Chương 2: KINH TẾ BIỂN Ở KHU KINH TẾ NGHI SƠN, TỈNH
2.1. Những yếu tố ảnh hưởng đến kinh tế biển ở khu kinh tế Nghi Sơn, tỉnh
2.1.1. Đặc điểm tự nhiên - kinh tế - xã hội của tỉnh Thanh Hóa
Thanh Hóa là một tỉnh lớn của Bắc Trung Bộ với tổng diện tích 11.129,48 km2, là tỉnh có diện tích lớn thứ 5 trong cả nước. Thanh Hoá nằm ở cực Bắc Miền Trung, cách Thủ đô Hà Nội 150 km về phía Nam, cách Thành phố Hồ Chí Minh 1.560km. Phía Bắc giáp với ba tỉnh Sơn La, Hoà Bình và Ninh Bình, phía Nam giáp tỉnh Nghệ An, phía Tây giáp tỉnh Hủa Phăn (nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào), phía Đông là Vịnh Bắc Bộ. Thanh Hoá nằm trong vùng ảnh hưởng của những tác động từ vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, các tỉnh Bắc Lào và vùng trọng điểm kinh tế Trung bộ, ở vị trí cửa ngõ nối liền Bắc Bộ với Trung Bộ, có hệ thống giao thông thuận lợi như: đường sắt xuyên Việt, đường Hồ Chí Minh, các quốc lộ 1A, 10, 45, 47, 217; cảng biển nước sâu Nghi Sơn và hệ thống sông ngòi thuận tiện cho lưu thông Bắc Nam, với các vùng trong tỉnh và đi quốc tế. Hiện tại, Thanh Hóa có sân bay Sao Vàng, sân bay Thọ Xuân và đang dự kiến mở thêm sân bay quốc tế sát biển phục vụ cho Khu kinh tế Nghi Sơn và khách du lịch. Đặc điểm về vị trí địa lý trở thành một trong những điều kiện thuận lợi cho sự phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội của tỉnh Thanh Hóa.
Thanh Hóa là một trong những tỉnh có nguồn tài nguyên thiên nhiên rất đa dạng và phong phú, trong đó đặc biệt là tài nguyên biển. Cụ thể, vùng biển Thanh Hoá có diện tích 17.000 - 18.000km2, gấp 1,6 lần diện tích đất liền.
Đường bờ biển có dạng cánh cung dài 102km. Bờ biển tương đối phẳng, nhưng bị chia cắt bởi 7 cửa lạch. Các cửa sông đều là những khu vực tự nhiên
rất nhạy cảm và có năng suất sinh học cao. Từ Nam Sầm Sơn đến Quảng Xương có inmenhit, trữ lượng 73.500 tấn. Đây là loại nguyên liệu quan trọng để sản xuất que hàn, men sứ. Bờ biển Tĩnh Gia có trữ lượng lớn cát trắng để sản xuất thuỷ tinh. Các bãi triều rộng ở Nga Sơn, Hậu Lộc, Hoằng Hoá, Quảng Xương...
là nơi nuôi trồng thuỷ sản. Ven bờ cũng có nhiều đồng muối ở Hậu Lộc, Hoằng Hoá, Quảng Xương, Tĩnh Gia. Vùng ven biển Thanh Hoá có đảo hòn Nẹ cao, đảo hòn Mê, cụm đảo Nghi Sơn và hàng loạt đảo nhỏ như: hòn Đót, hòn Miệng, hòn Vạt, hòn Góc, v.v.. Diện tích đảo của tỉnh khoảng 800ha.
Về mặt tài nguyên và môi trường, có thể xây dựng các khu bảo tồn biển xung quanh các đảo nhằm bảo vệ sự đa dạng sinh học biển đồng thời cũng là cơ sở cho hoạt động du lịch. Với vị trí của mình các đảo này có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ đất liền, đồng thời là nguồn lực quan trọng để phát triển kinh tế hướng ra biển. Cùng với đó, dải ven bờ biển Thanh Hoá có diện tích bãi triều trên 8.000ha (chưa tính bãi triều 2 huyện Nga Sơn và Hậu Lộc mỗi năm bồi tăng thêm từ 10 - 50m) là nguồn tài nguyên lớn về nuôi trồng thuỷ sản nước lợ như tôm sú, tôm he, cua và rong câu...
Diện tích nước mặn khoảng trên 5.000ha, phân bố chủ yếu ở vùng đảo Mê, Biện Sơn có thể nuôi cá song, cá cam, trai ngọc, tôm hùm dưới hình thức nuôi lồng bè. Ngoài ra với hàng ngàn hecta vùng nước mặn ven bờ, thuận lợi nuôi nhuyễn thể hai mảnh vỏ như ngao, sò, ngán... Đặc biệt là với vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên thuận lợi, khu kinh tế Nghi Sơn đã và đang được xây dựng (theo Quyết định 102/2006 của Thủ tướng Chính phủ) với nhiều hạng mục công trình lớn như: cảng nước sâu, nhà máy xi măng, sân bay... sẽ mở ra nhiều hướng phát triển mới cho dải ven biển nói riêng cũng như cho cả tỉnh Thanh Hóa nói chung.
Về tình hình phát triển kinh tế xã hội, mục tiêu tổng quát được chính quyền tỉnh Thanh Hóa đề ra là tiến tới phát triển kinh tế - xã hội nhanh, hiệu
quả và bền vững; tạo sự chuyển biến căn bản về chất lượng tăng trưởng và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Phấn đấu đến năm 2020 Thanh Hoá cơ bản trở thành tỉnh công nghiệp có cơ cấu kinh tế hợp lý, hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội được phát triển đồng bộ, hiện đại; đồng thời là một trong những trung tâm kinh tế, giáo dục - đào tạo, y tế, thể dục - thể thao, khoa học - kỹ thuật của vùng Bắc Trung Bộ và cả nước, an ninh chính trị ổn định, tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc. Thanh Hóa là một tỉnh có nguồn tài nguyên thiên nhiên rất đa dạng và phong phú – là nguồn lực quan trọng để phát triển các ngành kinh tế xã hội bao gồm nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản, công nghiệp…
Với những đặc trưng là một tỉnh tập trung đông dân cư so với 06 (sáu) tỉnh trong khu vực Bắc Trung Bộ với tỷ lệ tăng dân số tự nhiên ở mức cao, cơ cấu dân số trẻ, Thanh Hóa có nguồn lao động dồi dào để tập trung phát triển mạnh mẽ các ngành kinh tế chủ lực của địa phương, trong đó có kinh tế biển.
Theo đó, dân cư trên địa bàn tỉnh phân bố không đồng đều theo các đơn vị hành chính và giữa đồng bằng và miền đồi núi. Dân cư chủ yếu tập trung đông ở thành phố, thị xã, thị trấn ven biển, ven sông và thưa thớt ở các vùng núi. Những nguyên nhân chính của sự phân bố dân cư chênh lệch trên đây phải kể đến sự phân bố không đều của tài nguyên thiên nhiên, hệ thống các cơ sở kinh tế - xã hội, hệ thống cơ sở hạ tầng phục vụ đời sống và cả lịch sử cư trú. Bên cạnh đó, Thanh Hóa cũng là tỉnh có nhiều thành phần dân tộc, trong đó người Kinh chiếm tỷ lệ lớn nhất (84,4%), người Mường (8,7%), người Thái (6%). Các dân tộc thiểu số khác như Mông, Dao, Tày, Sán Dìu, Hoa, Cao Lan, Thổ... chiếm tỷ lệ không đáng kể (gần 1%) 6. Tính đa dạng về thành phần dân tộc vừa là lợi thế cho sự phát triển văn hóa, du lịch song cũng là những khó khăn cho sự phát triển đồng đều và xóa bỏ ranh giới giàu nghèo giữa các vùng miền trong tỉnh.
6 https://thanhhoa.gov.vn/portal/pages/dac-diem-dan-cu.aspx
2.1.2. Đặc điểm của khu kinh tế Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa
Ngày 15 tháng 05 năm 2006, Thủ tướng Chính phủ đã kí Quyết định số 102/2006/QĐ – TTg về việc thành lập và ban hành quy chế hoạt động của khu kinh tế Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Theo đó, khu kinh tế Nghi Sơn là khu vực có ranh giới địa lý xác định thuộc lãnh thổ và chủ quyền của quốc gia, có không gian kinh tế riêng biệt, với môi trường đầu tư và sản xuất kinh doanh thuận lợi, bình đẳng bao gồm: các khu chúc năng, các công trình dịch vụ và tiện ích công cộng với các chính sách ưu đãi, khuyến khích, ổn định lâu dài và cơ chế quản lý thông thoáng tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài yên tâm đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ.
Phạm vi của khu kinh tế Nghi Sơn bao gồm 12 xã: Hải Bình, Xuân Lâm, Tĩnh Hải, Hải Yến, Mai Lâm, Hải Thượng, Hải Hà, Nghi Sơn, Trúc Lâm, Trường Lâm, Tùng Lâm, Tân Trường thuộc huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa với tổng diện tích 18.611,8 ha với địa hình tại khu kinh tế rất đa dạng, bao gồm: Vùng núi, vùng đồng bằng và vùng ven biển; trong đó đồng bằng chiếm khoảng 60% tổng diện tích. Về vị trí địa lí, khu kinh tế Nghi Sơn nằm phía nam tỉnh Thanh Hoá, trên trục giao lưu Bắc - Nam của đất nước, cách Thủ đô Hà Nội 200 km về phía Nam, là cầu nối giữa vùng Bắc Bộ với Trung Bộ, Tây Bắc và Nam Bộ, với thị trường Nam Lào và Đông Bắc Thái Lan.
Cảng Nghi Sơn có tiềm năng phát triển thành một trong những cảng biển lớn nhất cả nước với khả năng tiếp nhận tàu có trọng tải lên tới 50.000DWT, năng lực xếp dỡ lên đến hàng trăm triệu tấn/năm. Để thực hiện mục tiêu phát triển thành khu kinh tế đa ngành thu hút các ngành công nghiệp nặng và công nghiệp cơ bản như: Lọc hóa dầu, luyện cán thép cao cấp, nhiệt điện, vật liệu xây dựng, sản xuất, chế biến hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu... Chính phủ Việt Nam đã ban hành và cho áp dụng chính sách ưu đãi cao nhất dành cho các nhà đầu tư.
Về tình hình văn hóa xã hội, tổng dân số toàn tỉnh Thanh Hoá khoảng 3,5 triệu người, trong đó lực lượng lao động là 2,1 triệu người. Dân số của khu kinh tế Nghi Sơn là trên 80.000 người, trong đó lực lượng lao động khoảng 45.000 người 7. Lực lượng lao động tỉnh Thanh Hóa phần lớn là lao động trẻ, có trình độ văn hóa được phổ cập giáo dục tốt nghiệp THCS và THPT, có khả năng tiếp thu khoa học kỹ thuật và đào tạo thành lao động có tay nghề cao. Thanh Hóa có hệ thống giáo dục và đào tạo khá hoàn chỉnh với đủ các cấp học và ngành học. Tại khu kinh tế Nghi Sơn có trường Trung cấp nghề Nghi Sơn đang hoạt động và Cao đẳng nghề công nghệ Licogi đang xây dựng đáp ứng nhu cầu đào tạo cho hàng nghìn lao động kỹ thuật. Để đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực cho khu kinh tế, hiện nay Ban Quản lý khu kinh tế Nghi Sơn đang xây dựng Đề án đào tạo, phát triển nguồn nhân lực khu kinh tế Nghi Sơn giai đoạn 2015-2025 trình Chính phủ phê duyệt.
Về điều kiện hạ tầng giao thông vận tải, khu kinh tế Nghi Sơn nằm trên trục giao thông Bắc - Nam của Việt Nam, có Quốc lộ 1A và tuyến đường cao tốc quốc gia Bắc - Nam được quy hoạch phía Tây quốc lộ 1A đi qua. Đồng thời, có hệ thống giao thông đường bộ liên hoàn giữa các vùng miền trong tỉnh và khu vực với các trục đường giao thông nối từ khu đô thị trung tâm đến các khu công nghiệp và cảng Nghi Sơn, các trục Đông Tây nối từ cảng Nghi Sơn với đường cao tốc Bắc Nam. Đường sắt quốc gia chạy qua khu kinh tế Nghi Sơn có chiều dài trên 15km, trong đó ga Khoa Trường dự kiến nâng cấp mở rộng thành Ga trung tâm của khu kinh tế.
Về cảng biển, cảng Nghi Sơn đã xây dựng và đưa vào khai thác các bến chuyên dụng của Nhà máy Nhiệt điện Nghi Sơn I, Nhà máy xi măng Nghi Sơn và 03 bến tổng hợp có khả năng đón tàu có trọng tải đến 30.000 DWT, năng lực xếp dỡ khoảng 5 triệu tấn/năm. Ngoài ra hiện nay có hàng chục bến
7 http://nghison.gov.vn/kkt/Pages/20141008101452.aspx
cảng tổng hợp, bến chuyên dụng và bến container cùng khu tổng hợp hậu cần cảng đều đang được các nhà đầu tư triển khai xây dựng. Đối với đường hàng không, sân bay Thọ Xuân tiêu chuẩn cấp 4E cách khu kinh tế Nghi Sơn khoảng 60 km. Hiện tại, hãng hàng không Việt Nam Airlines đang khai thác tuyến bay Thanh Hóa - Thành phố Hồ Chí Minh với tần suất 02 chuyến bay/ngày. Theo kế hoạch đã được phê duyệt, sân bay Thọ Xuân sẽ được nâng cấp mở rộng thành cảng hàng không quốc tế để đáp ứng nhu cầu phát triển của khu kinh tế Nghi Sơn và phục vụ nhu cầu đi lại của nhân dân trong tỉnh và trong khu vực.
Về hệ thống điện, khu kinh tế Nghi Sơn đang sử dụng mạng lưới điện quốc gia bao gồm: đường dây 500 KV Bắc Nam và đường dây 220 KV Thanh Hóa - Nghệ An, hiện có trạm biến áp 220/110/22 KV - 250 MVA đảm bảo đủ nguồn điện cung cấp cho nhu cầu sản xuất và sinh hoạt. Bên cạnh đó, khu kinh tế Nghi Sơn còn được Chính phủ quy hoạch phát triển thành một trung tâm nhiệt điện lớn với tổng công suất 2.400MW với việc xây dựng và đưa vào vận hành các nhà máy nhiệt điện Nghi Sơn I công suất 600 MW, nhà máy nhiệt điện Nghi Sơn II với công suất 1.200 MW do Tập đoàn Marubeni (Nhật Bản) và Kepco (Hàn Quốc) đầu tư theo hình thức BOT và nhà máy Nhiệt điện Công Thanh công suất 600 MW.
Về hệ thống cung cấp nước, đối với nguồn nước thô được lấy từ hồ Yên Mỹ (87 triệu m3) và hồ Sông Mực (200 triệu m3) bằng hệ thống đường ống dẫn nước thô. Tuyến ống giai đoạn 1 cung cấp về hồ Đồng Chùa công suất 30.000 m3/ngày đêm; tuyến ống giai đoạn 2 công suất 90.000 m3/ngày đêm được đầu tư từ nguồn vốn ODA. Đối với nguồn nước sạch, có 2 nhà máy cấp nước sạch bao gồm nhà máy tại hồ Đồng Chùa cấp nước với công suất 30.000 m3/ngày đêm; giai đoạn II nâng công suất lên 90.000 m3/ngày đêm và nhà máy tại Khu vực phía Tây Quốc lộ 1A, công suất: 20.000 m3/ngày đêm
Về hệ thống dịch vụ viễn thông, hiện nay hạ tầng mạng viễn thông - công nghệ thông tin tại khu kinh tế Nghi Sơn đã được quy hoạch phát triển với các loại hình dịch vụ tiên tiến, băng thông rộng, tốc độ cao và công nghệ hiện đại; có khả năng đáp ứng nhu cầu về dịch vụ viễn thông - công nghệ thông tin với chất lượng cao nhất cho khách hàng.
Về hệ thống hạ tầng xã hội, hệ thống trường học học, bệnh viện, dịch vụ thương mại, khách sạn - du lịch, ... đã được quy hoạch đồng bộ. Một số dự án đang triển khai xây dựng như: Khu du lịch sinh thái đảo Nghi Sơn, Khu dịch vụ du lịch và nghỉ dưỡng Bắc đảo Nghi Sơn, Tổ hợp dịch vụ tổng hợp, Khu dịch vụ công cộng Bắc núi Xước, Trường cao đẳng nghề công nghệ Licogi, Khu nhà ở cho công nhân, các ngân hàng thương mại, dịch vụ bảo hiểm... đáp ứng nhu cầu nhà ở, học tập, vui chơi giải trí của cán bộ, chuyên gia và nhân dân trong khu kinh tế Nghi Sơn.