Dàn bài
A- MB: Thời phong kiến với lối học từ chương làm cản trở bước tiến của xã hội. LSPTNT nhận thức rõ điều này nên trong bài tấu dâng lên vua QT vào tháng 8/1791, phần cuối ông nêu vấn đề “Bàn luận về phép học”. Nêu vấn đề.
B- TB:
a) Nội dung bài “ BLVPH” của LSPTNT:
- Nêu mục đích chân chính của việc học: học để làm người.
- Phê phán những lối học lệch lạc sai trái như lối học chuộng hình thức, cầu danh lợi.
- Đưa ra quan điểm và phương pháp học đúng đắn: việc học phải bắt đầu từ những kiến thức cơ bản, có tính chất nền tảng. Tuần tự tiến từ thấp lên cao. Học rộng hiểu sâu, biết tóm lược những điều cơ bản, cốt yếu nhất. Học phải kết hợp với hành. Học không chỉ để biết mà còn để làm, Đất nước nhiều nhân tài, chế độ vững mạnh, quốc gia hưng thịnh.
b) Suy nghĩ của em về mối quan hệ giữa học và hành:
Đồng ý với quan điểm của Nguyễn Thiếp: Học với hành có quan hệ chặt chẽ, vì sao?
- Học là quá trình thu nhận và tích lũy tri thức cơ bản của nhân loại, thông qua hoạt động học tập ở nhà trường dưới sự hướng dẫn của thầy cô; qua sách vở; tự học ở thực tế đời sống, học ở kinh nghiệm người đi trước. Học cũng chính là biến những tri thức ấy thành vốn hiểu biết của bản thân. Quá trình học nhằm tới cái đích chung là làm phong phú thêm những hiểu biết và tình cảm, kĩ năng sống của con người, giúp phát triển toàn diện nhân cách.Đặc biệt là việc học trang bị cho chúng ta những kiến thức, những kĩ năng, kĩ xảo nghề nghiệp để từ đó tham gia vào hoạt động sản xuất của xã hội, đem lại lợi ích cho cá nhân, cho gia đình và cho xã hội. ( Học những kiến thức phổ thông, những kiến thức chuyên môn, những thao tác, kĩ năng chuyên ngành.) - Học thì phải hành như ông bà ta thường ví von: con tằm ăn lá dâu không phải để nhả dâu mà phải làm để nhả tơ. Hành là làm, là thực hành, là vận dụng những kiến thức đã học được vào thực tế công việc hàng ngày, giải quyết những tình huống cụ thể. Hành có nhiều cấp độ như bắt chước để làm theo; làm lại những gì còn lưu lại trong trí nhớ, sáng tạo những cách thức hoạt động mới. “Hành” được đến đâu là tùy thuộc vào lượng tri thức phong phú mà mình chiếm lĩnh cùng với khả năng sáng tạo. Ở phạm vi trường học, ta thấy hành là ứng dụng lí thuyết đã học để giải quyết các yêu cầu bài tập hoặc thực hành, thí nghiệm. Sau mỗi bài lí thuyết Toán chính là giải các bài tập. Sau lí thuyết công nghệ chính là bài thực hành như khâu, vá, cắm hoa, nấu ăn, mắc điện,…
- Học với hành phải đi đôi. Có học mới có tri thức để thực hành. Có hành mới hiểu sâu, nắm vững lí thuyết. Qua thực hành, lí thuyết không ngừng được kiểm nghiệm, củng cố, phát triển.
- Học với hành có quan hệ mật thiết, không thể tách rời. Mục đích tối cao của việc học là để nâng cao trình độ hiểu biết, nhằm phục vụ cho công việc đạt hiểu quả cao hơn. Nếu học mà không hành, nghĩa là không dùng cái đã học để phục vụ và nâng cao hiệu quả công việc, nâng cao đời sống thì những tri thức tiếp thu được sẽ bị lãng phí.
- Nếu chỉ làm việc theo thói quen và kinh nghiệm, không có lí thuyết soi sáng thì năng suất và chất lượng công việc sẽ thấp. Đối với những công việc đòi hỏi phải có trình độ hiểu biết khoa học kĩ thuật thì càng đòi hỏi phải học, học không ngừng. Nếu không học thì sẽ không đáp ứng được yêu cầu của công việc, làm không trôi chảy, có khi là làm hỏng việc.
Cùng quan điểm này, Bác Hồ có nói: “Học với hành phài đi đôi. Học mà không hành thì học vô ích. Hành mà không học thì hành không trôi chảy.”
- Ý kiến của LSPTNT là đúng đắn, có cơ sở khoa học và thực tiễn. Cốt lõi trong phương pháp học mà NT nêu lên là học phải đi đôi với hành. Giữa học với hành có mối quan hệ chặt chẽ.
Học đóng vai trò chỉ đạo, soi sáng cho hành. Hành giúp cho con người vận dụng, củng cố, bổ sung và hoàn chỉnh lí thuyết đã học được vào thực tế.
- Trong trường phổ thông, học với hành phải đi đôi, không coi nhẹ mặt nào. Bất kì môn học nào cũng có thực hành để chuẩn bị cho đời sống sau này.
C- KB: Học đi đôi với hành, quan niệm ấy không mới, bởi ông cha chúng ta đặt ra từ trước.
Lời dạy của NT đã nêu ra một phương châm đúng đắn của việc học.
Ta cần vận dụng tốt vào hoạt động học tập hàng ngày để có kết quả tốt.
Tiết 105-106 Văn bản:
THUẾ MÁU
(Nguyễn Ái Quốc) Ngày dạy:
I- Mục tiêu bài dạy: Giúp học sinh:
1) Kiến thức: - Hiểu được bản chất độc ác, bộ mặt giả nhân, giả nghĩa của TDP qua việc dùng người dân các xứ thuộc địa làm vật hi sinh cho quyền lợi của mình trong các cuộc chiến tranh tàn khốc. – Hình dung ra số phận bi thảm của những người bị bóc lột trong
“Thuế máu” theo trình tự miêu tả của tác giả.
- Thấy rõ ngòi bút lập luận sắc bén, nghệ thuật trào phúng sâu cay của Nguyễn Ái Quốc trong văn chính luận.
2) Tư tưởng – Tình cảm: Thông cảm với đời sông nhân dân thuộc địa, căm thù chế độ thực dân
yêu quí cuộc sống độc lập, tự do.
3) Rèn luyện kĩ năng: đọc văn chính luận của Bác Hồ; tìm hiểu và phân tích nghệ thuật trào phúng sâu cay sắc bén, yếu tố biểu cảm trong phóng sự- chính luận của Bác Hồ.
- Học cách đưa yếu tố biểu cảm vào bài văn chính luận.
II- Phương tiện dạy – học: Tranh, ảnh Bác Hồ, bảng phụ.
III- Tiến trình tổ chức tiết dạy:
1) Kiểm tra bài cũ: Em có suy nghĩ gì về văn bản “ Bàn luận về phép học” của Nguyễn Thiếp?
2) Giới thiệu bài mới: “Bản án chế độ thực dân Pháp” là tác phẩm được Nguyễn Ái Quốc dành nhiều thời gian, đầu tư nhiều công sức nhất trong những năm 1922-1925. Bản án chế độ thực dân Pháp gồm 12 chương, viết ở Pa-ri năm 1925.Tác phẩm là bản cáo trạng phong phú, đanh thép về các tội ác tày trời của CNTD, về cuộc sống khốn cùng của người dân các xứ thuộc địa. Đồng thời, tác phẩm cũng thể hiện một nghệ thuật trào phúng, đả kích sắc sảo, đa dạng.
Chúng ta sẽ thấy rõ khi tìm hiểu chương đầu của “Bản án chế độ thực dân Pháp”.
3) Bài mới:
Tuần 29 – Bài 26 Tiết 105-106: Thuế máu Tiết 107 : Hội thoại
Tiết 108 : Tìm hiểu yếu tố biểu cảm
trong văn nghị luận
TG Hđ của thầy Hđ của trò Nội dung cơ bản
18’
18’
18’
-Đọc đúng ngữ điệu, nhấn mạnh một số từ ngữ trong ngoặc kép.
- Hãy cho biết vài nét về tác giả?
- Hãy cho biết xuất xứ của văn bản?
- Dựa vào chú thích sao, hãy cho biết vài nét về “Bản án chế độ thực dân Pháp”?
- Nêu nhận xét của em về cách đặt tên chương, tên các phần trong vb?
(Trình tự và cách đặt tên các phần gợi lên quá trình lừa bịp, bóc lột đến tận cùng người dân thuộc địa bố cục chặt chẽ, độc đáo.
- So sánh thái độ của các quan cai trị thuộc địa đối với người dân bản xứở hai thời điểm:
trước và trong khi chiến tranh xãy ra? Nó nói lên điều gì?
- Số phận bi thảm của người dân thuộc địa trong cuộc chiến tranh phi nghĩa được miêu tả như thế nào?
*Các từ ngữ trong ngoặc kép được NAQ dùng với giọng nhiễu nhại, trào phúng nhằm bóc trần thủ đoạn lừa bịp, bản chất của bọn thực dân.
- Cách lập luận:
*nghệ thuật trào phúng
Phóng sự điều tra là một thể kí nhằm phản ánh kịp thời những vấn đề có tính thời sự, tìm hiểu và đưa ra những cứ liệu xác thực, những nhận xét, kết luận đúng đắn, đầy đủ để thuyết phục người đọc, giúp họ nhận thức đúng và đủ vấn đề.
*Thuế máu: thứ thuế đóng bằng xương máu, tính mệnh con người (nghĩa bóng) là thứ thuế tàn bạo, dã man nhất. Cách gọi của NAQ gợi lên số phận thảm thương của người dân thuộc địa, bao hàm lòng căm phẫn, thái độ mỉa mai đối với tội ác đáng ghê tởm của chính quyền thực dân tạo sự tập trung chú ý, gây ấn tượng.
-Trước ctr: bị xem là giống người hèn hạ, bị đối xử, đánh đập như súc vật, không được coi là người.
Ctr xãy ra, họ được phong những danh hiệu cao quý, được tâng bốc vỗ về xa vợ con, chết thảm hoặc kiệt sức họ bị biến thành vật hy sinh cho lợi ích, danh dự của những kẻ cầm quyền.
- Tác giả đã kể bao cái chết thảm với giọng vừa giễu cợt, vừa xót xa
giàu hình ảnh, biểu cảm.
- Nêu số liệu cụ thể tố
I- Tìm hiểu chung:
1- Đọc – Giải từ khó:
2- Tác giả: Nguyễn Ái Quốc là một trong những tên gọi của Bác Hồ trước năm 1945.
Văn nghị luận chiếm vị trí quan trọng trong sự nghiệp thơ văn Hồ Chí Minh.
3- Văn bản:
a- Xuất xứ: Trích từ chương I của “Bản án CĐTDP”.
Bản án chế độ thực dân Pháp viết ở Pa-ri năm 1925, bằng tiếng Pháp, gồm 12 chương. Tác phẩm đã tố cáo và kết án chủ nghĩa TDP, nói lên tình cảnh khốn cùng của người dân thuộc địa, thể hiện ý chí chiến đấu giành độc lập tự do cho các dân tộc bị áp bức của NAQ b- Thể loại: phóng sự - nghị luận.
c- Bố cục: 3 phần (theo trình tự:
trước trong, sau chiến tranh).
II-Đọc – Hiểu văn bản: