BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO UBND TỈNH THANH HÓA TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC LÊ THÙY DUNG GIẢI PHÁP THU HÚT VỐN ĐẦU TƢ VÀO KHU KINH TẾ NGHI SƠN TỈNH THANH HÓA LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH DOANH VÀ QUẢN LÝ THANH[.]
Mục tiêu và nhiệm vụ của nghiên cứu của đề tài
Mục tiêu của luận văn là phân tích tình hình thu hút vốn đầu tư vào KKT Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa, từ đó đề xuất các phương hướng và giải pháp nhằm tăng cường thu hút vốn Điều này sẽ tạo động lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội bền vững của tỉnh, đồng thời góp phần vào quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa địa phương.
(1) Tổng quan về thu hút vốn đầu tư vào KKT;
(2) Phân tích thực trạng về tình hình thu hút vốn đầu tư vào KKT Nghi Sơn tỉnh Thanh Hóa;
Thanh Hóa có hiệu quả
2.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Những vấn đề lý luận và thực tiễn về tình hình thu hút vốn đầu tư vào KKT Nghi Sơn tỉnh Thanh Hóa
- Về không gian: Phạm vi nghiên cứu tại KKT Nghi Sơn tỉnh Thanh Hóa
Đánh giá thời gian thu hút đầu tư tại KKT Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa trong giai đoạn 2011 - 2016 dựa trên số liệu thực tế, từ đó đề xuất phương hướng và giải pháp phù hợp.
Phương pháp nghiên cứu
Đề tài này áp dụng các phương pháp như phân tích thống kê, so sánh, đánh giá, phân tích tổng hợp, điều tra và khảo sát thực tế để khảo sát và phân tích các vấn đề lý luận liên quan đến công tác thu hút vốn đầu tư Mục tiêu là đánh giá tình hình thu hút vốn đầu tư tại KKT Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa, đồng thời chỉ ra các vấn đề tồn tại và nguyên nhân của những hạn chế Từ đó, đề tài sẽ hình thành các phương hướng và giải pháp thực hiện hiệu quả hơn.
Dự kiến kết quả đạt đƣợc
- Hệ thống hóa và làm rõ hơn một số vấn đề lý luận về thu hút vốn đầu tư vào KKT
Đề tài nghiên cứu này sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích cho Ban quản lý KKT Nghi Sơn, các khu công nghiệp tỉnh Thanh Hóa, cũng như các đối tượng quan tâm khác.
Đánh giá thực trạng thu hút vốn đầu tư vào KKT Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa cho thấy những kết quả tích cực đã đạt được, nhưng cũng tồn tại một số hạn chế cần khắc phục.
- Đề xuất một số giải pháp để thu hút vốn đầu tư vào KKT Nghi Sơn tỉnh Thanh Hóa có hiệu quả
- Hoàn thành đăng trên tạp chí đăng trên tạp chí chuyên ngành.
Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn gồm
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về thu hút vốn đầu tư vào KKT
Chương 2 phân tích thực trạng thu hút vốn đầu tư vào KKT Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa, nêu rõ những thách thức và cơ hội hiện tại Chương 3 đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường thu hút vốn đầu tư vào KKT Nghi Sơn, tập trung vào việc cải thiện hạ tầng, chính sách ưu đãi và tạo môi trường kinh doanh thuận lợi.
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ VÀO KHU KINH TẾ
Vai trò của KKT
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm của KKT
KKT là khu vực có không gian kinh tế riêng biệt, với môi trường đầu tư và kinh doanh thuận lợi cho các nhà đầu tư KKT có ranh giới địa lý xác định và được thành lập theo các điều kiện, trình tự và thủ tục quy định tại Nghị định này.
KKT được tổ chức thành các khu chức năng như khu phi thuế quan, khu bảo thuế, khu chế xuất, khu công nghiệp, khu giải trí, khu du lịch, khu đô thị, khu dân cư, khu hành chính và các khu chức năng khác KKT là mô hình "khu trong khu", bao gồm các khu đô thị, cụm dân cư, các KCN, khu thương mại và khu du lịch - dịch vụ, với mối quan hệ hữu cơ và tác động lẫn nhau, tạo động lực cho sự phát triển bền vững Điều này là yếu tố quan trọng trong thu hút đầu tư, với nội dung hoạt động kinh tế đa dạng, kết hợp giữa kinh tế và xã hội, phát triển công nghiệp gắn liền với thương mại dịch vụ, hình thành các khu dân cư, khu đô thị và khu thương mại tự do, nhằm tối ưu hóa sử dụng hạ tầng và thu hút đầu tư.
So với khu công nghiệp (KCN), khu kinh tế (KKT) có sự đa dạng trong các đối tượng quản lý, bao gồm không chỉ phát triển công nghiệp mà còn các yếu tố khác như đô thị, du lịch và dân cư.
"Khu trong khu" là một địa điểm lý tưởng để áp dụng các chính sách như phân cấp quản lý từ Trung ương cho địa phương và mở cửa cho các lĩnh vực kinh tế đang hạn chế đầu tư nước ngoài Những chính sách này nhằm cải cách nền hành chính và cải thiện môi trường đầu tư, đặc biệt là thu hút các nhà đầu tư nước ngoài KKT, với không gian kinh tế độc lập, cần một không gian lớn hơn để hình thành các thị trường thiết yếu Mô hình quản lý nhà nước tại KKT tập trung vào phát triển công nghiệp và kinh tế, giúp giải tỏa áp lực xã hội và tối ưu hóa các tiện ích xã hội cho hoạt động sản xuất kinh doanh Bộ máy quản lý tại KKT có thẩm quyền đa ngành, chuyên môn hóa cao, từ đó nâng cao hiệu quả quản lý.
Phát triển KKT là phương thức quản lý công nghiệp tập trung, tạo ra các tiểu vùng kinh tế động lực Với giải pháp quản lý tích cực, KKT sẽ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững, tạo việc làm và tăng thu nhập cho người lao động Điều này góp phần vào đô thị hóa, bảo vệ môi trường, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn và tài nguyên, đồng thời tăng cường sức cạnh tranh KKT cũng thúc đẩy hình thành vùng nguyên liệu theo hướng sản xuất hàng hóa lớn, tạo điều kiện cho sự chuyển biến cơ bản trong đời sống xã hội theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Theo vị trí địa lý, KKT được phân chia thành:
KKT ven biển được hình thành tại những vị trí địa lý thuận lợi cho sự phát triển kinh tế, bao gồm cả cảng biển nước sâu hoặc gần sân bay Những khu vực này có kết nối thuận lợi với các trục giao thông huyết mạch quốc gia và quốc tế, đồng thời dễ dàng kiểm soát và giao lưu với cả trong nước lẫn nước ngoài.
KKT cửa khẩu được thiết lập tại các vị trí có cửa khẩu quốc tế hoặc cửa khẩu chính, tạo điều kiện thuận lợi cho việc kết nối với các trục giao thông quan trọng của quốc gia Điều này giúp tăng cường giao lưu với các nước láng giềng thông qua các cửa khẩu biên giới đất liền.
* Về đặc điểm, KKT có những đặc điểm cơ bản sau:
Thứ nhất, so với Đặc khu kinh tế, mô hình của KKT không thành lập đơn vị hành chính riêng và không có cấp chính quyền riêng
Khu kinh tế (KKT) cần có diện tích lớn, trung bình từ 10.000 ha trở lên, để đáp ứng yêu cầu phát triển tổng hợp Trong khi đó, khu công nghiệp (KCN) và khu chế xuất chỉ có quy mô trung bình khoảng gần 300 ha.
Để thành lập KKT, cần có dự án (DA) và công trình nòng cốt quy mô lớn, có tác động quan trọng đến sự phát triển kinh tế - xã hội của khu vực Dự án này phải phát huy tiềm năng tại chỗ và tạo ra ảnh hưởng phát triển lan tỏa đến các khu vực lân cận, đặc biệt là thu hút đầu tư nước ngoài.
KKT Dung Quất là dự án nhà máy lọc dầu Dung Quất, trong khi Vũng Áng bao gồm khu liên hợp luyện cán thép, trung tâm nhiệt điện và cảng biển Vũng Áng - Sơn Dương Vân Phong được phát triển thành khu cảng trung chuyển container và khu du lịch biển chất lượng cao Nghi Sơn là nơi có nhà máy lọc hóa dầu, luyện cán thép, trung tâm nhiệt điện và cảng nước sâu Nghi Sơn.
KKT có vị trí địa lý thuận lợi cho phát triển kinh tế khu vực với cảng biển nước sâu và gần sân bay, kết nối dễ dàng với các trục giao thông quan trọng trong nước và quốc tế KKT cũng dễ dàng kiểm soát và giao lưu với nước ngoài, đồng thời có nguồn lực và điều kiện thuận lợi để đầu tư vào phát triển hạ tầng kỹ thuật Quan trọng hơn, KKT không gây tác động tiêu cực đến các khu bảo tồn thiên nhiên và không làm tổn hại đến di sản văn hóa, danh lam thắng cảnh, cũng như các quần thể kiến trúc có giá trị Bên cạnh đó, KKT phù hợp với bố trí quốc phòng, đảm bảo an ninh và đáp ứng yêu cầu về môi trường, môi sinh và phát triển bền vững.
1.1.2 Vai trò của KKT đối với quá trình CNH, HĐH đất nước
Sự phát triển nhanh chóng và mạnh mẽ của các khu kinh tế trọng điểm (KKT) đóng vai trò quan trọng trong việc thu hút vốn đầu tư và thúc đẩy sự phát triển kinh tế quốc gia Điều này thể hiện rõ qua nhiều khía cạnh khác nhau.
Để phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, việc tạo ra nền tảng huy động vốn đầu tư lớn từ các thành phần kinh tế trong và ngoài nước là rất quan trọng.
Mục tiêu ban đầu của việc phát triển các khu kinh tế (KKT) là thu hút đầu tư nước ngoài, đồng thời cũng nhằm phát huy nội lực của các thành phần kinh tế trong nước Trong bối cảnh đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, KKT đã đóng góp quan trọng trong việc huy động nguồn lực cho phát triển kinh tế Hiện tại, cả nước có 16 KKT ven biển với tổng diện tích 815 nghìn ha, thu hút 254 dự án đầu tư nước ngoài với tổng vốn đăng ký 42 tỷ USD và 1.079 dự án đầu tư trong nước với tổng vốn đạt 805,2 nghìn tỷ đồng.
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các vùng và địa phương theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế chung của cả nước.
Thu hút vốn đầu tƣ vào KKT
1.2.1 Khái niệm vốn đầu tư
Do hoạt động đầu tư rất phong phú nên có nhiều cách hiểu về thuật ngữ này:
Đầu tư là khái niệm chỉ việc chi phí và hy sinh các nguồn lực hiện tại như vốn, tài nguyên, nhân lực và công nghệ để thực hiện các hoạt động nhằm thu được lợi ích lớn hơn trong tương lai Đầu tư kinh doanh liên quan đến việc nhà đầu tư bỏ vốn để thực hiện hoạt động kinh doanh, có thể thông qua việc thành lập tổ chức kinh tế, góp vốn, mua cổ phần hoặc thực hiện dự án đầu tư Dự án đầu tư là tập hợp các đề xuất đầu tư trung hạn hoặc dài hạn nhằm tiến hành các hoạt động kinh doanh tại một địa bàn cụ thể trong khoảng thời gian xác định.
Cũng theo Luật này thì “Vốn đầu tư là tiền và tài sản khác để thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh” [1]
Đầu tư là việc sử dụng nguồn lực vào một công việc nhằm thu lợi lớn hơn trong tương lai, nhưng không phải mọi chi phí đều được coi là đầu tư Hai đặc trưng quan trọng để xác định hoạt động đầu tư là tính sinh lời và rủi ro Chi phí cho hàng hóa tiêu dùng thông thường không mang yếu tố đầu tư Nếu mọi hoạt động đầu tư đều sinh lời mà không có rủi ro, thì ai cũng có thể trở thành nhà đầu tư Chính hai thuộc tính này phân hoá và sàng lọc các nhà đầu tư, đồng thời thúc đẩy sự phát triển của xã hội Người bỏ vốn được gọi là nhà đầu tư hoặc chủ đầu tư, có thể là cá nhân, tổ chức hoặc nhà nước.
Vốn đầu tư là tiền và tài sản hợp pháp dùng cho các hoạt động đầu tư trực tiếp hoặc gián tiếp Nguồn vốn này chủ yếu được hình thành từ tích lũy xã hội, chuyển hóa thành giá trị phục vụ phát triển Bản chất của vốn đầu tư là tiền tiết kiệm từ xã hội, các cơ sở sản xuất, và nguồn vốn huy động khác, nhằm duy trì và tạo ra tiềm lực mới cho sản xuất Trong nền kinh tế mở, ngoài tiết kiệm trong nước, còn có thể huy động vốn từ nước ngoài để phục vụ cho đầu tư.
1.2.2 Thu hút vốn đầu tư vào KKT
Thu hút vốn đầu tư vào các khu kinh tế (KKT) là hoạt động quan trọng nhằm khai thác và huy động nguồn vốn từ các nhà đầu tư, phục vụ cho sự phát triển của KKT và nền kinh tế Quá trình này bao gồm việc áp dụng các cơ chế, chính sách và điều kiện về hành lang pháp lý, hạ tầng kỹ thuật - xã hội, cũng như các nguồn tài nguyên và môi trường, nhằm khuyến khích các nhà đầu tư đầu tư vốn và công nghệ vào sản xuất kinh doanh trong KCN, từ đó đạt được các mục tiêu phát triển cụ thể.
1.2.2.1 Thu hút vốn đầu tư thông qua quảng bá và công tác xúc tiến đầu tư
Quảng bá và xúc tiến đầu tư đóng vai trò quan trọng trong việc thu hút vốn đầu tư vào các khu kinh tế (KKT) Hoạt động này bao gồm nhiều nội dung chính, nhằm nâng cao hiệu quả thu hút đầu tư cho địa phương và các KKT.
Xây dựng chiến lược và kế hoạch thu hút vốn đầu tư từ trong và ngoài nước vào các khu kinh tế (KKT) là rất quan trọng Cần xác định danh mục dự án (DA) ưu tiên để thu hút đầu tư hiệu quả, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho việc huy động các nguồn vốn đầu tư.
- Tổ chức các cơ sở, đơn vị thực hiện xúc tiến đầu tư ở trong và ngoài nước
Chúng tôi thực hiện các hoạt động tuyên truyền và quảng bá nhằm giới thiệu thông tin về môi trường đầu tư, tiềm năng và cơ hội đầu tư của địa phương đến các nhà đầu tư.
Trong bối cảnh đất nước ngày càng hội nhập sâu rộng với nền kinh tế toàn cầu, việc xúc tiến đầu tư trở nên ngày càng quan trọng trong việc thu hút nguồn vốn, đặc biệt là từ các doanh nghiệp nước ngoài.
1.2.2.2 Thu hút vốn đầu tư bằng chính sách ưu đãi đầu tư
Trong bối cảnh ngân sách nhà nước còn hạn chế, các chính sách ưu đãi tài chính chủ yếu được áp dụng để thu hút đầu tư vào các khu kinh tế Những ưu đãi này bao gồm giảm thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế xuất nhập khẩu, thuế giá trị gia tăng, cũng như hỗ trợ tiền thuê đất và mặt nước Ngoài ra, các doanh nghiệp còn được hỗ trợ tiếp cận nguồn vốn tín dụng, chi phí đền bù, giải phóng mặt bằng và một phần kinh phí đào tạo lao động.
1.2.2.3 Thu hút vốn đầu tư thông qua việc đầu tư cơ sở hạ tầng Kỹ thuật - Xã hội
Đầu tư và kêu gọi đầu tư để xây dựng hệ thống hạ tầng kỹ thuật trong và ngoài hàng rào các khu chức năng trong KKT là rất quan trọng, nhằm tạo điều kiện kết nối thuận lợi với hạ tầng chung của địa phương và quốc gia Hạ tầng bên trong KKT bao gồm giao thông, điện, cấp thoát nước, xử lý nước thải, và thông tin liên lạc, trong khi hạ tầng bên ngoài bao gồm kết nối giao thông, thủy lợi, kho bãi, dịch vụ viễn thông và tài chính ngân hàng Cơ sở hạ tầng tốt và đồng bộ là yếu tố quan trọng mà các nhà đầu tư xem xét khi lựa chọn địa điểm đầu tư, giúp giảm chi phí, tăng khả năng cạnh tranh và mang lại lợi nhuận cao Tuy nhiên, nhiều địa phương không có đủ nguồn vốn ngân sách để đầu tư đồng bộ hệ thống hạ tầng kỹ thuật, do đó thường kêu gọi và thu hút nguồn vốn đầu tư vào lĩnh vực này.
1.2.3 Các chỉ tiêu đánh giá kết quả thu hút vốn đầu tư
Trong quá trình xây dựng và phát triển các KKT, các địa phương chú trọng đến việc thu hút vốn đầu tư và các nhà đầu tư vào sản xuất kinh doanh, vì đây là yếu tố quyết định sự phát triển và thành công của các KKT Để đánh giá thực trạng phát triển và thu hút vốn đầu tư vào các KKT, các địa phương thường sử dụng một số chỉ tiêu nhất định.
Số lượng dự án đầu tư và quy mô vốn đầu tư đăng ký là hai chỉ tiêu quan trọng phản ánh nhanh chóng kết quả thu hút vốn đầu tư tại các khu kinh tế Vốn đầu tư đăng ký thể hiện tổng số vốn mà các nhà đầu tư dự kiến sẽ chi ra để thực hiện các dự án.
Đầu tư vào các khu kinh tế (KKT) là một yếu tố quan trọng trong phát triển sản xuất kinh doanh Tổng vốn đầu tư đăng ký của một dự án thường được ghi rõ trong quyết định chủ trương đầu tư hoặc Giấy chứng nhận đầu tư Hoạt động thu hút vốn đầu tư vào các KKT của địa phương đạt hiệu quả cao khi số lượng dự án và quy mô vốn đầu tư đăng ký ngày càng gia tăng.
Tỉ lệ vốn đầu tư thực hiện so với tổng vốn đầu tư đăng ký là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá mức độ và tiến độ thực hiện dự án đầu tư của nhà đầu tư so với đăng ký ban đầu Đồng thời, chỉ tiêu này cũng phản ánh hiệu quả của công tác thu hút vốn đầu tư vào các khu kinh tế Tỉ lệ này được tính bằng công thức:
Tỉ lệ vố n đầu tư thực hiện = Tổng vốn đ ầu tư thực hiện / Tổng vố n đầu tư đăng kí của DA
Tỉ lệ vốn đầu tư thực hiện so với tổng vốn đầu tư đăng ký cao cho thấy quá trình thu hút đầu tư của KKT hoặc địa phương đạt hiệu quả tốt Điều này không chỉ phản ánh tiến độ thực hiện dự án đầu tư nhanh chóng mà còn thể hiện chất lượng cao của các dự án và khả năng của các nhà đầu tư.
Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác thu hút vốn đầu tư vào KKT
1.3.1 Nhóm nhân tố môi trường vĩ mô
Môi trường vĩ mô bao gồm các yếu tố bên ngoài KKT, có ảnh hưởng lâu dài đến hoạt động của KKT và môi trường vi mô, đồng thời tạo ra cơ hội và nguy cơ cho các chủ thể hoạt động Nhóm yếu tố này rất quan trọng trong việc định hướng và tác động đến sự phát triển của KKT.
1.3.1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên
Vị trí địa lý đóng vai trò quan trọng trong việc xác định lợi thế của một quốc gia hoặc địa phương Sự ưu việt này thể hiện qua việc địa phương hoặc khu kinh tế (KKT) có nằm trong khu vực phát triển kinh tế năng động hay không, cũng như sự thuận lợi của các tuyến giao thông.
Trong quá trình quy hoạch, các KKT thường được xây dựng ở những vị trí thuận lợi như gần đầu mối giao lưu kinh tế, thị trường tiêu thụ và hệ thống giao thông Vị trí tốt giúp nhà đầu tư khai thác lợi thế tự nhiên, tăng hiệu quả liên kết với các doanh nghiệp và giảm chi phí đầu vào, từ đó nâng cao sức cạnh tranh sản phẩm Ngược lại, những vùng có địa hình khó khăn như đồi núi và sông suối sẽ gặp khó khăn trong việc phát triển và thu hút vốn đầu tư, ngay cả khi có ưu đãi từ Nhà nước.
Các địa phương tại Việt Nam có điều kiện thuận lợi như cảng biển, gần đường cao tốc và quốc lộ, thường thu hút nhiều dự án đầu tư, đặc biệt là vốn đầu tư nước ngoài vào các khu kinh tế Điều này không chỉ thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế mà còn làm thay đổi bộ mặt kinh tế của các địa phương như Hà Nội, TP.Hồ Chí Minh, Quảng Ngãi, Quảng Nam, Đồng Nai, Bình Dương và Bắc Ninh.
Về điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên:
Tùy thuộc vào địa hình, các hình thức phát triển công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ sẽ khác nhau Địa hình gần biển có thể thúc đẩy du lịch, trong khi đất bị xâm ngập mặn không thích hợp cho nông nghiệp, nhưng có thể phát triển cảng biển và công nghiệp Khí hậu thuận lợi cho cây trồng và vật nuôi, cùng với đất đai phù hợp, sẽ tạo điều kiện cho các vùng chuyên canh nông nghiệp và phát triển công nghiệp chế biến Ngược lại, khí hậu khắc nghiệt với nắng nóng, mưa nhiều và bão lụt sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến sản xuất nông nghiệp và công nghiệp, làm giảm khả năng thu hút đầu tư do tâm lý e ngại của nhà đầu tư.
Tài nguyên thiên nhiên phong phú là lợi thế quan trọng cho sự phát triển ngành của một vùng, cung cấp nguyên liệu thiết yếu cho sản xuất Khu kinh tế (KKT) nằm trong vùng có sẵn nguyên liệu giúp các nhà đầu tư giảm chi phí vận tải và tránh gián đoạn sản xuất do khó khăn giao thông Vùng có trữ lượng khoáng sản lớn và giá trị kinh tế cao sẽ thu hút doanh nghiệp đầu tư vào các lĩnh vực như khai khoáng, năng lượng và chế biến.
Khí hậu và thuỷ văn, bao gồm nhiệt độ, độ ẩm và nguồn nước, có ảnh hưởng lớn đến việc thu hút nhà đầu tư Những điều kiện khí hậu khắc nghiệt như nắng hạn kéo dài, mưa nhiều và bão lụt thường xuyên sẽ tác động tiêu cực đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, từ đó hạn chế khả năng thu hút đầu tư.
1.3.1.2 Trình độ phát triển KT - XH
Năng lực tăng trưởng kinh tế ảnh hưởng lớn đến khả năng thu hút vốn đầu tư hiệu quả Các địa phương có tốc độ tăng trưởng thấp và cơ cấu kinh tế nghèo nàn sẽ hạn chế sự phát triển của thị trường nội địa, dẫn đến nguồn thu ngân sách hạn hẹp và thiếu vốn cho đầu tư hạ tầng Thu nhập thấp của người lao động làm giảm sức cầu thị trường, gây khó khăn cho doanh nghiệp trong tiêu thụ hàng hóa Chính sách tiền tệ không ổn định và lạm phát cao có thể khiến nhà đầu tư rút vốn hoặc ngừng đầu tư Ngoài ra, dịch vụ ngân hàng và viễn thông kém phát triển cùng chi phí cao cũng làm tăng gánh nặng cho nhà đầu tư Ngược lại, các địa phương có trình độ phát triển kinh tế - xã hội cao sẽ thu hút nhà đầu tư nhờ môi trường đầu tư thuận lợi và các yếu tố hỗ trợ như quản lý vĩ mô, hạ tầng, thị trường và chất lượng dịch vụ.
Các địa phương phát triển nhanh như Thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương và Hà Nội thu hút nhiều dự án đầu tư vào các khu công nghiệp và khu kinh tế Trong khi đó, những khu vực khó khăn như Tây Bắc và miền Trung Tây Nguyên, dù được Chính phủ ban hành nhiều ưu đãi hấp dẫn, vẫn gặp khó khăn trong việc thu hút đầu tư.
1.3.1.3 Môi trường chính trị - xã hội
Ổn định chính trị - xã hội là yếu tố quan trọng trong việc thu hút đầu tư, đặc biệt là từ các nhà đầu tư nước ngoài Họ thường xem xét môi trường chính trị và mức độ rủi ro trước khi quyết định đầu tư Sự ổn định này giúp nhà đầu tư yên tâm và mạnh dạn đầu tư lâu dài với nguồn vốn lớn để tìm kiếm lợi nhuận Ngược lại, tình hình chính trị không ổn định có thể dẫn đến chính sách bất nhất, gây lo ngại cho các nhà đầu tư Thực tế cho thấy, các quốc gia có sự ổn định chính trị - xã hội thường thu hút ngày càng nhiều vốn đầu tư nước ngoài Những địa phương có môi trường xã hội ổn định và thân thiện với nhà đầu tư, như an ninh trật tự tốt và ít khiếu kiện, luôn thu hút được nhiều nhà đầu tư trong và ngoài nước.
1.3.2 Nhóm nhân tố môi trường vi mô
1.3.2.1 Điều kiện về cơ sở hạ tầng, kĩ thuật
Cơ sở hạ tầng kỹ thuật, bao gồm hệ thống năng lượng, cấp thoát nước, mạng lưới giao thông, và hệ thống thông tin liên lạc, đóng vai trò quyết định trong hiệu quả sản xuất kinh doanh và tốc độ chu chuyển vốn của nhà đầu tư Do đó, đây là yếu tố hàng đầu mà các nhà đầu tư xem xét khi quyết định đầu tư vào một địa phương hay khu kinh tế (KKT) Kinh nghiệm cho thấy, những nơi có cơ sở hạ tầng tốt thường thu hút nhiều nhà đầu tư hơn Việc xây dựng kết cấu hạ tầng không chỉ là yêu cầu cấp bách mà còn là điều kiện tiên quyết cho sự phát triển bền vững của sản xuất kinh doanh Đối với mỗi KKT, việc xây dựng hạ tầng kỹ thuật bên trong là rất quan trọng trong việc thu hút đầu tư; các KKT hoàn thành hạ tầng và có mặt bằng sẵn sàng cho thuê thường có khả năng thu hút đầu tư nhanh chóng và lấp đầy diện tích đất công nghiệp Một KKT với cơ sở hạ tầng hiện đại sẽ hấp dẫn hơn đối với nhà đầu tư, đặc biệt là nhà đầu tư nước ngoài, giúp giảm thời gian và chi phí đầu tư, tăng khả năng kinh doanh và đạt lợi nhuận cao.
Đầu tư vào các khu công nghiệp đã có sẵn đất đai và hạ tầng kỹ thuật cơ bản giúp nhà đầu tư tiết kiệm thời gian và chi phí cho công tác đền bù, giải phóng mặt bằng Điều này cho phép họ tập trung vào việc xây dựng nhà xưởng và hệ thống kỹ thuật bên trong nhà máy Ưu thế này mang lại sự thuận lợi lớn và yên tâm cho các nhà đầu tư, giúp họ tránh được những phức tạp và nhạy cảm liên quan đến công tác đền bù và giải phóng mặt bằng.
Kho hàng, bến bãi, điện, nước, thông tin liên lạc, xử lý chất thải và phòng chống cháy nổ được xây dựng tốt tại các KCN sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất và kinh doanh, đảm bảo hoạt động liên tục và quy mô lớn Trong bối cảnh bùng nổ thông tin hiện nay, một môi trường đầu tư hấp dẫn đối với các nhà đầu tư cần có hệ thống thông tin liên lạc hiệu quả và cước phí hợp lý.
Sự phát triển đồng bộ của cơ sở hạ tầng tại KKT, bao gồm bệnh viện, khu vui chơi giải trí, nhà ở cho người lao động và chuyên gia, cùng với dịch vụ ngân hàng và viễn thông, sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho nhà đầu tư Việc kết nối tốt với cơ sở hạ tầng công nghiệp giúp cải thiện vận chuyển nguyên liệu, hàng hóa và giao thông, từ đó tăng sức hút đối với các nhà đầu tư.
1.3.2.2 Điều kiện về nguồn nhân lực địa phương Đây là đầu vào không thể thiếu đối với mọi hoạt động sản xuất, kinh doanh Nguồn lao động không chỉ có ý nghĩa mà còn là điều kiện bắt buộc trong quá trình phát triển các KKT Để xây dựng và phát triển KKT, nguồn lao động tại chỗ đáp ứng đủ về số lượng, đảm bảo yêu cầu về chất lượng là vô cùng quan trọng là tiêu chí hàng đầu sau khi nhà đầu tư quyết định đầu tư vào đó Cho nên địa phương nào có nguồn lao động dồi dào, có chất lượng cao, được đào tạo cơ bản, điều kiện sống thuận lợi thì sẽ hấp dẫn các nhà đầu tư với địa phương đó, đây là tiêu chí cạnh tranh đồng thời cũng là môi trường đầu tư quan trọng cần phải được hoàn thiện Nguồn nhân lực ở đây phải bao gồm cả số lượng, chất lượng và giá cả nhân công
Kinh nghiệm thu hút vốn đầu tư của một số địa phương trong nước
1.4.1 Tại KKT Vũng Áng - tỉnh Hà Tĩnh
Là 1 trong 8 KKT ven biển trọng điểm của cả nước, KKT Vũng Áng đang nhận được sự quan tâm của hơn 200 nhà đầu tư, đã có 83 DA được cấp giấy chứng nhận đầu tư vào Vũng Áng với số vốn hơn 16 tỷ USD [20] Để có được thành công bước đầu này, tỉnh Hà Tĩnh sớm xác định việc xây dựng và quản lý quy hoạch là mũi đột phá trong tư duy phát triển KT - XH
Tỉnh Hà Tĩnh đã hợp tác với Tập đoàn Monitor của Mỹ để lập Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2020, với tầm nhìn đến năm 2050, xác định 8 ngành kinh tế trụ cột bao gồm sắt thép, nông nghiệp, thương mại, vận tải và hậu cần, sản xuất sản phẩm từ thép, dệt may, xây dựng, giáo dục và đào tạo, cùng với thông tin truyền thông và dịch vụ kinh doanh thuê ngoài Hiện tại, nhiều dự án quy mô lớn đang được triển khai tại KKT Vũng Áng, trong đó có cụm cảng biển nước sâu Vũng Áng - Sơn Dương với quy hoạch 59 cầu cảng, đã xây dựng 18 cầu cảng, trong đó 5 cầu cảng đã hoàn thành và đưa vào khai thác Hệ thống dịch vụ cảng cũng đang phát triển mạnh mẽ, bao gồm vận chuyển xăng dầu, khí hóa lỏng, dịch vụ hậu cần và xếp dỡ hàng hóa Dự án Khu Liên hợp gang thép của Tập đoàn Formosa tại KKT Vũng Áng có công suất giai đoạn 1 là 7,5 triệu tấn với vốn đầu tư 10 tỷ USD, dự kiến giai đoạn 2 sẽ nâng công suất lên 22 triệu tấn và tăng vốn đầu tư thêm 16 tỷ USD, hoàn thành từng hạng mục và đi vào hoạt động trong giai đoạn 2014 - 2017.
KKT Vũng Áng được xem là khu kinh tế năng động và phát triển nhanh chóng, với việc thu hút đầu tư trong và ngoài nước cao, giúp Hà Tĩnh đứng thứ 7 cả nước về thu hút đầu tư nước ngoài vào năm 2014 Năm 2015, KKT Vũng Áng đóng góp 3.000 tỷ đồng vào tổng thu ngân sách 5.600 tỷ đồng của tỉnh Thành công trong thu hút đầu tư được ghi nhận nhờ vào quy hoạch tốt và xây dựng cơ sở hạ tầng mạnh mẽ Các công trình hạ tầng kinh tế kỹ thuật và xã hội đã được triển khai nhanh chóng, với các tuyến giao thông chính kết nối với cảng Vũng Áng, đáp ứng nhu cầu vận tải Hệ thống điện, thông tin liên lạc, cấp và thoát nước cũng đang được hoàn thiện để phục vụ nhà đầu tư Tỉnh Hà Tĩnh chú trọng kêu gọi các nhà đầu tư chiến lược, coi đây là yếu tố quan trọng nhất Với khái niệm “cụm ngành” trong quy hoạch phát triển, tỉnh đã thu hút các tập đoàn lớn và doanh nghiệp vừa và nhỏ vào các cụm ngành đã lựa chọn, đồng thời tạo điều kiện cho các nhà đầu tư nhỏ cung cấp dịch vụ hỗ trợ khi triển khai các dự án lớn.
1.4.2 Tại KKT Dung Quất - tỉnh Quảng Ngãi
KKT Dung Quất, nằm ở vị trí trung điểm của Việt Nam trong Vùng kinh tế trọng điểm miền Trung, có tổng diện tích trên 45.000 ha Đây là khu kinh tế tổng hợp, phát triển đa ngành với trọng tâm là các tổ hợp công nghiệp nặng và các dự án quy mô lớn, kết hợp với việc khai thác và phát triển cảng biển nước sâu Dung Quất cùng sân bay Chu Lai.
Hệ thống hạ tầng tại đô thị Vạn Tường đã được đầu tư cơ bản, bao gồm các tuyến giao thông chính, hệ thống cảng biển với 3 cảng tổng hợp và 4 cảng chuyên dùng, cùng với hệ thống thoát nước mưa, xử lý nước thải, và khu xử lý chất thải rắn Ngoài ra, còn có hệ thống cấp điện, nước, bưu chính viễn thông, phòng cháy chữa cháy, trường cao đẳng kỹ nghệ, bệnh viện, và các trung tâm văn hóa, thể thao Đến năm 2016, KKT Dung Quất đã thu hút hơn 10,5 tỷ USD vốn đăng ký đầu tư, với khoảng 6 tỷ USD vốn thực hiện.
Quảng Ngãi sở hữu nhiều khu công nghiệp như Tịnh Phong, Quảng Phú và Phổ Phong, với tổng diện tích hơn 540ha Các khu công nghiệp này đã thu hút 99 dự án đầu tư, với tổng vốn đăng ký lên tới 6.877 tỷ đồng.
KKT Dung Quất và các KCN Quảng Ngãi đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh Quảng Ngãi, khi đóng góp khoảng 90% sản lượng công nghiệp, kim ngạch xuất khẩu và nguồn thu ngân sách Điều này tạo động lực để KKT Dung Quất và các KCN Quảng Ngãi trở thành hạt nhân tăng trưởng, trung tâm đô thị – công nghiệp – dịch vụ của Vùng kinh tế trọng điểm miền Trung và cả nước.
KKT Dung Quất và các KCN Quảng Ngãi đang bước vào giai đoạn phát triển mới nhờ vào sự xuất hiện của nhiều nhân tố mới Việc thúc đẩy các dự án lớn như Khu liên hợp sản xuất gang thép Hòa Phát Dung Quất, Khu công nghiệp đô thị Dung Quất, và nâng cấp Nhà máy lọc dầu Dung Quất, cùng với cải thiện môi trường đầu tư, tạo ra cơ hội phát triển cho khu vực Để hỗ trợ sự phát triển này, tỉnh Quảng Ngãi áp dụng các cơ chế chính sách ưu đãi cao nhất và ban hành các chính sách hỗ trợ đầu tư như đào tạo nghề, xúc tiến đầu tư, và đầu tư hạ tầng kỹ thuật.
1.4.3 Các KCN tỉnh Bắc Ninh
Bắc Ninh có vị trí địa lý thuận lợi, chỉ cách Hà Nội 30km, sân bay quốc tế Nội Bài 45km và cảng biển Hải Phòng 110km, nằm trong vùng kinh tế trọng điểm Đồng bằng Sông Hồng Tỉnh có hệ thống giao thông hiện đại, kết nối với các trung tâm kinh tế, thương mại phía Bắc qua các quốc lộ lớn và đường sắt xuyên Việt Tính đến năm 2016, Bắc Ninh đã có 15 khu công nghiệp (KCN) với tổng diện tích 6.319 ha, thu hút 844 dự án đầu tư, trong đó có 522 dự án FDI với tổng vốn 7,46 tỷ USD Nhiều tập đoàn lớn như Canon, Samsung, và Nokia đã đầu tư vào tỉnh, giúp Bắc Ninh chuyển mình từ một tỉnh nông nghiệp thành một tỉnh công nghiệp phát triển Tăng trưởng kinh tế bình quân đạt khoảng 14,1%, với cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực, trong đó công nghiệp và xây dựng chiếm 73% Chính sách thu hút đầu tư hiệu quả cùng với yếu tố con người đã giúp Bắc Ninh trở thành điểm đến hấp dẫn cho các nhà đầu tư nước ngoài.
Bắc Ninh đã quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, xác định các khu và cụm công nghiệp để đầu tư vào hạ tầng Mục tiêu là xây dựng hạ tầng đồng bộ cho các khu công nghiệp, kết hợp với các công trình phúc lợi xã hội như nhà ở cho người lao động, trường học, công viên, chợ, nhà trẻ, trung tâm văn hóa thể thao và cơ sở chăm sóc sức khỏe Điều này nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững cho các khu công nghiệp, cải thiện môi trường đầu tư và hỗ trợ doanh nghiệp Hệ thống hạ tầng và dịch vụ bên ngoài hàng rào khu công nghiệp cũng đã được tỉnh đầu tư hiện đại và đồng bộ.
Bắc Ninh đã chủ động thực hiện cải cách hành chính theo mô hình một cửa và một cửa liên thông hiện đại, nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ máy hành chính, phục vụ tốt hơn cho người dân và tiết kiệm chi phí Đặc biệt, Bắc Ninh là địa phương tiên phong trong cả nước áp dụng cơ chế một cửa liên thông cho các thủ tục như cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, đăng ký mã số thuế và đăng ký mẫu dấu.
Tỉnh Bắc Ninh đã xây dựng danh mục các dự án cần thu hút và các chính sách ưu đãi, thường xuyên điều chỉnh để phù hợp với yêu cầu phát triển Tỉnh công bố quy hoạch thu hút đầu tư vào các lĩnh vực có thế mạnh và tiềm năng, tạo cơ hội cho nhà đầu tư Trong công tác xúc tiến, Bắc Ninh đổi mới phương thức thu hút đầu tư, tập trung vào các thị trường lớn như châu Âu, Mỹ, Nhật Bản và các dự án có vốn đầu tư lớn, công nghệ cao, thân thiện với môi trường Hàng năm, tỉnh tổ chức gặp mặt nhà đầu tư để giải đáp thắc mắc và tiếp thu ý kiến nhằm hoàn thiện cơ chế thu hút đầu tư Đồng thời, tỉnh cũng tổ chức các đoàn xúc tiến đầu tư trong và ngoài nước, chú trọng bồi dưỡng năng lực chuyên môn và ngoại ngữ cho đội ngũ cán bộ, nâng cao hiệu quả và tính chuyên nghiệp trong công tác xúc tiến đầu tư.
1.4.4 Bài học kinh nghiệm cho tỉnh Thanh Hóa trong quá trình thu hút đầu tư vào KKT Nghi Sơn
Qua nghiên cứu các phương pháp thu hút vốn đầu tư vào các KKT, KCN của một số địa phương, tỉnh Thanh Hóa có thể rút ra những bài học kinh nghiệm quý giá để tăng cường thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước tại KKT Nghi Sơn.
Sự thống nhất trong nhận thức và hành động của Đảng bộ và nhân dân tỉnh là rất quan trọng trong quy hoạch và xây dựng KKT Cần tăng cường tuyên truyền để chính quyền địa phương và người dân trong khu vực KKT tích cực hỗ trợ công tác giải phóng mặt bằng và bàn giao đất cho các nhà đầu tư dự án.
Nâng cao chất lượng quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt là quy hoạch KKT Nghi Sơn, là rất quan trọng Quy hoạch xây dựng KKT cần gắn liền với phát triển kinh tế - xã hội và phải tương thích với các quy hoạch khác như quy hoạch đô thị và phát triển ngành nghề, đồng thời phù hợp với tiềm lực địa phương Ngoài ra, tỉnh cần chú trọng nâng cao trình độ chuyên môn cho đội ngũ cán bộ làm công tác quy hoạch.
Tổng quan về KKT Nghi Sơn
Khu kinh tế Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hoá, sở hữu nhiều ưu thế và tiềm năng, do đó Chính phủ đã triển khai nhiều chiến lược phát triển mang tính quốc gia và khu vực, có ảnh hưởng trực tiếp đến khu kinh tế này.
Vào ngày 15/5/2006, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định 102/2006/QĐ-TTg cho phép thành lập KKT Nghi Sơn, tạo ra một môi trường đầu tư và kinh doanh thuận lợi Đến ngày 10/10/2007, Quyết định 1364/QĐ-TTg đã phê duyệt Quy hoạch chung xây dựng KKT Nghi Sơn, xác định đây là khu đô thị công nghiệp - du lịch - dịch vụ quan trọng, góp phần phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Thanh Hóa và khu vực Bắc miền Trung Quyết định cũng nêu rõ ranh giới, quy chế hoạt động, quy mô và định hướng phát triển của KKT Nghi Sơn đến năm 2025, với trọng tâm là công nghiệp nặng và công nghiệp cơ bản, kết hợp với việc khai thác hiệu quả cảng biển Nghi Sơn theo cơ chế ưu đãi đặc biệt.
Vào ngày 12/6/2015, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 18/2015/QĐ-TTg, điều chỉnh và mở rộng KKT Nghi Sơn từ 18.611,6 ha lên 106.000 ha, tăng gấp hơn 6 lần so với diện tích hiện hữu KKT Nghi Sơn bao gồm 66.497,57 ha đất liền và đảo, cùng với 39.502,43 ha mặt nước Phần đất liền và đảo của KKT này bao trùm toàn bộ địa giới hành chính huyện Tĩnh Gia và ba xã Yên Mỹ, Công Bình, Công Chính thuộc huyện Nông Cống, cùng ba xã Thanh Tân, Thanh Kỳ, Yên Lạc thuộc huyện Như Thanh, tỉnh Thanh Hóa Hiện tại, Ban quản lý Khu kinh tế Nghi Sơn và các Khu công nghiệp đang tiến hành lập quy hoạch điều chỉnh mở rộng KKT Nghi Sơn để trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.
Trong sự phát triển kinh tế toàn tỉnh, Nghi Sơn được coi là khu vực trọng điểm kinh tế của tỉnh Thanh Hoá và vùng Nam Thanh - Bắc Nghệ
KKT Nghi Sơn, cách thủ đô Hà Nội 200km, nằm trên quốc lộ 1A và có tuyến đường sắt Bắc - Nam đi qua Cảng biển nước sâu Nghi Sơn kết nối với đường Hồ Chí Minh, tạo điều kiện thuận lợi cho giao thương Nghi Sơn là cửa ngõ giao lưu giữa Bắc Bộ, Trung Bộ, Lào và các tỉnh phía Nam thông qua các tuyến đường bộ, đường sắt và đường thủy.
KKT Nghi Sơn đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội của vùng Bắc Trung Bộ và hành lang phía Tây Hà Nội, bao gồm Sơn La, Hòa Bình và Bắc Lào Đây là khu vực kinh tế trọng điểm và đô thị hạt nhân của vùng Nam Thanh - Bắc Nghệ, có mối quan hệ chặt chẽ với các khu công nghiệp và khu kinh tế của các tỉnh miền Trung.
KKT Nghi Sơn có địa hình phức tạp với bốn dạng chính: vùng núi cao, đồng bằng, đất trũng và ven biển Vào mùa mưa, các xã thường bị ngập úng do thoát nước kém KKT Nghi Sơn cũng chịu ảnh hưởng mạnh từ bão Biển Đông, với sức gió có thể đạt cấp 12 và tốc độ gió lớn nhất lên tới 40m/s Những yếu tố này gây cản trở lớn cho giao thông, hoạt động của cảng nước sâu Nghi Sơn, cũng như ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống của người dân.
KKT Nghi Sơn sở hữu hệ thống sông, hồ và đầm phong phú, với sông Bạng dài 34,5 km và diện tích lưu vực 146,5 km², nhưng hầu hết các sông đều bị nhiễm mặn theo nhật triều, gây khó khăn trong việc cung cấp nước cho công nghiệp và sinh hoạt Mặc dù có nhiều hồ chứa với dung tích từ vài trăm nghìn đến 1-2 triệu m³ phục vụ nông nghiệp và du lịch, nhưng không có triển vọng cung cấp nước cho công nghiệp Cảng biển nước sâu Nghi Sơn có khả năng tiếp nhận tàu trên 100.000 tấn, đang được xây dựng thành đầu mối kho và vận chuyển quốc tế Nằm gần hệ thống đường biển quốc tế, cảng Nghi Sơn có lợi thế về quãng đường so với các cảng lớn ở Đông Bắc Á và là cửa ngõ quan trọng kết nối hệ thống đường thủy Bắc - Nam, thúc đẩy phát triển kinh tế khu vực Bắc Trung Bộ và mở ra cơ hội cho thị trường Nam Lào và Đông Bắc Thái Lan.
2.1.3 Điều kiện về KT - XH
Khu kinh tế Nghi Sơn có tổng dân số 85.497 người (năm 2016), chủ yếu làm việc trong các ngành nông ngư nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối, sửa chữa cơ khí và dịch vụ thương mại Mặc dù nguồn lao động dồi dào, với khoảng 60% tốt nghiệp THPT, nhưng tỷ lệ lao động qua đào tạo chỉ đạt 20 - 21%, chủ yếu tập trung ở khu vực quản lý, ngành giáo dục và các doanh nghiệp Mức sống của người dân ở đây vẫn còn thấp, với khoảng 43.598 người trong độ tuổi lao động, chiếm 54,1% tổng dân số.
Cơ cấu lao động tại KKT Nghi Sơn đang có sự chuyển dịch, với xu hướng giảm lao động trong ngành nông nghiệp và tăng cường lao động trong ngành công nghiệp và dịch vụ, mặc dù tốc độ thay đổi còn chậm Hiện nay, trường Cao đẳng nghề Nghi Sơn và Cơ sở II - Trường trung cấp nghề Hưng Đô đang hoạt động tích cực, đáp ứng nhu cầu đào tạo nghề cho hàng nghìn lao động trong khu vực.
Cơ sở hạ tầng xã hội tại KKT Nghi Sơn hiện đang gặp nhiều khó khăn, với khoảng 70% nhà ở là nhà bán kiên cố và phần còn lại là nhà tạm Các công trình hạ tầng xã hội trong khu vực không chỉ thiếu thốn mà còn có chất lượng thấp và quy mô nhỏ, không đáp ứng được nhu cầu của cư dân.
* Hiện trạng cơ sở hạ tầng kỹ thuật
KKT Nghi Sơn có điều kiện giao thông thuận lợi với ba loại hình chính: đường bộ, đường sắt và đường biển Giao thông hàng không được kết nối gián tiếp qua sân bay Vinh, và Thanh Hóa đang lập dự án đầu tư sân bay dân dụng Thanh Hóa Cảng biển Nghi Sơn phát triển đa dạng với lượng hàng hóa thông qua khoảng 10 triệu tấn/năm, cùng với quy hoạch cảng Lạch Bạng cho ngành thủy sản Quốc lộ 1A dài 14,7 km đi qua KKT Nghi Sơn, kết nối với tuyến Nghi Sơn - Bãi Trành dài 56 km và tuyến 513 dài 15 km phục vụ vận tải hàng hóa Tuyến đường 2B dài 27 km kết nối các xã trong KKT, cùng với các tuyến đường nông thôn và dân sinh KKT Nghi Sơn cách cảng hàng không Thọ Xuân khoảng 60 km, được kết nối bởi tuyến đường Nghi Sơn - Thọ Xuân Ngoài ra, tuyến đường sắt quốc gia dài 16,8 km đi qua KKT, với ga Khoa Trường phục vụ quản lý và bảo trì đường sắt, tạo điều kiện thuận lợi cho giao thương.
Hiện trạng cấp nước và tiềm năng nguồn nước tại KKT Nghi Sơn cho thấy nhu cầu nước cho sản xuất và sinh hoạt là vấn đề quan trọng cần được các nhà quản lý chú trọng giải quyết trong cả ngắn hạn và dài hạn.
KKT Nghi Sơn hiện được cung cấp điện từ lưới điện quốc gia 220 KV và 110 KV khu vực Bắc Trung Bộ, thông qua trạm biến áp 220/110 KV Nghi Sơn - 125mVA Trong khu vực, các trạm hạ thế chủ yếu là trạm treo với công suất từ 100 - 630 KVA, và lưới điện thiết kế đang sử dụng lưới điện nổi 0,4 KV.
- Thông tin liên lạc đã có tuyến cáp quang vi ba băng rộng, mạng điện thoại di động, Internet phủ khắp trong KKT Nghi Sơn
Hiện trạng thoát nước thải và vệ sinh môi trường tại khu vực nghiên cứu cho thấy chưa có hệ thống thoát nước mưa và nước thải, đồng thời việc thu gom và xử lý chất thải rắn cũng chưa được tổ chức Bên cạnh đó, KKT Nghi Sơn còn tồn tại nhiều khu nghĩa trang rải rác theo các cụm dân cư, với tổng diện tích lên tới 170,4 ha, chiếm 0,9% diện tích toàn khu vực.
2.1.4 Tiềm năng p hát triển KKT Nghi Sơn
KKT Nghi Sơn có vị trí chiến lược trên trục giao thông Bắc - Nam, cách Hà Nội 200 km về phía Nam, kết nối Bắc Bộ với Trung Bộ, Tây Bắc và Nam Bộ, cũng như thị trường Nam Lào và Đông Bắc Thái Lan Cảng Nghi Sơn có tiềm năng trở thành một trong những cảng biển lớn nhất Việt Nam, với khả năng tiếp nhận tàu trọng tải lên tới 100.000 DWT và năng lực xếp dỡ hàng chục triệu tấn mỗi năm Để phát triển thành KKT đa ngành, Nghi Sơn thu hút các ngành công nghiệp nặng và cơ bản như lọc hóa dầu, luyện cán thép cao cấp, nhiệt điện, và sản xuất hàng tiêu dùng Chính phủ Việt Nam đã ban hành chính sách ưu đãi cao nhất cho các nhà đầu tư, với cơ chế quản lý thông thoáng, phù hợp với thông lệ quốc tế và thích ứng với toàn cầu hóa kinh tế hiện nay.
Thực trạng thu hút vốn đầu tƣ vào KKT Nghi Sơn tỉnh Thanh Hóa
2.2.1 Công tác quảng bá và xúc tiến đầu tư
2.2.1.1 Xây dựng kế hoạch, chiến lược xúc tiến đàu tư
Tỉnh Thanh Hóa đã tập trung nghiên cứu và đánh giá tiềm năng đầu tư từ các đối tác trong nước và quốc tế, đặc biệt là các Tập đoàn lớn từ Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore và Châu Âu, cũng như xu hướng đầu tư từ các nước tham gia Hiệp định TPP Từ năm 2011 đến nay, tỉnh đã xây dựng Kế hoạch xúc tiến đầu tư hàng năm với tổng kinh phí từ 1,5 - 2 tỷ đồng cho hoạt động xúc tiến đầu tư vào KKT Nghi Sơn Các đơn vị như Ban quản lý KKT Nghi Sơn và các Khu công nghiệp, Trung tâm Xúc tiến Đầu tư được giao nhiệm vụ cụ thể để thúc đẩy hoạt động này.
Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch cùng các ngành liên quan đang triển khai thực hiện các hoạt động thương mại và du lịch tại tỉnh Thanh Hóa UBND tỉnh Thanh Hóa đã phê duyệt danh mục các dự án kêu gọi đầu tư, bao gồm khu kinh tế Nghi Sơn trong giai đoạn 2011 - 2015 và đến năm 2020.
Bảng 2.1: Danh mục các DA kêu gọi đầu tƣ vào KKT Nghi Sơn giai đoạn
TT Tên DA Quy mô đầu tƣ/ Nội dung
Tổng mức đầu tƣ (triệu USD)
Thời gian khởi công - hoàn thành
I DỰ ÁN ĐẦU TƢ SẢN XUẤT
1 DA KCN sản xuất hoá chất 5.000 2012-2020
- Nhà máy sản xuất DOP 75 nghìn tấn/năm
- Nhà máy sản xuất muội than đen 110 nghìn tấn/năm
- Tổ hợp hóa dầu 3.470 nghìn tấn/năm
- Sản xuất PVC 100-300 nghìn tấn/năm
- Sản xuất methanol và các sản phẩm từ methanol 600 nghìn tấn/năm
- Sản xuất LAB 200 nghìn tấn/năm
- Sản xuất nguyên liệu hóa chất cho ngành công 300 nghìn tấn/năm
- Nhà máy sản xuất cao su tổng hợp 50 nghìn tấn/năm
- Cung cấp hơi nước và điện 600 MW
- Nhà máy cung cấp khí
- Nhà máy sản xuất xơ, sợi PET 10 vạn tấn/năm
2 Nhà máy sản xuất ống nhựa
U.PVC, PE PTA 15 -20 nghìn tấn/năm, 10 2012-2015
3 Nhà máy sản xuất khí công nghiệp 100-200 nghìn tấn/năm 15
4 Tổ hợp hóa dầu: Etylen; PP;
EDC; MEG; Butadien 2,5 triệu tấn các loại/năm 500
5 Nhà máy sản xuất gạch không nung từ xỉ than 50 triệu viên/năm 5
6 Nhà máy sản xuất nhựa đường 200 nghìn tấn/năm 10
7 Nhà máy sản xuất thép không gỉ 200.000 tấn/năm 150 2012-2015
8 Nhà máy sản xuất vỏ container tại
Diện tích đất đự kiến sử dụng: 20ha
Nhà máy chuyên sản xuất thiết bị đồng bộ và phụ tùng thay thế cho ngành công nghiệp xi măng, đáp ứng các tiêu chuẩn tiên tiến Chúng tôi cung cấp phụ tùng và chi tiết thay thế cho các lĩnh vực như xi măng, mía đường và tàu thủy.
II DỰ ÁN HẠ TẦNG KINH TẾ -
28 Đầu tư kinh doanh hạ tầng các
KCN tây quốc lộ 1A - KKT Nghi
1022 ha 250 2012-2016 Đầu tư xây đựng Cảng Nghi Sơn
1 Bến cảng xuất sản phẩm cho nhà máy lọc hoá dầu:
08 bến chuyên dụng cho tàu 10.000 DWT đến 50.000 DWT; 2 Bến chuyên dụng khu công nghiệp cho tàu có trọng tải 50.000DWT; 3
Bến du lịch nội địa và dịch vụ hậu cần cảng: 33,5ha; 4
Bến cảng tổng hợp: gồm 19 bến cho tàu 30.000 DWT;
10 bến cho tàu 50.000 DWT; 6 Bến cảng Nhà máy nhiệt điện: gồm 5 bến, trong đó 01 bến cho tàu 30.000 DWT có xem xét khả năng cho tàu 50.000DWT
33 Khu du lịch sinh thái Trường Lâm 543ha 270 2012-2020
* Đô thị, Trung tâm TM
35 Xây dựng Khu đô thị trung tâm
38 Bệnh viện đa khoa Nghi Sơn 4,5ha; 500 giường bệnh 12 2012-2015
40 Trường Đại học công nghệ quốc
Nghi Sơn Quy mô 6.000 hs, sv 200 2012-2020
Tỉnh Thanh Hóa đang tập trung thu hút đầu tư vào Khu kinh tế Nghi Sơn, đặc biệt trong lĩnh vực chế biến sản phẩm sau lọc hóa dầu và các dự án công nghiệp phụ trợ tại các khu công nghiệp số 3, 4, 5 Đồng thời, tỉnh khuyến khích đầu tư vào sản xuất vật liệu xây dựng cao cấp, gạch không nung, và các sản phẩm từ nguyên liệu hợp kim và nhựa Ngoài ra, các dự án phát triển hạ tầng cảng biển, khu đô thị, và hạ tầng xã hội như bệnh viện và nhà ở cho công nhân cũng được ưu tiên Tỉnh tạo điều kiện cho các ngân hàng và tổ chức tài chính mở chi nhánh tại Nghi Sơn, nhằm phục vụ nhu cầu phát triển của khu kinh tế này Các sở, ban ngành và địa phương, đặc biệt là Ban quản lý KKT Nghi Sơn, đang triển khai các hoạt động xúc tiến đầu tư hiệu quả.
2.2.1.2 Tổ chức thực hiện xúc tiến đầu tư
Dựa trên Kế hoạch Xúc tiến hàng năm của tỉnh Thanh Hóa, Ban quản lý KKT Nghi Sơn đã phối hợp với nhiều đơn vị tổ chức các hoạt động xúc tiến đầu tư trong và ngoài nước, bao gồm hội nghị với các đại sứ quán và tổ chức ngân hàng Năm 2013, lễ khởi công Nhà máy Lọc hóa dầu Nghi Sơn đã thu hút 10 dự án với tổng vốn đầu tư 3.177 triệu USD Đến năm 2017, Hội nghị Xúc tiến Đầu tư tỉnh Thanh Hóa đã thu hút 31 dự án với tổng vốn đầu tư 140.858 tỷ đồng, trong đó KKT Nghi Sơn chiếm 10 dự án với 86.474 tỷ đồng Hàng năm, hàng trăm nhà đầu tư trong và ngoài nước tìm kiếm cơ hội tại KKT Nghi Sơn, và tỉnh cũng chủ động quảng bá hình ảnh KKT đến các nhà đầu tư qua các hội nghị tại nước ngoài.
Bảng 2.2 trình bày số lượng các đoàn nước ngoài đến tìm hiểu KKT Nghi Sơn cùng với số lượng các chuyến đi ra nước ngoài nhằm xúc tiến đầu tư vào KKT Nghi Sơn của tỉnh.
Năm Đoàn nước ngoài tìm hiểu KKT
Chuyến đi ra nước ngoài xúc tiến đầu tƣ vào KKT Nghi Sơn của tỉnh
Số lượng Thị trường Số lượng Thị trường
Malayxia: 1; Pháp: 1; Ngân hàng Thế giới: 1
Ba Lan: 2; Úc: 1; Trung Quốc: 1; Pháp: 1; Mỹ: 2;
Canada: 2; Tiểu vương quốc Ả rập xê út: 1; Singapore: 2;
Nga: 1; Slovakia: 1; Nhật Bản: 3; Ngân hàng Thế giới:
Hà Lan: 1; Ba Lan: 1; Nhật Bản: 5, Trung Quốc: 1;
Ban quản lý KKT Nghi Sơn và các KCN đang cụ thể hóa thông tin về các dự án kêu gọi đầu tư theo Quyết định số 3503/QĐ-UBND ngày 14/9/2015, cung cấp chi tiết về vị trí quy hoạch, hiện trạng, khái toán kinh phí giải phóng mặt bằng, chính sách ưu đãi đầu tư và lợi thế của các dự án Tập trung vào những dự án quan trọng có ảnh hưởng lớn đến phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, ban quản lý lựa chọn một số dự án trọng điểm để nghiên cứu lập báo cáo tiền khả thi, đề xuất cơ chế chính sách ưu tiên và xác định địa điểm đầu tư, tạo quỹ đất sạch để thu hút đầu tư Hàng năm, cán bộ tham gia các lớp tập huấn để cập nhật tình hình kinh tế quốc tế và trong nước, nâng cao kỹ năng xúc tiến đầu tư và tổ chức hội nghị, đồng thời tổ chức các lớp đào tạo và học tập kinh nghiệm trong và ngoài nước nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ chuyên nghiệp, đáp ứng yêu cầu xúc tiến đầu tư hiện nay.
2.2.1.3 Tuyên truyền, quảng bá, giới thiệu, cung cấp thông tin về KKT Nghi Sơn
Công tác quảng bá KKT Nghi Sơn được thực hiện tích cực qua các trang web của tỉnh Thanh Hóa và Ban quản lý KKT Nghi Sơn, cùng với các hoạt động truyền thông trên các phương tiện thông tin đại chúng Những nỗ lực này nhằm giới thiệu tiềm năng, lợi thế và môi trường đầu tư thuận lợi của KKT Nghi Sơn, cũng như các chính sách khuyến khích đầu tư Trong những năm qua, Ban quản lý KKT Nghi Sơn đã tổ chức nhiều hình thức thu hút đầu tư, bao gồm biên soạn tài liệu, xây dựng đĩa DVD với lời thoại tiếng Việt và phụ đề tiếng Anh, cùng với việc xuất bản cataloge.
Tiềm năng và cơ hội đầu tư vào KKT Nghi Sơn được quảng bá qua bốn ngôn ngữ: Tiếng Việt, tiếng Anh, tiếng Nhật và tiếng Hàn Thông tin và tài liệu xúc tiến đầu tư được gửi qua các kênh ngoại giao và Đại sứ quán Việt Nam ở nước ngoài để tăng cường tuyên truyền Kế hoạch tổ chức các chương trình vận động đầu tư trong và ngoài nước sẽ được công bố, kết hợp với các nhà đầu tư hạ tầng và khu công nghiệp để quảng bá và kêu gọi đầu tư Đối thoại thường xuyên với các nhà đầu tư sẽ được duy trì nhằm giải quyết kịp thời các khó khăn trong các dự án, tạo điều kiện cho các dự án triển khai hiệu quả Mục tiêu là xây dựng lòng tin của nhà đầu tư đối với môi trường kinh doanh, từ đó tạo ra hiệu ứng tích cực cho các nhà đầu tư mới.
2.2.2 Chính sách ưu đãi đầu tư Để khuyến khích thu hút đầu tư vào các KKT thi “các KKT được áp dụng đối với địa bàn có điều kiện KT - XH đặc biệt khó khăn, có những chính sách ưu đãi cao nhất và vận hành theo cơ chế đặc biệt” [3]
Chính sách ưu đãi đầu tư áp dụng cho KKT Nghi Sơn bao gồm:
2.2.2.1 Chính sách về tiền thuê đất, thuê mặt nước
Miễn tiền thuê đất và mặt nước trong thời gian xây dựng cơ bản, tối đa 03 năm từ ngày có quyết định cho thuê Đồng thời, miễn từ 11 đến 15 năm hoặc cả đời dự án, tùy thuộc vào lĩnh vực ngành nghề của dự án khi đi vào hoạt động.
11 năm đối với các DA không thuộc lĩnh vực ưu đãi đầu tư
15 năm đối với các DA thuộc lĩnh vực ưu đãi đầu tư
Miễn tiền thuê đất, thuê mặt nước trong suốt thời gian thực hiện DA đối với
DA thuộc lĩnh vực đặc biệt ưu đãi đầu tư
Danh mục các lĩnh vực ưu đãi đầu tư được quy định trong phụ lục của Nghị định số 118/2015/NĐ-CP, ban hành ngày 12/11/2015, nhằm hướng dẫn thi hành một số điều của Luật đầu tư.
Căn cứ Nghị định 218/2013/NĐ-CP ngày 26/12/2013 và Nghị định 118/2015/NĐ-CP, Chính phủ quy định chi tiết về Luật thuế thu nhập doanh nghiệp và một số điều của Luật đầu tư, đồng thời đưa ra chính sách ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp tại KKT Nghi Sơn.
- Đối với DA đầu tư mới :
Thuế suất ưu đãi 10% sẽ được áp dụng trong vòng 15 năm, bắt đầu từ năm đầu tiên doanh nghiệp có doanh thu từ dự án đầu tư.
Doanh nghiệp sẽ được miễn thuế trong 04 năm và giảm 50% số thuế phải nộp trong 9 năm tiếp theo Thời gian miễn thuế và giảm thuế được tính liên tục từ năm đầu tiên mà doanh nghiệp có thu nhập chịu thuế từ dự án đầu tư.
Kết quả thu hút vốn đầu tƣ và đánh giá công tác thu hút vốn đầu tƣ vào
2.3.1 Kết quả thu hút vốn đầu tư vào KKT Nghi Sơn
Sau 10 năm hình thành và phát triển, KKT Nghi Sơn đã nỗ lực trong công tác xúc tiến kêu gọi đầu tư, thu hút nhiều dự án hạt nhân quan trọng như Liên hợp Lọc hóa dầu Nghi Sơn, Trung tâm Nhiệt điện Nghi Sơn, Nhà máy xi măng Nghi Sơn, Nhà máy xi măng Công Thanh, và Khu liên hợp gang thép Nghi Sơn.
Dự án đầu tư cảng biển Nghi Sơn đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế xã hội tỉnh Thanh Hóa Hạt nhân của dự án là Khu liên hợp lọc hóa dầu Nghi Sơn với vốn đầu tư trên 9 tỷ USD, là một trong những dự án đầu tư nước ngoài lớn nhất tại Việt Nam, dự kiến sẽ đi vào vận hành thương mại vào tháng 6/2018 Khi hoạt động, dự án sẽ góp phần đảm bảo an ninh năng lượng cho phát triển kinh tế - xã hội của cả nước, nâng khả năng tự cung cấp xăng, dầu của Việt Nam từ 30% lên 70% Sản phẩm sau lọc hóa dầu sẽ tạo động lực lớn và cơ hội cho KKT Nghi Sơn thu hút các ngành công nghiệp phụ trợ như sản xuất hóa chất, hạt nhựa và cơ khí chế tạo.
Trung tâm Nhiệt điện bao gồm Nhà máy Nhiệt điện Nghi Sơn 1 với công suất
Nhà máy Nhiệt điện Nghi Sơn 1, công suất 600 MW do Tập đoàn Điện lực Việt Nam làm chủ đầu tư, đã đi vào hoạt động và phát điện cả 2 tổ máy Nhà máy Nhiệt điện Nghi Sơn 2, với công suất 1.200 MW và tổng vốn đầu tư 2,3 tỷ USD, do Liên doanh Tập đoàn Marubeni (Nhật Bản) và Tập đoàn Kepco (Hàn Quốc) đầu tư xây dựng theo hình thức BOT, đang hoàn thiện hồ sơ xin cấp phép đầu tư và dự kiến khởi công trong quý I/2018 Tại KKT Nghi Sơn, còn có nhiều dự án công nghiệp nặng lớn như Nhà máy Xi măng Nghi Sơn (621,91 triệu USD, công suất 4,3 triệu tấn/năm), Nhà máy Xi măng Công Thanh (600 triệu USD, công suất 6 triệu tấn/năm), và Nhà máy Luyện cán thép Nghi Sơn (120 triệu USD, công suất 750 nghìn tấn/năm, đang xin phép nâng công suất lên 7 triệu tấn phôi thép/năm) Ngoài ra, còn có Nhà máy sản xuất dầu ăn và các sản phẩm chiết suất từ dầu ăn với tổng mức đầu tư 71,5 triệu USD, công suất 1.500 tấn dầu ăn và sản phẩm chiết suất từ dầu ăn/ngày.
Số lượng các DA thu hút được trong giai đoạn 2011 - 2016 tại KKT Nghi Sơn như sau:
Bảng 2.3: Tình hình thu hút đầu tư tại KKT Nghi Sơn giai đoạn 2011 - 2016 [8]
DA đầu tư trong nước DA đầu tư nước ngoài
DA mới DA điều chỉnh DA mới DA điều chỉnh
Vốn ĐT tăng thê m (Tỷ đồng)
Vốn ĐT tăng thê m (Triệu USD)
Trong lĩnh vực đầu tư trong nước, đã thu hút 131 dự án (DA) với tổng vốn đầu tư đăng ký mới đạt 44.775,75 tỷ đồng Bên cạnh đó, có 40 dự án được điều chỉnh với số vốn tăng thêm là 19.306,06 tỷ đồng, nâng tổng vốn đầu tư đăng ký tăng thêm lên 64.081,81 tỷ đồng.
Trong lĩnh vực đầu tư nước ngoài, đã thu hút 06 dự án với tổng vốn đăng ký đạt 150,54 triệu USD và điều chỉnh 09 dự án với tổng vốn tăng thêm là 2.937,10 triệu USD Tổng vốn đầu tư đăng ký tăng thêm lên tới 3.087,64 triệu USD.
Các chỉ tiêu về kết quả thu hút vốn đầu tư cụ thể như sau:
2.3.1.1 Số lượng DA đầu tư và quy mô vốn đầu tư đăng ký giai đoạn 2011-2016
Trong giai đoạn 2011 - 2016, KKT Nghi Sơn đã đạt được những kết quả đáng khích lệ trong việc thu hút vốn đầu tư, với 131 dự án đầu tư trong nước và 6 dự án đầu tư nước ngoài Tổng số dự án đầu tư trong nước tại KKT Nghi Sơn hiện nay là 145 dự án, cùng với 12 dự án đầu tư nước ngoài Sự phát triển này phản ánh sự phát triển chung của cả nước.
Giai đoạn 2011 - 2016 chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ của KKT Nghi Sơn, mặc dù gặp nhiều khó khăn trong việc thu hút vốn đầu tư Tuy nhiên, hàng năm, KKT Nghi Sơn vẫn thu hút từ 13 đến 36 dự án đầu tư.
Biều đồ 2.1: Số lượng DA đăng ký mới và điều chỉnh tăng vốn
Biểu đồ 2.1 cho thấy sự biến động cao trong số lượng dự án (DA) đăng ký mới, với năm 2014 ghi nhận số lượng DA đầu tư mới cao nhất là 36, trong khi năm 2012 lại có số lượng thấp nhất chỉ với 13 DA đầu tư mới.
Trong giai đoạn 2011 - 2016, đầu tư trong nước ghi nhận sự tăng trưởng mạnh mẽ, đặc biệt là vào năm 2011 với 34.852,83 tỷ đồng Năm 2012 cũng có sự tăng trưởng đáng kể với 8.648,16 tỷ đồng Tuy nhiên, từ năm 2013 đến 2015, lượng vốn đăng ký đầu tư chỉ dao động từ 3.500 tỷ đồng đến 4.500 tỷ đồng Đến năm 2016, đầu tư trong nước đã phục hồi với mức tăng lên 8.442,58 tỷ đồng.
Số DA đăng ký mới
Số DA điều chỉnh tăng vốn
Lượng vốn đăng ký đầu tư trong nước tăng thêm (Tỷ đồng)
Biểu đồ 2.2: Tổng vốn đầu tư trong nước tăng thêm giai đoạn 2011 - 2016
Sự biến động cao trong giai đoạn 2011 - 2012 tại KKT Nghi Sơn chủ yếu do sự đầu tư ồ ạt vào các dự án công nghiệp nặng và hạ tầng kỹ thuật, bao gồm Nhà máy Nhiệt điện Nghi Sơn 1, Nhà máy Nhiệt điện Công Thanh, Nhà máy Phân đạm Công Thanh, cùng với các cảng như cảng tổng hợp Đại Dương, cảng Gang thép và cảng Hà Thành Những dự án này không chỉ có tổng vốn đầu tư lớn mà còn chiếm diện tích sử dụng rộng, với các vị trí được lựa chọn thuận lợi về giao thông và giải phóng mặt bằng.
KCN số 2, nằm đối diện Liên hợp Lọc hóa dầu Nghi Sơn, cùng với khu cảng tổng hợp số 1 và số 2, đã được nhà nước đầu tư luồng tàu chính để triển khai dự án Tuy nhiên, từ 2013 đến 2015, khi quỹ đất cho phát triển công nghiệp và cảng biển trở nên hạn chế, việc thu hút đầu tư cho các dự án trở nên khó khăn Các KCN số 3, 4, và 5 có địa hình thấp trũng và chi phí san lấp cao, trong khi KCN số 6 chủ yếu là đất thổ cư, gây khó khăn cho công tác giải phóng mặt bằng Luồng tàu vào các bến thuộc khu cảng tổng hợp số 2 và khu cảng container vẫn đang trong quá trình nạo vét Trong giai đoạn này, lĩnh vực thu hút đầu tư chủ yếu là dịch vụ, khai thác khoáng sản và chế biến thủy hải sản, với quy mô vốn đăng ký không lớn.
2013 - 2015, mặc dù số lượng các DA tăng lên, tuy nhiên lượng vốn đăng ký đầu tư thấp hơn rất nhiều so với giai đoạn 2011 - 2012
Vào năm 2016, khi quỹ đất cho các dự án dịch vụ và khai thác khoáng sản đã cạn kiệt, các doanh nghiệp bắt đầu chấp nhận đầu tư lớn vào các dự án xây dựng và kinh doanh hạ tầng kỹ thuật tại những vị trí khó khăn Điển hình là dự án cảng container Long Sơn với tổng vốn đầu tư 3.600 tỷ đồng và cảng container Gang Thép Nghi Sơn với 2.400 tỷ đồng, mặc dù nằm trong khu vực có khoảng 2.000 hộ dân sinh sống và chủ yếu là mặt nước biển, dẫn đến chi phí san lấp cao.
Giai đoạn 2011 - 2016, đầu tư nước ngoài tại Việt Nam ghi nhận sự nổi bật vào năm 2013 khi Liên hợp Lọc hóa dầu Nghi Sơn mở rộng quy mô và tăng vốn thêm 2.851 triệu USD, nâng tổng vốn lên 9.000 triệu USD Ngoài ra, năm 2013 cũng thu hút một dự án mới là Nhà máy sản xuất dầu ăn với tổng vốn đầu tư 71,5 triệu USD Tuy nhiên, trong các năm còn lại, lượng vốn đầu tư đăng ký tăng thêm rất ít hoặc không có.
Lượng vốn đăng ký đầu tư nước ngoài tăng thêm (Triệu USD)
Biều đồ 2.3: Tổng vốn đầu tư nước ngoài tăng thêm giai đoạn 2011-2016
Trong giai đoạn 2011 - 2016, KKT Nghi Sơn chứng kiến sự gia tăng đáng kể về số lượng dự án (DA) đăng ký đầu tư và vốn đầu tư so với giai đoạn trước Tuy nhiên, phần lớn các DA mới chủ yếu là đầu tư trong nước, trong khi số lượng DA đầu tư nước ngoài vẫn rất hạn chế và nguồn vốn đăng ký không đồng đều.
2.3.1.2 Tỉ lệ vốn đầu tư thực hiện so với tổng vốn đầu tư đăng ký
Đến năm 2016, tổng vốn đầu tư thực hiện các dự án đầu tư trong nước đạt 35.060,11 tỷ đồng, tương đương 33,43% tổng vốn đầu tư đăng ký Đồng thời, tổng vốn thực hiện của các dự án vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt 6.113,24 triệu USD, chiếm 50,27% tổng vốn đăng ký Những tỷ lệ này cho thấy tốc độ giải ngân vốn đầu tư của các doanh nghiệp trong KKT Nghi Sơn khá tốt, phản ánh năng lực của các nhà đầu tư trong quá trình thực hiện dự án.
Nguyên nhân của những tồn tại , hạn chế
* Nguyên nhân từ nền kinh tế
Suy thoái kinh tế toàn cầu và trong nước đã ảnh hưởng đáng kể đến việc thu hút đầu tư tại KKT Nghi Sơn Mặc dù thế giới đang phục hồi sau khủng hoảng kinh tế năm 2008, Việt Nam vẫn phải đối mặt với nhiều thách thức Sự giảm sút vốn đầu tư từ nước ngoài do tâm lý lo ngại của các nhà đầu tư là điều không thể tránh khỏi Bên cạnh đó, suy thoái kinh tế đã dẫn đến biến động giá cả vật tư và nguyên vật liệu, gây tác động tiêu cực đến hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp đầu tư trong KKT Nghi Sơn.
* Điều kiện tự nhiên ảnh hưởng đến thu hút đầu tư vào KKT Nghi Sơn
Thanh Hóa có vị trí địa lý xa các trung tâm kinh tế lớn như Hà Nội, Hải Phòng và TP Hồ Chí Minh, cũng như cách xa cảng hàng không quốc tế Điều này tạo ra bất lợi lớn cho tỉnh, làm giảm sức hấp dẫn đầu tư, đặc biệt đối với các dự án sản xuất hàng xuất khẩu và các dự án có sản phẩm tiêu thụ chủ yếu tại các tỉnh, thành phố lớn trên cả nước do chi phí vận tải cao và thời gian di chuyển lâu cho các nhà đầu tư.
KKT Nghi Sơn có khí hậu nhiệt đới gió mùa ẩm, với mùa đông lạnh ít mưa và mùa hè nắng nóng Sự khắc nghiệt của thời tiết, cùng với ảnh hưởng của gió Tây Nam và mưa bão, tạo ra tâm lý e ngại cho các nhà đầu tư khi đến khảo sát khu vực này.
KKT Nghi Sơn có diện tích tự nhiên lớn nhưng bị chia cắt bởi đồi núi, địa hình không bằng phẳng, và quỹ đất thuận lợi gần cảng biển đã hết Một số khu vực quy hoạch có địa hình bằng phẳng và gần cảng lại đông dân cư sinh sống, trong khi các khu vực còn lại cách xa cảng biển, địa hình thấp trũng và sình lầy, dẫn đến chi phí san lấp mặt bằng cao (trung bình trên 30.000 m³/ha, có nơi sâu 5-7 m) So với các KKT ven biển khác, khối lượng san lấp bình quân chỉ khoảng 10.000 m³/ha Bên cạnh đó, chi phí bồi thường giải phóng mặt bằng rất lớn (trung bình trên 2 tỷ đồng/ha), và việc di chuyển tái định cư cho người dân gặp nhiều khó khăn do phần lớn là đất trồng cây hàng năm, đất làm muối, đất vườn và đất ở, tạo tâm lý e dè cho các nhà đầu tư.
* Nguyên nhân từ chế độ, cơ chế chính sách của Nhà nước:
Nhiều vấn đề pháp lý chưa được giải quyết đồng bộ, dẫn đến sự lo lắng của các nhà đầu tư Các bộ luật như Luật Đất đai, Luật Xây dựng và Luật Đầu tư thiếu sự nhất quán, với các chính sách thuế và đất đai thường xuyên thay đổi Những thay đổi không hấp dẫn trong chính sách thuế, như việc bãi bỏ ưu đãi cho nhà đầu tư trong KCN, cùng với chính sách đền bù theo giá thị trường, đã ảnh hưởng tiêu cực đến tâm lý của nhà đầu tư, đặc biệt là nhà đầu tư nước ngoài Hơn nữa, nguồn vốn ngân sách tỉnh chưa được tập trung hiệu quả cho đầu tư hạ tầng tại KKT Nghi Sơn và các KCN, chủ yếu dựa vào ngân sách nhà nước mà chưa huy động được vốn từ các nguồn hợp pháp khác.
* Nguyên nhân ảnh hưởng đến công tác quy hoạch và xây dựng hạ tầng
Chất lượng tư vấn trong lập quy hoạch chi tiết, tư vấn lập dự án và thiết kế kỹ thuật cho một số công trình hiện nay còn thấp Năng lực của một số nhà thầu cũng hạn chế, điều này ảnh hưởng đến tiến độ thi công của các công trình.
Kết cấu hạ tầng giao thông, cấp điện, cấp nước, và các dịch vụ trong KKT Nghi Sơn còn thiếu, ảnh hưởng đến môi trường đầu tư và khả năng thu hút vốn Ngân sách tỉnh hạn chế, khiến việc xây dựng hạ tầng kỹ thuật gặp khó khăn, chưa đáp ứng nhu cầu của nhà đầu tư, đặc biệt là nhà đầu tư nước ngoài Thêm vào đó, một số dự án bên ngoài hàng rào KKT sau khi hoàn thành đã gây ra phản ứng tiêu cực từ nhiều phía.
* Nguyên nhân ảnh hưởng đến công tác giải phóng mặt bằng
Công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng (GPMB) và tái định cư (TĐC) đang gặp nhiều khó khăn do sự gia tăng của việc xây dựng trái phép, điều này là nguyên nhân chính làm chậm tiến độ thực hiện nhiều dự án (DA) và làm tăng tổng mức đầu tư.
Việc giao đất và cấp đất trái thẩm quyền tại các xã đang diễn ra phổ biến, cùng với tình trạng xây dựng cơi nới trái phép và cản trở thi công ngày càng gia tăng Tuy nhiên, các vấn đề này chưa được xử lý và ngăn chặn kịp thời Chính quyền địa phương dường như chưa quan tâm đúng mức đến việc xử lý các trường hợp xây dựng trái phép, lấn chiếm đất công, cũng như các hành vi bán đất trái thẩm quyền.
- Công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách pháp luật về đất đai, về bồi thường GPMB; pháp luật về lao động chưa thường xuyên, liên tục
* Nguyên nhân từ công tác xúc tiến đầu tư
Công tác xúc tiến đầu tư tại tỉnh mặc dù đã có nhiều nỗ lực nhưng vẫn chưa đạt hiệu quả cao do thiếu định hướng rõ ràng và chiến lược dài hạn Việc thu hút các tập đoàn đa quốc gia lớn còn hạn chế, và vai trò của các chủ đầu tư hạ tầng tại các khu công nghiệp chưa được phát huy tốt Sự nóng vội và thiếu kinh nghiệm trong thu hút đầu tư đã dẫn đến việc chỉ chú trọng vào số lượng dự án mà không xem xét năng lực thực sự của nhà đầu tư, ngành nghề kinh doanh, và yếu tố công nghệ, môi trường phù hợp Hơn nữa, năng lực của đội ngũ cán bộ làm công tác xúc tiến đầu tư còn hạn chế, thiếu tâm huyết và không đáp ứng được yêu cầu của nhà đầu tư, thậm chí đôi khi gây khó khăn cho họ.
* Nguyên nhân từ năng lực bộ máy quản lý KKT
Mặc dù Thanh Hoá đã ban hành các văn bản quy phạm pháp luật để thực hiện cơ chế quản lý “một cửa, một đầu mối”, nhưng trong thực tế vẫn gặp nhiều vướng mắc phức tạp Nhiều khâu còn chồng chéo và thủ tục vẫn còn phiền hà.
Bộ và UBND tỉnh đã ủy quyền cho Ban quản lý KKT với thẩm quyền rộng, nhưng sự thống nhất giữa các văn bản pháp lý còn thấp, gây khó khăn và mất thời gian cho nhà đầu tư Mặc dù đã có quy chế phối hợp giữa các Sở, Ban, ngành, nhưng quá trình thực hiện vẫn gặp nhiều vướng mắc Trong những năm gần đây, KKT Nghi Sơn đã phát triển mạnh mẽ về quy mô và chất lượng dự án, thu hút nhiều nhà đầu tư Tuy nhiên, năng lực quản lý KKT và cơ chế quản lý chưa đáp ứng yêu cầu phát triển, với nhược điểm lớn nhất là thiếu tính chuyên nghiệp Hiệu quả trong quá trình đầu tư, từ tiếp nhận đến giám sát dự án, chưa cao, dẫn đến nhiều dự án không triển khai hoặc chậm tiến độ Ban quản lý KKT chưa có biện pháp kịp thời để tháo gỡ khó khăn Các dịch vụ hỗ trợ, đặc biệt là tư vấn pháp luật cho nhà đầu tư nước ngoài, hoạt động kém hiệu quả, khiến họ tốn nhiều thời gian tìm hiểu hệ thống pháp luật và điều kiện đầu tư, tạo tâm lý e ngại.
Nhận thức của chính quyền, đặc biệt là ở các xã, về phát triển KKT và thu hút đầu tư vào KKT Nghi Sơn còn hạn chế Sự quan tâm lãnh đạo và chỉ đạo chưa đầy đủ, dẫn đến việc cụ thể hóa và đề ra giải pháp thực hiện gặp khó khăn Nhiều địa phương và cơ quan chưa chủ động xử lý các vướng mắc phát sinh, chậm trễ trong việc giải quyết kiến nghị và khiếu nại của người dân và doanh nghiệp, ảnh hưởng đến tiến độ triển khai các công việc, đặc biệt là trong GPMB và đầu tư của các dự án.
Chính sách hỗ trợ và khuyến khích đầu tư của tỉnh hiện nay chưa đủ sức hấp dẫn để thu hút các nhà đầu tư, cả trong nước lẫn nước ngoài.
* Nguyên nhân từ nguồn lao động
Chất lượng nguồn lao động hiện nay còn hạn chế, với đội ngũ cán bộ quản lý, kỹ thuật và công nhân lành nghề thiếu cả về số lượng lẫn chất lượng Công tác quy hoạch và đào tạo chưa được đầu tư đúng mức, dẫn đến việc phát triển nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp không đáp ứng yêu cầu Mặc dù lực lượng lao động công nghiệp tăng, nhưng chủ yếu là lao động phổ thông với tay nghề thấp, và ý thức tổ chức lao động còn yếu kém Điều này tạo ra sự thiếu hụt nguồn nhân lực chất lượng cao, không đáp ứng được yêu cầu của các dự án công nghiệp hiện đại.