1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Kinh tế biển ở khu kinh tế nghi sơn, tỉnh thanh hóa hiện nay

113 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 113
Dung lượng 860,16 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thứ hai, việc phát triển các ngành kinh tế biển có được bền vững hay không phụ thuộc nhiều vào hoạt động khai thác, sử dụng và tác động tới các tài nguyên biển Đây là một trong những đặ

Trang 1

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

- -

BÙI SĨ TUẤN

KINH TẾ BIỂN Ở KHU KINH TẾ NGHI SƠN,

TỈNH THANH HÓA HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ CHÍNH TRỊ

HÀ NỘI - 2019

Trang 2

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

-

BÙI SĨ TUẤN

KINH TẾ BIỂN Ở KHU KINH TẾ NGHI SƠN,

TỈNH THANH HÓA HIỆN NAY

Chuyên ngành : Kinh tế chính trị

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ CHÍNH TRỊ

Người hướng dẫn khoa học: PGS TS TRẦN HOÀNG NGÂN

HÀ NỘI – 2019

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA

HỒ CHÍ MINH

Trang 3

Luận văn đã được sửa chữa theo khuyến nghị của Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ

Hà Nội, ngày 10 tháng 11 năm 2019

CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG

PGS,TS TRƯƠNG NGỌC NAM

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của PGS,TS Trần Hoàng Ngân Các số liệu nêu trong Luận văn là trung thực; những kết luận của Luận văn chưa từng được công bố trong bất

kỳ công trình nào khác; các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được trích dẫn rõ nguồn gốc

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ KINH TẾ BIỂN VÀ KINH TẾ BIỂN Ở KHU KINH TẾ 9

1.1 Khái quát về kinh tế biển 9

1.2 Khái quát về kinh tế biển ở khu kinh tế 22

1.3 Kinh nghiệm phát triển kinh tế biển ở một số khu kinh tế và bài học cho khu tinh tế Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa 36

Chương 2: KINH TẾ BIỂN Ở KHU KINH TẾ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA HIỆN NAY - THỰC TRẠNG VÀ NGUYÊN NHÂN 40

2.1 Những yếu tố ảnh hưởng đến kinh tế biển ở khu kinh tế Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa hiện nay 40

2.2 Thực trạng kinh tế biển ở khu kinh tế Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa hiện nay 46

2.3 Nguyên nhân 73

Chương 3: YÊU CẦU VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN KINH TẾ BIỂN Ở KHU KINH TẾ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA TRONG GIAI ĐOẠN TỚI 81

3.1 Yêu cầu đặt ra đối với việc phát triển kinh tế biển ở khu kinh tế Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa 81

3.2 Mục tiêu phát triển khu kinh tế Nghi Sơn 89

3.3 Giải pháp phát triển kinh tế biển ở khu kinh tế Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa giai đoạn tới 91

KẾT LUẬN 102

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 103

TÓM TẮT LUẬN VĂN 108

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Việt Nam là quốc gia có bờ biển dài hơn 3200 kilômét bao lấy lãnh thổ

ở cả ba hướng: Đông, Nam và Tây Nam Trung bình, cứ khoảng 100 km2 đất liền thì có 1km bờ biển, không có nơi nào trên lãnh thổ Việt Nam mà cách xa biển hơn 500 km Vì vậy, từ trước đến nay, biển luôn gắn bó mật thiết và ảnh hưởng tới mọi miền của tổ quốc Đặc biệt, với vị trí địa lý thuận lợi nằm trên đường hàng hải quốc tế, có cảng biển với mớn nước sâu, luồng hàng hải rộng

có hơn 1 triệu km2vùng kinh tế đặc quyền rộng gấp 3 lần diện tích đất liền, có

vị trí địa chính trị hết sức quan trọng với hơn 3000 hòn đảo,… thì biển cũng như phát triển kinh tế biển càng đóng vai trò to lớn và ảnh hưởng sâu rộng đến mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội ở nước ta

Xuất phát từ những lợi thế đó, và để phát huy mọi tiềm năng của biển cũng như đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội, bảo vệ chủ quyền an ninh

và môi trường biển, Hội nghị trung ương 4 (khóa X) đã thông qua nghị quyết

số 09 - NQ/TW ngày 9/2/2007 về “Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020” Tháng 10 năm 2018, Hội nghị trung ương 8 khóa XII đã ban hành Nghị quyết

Số 36-NQ/TW về chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến

2030, tầm nhìn đến 2045 Theo đó, cần thống nhất tư tưởng, nhận thức về vị

trí, vai trò và tầm quan trọng đặc biệt của biển đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong toàn Đảng, toàn dân và toàn quân Phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, là quyền và nghĩa vụ của mọi tổ chức, doanh nghiệp và người dân Việt Nam Cho đến nay, các Nghị quyết quan trọng này đã và đang được triển khai ở các tỉnh thành có biển trên cả nước, trong đó có Thanh Hóa

Khu kinh tế Nghi Sơn là một khu kinh tế được thành lập vào giữa năm 2006 tại huyện Tĩnh Gia, phía Nam tỉnh Thanh Hóa nhằm mục đích phát

Trang 7

huy lợi thế địa lý nằm gần quốc lộ 1A, đường sắt Bắc - Nam, và có hệ thống cảng Nghi Sơn tạo ra một động lực phát triển kinh tế - xã hội không những cho tỉnh Thanh Hóa mà còn cho cả khu vực Bắc Trung Bộ và vùng lân cận nói chung Khu kinh tế Nghi Sơn tuy là một khu kinh tế tổng hợp, nhưng rất chú trọng phát triển các ngành kinh tế biển Trong những năm qua, có thể nói, với mỗi ngành nghề, khu kinh tế Nghi Sơn đều đã có những đầu tư nhất định

về mọi mặt và đạt được nhiều thành quả đáng khích lệ, không chỉ góp phần đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng GDP của tỉnh mà còn nâng cao mức thu nhập hàng năm của người dân, cải thiện rõ rệt đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân… Do đó, trong thời gian tới, cần phải có những giải pháp và chiến lược thích hợp nhằm khai thác tối đa nguồn lợi từ biển đem lại

Bên cạnh những thành quả đã đạt được, kinh tế biển tại khu Kinh tế Nghi Sơn cũng đang gặp phải những khó khăn nhất định về quy hoạch, kế hoạch, về vốn, về kỹ thuật-công nghệ, về nhân lực… Và những khó khăn này nếu không có giải pháp khắc phục thì không chỉ thành quả đạt được không tương xứng với tiềm năng vốn có của biển, mà thậm chí còn ảnh hưởng và gây ra những hệ lụy đến mọi mặt của đời sống kinh tế xã hội nói chung Chính vì vậy, việc phát triển kinh tế biển tại khu kinh tế Nghi Sơn vừa có vai trò quan trọng, lại vừa là nhu cầu cấp thiết đối với tỉnh Thanh Hóa và các khu vực lân cận

Xuất phát từ yêu cầu về lý luận cũng như thực tiễn, tôi đã lựa chọn đề

tài “Kinh tế biển ở khu kinh tế Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa hiện nay” làm đề

tài luận văn tốt nghiệp của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Biển và phát triển kinh tế biển luôn là vấn đề được Đảng, Nhà nước, các cấp, các ngành cũng như nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu Từ trước đến nay, đã có nhiều công trình khoa học, đề tài nghiên cứu, các bài viết liên quan đến kinh tế biển được công bố, cụ thể:

Trang 8

2.1 Về sách và đề tài nghiên cứu khoa học

- Cuốn sách “Kinh tế du lịch” do Vũ Đức Minh chủ biên, NXB Thống

kê, Hà Nội, 2010 trình bày tổng quan về vị thế của kinh tế du lịch trong nền kinh tế quốc dân, tiềm năng và khai thác tiềm năng du lịch; giới thiệu các mốc lịch sử của ngành du lịch; đi sâu phân tích những ảnh hưởng của du lịch đến kinh tế; những công cụ, phương tiện phân tích kinh tế học du lịch và kinh doanh du lịch

2.2 Về luận án

- Lê Minh Thông, Chính sách phát triển kinh tế ven biển tỉnh Thanh

Hóa, Luận án tiến sỹ kinh tế, 2010 Với công trình nghiên cứu này, tác giả đã

trình bày một hệ thống lý luận về kinh tế biển, kinh tế ven biển, chính sách phát triển kinh tế ven biển… Trên cơ sở phân tích thực trạng chính sách phát triển kinh tế ven biển ở tỉnh Thanh Hóa trong giai đoạn 2000 - 2010, tác giả

đã đưa ra những nhận xét đánh giá về thành tựu và hạn chế cũng như một số nguyên nhân của chính sách phát triển kinh tế ven biển mà tinh Thanh Hóa đã gặp phải Từ sự phân tích khoa học và khách quan về lý luận cũng như thực trạng của chính sách phát triển kinh tế biển ở tỉnh Thanh Hóa, tác giả đã đề xuất một số giải pháp và điều kiện để thực hiện giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của chính sách phát triển kinh tế ven biển tỉnh Thanh Hóa trong thời gian tiếp theo

- Lê Thanh Sơn, Chính sách phát triển kinh tế biển và hải đảo tỉnh Bà

Rịa - Vũng Tàu, Luận án tiến sĩ kinh tế, Viện nghiên cứu quản lý trung ương,

Bộ Kế hoạch Đầu tư 2017 Với công trình này, tác giả đã trình bày một hệ thống lý luận về kinh tế biển và hải đảo, chính sách phát triển kinh tế biển và hải đảo nói chung… Trên cơ sở phân tích thực trạng chính sách phát triển kinh tế biển và hải đảo ở tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, tác giả đã đưa ra những nhận xét đánh giá về thành tựu và hạn chế cũng như một số nguyên nhân của

Trang 9

chính sách phát triển kinh tế biển và hải đảo mà tinh Bà Rịa Vũng Tàu đã gặp phải Từ đó, tác giả đã đề xuất một số giải pháp và điều kiện để thực hiện giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của việc phát triển kinh tế biển và hải đảo tỉnh

Bà Rịa - Vũng Tàu trong thời gian tiếp theo

2.3 Về luận văn

- Nguyễn Thị Hồng Lâm, Kinh tế du lịch ở tỉnh Thanh Hóa – Thực

trạng và giải pháp phát triển, Luận văn thạc sỹ kinh tế, Học viên Chính trị

Quốc gia Hồ Chí Minh, 2005 Luận văn đã làm rõ các khái niệm về du lịch và kinh tế du lịch, phân tích đặc điểm của hoạt động kinh tế du lịch, xu hướng phát triển, sự cần thiết phải phát triển kinh tế du lịch ở Thanh Hóa, … Đồng thời, từ việc phân tích tiềm năng, thực trạng của hoạt động kinh tế du lịch ở tỉnh Thanh Hóa, tác giả đã đưa ra phương hướng và giải pháp nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế du lịch ở Thanh Hóa trong thời gian sau khi nghiên cứu

- Vũ Khánh Trường, Kinh tế biển ở Nghệ An trong quá trình hội nhập

kinh tế quốc tế, Luận văn thạc sỹ kinh tế, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí

Minh, 2009 Tác giả đã trình bày một cách khoa học những vấn đề lý luận về khái niệm, đặc điểm, vị trí, vai trò của kinh tế biển trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế Bên cạnh đó, tác giả cũng đã đưa ra một số khuynh hướng và kinh nghiệm phát triển kinh tế biển ở các địa phương khác Tiếp theo, tác giả tiến hành phân tích tiềm năng và thực trạng phát triển kinh tế biển ở tỉnh Nghệ An trong giai đoạn 2003 – 2008, từ đó đưa ra một số đánh giá chung về kết quả mà Nghệ An đã đạt được về lĩnh vực này Trên cơ sở phân tích lý luận

và thực trạng, tác giả đã đề xuất các giải pháp chủ yếu nhằm phát triển kinh tế biển ở Nghệ An đến năm 2015 trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế

- Nguyễn Đăng Chương, Kinh tế biển ở Thanh Hóa trong thời kỳ hội

nhập kinh tế quốc tế, Luận văn thạc sỹ kinh tế, Học viện Báo chí và Tuyên

truyền, 2013 Trong luận văn này, tác giả đã trình bày một loạt các vấn đề lý luận sâu sắc như khái niệm, vị trí, vai trò của kinh tế biển; tác động của hội

Trang 10

nhập kinh tế quốc tế đối với quá trình phát triển kinh tế biển ở nước ta; kinh nghiệm phát triển của một số nước và địa phương khác… Tiếp theo, tác giả cũng đã phân tích một cách khoa học những thành tựu và hạn chế (thực trạng) của hoạt động kinh tế biển ở Thanh Hóa thời kỳ 2008 – 2012 Trên cơ sở đó, tác giả đã đưa ra một số phương hướng và giải pháp chủ yếu nhằm phát triển kinh tế biển ở tỉnh Thanh Hóa đến năm 2020

- Nguyễn Thị Lương, Kinh tế biển góp phần xóa đói giảm nghèo ở

huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa, Luận văn thạc sỹ kinh tế, Học viện

Báo chí và Tuyên truyền, 2013 Với công trình nghiên cứu này, tác giả đã trình bày nhiều vấn đề lý luận về kinh tế biển và xóa đói giảm nghèo như khái niệm, vai trò của kinh tế biển, sự tác động của kinh tế biển đến vấn đề xóa đói giảm nghèo, kinh nghiệm của một số địa phương khác về vấn đề phát triển kinh tế biển để góp phần xóa đói giảm nghèo Đồng thời, tác giả cũng đã phân tích những điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của huyện Quảng Xương có ảnh hưởng đến quá trình xóa đói giảm nghèo của kinh tế biển; cũng như phân tích thực trạng của hoạt động kinh tế biển và xóa đói giảm nghèo ở huyện, từ đó đưa ra nhận xét đánh giá của bản thân về vấn đề này Cuối cùng, tác giả đã đưa ra phương hương và giải pháp nhằm thúc đẩy kinh tế biển phát triển nhằm góp phần xóa đói giảm nghèo ở huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa trong thời gian tiếp theo

- Trần Thị Hằng, “Phát triển kinh tế biển các huyện ven biển tỉnh Thanh

Hóa hiện nay”, luận văn Thạc sĩ Kinh tế, Học viện Báo chí và Tuyên truyền,

2015 Với công trình này, tác giả đã nêu ra một số vấn đề lý luận và thực tiễn

cơ bản về kinh tế biển nói chung Tác giả cũng đã mô tả thực trạng phát triển kinh tế biển ở các huyện ven biển tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2011 - 2014, trên

cơ sở đó, tác giả đã nêu ra phương hướng và giải pháp phát triển kinh tế biển

ở các huyện ven biển tỉnh Thanh Hóa đến năm 2020…

Trang 11

2.4 Về bài viết trên các tạp chí khoa học

- Đức Quyền, Một số thành tựu chủ yếu về kinh tế biển, Tạp chí Quốc

phòng toàn dân số ra ngày 14/4/2016

- Văn Hào, phát triển kinh tế biển thành ngành kinh tế mũi nhọn, tạp

chí Biển và Hải đảo số ra ngày 21/8/2016

- Vũ Thanh Ca, (PGS TS - Đại học Tài nguyên và Môi trường), Phát

triển bền vững kinh tế biển Việt Nam: thực trạng, tiềm năng, thách thức và đề xuất giải pháp, tạp chí Môi trường số 4/2018

- Nguyễn Thị Hoài Thu, Phát triển kinh tế biển, đảo gắn với bảo đảm

quốc phòng - an ninh, tạp chí Cộng sản số ra ngày 8/6/2018

- Đỗ Minh Thủy (NCS Đại học Thương mại), TS Nguyễn Đức Việt,

ThS Bùi Thị Ninh (Khoa Kinh tế - QTKD, Trường Đại học Hồng Đức), Tiềm

năng lợi thế và chiến lược phát triển du lịch Thanh Hóa đến năm 2020 tầm nhìn 2030, tạp chí Công Thương số ra ngày 18/10/2018…

Nhìn chung, các bài báo đăng trên các tạp chí khoa học nêu trên mới chỉ tiếp cận một phần vấn đề có liên quan đề tài, chưa khảo sát ở phạm vi rộng và thời gian dài như một công trình ở tầm thạc sĩ

Tóm lại, các công trình nghiên cứu nói trên đã phân tích một cách hệ thống và khoa học những vấn đề lý luận nói chung về kinh tế biển, kinh tế du lịch ở nhiều địa phương khác nhau Đồng thời, các tác giả cũng đã căn cứ vào thực trạng phát triển ở từng vùng mà đưa ra nhiều giải pháp thiết thực nhằm phát triển kinh tế biển và kinh tế du lịch Tuy nhiên, các công trình đó chủ yếu nghiên cứu kinh tế biển hay kinh tế du lịch của một tỉnh nói chung, hoặc có công trình đi vào phân tích kinh tế biển gắn với vấn đề xóa đói giảm nghèo…

Vì vậy, có thể nói, cho đến nay, chưa có công trình nào ở tầm Thạc sĩ nghiên cứu về kinh tế biển ở khu kinh tế Nghi Sơn tỉnh Thanh Hóa hiện nay

Trang 12

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

- Mục đích: Khái quát những vấn đề lý luận về kinh tế biển, từ đó khảo sát thực trạng và đề xuất giải pháp phát triển kinh tế biển ở khu kinh tế Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa trong giai đoạn hiện nay

- Nhiệm vụ: Luận văn thực hiện nhằm giải quyết những vấn đề sau: + Làm rõ một số vấn đề lý luận về kinh tế biển, đưa ra một số quan niệm, đặc điểm, vai trò của kinh tế biển ở khu kinh tế giai đoạn hiện nay + Làm rõ những yếu tố tác động đến kinh tế biển tại khu kinh tế Nghi Sơn tỉnh Thanh Hóa hiện nay

+ Đánh giá thực trạng kinh tế biển tại khu kinh tế Nghi Sơn tỉnh Thanh Hóa hiện nay với những ưu điểm, những hạn chế và nguyên nhân của nó + Nêu rõ phương hướng, từ đó đưa ra những đề xuất, khuyến nghị cụ thể nhằm bảo đảm phát triển kinh tế biển tại khu kinh tế Nghhi Sơn, tỉnh Thanh Hóa giai đoạn sắp tới

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng: Kinh tế biển ở khu kinh tế Nghi Sơn tỉnh Thanh Hóa giai đoạn hiện nay

+ Phạm vi về thời gian: khảo sát số liệu từ 2013 đến nay

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

- Cơ sở lý luận:

Luận văn được thực hiện trên cơ sở của chủ nghĩa Mác - Lênin, các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam, tư tưởng Hồ Chí Minh, trên cơ sở

Trang 13

của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, pháp luật hiện hành của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam liên quan đến kinh

tế biển và phát triển kinh tế biển

- Phương pháp luận của đề tài:

Luận văn sử dụng các phương pháp: Tổng hợp, phân tích, thống kê, chứng minh, so sánh, logic, lịch sử để đánh giá, làm sáng tỏ các vấn đề cần nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu, luận văn thực hiện kết hợp với phương pháp thu thập và phân loại sơ bộ tài liệu, phương pháp đọc tài liệu và thu thập thông tin, phương pháp lược thuật, tổng thuật tài liệu trong khi xây dựng cơ

sở lý thuyết của đề tài và tiến hành khảo sát, đánh giá quá trình phát triển kinh

tế biển của khu kinh tế Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa trong giai đoạn hiện nay

6 Đóng góp của luận văn

- Hệ thống hóa và làm sáng tỏ thêm những vấn đề lý luận về kinh tế

biển và phát triển kinh tế biển trong tình hình và điều kiện mới

- Khảo sát, đánh giá quá trình phát triển kinh tế biển ở khu kinh tế Nghi Sơn, từ đó đề xuất giải pháp nhằm phát triển kinh tế biển ở tỉnh Thanh Hóa nói riêng và các địa phương có biển nói chung

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được chia thành 3 chương, cụ thể như sau:

Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn về kinh tế biển và kinh tế biển ở khu kinh tế

Chương 2 Kinh tế biển ở khu kinh tế Nghi Sơn tỉnh Thanh Hóa hiện nay - Thực trạng và nguyên nhân

Chương 3 Yêu cầu và giải pháp phát triển kinh tế biển ở khu kinh tế Nghi Sơn tỉnh Thanh Hóa trong giai đoạn tới

Trang 14

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ KINH TẾ BIỂN

VÀ KINH TẾ BIỂN Ở KHU KINH TẾ

1.1 Khái quát về kinh tế biển

1.1.1 Định nghĩa kinh tế biển

Biển và các vùng ven biển là những bộ phận không thể tách rời của hệ sinh thái toàn cầu và đóng vai trò chủ chốt đảm bảo tính chất bền vững của quá trình phát triển Trên thực tế, biển đang bao phủ hơn hai phần ba diện tích

bề mặt và chứa trong đó 97% tổng lượng nước của trái đất Biển được nhìn nhận là cái nôi của sự sống và là cấu phần hết sức quan trọng để tiếp tục duy trì sự sống của loài người Trong mối liên hệ với quá trình phát triển kinh tế -

xã hội hiện nay của hầu hết các quốc gia, đặc biệt là các quốc gia đang phát triển, đã có sự thừa nhận rộng khắp rằng, biển đóng vai trò quan trọng trong xóa nghèo đói và tạo ra môi trường sống, cũng như công việc có thu nhập bền vững cho con người Trong bối cảnh mới của thế giới với nhiều biến động lớn

cả về môi trường tự nhiên và xã hội, thì mối liên hệ giữa biển, việc thực thi

các chiến lược, chính sách về biển của các quốc gia để đảm bảo phát triển bền

vững cần được nhìn nhận một cách thấu đáo hơn

Trong thời gian gần đây, chính sách phát triển kinh tế xã hội của nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam thường gắn với thuật ngữ nền

“kinh tế xanh” (blue economy) trong tương quan với “tăng trưởng xanh

dương” (green growth), với hàm ý nhấn mạnh tới tính bền vững và bảo vệ môi trường Tuy đã được đề cập ở nhiều góc độ khác nhau, nhưng đến nay vẫn chưa có định nghĩa thống nhất thế nào là kinh tế biển Các học giả Trung Quốc cho rằng: Kinh tế biển là tổng thể các ngành công nghiệp khác nhau liên quan đến các hoạt động thăm dò, khảo sát biển và các hoạt động kinh tế có liên quan Trong đó, các ngành công nghiệp biển bao gồm: Nghề cá biển, vận

Trang 15

tải và liên lạc biển, dầu và khí gas, du lịch bờ biển, đóng tàu biển, thuốc từ sinh vật biển, sự tận dụng nước biển và sản xuất muối; và các ngành khác như giáo dục và khoa học biển, bảo vệ môi trường biển, dịch vụ biển Tuy nhiên, khái niệm này mới chỉ chủ yếu đề cập đến quá trình khảo sát, thăm dò và khai thác tài nguyên biển với tư cách là các ngành công nghiệp riêng biệt Nghiên cứu về vấn đề này, Hội nghị Liên Hợp Quốc về Thương mại và Phát triển (UNCTAD)1 cho rằng, kinh tế biển là một nền kinh tế bền vững dựa vào môi trường biển cùng hệ sinh thái biển liên quan tới đa dạng sinh học, các nguồn gen của sinh vật biển và các nguồn tài nguyên biển nhằm hướng tới mở rộng giới hạn kinh tế của các quốc gia ven biển vượt ra ngoài lãnh thổ trên đất liền Trong khi đó, Ủy ban Châu Âu (EC)2 cho rằng, kinh tế biển bao gồm các hoạt động kinh tế theo ngành và liên ngành liên quan tới biển, đại dương và các đường bờ biển Ngoài ra, kinh tế biển còn bao gồm các hoạt động hỗ trợ trực tiếp và gián tiếp cần thiết đối với sự vận hành của các ngành nghề này được

bố trí ở bất kỳ đâu, có thể ngay ở các quốc gia không có biển

Đối với Việt Nam, khi đề cập đến kinh tế biển thường có quan niệm giản đơn bao gồm các nghề nuôi trồng đánh bắt thủy, hải sản, du lịch biển, vận tải viễn dương Theo Chiến lược phát triển kinh tế biển và vùng ven biển

Việt Nam đến năm 2020, “Kinh tế biển bao gồm toàn bộ các hoạt động kinh

tế diễn ra trên biển, chủ yếu gồm: (1) Kinh tế hàng hải (vận tải biển và dịch

vụ cảng biển); (2) Hải sản (đánh bắt và nuôi trồng); (3) Khai thác dầu khí ngoài khơi; (4) Du lịch biển; (5) Làm muối; (6) Dịch vụ tìm kiếm, cứu hộ, cứu nạn; (7) Kinh tế đảo” 3 Tuy nhiên, nếu tiếp cận theo nghĩa rộng hơn, kinh tế

biển còn bao gồm các hoạt động kinh tế trực tiếp liên quan đến khai thác biển,

Trang 16

tuy không phải diễn ra trên biển nhưng những hoạt động kinh tế này lại nhờ vào yếu tố biển hoặc trực tiếp phục vụ các hoạt động kinh tế biển ở dải đất liền ven biển Điều 43 Luật biển Việt Nam năm 2012 khẳng định: “Nhà nước

ưu tiên tập trung phát triển các ngành kinh tế biển bao gồm: (i) Tìm kiếm, thăm dò, khai thác, chế biến dầu, khí và các loại tài nguyên, khoáng sản biển; (ii) Vận tải biển, cảng biển, đóng mới và sửa chữa tàu thuyền, phương tiện đi biển và các dịch vụ hàng hải khác; (iii) Du lịch biển và kinh tế đảo; (iv) Khai thác, nuôi trồng, chế biến hải sản; (v) Phát triển, nghiên cứu, ứng dụng và chuyển giao khoa học, công nghệ về khai thác và phát triển kinh tế biển; (vi) Xây dựng và phát triển nguồn nhân lực biển

Trong Đề án: “Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế biển, vùng ven

biển và các hải đảo Việt Nam đến năm 2010” do Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ

trì (1995 - 1996) đã khẳng định: “Kinh tế biển là sự kết hợp hữu cơ giữa các

hoạt động kinh tế diễn ra trên biển và các hoạt động kinh tế trên dải đất liền ven biển, trong đó biển chủ yếu đóng vai trò vùng khai thác nguyên liệu, là môi trường cho các hoạt động vận tải, du lịch biển, còn toàn bộ các hoạt động sản xuất và phục vụ khai thác biển lại nằm trên dải đất liền ven biển Do vậy, khi nói đến kinh tế biển không thể tách vùng biển với vùng ven biển và ngược lại” 4 Khái niệm này đã chỉ ra các hoạt động kinh tế biển và không

gian của kinh tế biển gồm hai bộ phận là không gian biển và không gian dải đất liền ven biển Đối với lãnh thổ Việt Nam, kinh tế vùng ven biển là các hoạt động kinh tế ở dải ven biển, có thể tính theo địa bàn các xã ven biển, các huyện ven biển hoặc cũng có thể là các tỉnh ven biển - có biên giới đất liền tiếp giáp với biển, bao gồm các lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp, công nghiệp, dịch vụ trên phạm vi địa bàn lãnh thổ này Nói cách khác, kinh tế biển là toàn

bộ các hoạt động kinh tế diễn ra trên biển và các hoạt động kinh tế trực tiếp

4

Chu Đức Dũng (2011): Chiến lược phát triển kinh tế biển Đông của một số nước Đông Á - Tác động và những vấn đề đặt ra cho Việt Nam

Trang 17

liên quan đến khai thác biển (tuy không phải diễn ra trên biển nhưng hoạt động kinh tế này là nhờ vào yếu tố biển hoặc trực tiếp phục vụ các hoạt động kinh tế biển ở dải đất liền ven biển) để phục vụ cho quá trình khai thác, sử dụng tài nguyên, lợi thế của biển nhằm mục đích phát triển nền kinh tế xã hội của quốc gia Hoạt động kinh tế biển bao gồm các lĩnh vực: Kinh tế hàng hải; Nuôi trồng, khai thác và chế biến thủy, hải sản; Công nghiệp dầu khí; Du lịch biển; Xây dựng các khu kinh tế, các khu công nghiệp tập trung và khu chế xuất ven biển gắn với các khu đô thị ven biển; Phát triển, nghiên cứu, ứng dụng, chuyển giao khoa học - công nghệ về khai thác và quản lý kinh tế biển

Gần đây nhất, tháng 10 năm 2018, trong Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8 BCHTW Đảng Khóa XII về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 cũng chỉ ra mục tiêu Việt Nam đến năm 2030, phát triển thành công, đột phá về các ngành kinh tế biển được xếp theo thứ tự ưu tiên bao gồm: (1) Du lịch và dịch vụ biển; (2) Kinh tế hàng hải; (3) Khai thác dầu khí và các tài nguyên khoáng sản biển khác; (4) Nuôi trồng và khai thác hải sản; (5) Công nghiệp ven biển; (6) Năng lượng tái tạo

và các ngành kinh tế biển mới

Với các cách tiếp cận trên, kinh tế biển đã được làm rõ, phù hợp với đặc điểm tình hình, vị trí, tầm quan trọng vốn có của nó Đại hội XII của

Đảng xác định: “Chú trọng phát triển các ngành công nghiệp dầu khí, đánh

bắt xa bờ và hậu cần nghề cá, kinh tế hàng hải (kinh doanh dịch vụ cảng biển, đóng và sửa chữa tàu, vận tải biển), du lịch biển, đảo Có cơ chế tạo bước đột phá về tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế biển, thu hút mạnh hơn mọi nguồn lực đầu tư để phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường Tập trung đầu tư, nâng cao hiệu quả hoạt động các khu kinh tế ven biển”

Như vậy, theo tác giả, kinh tế biển là hoạt động kinh tế diễn ra trên

biển, hoặc có liên quan đến biển như khai thác, chế biến các sản phẩm có liên

Trang 18

quan đến biển, du lịch biển, khai thác dầu khí, vận tải biển, để phục vụ đời sống con người và mang lại lợi ích cho nền kinh tế quốc dân Tuy nhiên, do

những đặc thù về điều kiện tự nhiên cũng như trình độ phát triển kinh tế xã hội của địa phương, trong phạm vi nghiên cứu, tác giả sẽ chỉ tập trung vào 03

(ba) ngành kinh tế biển chủ lực tại khu kinh tế Nghi Sơn bao gồm: (i) lọc hóa

dầu; (ii) khai thác cảng và khu công nghiệp; và (iii) du lịch

1.1.2 Đặc điểm của các ngành kinh tế biển

Dựa trên thế mạnh và những giá trị mà kinh tế biển mang lại, việc phát triển các ngành kinh tế biển có những đặc điểm cơ bản sau:

Thứ nhất, quá trình phát triển các ngành kinh tế biển phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên, vị trí của các vùng biển cũng như tình trạng tài nguyên biển

Như trên đã phân tích, các nguồn tài nguyên biển là yếu tố đầu vào chủ lực để phục vụ cho các hoạt động phát triển kinh tế xã hội Do đó, tất yếu dẫn tới việc phát triển các ngành kinh tế biển sẽ phụ thuộc lớn vào các điều kiện

tự nhiên của địa phương nơi có tài nguyên biển, cũng như tình trạng các nguồn tài nguyên biển tại thời điểm tiến hành các hoạt động phát triển kinh tế

và vị trí của vùng biển đó Thực tế chỉ ra rằng, trong quá trình thực hiện các hoạt động phát triển kinh tế xã hội của mình, con người tác động vào các nguồn tài nguyên thiên nhiên – trong đó có tài nguyên biển để phục vụ cho các nhu cầu về sản xuất và sinh hoạt của chính mình Tuy nhiên, sự tác động này chỉ mang tính chất tương đối bởi các nguồn tài nguyên biển tồn tại và phát triển dựa trên những quy luật khách quan, vốn có của tự nhiên mà con người chỉ có thể tác động tới chúng ở những mức độ nhất định Các nguồn tài nguyên biển vừa là nguồn nguyên liệu của quá trình phát triển kinh tế xã hội; đồng thời môi trường tự nhiên – trong đó có môi trường biển cũng là nơi chứa đựng và đồng hóa các chất thải từ hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt của con người Do đó, nếu không có những biện pháp bảo vệ môi

Trang 19

trường biển nói chung và tài nguyên biển nói riêng thì tất yếu chất lượng của các ngành kinh tế biển sẽ bị ảnh hưởng Nói cách khác, chất lượng của hoạt động phát triển các ngành kinh tế biển phụ thuộc rất lớn vào chất lượng của các nguồn tài nguyên biển cũng như điều kiện tự nhiên khác có mối quan hệ tới nguồn tài nguyên biển đó

Thứ hai, việc phát triển các ngành kinh tế biển có được bền vững hay không phụ thuộc nhiều vào hoạt động khai thác, sử dụng và tác động tới các tài nguyên biển

Đây là một trong những đặc trưng nổi bật của các ngành kinh tế biển so với các ngành kinh tế khác Theo Công ước Luật biển (UNCLOS) năm 1982 của Liên Hiệp Quốc, tài nguyên biển được xác định theo không gian biển, bao gồm tài nguyên sinh vật, tài nguyên không sinh vật và các nguồn tài nguyên đặc biệt (tài nguyên trong khối nước, trên đáy và trong lòng đất dưới đáy biển,

ở vùng đất liền ven biển ) Tài nguyên sinh vật (Living Resources) bao gồm các loài sinh vật thủy sinh và các loài sinh vật trên đảo Tài nguyên không sinh vật (Non - Living Resources) bao gồm tài nguyên khoáng sản, tài nguyên năng lượng và các loại tài nguyên vị thế khác Các nguồn tài nguyên đặc biệt (Remarkable Resources) là những điều kiện tự nhiên như địa hình bờ biển và đảo, khoảng không mặt biển Nếu tài nguyên sinh vật và tài nguyên không sinh vật có thể đánh giá được bằng trữ lượng, thì các loại tài nguyên đặc biệt không thể đánh giá bằng định lượng Việc khai thác, sử dụng và tác động tới một hoặc một vài tài nguyên biển sẽ góp phần cung cấp nguồn lực đầu vào phục vụ cho các hoạt động phát triển kinh tế biển được triển khai thực hiện trên thực tế, là động lực phát triển của doanh nghiệp cũng như của quốc gia trong việc phát triển kinh tế biển Đồng thời đây cũng là cơ sở để đảm bảo ngày càng tốt hơn chất lượng cuộc sống của người dân – kể cả những người dân không trực tiếp sinh sống tại những vùng không có biển

Trang 20

Thứ ba, thị trường của kinh tế biển có những đặc trưng riêng của ngành kinh tế khai thác, sử dụng và tác động tới tài nguyên biển

Ngoài những nét chung của thị trường, so với kinh tế trên đất liền, thị trường của kinh tế biển có những đặc trưng riêng do đặc trưng của hoạt động sản xuất kinh doanh trên không gian biển quy định Như trên đã phân tích, thị

trường “đầu vào” của các ngành kinh tế biển được đặc trưng bởi nguồn tài

nguyên biển, trình độ khoa học công nghệ trong việc phát triển tài nguyên biển cũng như nguồn nhân lực phục vụ cho quá trình phát triển các ngành kinh tế biển đó Trong khi đó, thị trường đầu ra của các ngành kinh tế biển được đặc trưng bởi các sản phẩm có liên quan trực tiếp đến quá trình khai thác, chế biến các sản phẩm từ nguồn tài nguyên biển Đặc biệt, những sản phẩm được khai thác từ tài nguyên sinh vật mang tính thời vụ rất cao, chịu áp

lực mạnh bởi tình trạng “được mùa mất giá” hoặc “được giá mất mùa”

thường xuyên xảy ra do các ngành kinh tế biển phụ thuộc lớn vào các điều kiện tự nhiên cũng như tình trạng của các nguồn tài nguyên biển Nói cách khác, rủi ro trong hoạt động kinh tế biển là rất lớn Việc đầu tư vào kinh tế biển mạo hiểm hơn so với đầu tư vào những ngành ở đất liền do tính phụ thuộc lớn vào điều kiện tự nhiên Do đó, khi mức rủi ro càng lớn trong khi cơ cấu sản xuất trong kinh tế biển mất cân đối, thiếu vắng công nghiệp chế biến

sẽ buộc các doanh nghiệp phải bán hàng thô từ việc khai thác Ví dụ, do không có cơ sở chế biến dầu lửa, nên nhiều năm nước ta đã phải xuất khẩu dầu thô với giá thấp rồi lại nhập về xăng, dầu với giá cao hơn nhiều Chính vì thế, việc hiện đại hóa các ngành kinh tế biển nhằm tận dụng và phát huy được tối đa tiềm năng cũng như lợi ích do các nguồn tài nguyên biển đem lại được nhiều doanh nghiệp và quốc gia – trong đó có Việt Nam đặc biệt quan tâm trong thời kì phát triển hiện nay, trở thành một trong những ưu thế của quốc gia trong quá trình hội nhập và cạnh tranh trên thị trường quốc tế

Trang 21

1.1.3 Vai trò của kinh tế biển ở Việt Nam

Có thể nhận thấy, xu thế chung của thế giới hiện nay là hướng ra biển, coi biển là không gian sinh tồn, tiến tới xây dựng kinh tế biển xanh, thực hiện Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982, bảo đảm vấn đề tự do hàng hải, bảo vệ môi trường đa dạng sinh học biển, chống tư tưởng bá quyền, độc tôn, bảo đảm lợi ích hợp pháp, chính đáng của quốc gia Với diện tích Biển Đông trên ba triệu ki-lô-mét vuông, diện tích đặc quyền kinh tế hơn một triệu ki-lô-mét vuông, gấp 3 lần diện tích lãnh thổ đất liền, bao gồm các vùng biển trong phạm vi 200 hải lý, thềm lục địa và nhiều đảo lớn, nhỏ, 2 huyện đảo Hoàng Sa và Trường Sa và 3.260km bờ biển với dân số trên 92 triệu người, có đến một phần ba sống từ biển, nhờ biển, làm nghề biển, với đặc tính yêu biển, sống vì biển, sẵn sàng ra khơi là đặc trưng của dân tộc Việt Nam Cứ khoảng

100 ki-lô-mét vuông lãnh thổ đất liền thì chúng ta có 1 ki-lô-mét bờ biển và chỉ

số này gấp 6 lần chỉ số trung bình toàn cầu, do đó, biển có vị trí địa chiến lược

vô cùng quan trọng đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XII) về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 (Nghị quyết số 36-NQ/TW) với mục tiêu tổng quát

đến năm 2030 “Đưa Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh; đạt cơ bản các

tiêu chí về phát triển bền vững kinh tế biển ” Như trên đã phân tích, kinh tế

biển là sự kết hợp hữu cơ giữa các hoạt động kinh tế diễn ra trên biển và hoạt động kinh tế trên dải đất liền ven biển Trong đó, biển chủ yếu đóng vai trò vùng khai thác nguyên liệu, là môi trường cho các hoạt động vận tải, du lịch biển; còn toàn bộ hoạt động sản xuất và phục vụ khai thác biển lại diễn ra trên dải đất liền ven biển Đối với lãnh thổ Việt Nam, kinh tế vùng ven biển là các hoạt động kinh tế ở dải ven biển, có thể tính theo địa bàn các xã, huyện và các tỉnh có biên giới đất liền tiếp giáp với biển, bao gồm các lĩnh vực nông, lâm,

Trang 22

ngư nghiệp, công nghiệp, dịch vụ Vai trò của kinh tế biển Việt Nam có thể được biểu hiện ở một số nội dung cơ bản sau:

Thứ nhất, kinh tế biển là nguồn lực quan trọng cho sự phát triển kinh tế quốc gia, đóng góp lớn vào nguồn thu của ngân sách trung ương và địa phương

Vùng biển Việt Nam có diện tích rộng, gấp hơn 3 lần diện tích đất liền, đường bờ biển dài trên 3.260 km (đứng thứ 27 về chiều dài bờ biển trong số

157 quốc gia ven biển, đảo quốc trên thế giới) và tỷ lệ mặt tiền hướng biển gấp 6 lần thế giới Nước ta có lợi thế rất lớn trong phát triển kinh tế biển và

giao lưu, hội nhập kinh tế quốc tế, trong đó Biển Đông đóng vai trò “cầu nối”

quan trọng, là cửa mở với các nước trên thế giới, đặc biệt là với các nước trong khu vực Châu Á - Thái Bình Dương So với các vùng khác trong nội địa, vùng ven biển gồm hầu hết các đô thị lớn có kết cấu hạ tầng khá tốt; có các vùng kinh tế trọng điểm của cả nước đang được đầu tư phát triển mạnh;

có nguồn tài nguyên phong phú và đa dạng, trong đó một số loại có giá trị làm mũi nhọn để phát triển; có nguồn lao động dồi dào và hệ thống giao thông sắt, thủy, bộ thuận tiện… là điều kiện hết sức thuận lợi để tiếp nhận các nguồn vốn đầu tư trong và ngoài nước, tiếp thu công nghệ tiên tiến và kinh nghiệm quản lý hiện đại của nước ngoài, từ đó lan tỏa ra các vùng khác trong nội địa

Tiềm năng nổi bật của kinh tế biển Việt Nam là nguồn tài nguyên dầu khí, trữ lượng ước tính khoảng 3,0 - 4,5 tỷ m3 dầu quy đổi, chủ yếu là khí (chiếm trên 50%) và tập trung chủ yếu ở thềm lục địa Bên cạnh đó, biển Việt Nam còn có tiềm năng lớn về giao thông đường thủy với tổng số 48 vũng, vịnh với tổng diện tích khoảng 4.000 km2, phân bố từ Bắc vào Nam ở vùng ven bờ; trong đó, nhiều vũng vịnh tương đối sâu và kín đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc xây dựng các cảng nước sâu và cho việc trú ngụ của tàu thuyền Ngoài ra, biển còn đóng góp vai trò quan trọng trong việc cung cấp các nguồn lợi thủy hải sản phong phú và đa dạng - là nguồn tài nguyên đa dạng sinh học

Trang 23

biển quý giá của Việt Nam Điều này đã góp phần không nhỏ trong việc phát triển các hoạt động du lịch biển đảo, thu hút đông du khách trong nước và quốc tế trong hoạt động du lịch, từ đó đẩy mạnh phát triển các hình thức dịch

vụ du lịch nghỉ dưỡng của ngành công nghiệp không khói

Thứ hai, kinh tế biển góp phần quan trọng trong việc ổn định và nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân

Điều 2 - Hiến pháp năm 2013 đã khẳng định “Nước Cộng hòa xã hội chủ

nghĩa Việt Nam do nhân dân làm chủ, tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức” Bên cạnh đó, điều 3 Hiến pháp tiếp tục nhấn mạnh “Nhà nước bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của nhân dân; công nhận, tôn trọng, bảo vệ

và bảo đảm quyền con người, quyền công dân” Để bảo đảm thực hiện được tinh

thần đó, Nhà nước đã có nhiều chính sách trong việc đảm bảo ngày càng tốt hơn các nhu cầu vật chất cũng như các chính sách về an sinh xã hội cho người dân - trong đó có hoạt động đẩy mạnh phát triển kinh tế biển Với những tiềm năng to lớn và đa dạng của biển, phát triển bền vững kinh tế biển đã và đang đem lại những lợi ích kinh tế cho người dân, đặc biệt là những người dân sinh sống trực tiếp tại những vùng kinh tế biển Việc phát triển mạnh mẽ các ngành nghề kinh

tế như khai thác thủy hải sản, khai thác tài nguyên thiên nhiên, phát triển giao thông đường biển và các loại hình dịch vụ do biển mang lại đã và đang đem lại những lợi ích trực tiếp cho những người dân sinh sống tại các khu vực đó; qua

đó góp phần cải thiện cuộc sống và tăng nguồn thu nhập thực tế cho họ, nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân

Thứ ba, kinh tế biển góp phần bảo đảm trật tự an toàn xã hội, giữ vững

an ninh quốc phòng quốc gia trong tiến trình phát triển kinh tế xã hội

Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá X đã thông

qua Nghị quyết số 09-NQ/TW ngày 9/2/2007 về “Chiến lược biển Việt Nam

Trang 24

đến năm 2020”, trong đó xác định ba mục tiêu tổng quát là: phấn đấu đưa

nước ta trở thành quốc gia mạnh về biển, làm giàu từ biển; xây dựng và phát triển toàn diện các lĩnh vực kinh tế, xã hội, khoa học - công nghệ theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá; tăng cường hợp tác quốc tế, đồng thời bảo đảm vững chắc chủ quyền quốc gia trên biển, đảo Có thể nói, việc đẩy mạnh phát triển các loại hình kinh tế biển đảo không chỉ góp phần khai thác và sử dụng các nguồn tài nguyên biển phục vụ cho các hoạt động phát triển kinh tế xã hội, qua đó góp phần bảo đảm và nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân, mà thông qua đó còn góp phần khẳng định chủ quyền biển đảo của Việt Nam với các quốc gia trong khu vực và trên thế giới Từ đây, an ninh trên biển được bảo đảm, chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ của quốc gia được công nhận và giữ vững

Có thể nói, hệ thống đảo Việt Nam có vai trò quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội cả nước nói chung và phát triển kinh tế biển nói riêng Tài nguyên biển phong phú chính là tiền đề cho xây dựng các chiến lược về biển Nghị quyết 09-NQ/TW này cũng đặt mục tiêu đưa đất nước ta trở thành quốc gia mạnh về biển, giàu lên từ biển theo hướng phát triển bền vững, phấn đấu đóng góp khoảng 53-55% tổng GDP; 55-60% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước; giải quyết tốt các vấn đề xã hội, cải thiện thêm một bước đáng kể đời sống cho nhân dân vùng biển và ven biển; có thu nhập bình quân đầu người cao gấp 2 lần so với thu nhập bình quân chung của cả nước; đồng thời bảo đảm chủ quyền quốc gia và trật tự an toàn xã hội

Trong Nghị quyết số 36-NQ/TW - Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8 Ban

Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XII) về Chiến lược phát triển bền vững

kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, Đảng ta chỉ rõ

mục tiêu đến năm 2045, Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh, phát triển bền vững, thịnh vượng, an ninh, an toàn; kinh tế biển đóng góp quan trọng

Trang 25

vào nền kinh tế đất nước, góp phần xây dựng nước ta thành nước công nghiệp hiện đại theo định hướng xã hội chủ nghĩa; tham gia chủ động và có trách nhiệm vào giải quyết các vấn đề quốc tế và khu vực về biển và đại dương

1.1.3 Phát triển bền vững kinh tế biển ở Việt Nam

Phát triển kinh tế biển là việc mở rộng cả quy mô, chất lượng và gia tăng mức độ khai thác các nguồn lợi trực tiếp cũng như gián tiếp từ biển, tăng

tỉ trọng của ngành kinh tế biển Quy mô phát triển kinh tế biển ngày càng lớn, dựa vào sự tiến bộ của khoa học, công nghệ để mở rộng các phân ngành kinh

tế biển Bên cạnh đó, chất lượng của các sản phẩm từ biển ngày càng được nâng cao, giá trị thu được từ kinh tế biển phải chiếm tỉ trọng cao trong cơ cấu kinh tế quốc dân Nói cách khác, phát triển kinh tế biển là một hoạt động có chủ đích của con người tác động vào các ngành kinh tế biển để tạo ra những kết quả như mong muốn theo chiều hướng tốt hơn làm cho kinh tế - xã hội phát triển, các điều kiện sống của người dân được cải thiện, an ninh chính trị được giữ vững Từ đây có thể hiểu, phát triển kinh tế biển là sự gia tăng về quy mô, cơ cấu, số lượng, chất lượng của các phân ngành kinh tế biển theo hướng hiện đại bằng hệ thống các công cụ, chính sách tác động vào hoạt động kinh tế diễn ra trên biển và các hoạt động kinh tế để khai thác, sử dụng tiềm năng của biển nhằm phát triển kinh tế - xã hội của vùng kinh tế và nền kinh tế quốc dân

Khai thác tiềm năng biển, đảo là vấn đề quan trọng mang tính chiến lược ở hầu hết các quốc gia trên thế giới, kể cả các quốc gia có biển và không

có biển Trong điều kiện các nguồn tài nguyên trên đất liền ngày càng cạn kiệt, các nước ngày càng quan tâm tới biển Việc phát triển kinh tế biển trở thành xu thế tất yếu trên con đường tìm kiếm và đảm bảo các nhu cầu về nguyên, nhiên liệu, năng lượng, thực phẩm cũng như không gian sinh tồn cho loài người trong tương lai Do đó, yêu cầu tất yếu đặt ra trong thời kì hiện nay

Trang 26

là phải phát triển kinh tế biển bền vững, gắn kết các lợi ích kinh tế với các vấn

đề về bảo vệ môi trường biển nhằm đảm bảo ngày càng tốt hơn các yêu cầu

về an sinh xã hội cho người dân

Thực tế chỉ ra rằng, môi trường nói chung và môi trường sinh thái biển nói chung vừa là yếu tố đầu vào - nơi cung cấp các nguồn tài nguyên thiên nhiên phục vụ cho các hoạt động phát triển kinh tế xã hội, vừa là yếu tố đầu ra – nơi chứa đựng và đồng hóa các chất thải, chất gây ô nhiễm do chính hoạt động phát triển kinh tế xã hội đó gây ra Do đó, nếu không tiến hành bảo vệ tốt các yếu tố môi trường sinh thái biển thì tất yếu sẽ gây ảnh hưởng không nhỏ tới chất lượng, hiệu quả của quá trình phát triển kinh tế xã hội cũng như chất lượng cuộc sống của người dân Từ đó, đặt ra yêu cầu phải đảm bảo phát triển bền vững nói chung và phát triển kinh tế biển bền vững nói riêng

Hiểu một cách cơ bản và đơn giản nhất, phát triển là một quá trình tiến hóa của mọi xã hội, mọi cộng đồng dân tộc trong đó các chủ thể lãnh đạo và quản lý, bằng các chiến lược và chính sách thích hợp với những đặc điểm về lịch sử, chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của xã hội và cộng đồng dân tộc mình, tạo ra, huy động và quản lý các nguồn lực tự nhiên và con người nhằm đạt được những thành quả bền vững và được phân phối công bằng cho các thành viên trong xã hội vì mục đích không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống của họ Xuất phát từ đó, việc nghiên cứu về mối quan hệ giữa 03 (ba) trụ cột của sự phát triển: kinh tế - xã hội – môi trường góp phần tìm kiếm một giải pháp cân bằng nhằm hướng tới vấn đề phát triển bền vững

Theo quy định tại khoản 4 Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường năm 2014,

“Phát triển bền vững là phát triển đáp ứng được nhu cầu của hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu đó của các thế hệ tương lai trên cơ sở kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, bảo đảm tiến bộ

xã hội và bảo vệ môi trường” Từ đây có thể thấy, 03 (ba) trụ cột chính của

Trang 27

vấn đề phát triển bền vững đó chính là: kinh tế - xã hội - môi trường Quan điểm phát triển bền vững không tiến tới triệt tiêu bất kì một yếu tố cụ thể nào trong 03 (ba) trụ cột trên mà tiến tới tìm kiếm các giải pháp nhằm cân bằng giữa các nhóm lợi ích trong quá trình hoạch định và thực hiện một hoạt động phát triển kinh tế xã hội: vừa tăng cường được các lợi ích kinh tế, vừa đảm bảo được các vấn đề về an toàn và an sinh xã hội, đồng thời giữ gìn và phát triển các lợi ích về môi trường

Tuy nhiên, cần nhận thức được rằng, không có một hoạt động phát triển kinh tế xã hội nào mà không tác động hoặc không gây tổn hại tới tình hình và chất lượng môi trường Do đó, phát triển bền vững không nhằm loại trừ hoạt động phát triển kinh tế để bảo vệ và giữ gìn nguyên trạng chất lượng của môi trường tự nhiên Quan điểm này không chấp nhận đánh đổi giá trị và lợi ích môi trường vì một nền kinh tế phát triển nhanh, nóng, không hiệu quả và thiếu bền vững Mục đích của phát triển bền vững là nhằm xây dựng một “tam giác đều” ổn định và vững vàng giữa các vấn đề về phát triển kinh tế bền vững - an sinh xã hội bền vững - bảo vệ môi trường bền vững Đây cũng chính là quan điểm của tất cả các quốc gia trên thế giới trong tiến trình thực hiện các hoạt động phát triển kinh tế xã hội của mình Từ đây có thể hiểu, phát triển kinh tế biển bền vững là việc tiến tới khai thác và sử dụng tài nguyên biển một cách tiết kiệm, hiệu quả và hợp lí trên cơ sở sử dụng tài nguyên biển để phục vụ cho các hoạt động phát triển kinh tế gắn kết với các giải pháp về bảo vệ môi trường nói chung và tài nguyên biển nói riêng cũng như những yêu cầu về bảo đảm các chính sách về an sinh xã hội cho người dân

1.2 Khái quát về kinh tế biển ở khu kinh tế

1.2.1 Khái niệm kinh tế biển ở khu kinh tế

Xuất phát từ công cuộc đổi mới năm 1986, để hướng tới xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, trong đó, tăng cường thu hút

Trang 28

các nguồn lực để phát huy tiềm năng thế mạnh trong nước, chuyển đổi cơ cấu kinh tế, thực hiện chủ trương của Đảng, Nhà nước, các mô hình khu công nghiệp, khu kinh tế đã được hình thành, phát triển đa dạng và đóng góp tích cực vào công cuộc phát triển kinh tế xã hội của đất nước

Hội nghị lần thứ tư Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII năm

1997 đã đề ra chủ trương nghiên cứu xây dựng thí điểm một vài đặc khu kinh

tế, khu mậu dịch tự do ở những địa bàn ven biển có đủ điều kiện Nghị quyết hội nghị lần thứ 4 Ban chấp hành Trung ương khoá X về Chiến lược Biển Việt Nam đến năm 2020 của Đảng ta chỉ rõ: Nước ta phải trở thành quốc gia mạnh về biển, làm giàu từ biển trên cơ sở phát huy mọi tiềm năng từ biển, phát triển toàn diện các ngành nghề biển với cơ cấu phong phú, hiện đại tạo ra tốc độ phát triển nhanh bền vững với hiệu quả, tốc độ cao; phấn đấu đến năm

2020, kinh tế trên biển và ven biển đóng góp khoảng 53-55% GDP của cả nước, trong đó các khu kinh tế được xác định đóng vai trò động lực, chủ đạo

Bên cạnh đó, Bộ Chính trị có ý kiến chỉ đạo về việc hình thành các khu kinh tế tại các Thông báo số 79-TB/TW ngày 27/9/2002 và số 155-TB/TW ngày 9/9/2004 của Ban chấp hành Trung ương; Nghị quyết số 39-NQ/TW ngày 16/8/2004 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế và đảm bảo an ninh quốc phòng vùng Bắc Trung Bộ và Duyên hải Trung Bộ đến năm 2010 Tại Quyết định số 148/2004/QĐ-TTg ngày 13/8/2004 về phương hướng chủ yếu phát triển kinh tế - xã hội vùng kinh tế trọng điểm miền Trung đến năm 2010

và tầm nhìn đến năm 2020; Quyết định số 178/2004/QĐ-TTg ngày 05/10/2004 về Đề án Phát triển tổng thể đảo Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang đến năm 2010 và tầm nhìn 2020; Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo các Bộ, ngành

và địa phương nghiên cứu xây dựng đề án thành lập khu kinh tế trên cơ sở phân tích tiềm năng lợi thế của các vùng, thể chế hoá chủ trương của Bộ

Trang 29

Chính trị, tạo ra khung pháp lý và tổ chức hoạt động của khu kinh tế nhằm bảo đảm sự phát triển lâu dài và bền vững của các khu kinh tế

Theo quy định tại khoản 12 Điều 3 Luật Đầu tư năm 2014 và khoản 7 Điều 2 Nghị định số 82/2018/NĐ – CP ngày 22 tháng 5 năm 2018 quy định

về quản lí khu công nghiệp và khu kinh tế (sau đây gọi là Nghị định 82/2018/NĐ - CP), khu kinh tế là khu vực có ranh giới địa lý xác định, gồm nhiều khu chức năng, được thành lập để thực hiện các mục tiêu thu hút đầu tư, phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ quốc phòng, an ninh Trong đó, khu kinh

tế ven biển là khu kinh tế hình thành ở khu vực ven biển và địa bàn lân cận khu vực ven biển, được thành lập theo các điều kiện, trình tự và thủ tục theo quy định của pháp luật (điểm a khoản 7 Điều 2 Nghị định 82/2018/NĐ - CP) Khu kinh tế nói chung và khu kinh tế ven biển nói riêng là địa bàn ưu đãi đầu

tư, được hưởng chính sách ưu đãi áp dụng đối với địa bàn thuộc Danh mục địa bàn có điều kiện kinh Dựa trên việc xây dựng và tổ chức thực hiện Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển, Đảng và Nhà nước ta chủ trương xây dựng các khu kinh tế ven biển, xem đây là mô hình phát triển mới, nhằm hình thành các khu kinh tế động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của các địa phương và vùng, nhất là các vùng nghèo ven biển; tạo tiền đề huy động, thu hút mạnh mẽ các nguồn vốn đầu tư, tìm kiếm, áp dụng những thể chế, chính sách kinh tế mới để chủ động hội nhập kinh tế quốc tế; kết hợp phát triển kinh tế với tăng cường quốc phòng, an ninh

Từ đây có thể đưa ra định nghĩa khái quát về vấn đề này như sau: Kinh

tế biển ở khu kinh tế là các ngành kinh tế diễn ra trên biển hoặc có liên quan đến biển tại các khu kinh tế được nhà nước quy hoạch thành các khu vực đặc thù và dành nhiều ưu đãi đầu tư trong quá trình hoạt động nhằm khai thác và phát huy được thế mạnh về tiềm năng kinh tế biển của khu kinh tế, trên cơ sở

đó tạo động lực phát triển kinh tế xã hội cho địa phương cũng như cả nước,

Trang 30

góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân, kể cả những người dân sinh sống tại các khu vực không có biển

1.2.2 Nội dung của kinh tế biển ở khu kinh tế

Khu kinh tế ven biển là mô hình phát triển có tính đột phá cho phát triển kinh tế vùng, hỗ trợ những vùng, lãnh thổ có điều kiện thuận lợi khai thác lợi thế về điều kiện tự nhiên, vị trí địa kinh tế và chính trị để phát triển kinh tế, hội nhập kinh tế quốc tế; huy động tối đa nguồn nội lực, tìm kiếm và

áp dụng những thể chế và chính sách kinh tế mới để chủ động hội nhập kinh

tế quốc tế và khu vực; kết hợp phát triển kinh tế với giữ vững an ninh, quốc phòng Từ đây, kinh tế biển ở khu kinh tế là một trong những mục tiêu quan trọng trong việc thúc đẩy hoạt động hiệu quả tại các khu kinh tế, góp phần đạt được những mục tiêu đã đặt ra trong việc xây dựng và phát triển các khu kinh

sử dụng biển một cách bền vững hơn Qua đó, việc đẩy mạnh phát triển các ngành kinh tế biển tại các khu kinh tế phải đóng vai trò quan trọng trong việc góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của các khu kinh tế, tương xứng với tiềm năng và những ưu đãi dành cho các khu vực này trong quá trình thực

Trang 31

hiện các hoạt động phát triển kinh tế xã hội Việc hình thành các khu kinh tế biển sẽ góp phần quan trọng trong việc phát triển các ngành kinh tế biển theo hướng tập trung, thống nhất và hiệu quả hơn

Tuy nhiên, thực tế chỉ ra rằng, mỗi khu kinh tế nói chung và khu kinh tế ven biển nói riêng sẽ có những điều kiện tự nhiên và trình độ phát triển kinh

tế xã hội của địa phương riêng biệt và đặc thù so với những khu vực khác Việc khai thác, sử dụng, tác động tới các nguồn tài nguyên biển một cách đúng đắn, tập trung và hiệu quả sẽ góp phần đề ra những mục tiêu, định hướng cũng như cách thức tổ chức và triển khai thực hiện các ngành kinh tế biển một cách trực tiếp, thống nhất và hiệu quả Điều này góp phần hình thành nên các ngành kinh tế biển chủ lực của khu kinh tế được Đảng và Nhà nước cũng như chính quyền địa phương ưu tiên tập trung đầu tư; qua đó góp phần hình thành nên các khu kinh tế đặc thù với những đặc trưng là các nguồn tài nguyên biển chủ lực

Xuất phát từ những tiềm năng đặc trưng về tài nguyên biển cũng như trình độ phát triển kinh tế xã hội của địa phương, Nghi Sơn hội tụ đủ những tiềm năng và lợi thế trở thành một khu kinh tế tổng hợp đa ngành, đa lĩnh vực, trong đó trọng tâm là phát triển công nghiệp nặng và công nghiệp cơ bản bao gồm: lọc hóa dầu, luyện cán thép cao cấp, cơ khí chế tạo, điện, vật liệu xây dựng, sản xuất hàng tiêu dùng, chế biến và xuất khẩu…Trong phạm vi công trình nghiên cứu, tác giả sẽ hướng tới tập trung vào việc phát triển các ngành kinh tế biển chủ lực của khu kinh tế Nghi Sơn với việc khai thác, sử dụng và tác động tới các nguồn tài nguyên biển phục vụ chủ yếu cho việc phát triển các ngành kinh tế bao gồm: lọc hóa dầu, khai thác cảng và khu công nghiệp,

và hoạt động du lịch Cụ thể:

Thứ nhất, về hoạt động lọc hóa dầu

Theo quy định tại khoản 4 Điều 2 Nghị định số 13/2011/NĐ – CP ngày

11 tháng 02 năm 2011 về an toàn công trình dầu khí trên biển (sửa đổi, bổ

Trang 32

sung một số điều bởi Nghị định số 25/2019/NĐ – CP ngày 07 tháng 03 năm

2019, có hiệu lực thi hành từ ngày 22 tháng 04 năm 2019), nhà máy chế biến

và lọc hóa dầu là cơ sở thực hiện các quá trình công nghệ chế biến dầu thô và các nguyên liệu khác để tạo ra các sản phẩm lọc dầu và hóa dầu, bao gồm: nhà máy, công trình phụ trợ, hệ thống kho, bể chứa nguyên liệu và sản phẩm,

hệ thống đường ống vận chuyển, xuất, nhập, đê chắn sóng và các hạng mục công trình biển có liên quan của nhà máy Đây là quá trình sử dụng các tiến

bộ khoa học công nghệ nhằm chuyển hóa dầu khí sơ khai trong tự nhiên thành các sản phẩm lọc hóa dầu với tính chất hoàn toàn khác biệt, thay thế sản phẩm thiên nhiên với tính năng tốt hơn, độ bền cao hơn, giá thành thấp hơn, có các đặc tính riêng biệt, thông minh hơn, thân thiện với môi trường hơn như xăng dầu sạch thay thế dầu đốt tự nhiên, cao su tổng hợp thay thế cao su thiên nhiên, xơ sợi tổng hợp thay cho bông, lụa, các loại nhựa thay thế cho gỗ và thép trong xây dựng, đồ dùng và linh kiện thiết bị, máy móc

Việc phát triển ngành công nghiệp lọc hóa dầu tại Nghi Sơn nhằm khai thác, phát huy và tận dụng tối đa những tiềm năng về dầu khí (bao gồm dầu

mỏ và khí đốt) tại địa phương, tiến tới hình thành ngành kinh tế biển chủ lực

Và thực tế đã chứng minh, dự án lọc hóa dầu Nghi Sơn đã và đang trở thành điểm sáng trong phát triển kinh tế biển và thu hút đầu tư của tỉnh Thanh Hóa

Thứ hai, về hoạt động khai thác cảng và khu công nghiệp

Một trong những ngành kinh tế biển đóng góp quan trọng trong tiến trình phát triển của ngành hàng hải nói chung và sự phát triển kinh tế biển nói riêng, đó chính là hoạt động quản lí và khai thác cảng biển Cảng biển phát triển về số lượng và chất lượng sẽ thu hút được các hãng tàu chuyên chở hàng hóa đi và đến Việt Nam cùng với việc phát triển dịch vụ hàng hải, trong đó có dịch vụ logistics Khi đã xây dựng đuợc những cảng biển hiện đại, hoàn chỉnh, đạt tiêu chuẩn quốc tế sẽ có đội tàu mạnh và dịch vụ hàng hải phù hợp

để đáp ứng các yêu cầu về phát triển kinh tế biển ngày càng tốt hơn

Trang 33

Theo nghĩa hẹp, cảng biển là đầu mối giao thông, là nơi thực hiện các thao tác xếp dỡ hàng hóa từ phương thức vận tải biển sang các phương thức vận tải khác và ngược lại Do đó, có thể nói vai trò cơ bản của cảng là xếp dỡ hàng hóa, hỗ trợ cho công tác xuất nhập khẩu với tư cách là một bộ phận cơ

sở hạ tầng quan trọng của quốc gia Chính vì vậy, hậu phương của cảng rất hạn chế Tuy nhiên, xuất phát từ các hoạt động của cảng biển trên thực tế, quan điểm trên còn được mở rộng hơn Theo đó, ngoài vai trò xếp dỡ hàng hóa (vai trò cơ bản) cảng còn thực hiện hoạt động trung chuyển đơn giản và logistic tạo giá trị gia tăng với khu hậu phương cảng tương đối rộng lớn Thực

tế chỉ ra rằng, trong tương lai, cảng sẽ có khu hậu phương đủ lớn để phục vụ cho tất cả các hoạt dộng của các doanh nghiệp Như vậy, ngoài vai trò cơ bản, chuyển tải đơn giản và logistics tạo giá trị gia tăng cảng còn có vai trò của chuỗi kinh doanh Lúc đó, hoạt động của cảng gắn liền với hoạt động của khu kinh tế mở, khu thương mại tự do, khu công nghiệp, khu chế xuất…

Với diện tích khoảng 735 ha, gồm 62 bến cảng, trong đó có: 50 bến chuyên dụng, bến tổng hợp và 12 bến container, có khả năng tiếp nhận tàu có trọng tải đến 100.000 DWT 5, cảng biển Nghi Sơn sẽ đưa Thanh Hóa trở

thành “thế lực” mới tại Việt Nam trong lĩnh vực vận tải biển và logictics

Đến nay, đã có 20 bến tổng hợp, bến chuyên dụng đi vào hoạt động; 10 bến container và nhiều bến tổng hợp, bến chuyên dụng khác đang tiếp tục được đầu tư, đảm bảo tiếp nhận tàu có tải trọng trên 30.000 DWT

Thứ ba, về hoạt động du lịch

Với tiềm năng du lịch đa dạng và phong phú, trong những năm qua, du lịch Việt Nam đang trên đà phát triển và đang dần khẳng định được vị trí của mình trong sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội chung của đất nước Nghị quyết

08 – NQ/TW của Bộ Chính trị được ban hành ngày 16/01/2017, trong đó xác

5

http://baothanhhoa.vn/kinh-te/nang-cao-nang-luc-canh-tranh-cua-cang-nuoc-sau-nghi-son/102847.htm

Trang 34

định đến năm 2020 du lịch cơ bản là ngành kinh tế mũi nhọn với tổng thu 35

36-là một trong những ngành kinh tế chủ chốt trong các ngành kinh tế biển, đồng thời chỉ ra nhiều nội dung quan trọng để thúc đẩy phát triển kinh tế du lịch vùng biển bao gồm ven biển, đảo và đảo xa bờ Đồng thời, Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt ngày 31/12/2011 coi các giải pháp phát triển sản phẩm du lịch là giải pháp quan trọng hàng đầu, trong đó hướng ưu tiên lớn nhất là tập trung phát triển dòng sản phẩm du lịch biển, đảo Với các thế mạnh nổi trội về tiềm năng du lịch biển, các sản phẩm du lịch biển đảo trong tương lai sẽ mang đến cơ hội cạnh tranh, thu hút khách du lịch quốc tế đến với du lịch biển Việt Nam nói chung và du lịch biển tại Nghi Sơn (Thanh Hóa) nói riêng

Với những ưu thế về hệ sinh thái biển đa dạng và phong phú, cùng với cảnh sắc và danh lam thắng cảnh độc đáo, Nghi Sơn đã và đang thúc đẩy

mạnh mẽ hoạt động phát triển du lịch biển đảo tại địa phương, đưa “ngành

công nghiệp không khói” trở thành một trong những thế mạnh trong việc phát

triển các ngành kinh tế biển Ngày 9/6/2017, UBND xã Nghi Sơn đã ban hành

Kế hoạch hành động thực hiện Nghị quyết số 08 của Bộ Chính trị về phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn Với tinh thần quyết tâm đó, từ chỗ chỉ là tiềm năng, đến nay du lịch Nghi Sơn đã và đang ghi nhận nhiều bước chuyển biến lớn trong việc khai thác tiềm năng du lịch để phát triển kinh

tế biển

Trang 35

1.2.2.2 Hình thành mạng lưới các vùng kinh tế biển, thúc đẩy sự giao lưu

và hợp tác trong việc phát triển kinh tế biển của các địa phương trong cả nước

Thực tế chỉ ra rằng, việc xây dựng, hình thành và phát triển các khu kinh tế tiến tới đóng vai trò chủ đạo trong việc phát triển vùng và gắn kết liên vùng kinh tế Theo đó, vùng kinh tế - xã hội là một bộ phận của lãnh thổ quốc gia, gồm một số tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có các hoạt động kinh

tế - xã hội tương đối độc lập, thực hiện sự phân công lao động xã hội của cả nước Đây là loại vùng phục vụ việc hoạch định chiến lược và quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội theo lãnh thổ cũng như để quản lý các quá trình phát triển kinh tế - xã hội trên mỗi vùng của đất nước Cùng với đó, liên kết kinh tế

là hình thức hợp tác và phối hợp thường xuyên các hoạt động do các chủ thể kinh tế tự nguyện tiến hành để cùng đề ra và thực hiện các chủ trương, biện pháp có liên quan đến công việc sản xuất, kinh doanh của các bên tham gia nhằm thúc đẩy sản xuất, kinh doanh phát triển theo hướng có lợi nhất Hoạt động liên kết vùng kinh tế được thực hiện trên cơ sở nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, cùng có lợi thông qua hợp đồng kinh tế ký kết giữa các bên tham gia và trong khuôn khổ pháp luật của các nhà nước Chính mối quan hệ liên kết đã đưa đến cho các chủ thể kinh tế những cơ hội để nhận được những lợi ích lớn hơn, an toàn hơn Mục tiêu của liên kết kinh tế là tạo ra mối quan hệ kinh tế ổn định thông qua các hợp đồng kinh tế hoặc các quy chế hoạt động để tiến hành phân công sản xuất chuyên môn hoá, nhằm khai thác tốt tiềm năng của từng đơn vị tham gia liên kết; hoặc để cùng nhau tạo thị trường chung, phân định hạn mức sản lượng cho từng đơn vị thành viên, hay giá cả cho từng loại sản phẩm nhằm bảo vệ quyền lợi cũng như lợi ích của các bên

Có thể thấy, trong điều kiện hiện nay, phát triển kinh tế biển độc lập sẽ không tận dụng được hết những tiềm năng, nguồn lực cho sự phát triển, đồng thời không tạo được sự liên kết cần thiết với các lĩnh vực khác trong quá trình

Trang 36

phát triển kinh tế xã hội trong khi hoạt động phát triển kinh tế biển yêu cầu phải là quá trình phát triển tổng hợp, là phương thức có thể thỏa mãn các nhu cầu điều hòa, cân bằng, chia sẻ lợi ích, phát huy được lợi thế của từng lĩnh vực để tạo nên sức mạnh tổng hợp thúc đẩy sự phát triển của kinh tế - xã hội của địa phương Việc đẩy mạnh công tác xây dựng và phát triển kinh tế biển trong việc khai thác vùng bờ trong liên kết vùng và gắn kết liên vùng sẽ góp phần quan trọng trong việc định hướng xây dựng kinh tế biển theo hướng tập trung, chủ đạo tại những địa phương có tiềm năng và thế mạnh về phát triển kinh tế biển

Nói cách khác, phát triển kinh tế biển trong liên kết vùng là sự gia tăng

về quy mô, cơ cấu, số lượng, chất lượng của các phân ngành kinh tế biển trên

cơ sở kết nối chặt chẽ với các ngành kinh tế khác của vùng để thiết lập các quan hệ liên kết kinh tế, tổ chức sản xuất theo hướng hiện đại, tận dụng tối đa các nguồn lực, phát huy hết tiềm năng lợi thế của vùng nhằm thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của vùng và quốc gia Từ đó, các hoạt động phát triển kinh tế biển sẽ được triển khai thực hiện một cách đồng bộ, thống nhất và đạt hiệu quả cao; từ đó góp phần xây dựng nên chuỗi phát triển kinh tế biển ổn định, đem lại nguồn thu cho ngân sách trung ương và địa phương cũng như đảm bảo ngày càng tốt hơn chất lượng cuộc sống của người dân

1.2.2.3 Hình thức kinh tế biển được thực hiện đa dạng nhằm thu hút đầu tư, phù hợp với định hướng phát triển nền kinh tế thị trường định hướng

Xã hội Chủ nghĩa

Một trong những chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta là xây dựng thành công nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Tại Hội nghị Trung ương 6 khóa VI (tháng 3-1989), Đảng đã khẳng định thực hiện nhất quán chính sách cơ cấu kinh tế nhiều thành phần, coi đây là chính sách có ý nghĩa chiến lược lâu dài, có tính quy luật từ sản xuất nhỏ đi lên chủ nghĩa xã

Trang 37

hội Đồng thời, Nghị quyết đã đưa ra quan điểm mới, mang tính chất bước ngoặt về kinh tế quốc doanh, tạo cơ sở quan trọng cho việc đẩy mạnh sắp xếp lại khu vực kinh tế này Cụ thể, kinh tế quốc doanh phải được củng cố và phát triển, nắm vững vị trí then chốt trong nền kinh tế, có lực lượng đủ sức chi phối thị trường để thực hiện tốt vai trò chủ đạo, bảo đảm cho sự phát triển ổn định và có hiệu quả của toàn bộ nền kinh tế quốc dân theo định hướng xã hội chủ nghĩa, song không nhất thiết chiếm tỷ trọng lớn trong mọi ngành, nghề Đến Đại hội VII (6-1991), Đảng đã nêu rõ cơ chế vận hành nền kinh tế là cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước bằng pháp luật, kế hoạch, chính sách và các công cụ khác Trong cơ chế đó, các đơn vị kinh tế thuộc mọi thành phần kinh tế có quyền tự chủ sản xuất, kinh doanh; hợp tác, liên doanh

tự nguyện, bình đẳng, cạnh tranh hợp pháp Bên cạnh đó, Đảng cũng chỉ rõ, phải xây dựng và phát triển đồng bộ các thị trường, xóa bỏ độc quyền và đặc quyền ở hầu hết các ngành và lĩnh vực kinh tế Tại Đại hội IX (4-2001), khái niệm kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa mới được chính thức sử dụng trong các văn kiện của Đảng Và cũng từ Đại hội này, Đảng xác định nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là mô hình kinh tế tổng quát của nước ta trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội

Cùng với quá trình phát triển kinh tế xã hội, lịch sử đã để lại nhiều hình thức sở hữu như chế độ sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể và sở hữu tư nhân Theo đó quan hệ sản xuất còn tồn tại nhiều thành phần kinh tế như: kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài

Để thích ứng với trình độ khác nhau của lực lượng sản xuất – trong đó có các lực lượng sản xuất kinh tế biển, các thành phần kinh tế trong quá trình phát triển kinh tế biển thường tồn tại đan xen với nhau, cạnh tranh bình đẳng trước pháp luật, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng đóng góp vào quá trình phát triển kinh tế biển Sự tồn tại

Trang 38

của nhiều thành phần kinh tế đã góp phần khuyến khích và tạo điều kiện cho nhiều chủ thể được tham gia vào hoạt động phát triển kinh tế biển, qua đó đáp ứng được nhiều lợi ích kinh tế của các giai cấp, tầng lớp khác nhau

Từ đây, các ngành kinh tế biển hoạt động không chỉ bị giới hạn bởi sự tham gia của một chủ thể riêng biệt mà đã tạo động lực để các chủ thể có nội lực và nhu cầu được tham gia vào quá trình khai thác, sử dụng và tác động tới các nguồn tài nguyên biển Bên cạnh đó, việc đa dạng hóa các hình thức phát triển kinh tế biển đã góp phần thu hút đầu tư nước ngoài, tăng khả năng đầu tư vốn để phát triển tại các khu kinh tế Từ đó góp phần xây dựng và tạo tiền đề

để nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp – đặc biệt các doanh nghiệp Việt Nam trong quá trình đầu tư phát triển kinh tế biển tại các khu kinh tế, tiến tới phát triển bền vững kinh tế biển Các hình thức tổ chức kinh

tế của kinh tế biển được tổ chức thực hiện thông qua nhiều hình thức như: doanh nghiệp, hợp tác xã, công ty tư nhân, cơ sở sản xuất, chế biến, dịch vụ, tập đoàn kinh tế, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, công ty liên doanh, Các hình thức kinh tế trong quá trình ban hành và thực thi pháp luật, trong quá trình phát triển kinh tế biển góp phần hình thành hệ thống quan hệ sản xuất đa sở hữu, đa thành phần kinh tế, với nhiều trình độ khác nhau, trong

đó các chủ thể vừa hợp tác, vừa cạnh tranh, tạo động lực kích thích đổi mới, sáng tạo để phát triển kinh tế biển trong khu kinh tế, tiến tới phát triển bền vững kinh tế biển, phù hợp với bản chất của nền kinh tế thị trường định hướng

xã hội chủ nghĩa mà Đảng và Nhà nước ta chủ trương xây dựng và thực hiện trong thời kì phát triển mới

Thực tế chỉ ra rằng, là quốc gia biển trong khu vực Biển Đông, Việt

Nam với vị thế đặc thù, là “ban công” hướng ra biển Thái Bình Dương, có

nhiều thuận lợi cho hoạt động giao thương và hội nhập kinh tế quốc tế nhưng cũng là vị trí xung yếu về mặt an ninh, quốc phòng; tạo cho nước ta một vị thế

Trang 39

địa – chính trị và địa – kinh tế then chốt trong chiến lược phát triển, mở rộng ảnh hưởng các nước lớn trên thế giới, từ xa xưa cho đến nay Từ thế đứng tự nhiên – lịch sử, cùng với vị thế của đất nước hiện nay trong khu vực và trên thế giới, Việt Nam đã có nhiều chủ trương, chính sách về biển, sách nhằm khai thác tối đa tiềm năng và lợi thế trên biển, vùng ven biển và hải đảo, bảo đảm quốc phòng – an ninh, bảo vệ môi trường, bảo vệ toàn vẹn chủ quyền quốc gia, góp phần đẩy nhanh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất

nước, đưa nước ta trở thành “quốc gia mạnh về biển, giàu từ biển, phát triển

bền vững, thịnh vượng, an ninh và an toàn” như Chiến lược phát triển bền

vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 do Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương khóa XII đã đề ra

Kinh tế biển tại khu kinh tế đóng góp rất lớn cho sự phát triển của địa phương và cả nước, góp phần thúc đẩy sự lớn mạnh của các ngành kinh tế biển Do đó, việc đa dạng hóa các hình thức đầu tư như đầu tư trực tiếp nước ngoài, cổ phần hóa, đa hình thức sở hữu, phát huy tối đa nguồn lực, tiềm năng

và thế mạnh của các thành phần kinh tế cần phải được chú trọng Việc mở rộng thị trường cũng là một tâm điểm cần nhận được sự đầu tư công sức và thời gian của mọi đối tượng có liên quan để góp phần phát triển kinh tế biển nói chung và phát triển kinh tế biển ở khu kinh tế nói riêng

1.2.2.4 Kinh tế biển trong khu kinh tế phải dựa trên chính sách và pháp luật của Nhà nước, thông qua hoạt động của Ban quản lý khu kinh tế và chính sách ưu đãi đầu tư của nhà nước

Với những đặc thù về điều kiện tự nhiên, để khai thác và phát huy được một cách tối đa những tiềm năng và thế mạnh về tài nguyên biển của địa phương, Nhà nước đã ban hành những chính sách về ưu đãi đối với các chủ thể trong quá trình tiến hành các hoạt động đầu tư phát triển các ngành kinh tế biển tại khu kinh tế Tuy nhiên, cần xác định rằng, việc xây dựng các chính

Trang 40

sách ưu đãi đầu tư đặc thù cho việc phát triển kinh tế biển tại khu kinh tế

không có nghĩa là để “kệ” doanh nghiệp được tự ý thực hiện các hoạt động

phát triển kinh tế xã hội theo ý chí chủ quan của mình; mà việc xây dựng cơ chế ưu đãi này phải dựa trên điều kiện tự nhiên về tài nguyên biển, nhu cầu phát triển kinh tế xã hội của địa phương và cả nước cũng như loại hình phát triển kinh tế biển của các chủ thể

Nói cách khác, để bảo đảm kinh tế biển được thực hiện một cách hiệu

quả tại các khu kinh tế, Nhà nước thiết lập cơ chế “hai bàn tay” - bàn tay vô

hình và bàn tay hữu hình thông qua việc kết hợp giữa các yêu cầu linh hoạt của thị trường với chính sách quản lí có kiểm soát chặt chẽ của Nhà nước Nhà nước tổ chức phát triển kinh tế biển bằng việc phát huy vai trò định hướng thông qua việc xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế, sử dụng các công cụ, chính sách và các nguồn lực để định hướng và điều tiết nền kinh tế, thúc đẩy sản xuất kinh doanh và bảo vệ môi trường, bảo đảm tuân thủ các cam kết quốc tế về phát triển bền vững tài nguyên biển Sự điều tiết của Nhà nước là rất cần thiết để đảm bảo cho các nguồn lực tài nguyên biển phục vụ cho hoạt động phát triển kinh tế biển tại khu kinh tế được khai thác và sử dụng một cách có hiệu quả, giảm thiểu những tác động tiêu cực tới chức năng

và tính hữu ích của môi trường tự nhiên cũng như chất lượng cuộc sống của con người, tiến tới phát triển kinh tế biển bền vững

Có thể nói, việc phát huy vai trò của Nhà nước trong quá trình phát triển kinh tế biển tại khu kinh tế trên cơ sở cân đối và hài hòa với các yêu cầu của thị trường phát triển là xu thế chung và bắt buộc cần phải thực hiện trong

xu thế phát triển toàn cầu hóa như hiện nay Việc kết hợp vai trò của thị trường với vai trò của nhà nước trong phát triển kinh tế biển tại khu kinh tế là rất cần thiết, giúp giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa quyền lực nhà nước và quyền lực thị trường; qua đó kiểm soát sự can thiệp của các cơ quan quản lý

Ngày đăng: 24/11/2021, 23:03

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w