sư phạm: Bài học tập trung được sự chú ý của sinh viên; Sử dụng màu sắc, hình ảnh hài hoà, phủ hợp với sinh viên; các trang trình chiếu, các phương tiện sử dụng phải phù hợp với mục đích dạy và học.

- Đảm bảo được tính thắm mỹ, khoa học về hình thức trình bảy: Màu sắc hình nền phông chữ, cỡ chữ phù hợp; Giao diện đẹp, thân thiện, thu hút sự chú ý của người học.

- Học liệu điện tử cần có sự hướng dẫn sử dụng một cách chỉ tiết kèm theo

những phần mềm hỗ trợ để đọc các file: hình ảnh, âm thanh,...

- Dễ dàng sử dụng trên máy tính hoặc các thiết bị đọc thông thường: Phần mềm điều khiển hoạt động học liệu điện tử phải tương thích với đa số trình duyệt web hiện có.

- Đảm bảo tính tương tác cao: sinh viên có thể tương tác trực tiếp với máy

tính và nhận được sự phản hồi từ máy tính một cách nhanh chóng và kịp thời; Bài tập đa dạng dưới nhiều hình thức.

- Đảm bảo tính phân hoá: Học liệu điện tử có tác dụng giúp sinh viên học tập phù hợp với trình độ của mình và phân loại được học viên.

- Đảm bảo tính hiệu quả: Thể hiện ở việc đáp ứng được mục tiêu bài học;

Sinh viên tích cực, chủ động học tập; Sinh viên được thực hành.

Quy trình thiết kế học liệu điện tử:

- Xác định kiến thức trọng tâm, các kỹ năng cơ bản cần hình thành.

- Xác định phương pháp phù hợp với nội dung.

- Chuẩn bị các câu hỏi, bài tập hỗ trợ sinh viên trong quá trình học.

- Xây dựng kịch bản sư phạm của học liệu điện tử.

- Tổ chức lập trình theo kịch bản.

- Thử nghiệm (theo dõi, đánh giá sơ bộ hiệu quả của học liệu).

- Hoàn thiện sản phẩm.

_ Xây dựng diễn đàn “áo” trao đối

Sinh viên được cung cấp một diễn đàn “ảo” để trao đổi các vấn đề học tập với giảng viên và các sinh viên khác. Với diễn đàn này, sinh viên có thể cộng tác trực tuyến với nhiều người cùng một lúc thông qua tính năng của các công cụ dạy học trực tuyến (Microsoft Teams, Room,...) để dễ dàng chia sẻ và làm việc cùng nhau. Thay vì bắt buộc tham dự đầy đủ các bài giảng của giảng viên ở trên lớp, sinh viên có thể linh hoạt sắp xếp thời gian tự học thông qua các video bài giảng của giảng viên. Trong giờ học trực tuyến, sinh viên được nghe giảng viên giảng bài và có tương tác: Sinh viên nghe xong thì phải trả lời các bài tập hoặc giải quyết các tình huống để hệ thống ghi lại. Giảng viên có thể nhanh chóng và dễ dàng tạo ra các bài tập trực tuyến dưới dạng câu hỏi hoặc khảo sát ngay lập tức và mời học viên trả lời bằng bất cứ trình duyệt web hoặc trên thiết bị đi động. Sinh viên làm xong, gửi

kết quả đi và giáng viên có thể dùng phân tích đữ liệu dé đánh giá, phản hồi.

Sinh viên có thể tự do đề đạt các thắc mắc trong quá trình học tập của mình lên diễn đàn, sinh viên khác và giảng viên sẽ giải đáp thắc mắc ngay lập tức hoặc một vài ngày sau khi sắp xếp được thời gian. Phản hồi của giảng viên có thể bằng chữ viết, văn bản, âm thanh, video. Sinh viên được củng cô kiến thức cũng như có được kinh nghiệm tích cực trong quá trình học tập độc lập của mình, họ sẽ có động lực, tự tín hơn.

Diễn đàn tạo cho sinh viên có nhiều cơ hội học tập trong những khoảng thời gian khác nhau và ở những nơi khác nhau. Sinh viên có thể giao lưu và tương tác

với nhiều sinh viên khác cùng một lúc, có thể hợp tác với bạn học trong nhóm trực tuyến để thảo luận và làm bài tập về nhà. Nhờ tính tương tác và hợp tác cao, dễ tiếp cận và thuận tiện, diễn đàn “ảo” là môi trường giao tiếp thuận lợi giúp sinh

viên tăng lượng thông tin một cách rõ rệt, kiến thức thu được đa đạng, phong phú.

Mặt khác, kết qua dao tao, bồi dưỡng cũng được tự động hoá và được thông báo nhanh chóng, chính xác, khách quan.

2. Hình thức dạy học linh hoạt (lớp học đảo ngược):

Các hoạt động dạy học dựa trên nên tảng khoá học trực tuyến kết hợp với

hướng dẫn trực tiếp của giảng viên trên lớp.

Lớp học đảo ngược là cách tiếp cận mà sự hướng dẫn trực tiếp chuyển từ không gian học nhóm tới không gian học cá nhân và kết quả không gian nhóm được chuyển thành môi trường kiến thức tương tác, năng động trong đó giảng viên hướng dẫn sinh viên áp dụng các nội dung và liên hệ sáng tạo trong các vấn đề học tập.

Bergmann và Sams (2012) đã chỉ ra rằng lớp học đảo ngược tồn tại xuyên suốt trong lịch sử hoặc ít nhất vào khoảng 200 năm trước đây. Họ cũng cho rằng lớp học đảo ngược là sự mở rộng lý thuyết kiến tạo.

Đặc trưng của lớp học đảo ngược:

- Môi trường học tập linh hoạt: Không gian học tập linh hoạt giúp sinh viên lựa chọn thời gian và địa điểm học tập. Yêu cầu của giảng viên về thời gian và cách đánh giá sinh viên cũng lính hoạt.

- Văn hoá học tập: Lớp học đảo ngược hướng đến cách tiếp cận lấy người học làm trung tâm, thời gian trong lớp học được dành dé sinh viên khám phá các chủ đề ở múc độ sâu hơn. Sinh viên tích cực tham gia vào việc xây dựng tri thức khi họ thực hành và đánh giá việc học của bản thân một cách có ý nghĩa.

- Nội dung học tập có chủ ý: Giảng viên suy nghĩ về cách họ có thể sử dụng mô hình lớp học đảo ngược để giúp sinh viên nắm vững các khái niệm và thành thạo quy trình. Họ xác định cái họ cần đạy và sinh viên nên tìm hiểu tài liệu gì.

Giảng viên sử dụng lớp học đảo ngược sẽ tối đa hoá thời gian học trên lớp đề thực

hiện theo phương pháp lay người học làm trung tâm, chiến lược học tập tích cực tuỳ theo bậc học và vẫn để học tập.

- Giang viên chuyên nghiệp: Trong thời gian học trên lớp, giảng viên liên tục quan sát sinh viên, cung cấp cho sinh viên những phản hồi có liên quan ngay lập tức và đánh giá công việc của sinh viên. Tính chuyên nghiệp của giảng viên được phản ánh trong thực hành của họ, sự kết nối với nhau để cải thiện sự hướng dẫn, chấp

Một phần của tài liệu Giáo trình lý luận dạy học đại học (Trang 142 - 149)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(193 trang)