Khái quát về kinh tế biển ở khu kinh tế

Một phần của tài liệu Kinh tế biển ở khu kinh tế nghi sơn, tỉnh thanh hóa hiện nay (Trang 27 - 41)

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ KINH TẾ BIỂN VÀ

1.2. Khái quát về kinh tế biển ở khu kinh tế

Xuất phát từ công cuộc đổi mới năm 1986, để hướng tới xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, trong đó, tăng cường thu hút

các nguồn lực để phát huy tiềm năng thế mạnh trong nước, chuyển đổi cơ cấu kinh tế, thực hiện chủ trương của Đảng, Nhà nước, các mô hình khu công nghiệp, khu kinh tế đã được hình thành, phát triển đa dạng và đóng góp tích cực vào công cuộc phát triển kinh tế xã hội của đất nước.

Hội nghị lần thứ tư Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII năm 1997 đã đề ra chủ trương nghiên cứu xây dựng thí điểm một vài đặc khu kinh tế, khu mậu dịch tự do ở những địa bàn ven biển có đủ điều kiện. Nghị quyết hội nghị lần thứ 4 Ban chấp hành Trung ương khoá X về Chiến lược Biển Việt Nam đến năm 2020 của Đảng ta chỉ rõ: Nước ta phải trở thành quốc gia mạnh về biển, làm giàu từ biển trên cơ sở phát huy mọi tiềm năng từ biển, phát triển toàn diện các ngành nghề biển với cơ cấu phong phú, hiện đại tạo ra tốc độ phát triển nhanh bền vững với hiệu quả, tốc độ cao; phấn đấu đến năm 2020, kinh tế trên biển và ven biển đóng góp khoảng 53-55% GDP của cả nước, trong đó các khu kinh tế được xác định đóng vai trò động lực, chủ đạo.

Bên cạnh đó, Bộ Chính trị có ý kiến chỉ đạo về việc hình thành các khu kinh tế tại các Thông báo số 79-TB/TW ngày 27/9/2002 và số 155-TB/TW ngày 9/9/2004 của Ban chấp hành Trung ương; Nghị quyết số 39-NQ/TW ngày 16/8/2004 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế và đảm bảo an ninh quốc phòng vùng Bắc Trung Bộ và Duyên hải Trung Bộ đến năm 2010. Tại Quyết định số 148/2004/QĐ-TTg ngày 13/8/2004 về phương hướng chủ yếu phát triển kinh tế - xã hội vùng kinh tế trọng điểm miền Trung đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2020; Quyết định số 178/2004/QĐ-TTg ngày 05/10/2004 về Đề án Phát triển tổng thể đảo Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang đến năm 2010 và tầm nhìn 2020; Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo các Bộ, ngành và địa phương nghiên cứu xây dựng đề án thành lập khu kinh tế trên cơ sở phân tích tiềm năng lợi thế của các vùng, thể chế hoá chủ trương của Bộ

Chính trị, tạo ra khung pháp lý và tổ chức hoạt động của khu kinh tế nhằm bảo đảm sự phát triển lâu dài và bền vững của các khu kinh tế.

Theo quy định tại khoản 12 Điều 3 Luật Đầu tư năm 2014 và khoản 7 Điều 2 Nghị định số 82/2018/NĐ – CP ngày 22 tháng 5 năm 2018 quy định về quản lí khu công nghiệp và khu kinh tế (sau đây gọi là Nghị định 82/2018/NĐ - CP), khu kinh tế là khu vực có ranh giới địa lý xác định, gồm nhiều khu chức năng, được thành lập để thực hiện các mục tiêu thu hút đầu tư, phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ quốc phòng, an ninh. Trong đó, khu kinh tế ven biển là khu kinh tế hình thành ở khu vực ven biển và địa bàn lân cận khu vực ven biển, được thành lập theo các điều kiện, trình tự và thủ tục theo quy định của pháp luật (điểm a khoản 7 Điều 2 Nghị định 82/2018/NĐ - CP).

Khu kinh tế nói chung và khu kinh tế ven biển nói riêng là địa bàn ưu đãi đầu tư, được hưởng chính sách ưu đãi áp dụng đối với địa bàn thuộc Danh mục địa bàn có điều kiện kinh. Dựa trên việc xây dựng và tổ chức thực hiện Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển, Đảng và Nhà nước ta chủ trương xây dựng các khu kinh tế ven biển, xem đây là mô hình phát triển mới, nhằm hình thành các khu kinh tế động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của các địa phương và vùng, nhất là các vùng nghèo ven biển; tạo tiền đề huy động, thu hút mạnh mẽ các nguồn vốn đầu tư, tìm kiếm, áp dụng những thể chế, chính sách kinh tế mới để chủ động hội nhập kinh tế quốc tế; kết hợp phát triển kinh tế với tăng cường quốc phòng, an ninh.

Từ đây có thể đưa ra định nghĩa khái quát về vấn đề này như sau: Kinh tế biển ở khu kinh tế là các ngành kinh tế diễn ra trên biển hoặc có liên quan đến biển tại các khu kinh tế được nhà nước quy hoạch thành các khu vực đặc thù và dành nhiều ưu đãi đầu tư trong quá trình hoạt động nhằm khai thác và phát huy được thế mạnh về tiềm năng kinh tế biển của khu kinh tế, trên cơ sở đó tạo động lực phát triển kinh tế xã hội cho địa phương cũng như cả nước,

góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân, kể cả những người dân sinh sống tại các khu vực không có biển.

1.2.2. Nội dung của kinh tế biển ở khu kinh tế

Khu kinh tế ven biển là mô hình phát triển có tính đột phá cho phát triển kinh tế vùng, hỗ trợ những vùng, lãnh thổ có điều kiện thuận lợi khai thác lợi thế về điều kiện tự nhiên, vị trí địa kinh tế và chính trị để phát triển kinh tế, hội nhập kinh tế quốc tế; huy động tối đa nguồn nội lực, tìm kiếm và áp dụng những thể chế và chính sách kinh tế mới để chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực; kết hợp phát triển kinh tế với giữ vững an ninh, quốc phòng. Từ đây, kinh tế biển ở khu kinh tế là một trong những mục tiêu quan trọng trong việc thúc đẩy hoạt động hiệu quả tại các khu kinh tế, góp phần đạt được những mục tiêu đã đặt ra trong việc xây dựng và phát triển các khu kinh tế ven biển. Cụ thể:

1.2.2.1. Kinh tế biển ở khu kinh tế theo hướng tập trung vào các ngành kinh tế biển chủ lực, tạo ra đặc thù và thế mạnh khác nhau của từng khu kinh tế

Nghị quyết Hội nghị lần thứ tám Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XII về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 đã khẳng định, đến năm 2030, phát triển thành công, đột phá về các ngành kinh tế biển theo thứ tự ưu tiên: (1) Du lịch và dịch vụ biển; (2) Kinh tế hàng hải; (3) Khai thác dầu khí và các tài nguyên khoáng sản biển khác; (4) Nuôi trồng và khai thác hải sản; (5) Công nghiệp ven biển; (6) Năng lượng tái tạo và các ngành kinh tế biển mới. Như vậy, từ mức độ vĩ mô, việc phát triển kinh tế biển được định hướng theo xu hướng giảm dần khai thác các nguồn tài nguyên không tái tạo và thay bằng các cách thức khai thác, sử dụng biển một cách bền vững hơn. Qua đó, việc đẩy mạnh phát triển các ngành kinh tế biển tại các khu kinh tế phải đóng vai trò quan trọng trong việc góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của các khu kinh tế, tương xứng với tiềm năng và những ưu đãi dành cho các khu vực này trong quá trình thực

hiện các hoạt động phát triển kinh tế xã hội. Việc hình thành các khu kinh tế biển sẽ góp phần quan trọng trong việc phát triển các ngành kinh tế biển theo hướng tập trung, thống nhất và hiệu quả hơn.

Tuy nhiên, thực tế chỉ ra rằng, mỗi khu kinh tế nói chung và khu kinh tế ven biển nói riêng sẽ có những điều kiện tự nhiên và trình độ phát triển kinh tế xã hội của địa phương riêng biệt và đặc thù so với những khu vực khác.

Việc khai thác, sử dụng, tác động tới các nguồn tài nguyên biển một cách đúng đắn, tập trung và hiệu quả sẽ góp phần đề ra những mục tiêu, định hướng cũng như cách thức tổ chức và triển khai thực hiện các ngành kinh tế biển một cách trực tiếp, thống nhất và hiệu quả. Điều này góp phần hình thành nên các ngành kinh tế biển chủ lực của khu kinh tế được Đảng và Nhà nước cũng như chính quyền địa phương ưu tiên tập trung đầu tư; qua đó góp phần hình thành nên các khu kinh tế đặc thù với những đặc trưng là các nguồn tài nguyên biển chủ lực.

Xuất phát từ những tiềm năng đặc trưng về tài nguyên biển cũng như trình độ phát triển kinh tế xã hội của địa phương, Nghi Sơn hội tụ đủ những tiềm năng và lợi thế trở thành một khu kinh tế tổng hợp đa ngành, đa lĩnh vực, trong đó trọng tâm là phát triển công nghiệp nặng và công nghiệp cơ bản bao gồm: lọc hóa dầu, luyện cán thép cao cấp, cơ khí chế tạo, điện, vật liệu xây dựng, sản xuất hàng tiêu dùng, chế biến và xuất khẩu…Trong phạm vi công trình nghiên cứu, tác giả sẽ hướng tới tập trung vào việc phát triển các ngành kinh tế biển chủ lực của khu kinh tế Nghi Sơn với việc khai thác, sử dụng và tác động tới các nguồn tài nguyên biển phục vụ chủ yếu cho việc phát triển các ngành kinh tế bao gồm: lọc hóa dầu, khai thác cảng và khu công nghiệp, và hoạt động du lịch. Cụ thể:

Thứ nhất, về hoạt động lọc hóa dầu

Theo quy định tại khoản 4 Điều 2 Nghị định số 13/2011/NĐ – CP ngày 11 tháng 02 năm 2011 về an toàn công trình dầu khí trên biển (sửa đổi, bổ

sung một số điều bởi Nghị định số 25/2019/NĐ – CP ngày 07 tháng 03 năm 2019, có hiệu lực thi hành từ ngày 22 tháng 04 năm 2019), nhà máy chế biến và lọc hóa dầu là cơ sở thực hiện các quá trình công nghệ chế biến dầu thô và các nguyên liệu khác để tạo ra các sản phẩm lọc dầu và hóa dầu, bao gồm:

nhà máy, công trình phụ trợ, hệ thống kho, bể chứa nguyên liệu và sản phẩm, hệ thống đường ống vận chuyển, xuất, nhập, đê chắn sóng và các hạng mục công trình biển có liên quan của nhà máy. Đây là quá trình sử dụng các tiến bộ khoa học công nghệ nhằm chuyển hóa dầu khí sơ khai trong tự nhiên thành các sản phẩm lọc hóa dầu với tính chất hoàn toàn khác biệt, thay thế sản phẩm thiên nhiên với tính năng tốt hơn, độ bền cao hơn, giá thành thấp hơn, có các đặc tính riêng biệt, thông minh hơn, thân thiện với môi trường hơn như xăng dầu sạch thay thế dầu đốt tự nhiên, cao su tổng hợp thay thế cao su thiên nhiên, xơ sợi tổng hợp thay cho bông, lụa, các loại nhựa thay thế cho gỗ và thép trong xây dựng, đồ dùng và linh kiện thiết bị, máy móc.

Việc phát triển ngành công nghiệp lọc hóa dầu tại Nghi Sơn nhằm khai thác, phát huy và tận dụng tối đa những tiềm năng về dầu khí (bao gồm dầu mỏ và khí đốt) tại địa phương, tiến tới hình thành ngành kinh tế biển chủ lực.

Và thực tế đã chứng minh, dự án lọc hóa dầu Nghi Sơn đã và đang trở thành điểm sáng trong phát triển kinh tế biển và thu hút đầu tư của tỉnh Thanh Hóa.

Thứ hai, về hoạt động khai thác cảng và khu công nghiệp

Một trong những ngành kinh tế biển đóng góp quan trọng trong tiến trình phát triển của ngành hàng hải nói chung và sự phát triển kinh tế biển nói riêng, đó chính là hoạt động quản lí và khai thác cảng biển. Cảng biển phát triển về số lượng và chất lượng sẽ thu hút được các hãng tàu chuyên chở hàng hóa đi và đến Việt Nam cùng với việc phát triển dịch vụ hàng hải, trong đó có dịch vụ logistics. Khi đã xây dựng đuợc những cảng biển hiện đại, hoàn chỉnh, đạt tiêu chuẩn quốc tế sẽ có đội tàu mạnh và dịch vụ hàng hải phù hợp để đáp ứng các yêu cầu về phát triển kinh tế biển ngày càng tốt hơn.

Theo nghĩa hẹp, cảng biển là đầu mối giao thông, là nơi thực hiện các thao tác xếp dỡ hàng hóa từ phương thức vận tải biển sang các phương thức vận tải khác và ngược lại. Do đó, có thể nói vai trò cơ bản của cảng là xếp dỡ hàng hóa, hỗ trợ cho công tác xuất nhập khẩu với tư cách là một bộ phận cơ sở hạ tầng quan trọng của quốc gia. Chính vì vậy, hậu phương của cảng rất hạn chế. Tuy nhiên, xuất phát từ các hoạt động của cảng biển trên thực tế, quan điểm trên còn được mở rộng hơn. Theo đó, ngoài vai trò xếp dỡ hàng hóa (vai trò cơ bản) cảng còn thực hiện hoạt động trung chuyển đơn giản và logistic tạo giá trị gia tăng với khu hậu phương cảng tương đối rộng lớn. Thực tế chỉ ra rằng, trong tương lai, cảng sẽ có khu hậu phương đủ lớn để phục vụ cho tất cả các hoạt dộng của các doanh nghiệp. Như vậy, ngoài vai trò cơ bản, chuyển tải đơn giản và logistics tạo giá trị gia tăng cảng còn có vai trò của chuỗi kinh doanh. Lúc đó, hoạt động của cảng gắn liền với hoạt động của khu kinh tế mở, khu thương mại tự do, khu công nghiệp, khu chế xuất…

Với diện tích khoảng 735 ha, gồm 62 bến cảng, trong đó có: 50 bến chuyên dụng, bến tổng hợp và 12 bến container, có khả năng tiếp nhận tàu có trọng tải đến 100.000 DWT 5, cảng biển Nghi Sơn sẽ đưa Thanh Hóa trở thành “thế lực” mới tại Việt Nam trong lĩnh vực vận tải biển và logictics.

Đến nay, đã có 20 bến tổng hợp, bến chuyên dụng đi vào hoạt động; 10 bến container và nhiều bến tổng hợp, bến chuyên dụng khác đang tiếp tục được đầu tư, đảm bảo tiếp nhận tàu có tải trọng trên 30.000 DWT.

Thứ ba, về hoạt động du lịch

Với tiềm năng du lịch đa dạng và phong phú, trong những năm qua, du lịch Việt Nam đang trên đà phát triển và đang dần khẳng định được vị trí của mình trong sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội chung của đất nước. Nghị quyết 08 – NQ/TW của Bộ Chính trị được ban hành ngày 16/01/2017, trong đó xác

5 http://baothanhhoa.vn/kinh-te/nang-cao-nang-luc-canh-tranh-cua-cang-nuoc-sau-nghi-son/102847.htm

định đến năm 2020 du lịch cơ bản là ngành kinh tế mũi nhọn với tổng thu 35 tỷ USD, đóng góp 10% cho GDP.

Với những ưu thế về vị trí địa lí cũng như điều kiện tự nhiên, Thanh Hóa là một trong những địa phương được thiên nhiên ưu đãi nhiều tiềm năng để phát triển các ngành kinh tế, trong đó có du lịch biển. Nghị quyết số 36- NQ/TW ngày 22/10/2018 về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 (Nghị quyết 36) xác định, du lịch là một trong những ngành kinh tế chủ chốt trong các ngành kinh tế biển, đồng thời chỉ ra nhiều nội dung quan trọng để thúc đẩy phát triển kinh tế du lịch vùng biển bao gồm ven biển, đảo và đảo xa bờ. Đồng thời, Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt ngày 31/12/2011 coi các giải pháp phát triển sản phẩm du lịch là giải pháp quan trọng hàng đầu, trong đó hướng ưu tiên lớn nhất là tập trung phát triển dòng sản phẩm du lịch biển, đảo. Với các thế mạnh nổi trội về tiềm năng du lịch biển, các sản phẩm du lịch biển đảo trong tương lai sẽ mang đến cơ hội cạnh tranh, thu hút khách du lịch quốc tế đến với du lịch biển Việt Nam nói chung và du lịch biển tại Nghi Sơn (Thanh Hóa) nói riêng.

Với những ưu thế về hệ sinh thái biển đa dạng và phong phú, cùng với cảnh sắc và danh lam thắng cảnh độc đáo, Nghi Sơn đã và đang thúc đẩy mạnh mẽ hoạt động phát triển du lịch biển đảo tại địa phương, đưa “ngành công nghiệp không khói” trở thành một trong những thế mạnh trong việc phát triển các ngành kinh tế biển. Ngày 9/6/2017, UBND xã Nghi Sơn đã ban hành Kế hoạch hành động thực hiện Nghị quyết số 08 của Bộ Chính trị về phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn. Với tinh thần quyết tâm đó, từ chỗ chỉ là tiềm năng, đến nay du lịch Nghi Sơn đã và đang ghi nhận nhiều bước chuyển biến lớn trong việc khai thác tiềm năng du lịch để phát triển kinh tế biển.

1.2.2.2. Hình thành mạng lưới các vùng kinh tế biển, thúc đẩy sự giao lưu và hợp tác trong việc phát triển kinh tế biển của các địa phương trong cả nước

Thực tế chỉ ra rằng, việc xây dựng, hình thành và phát triển các khu kinh tế tiến tới đóng vai trò chủ đạo trong việc phát triển vùng và gắn kết liên vùng kinh tế. Theo đó, vùng kinh tế - xã hội là một bộ phận của lãnh thổ quốc gia, gồm một số tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có các hoạt động kinh tế - xã hội tương đối độc lập, thực hiện sự phân công lao động xã hội của cả nước. Đây là loại vùng phục vụ việc hoạch định chiến lược và quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội theo lãnh thổ cũng như để quản lý các quá trình phát triển kinh tế - xã hội trên mỗi vùng của đất nước. Cùng với đó, liên kết kinh tế là hình thức hợp tác và phối hợp thường xuyên các hoạt động do các chủ thể kinh tế tự nguyện tiến hành để cùng đề ra và thực hiện các chủ trương, biện pháp có liên quan đến công việc sản xuất, kinh doanh của các bên tham gia nhằm thúc đẩy sản xuất, kinh doanh phát triển theo hướng có lợi nhất. Hoạt động liên kết vùng kinh tế được thực hiện trên cơ sở nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, cùng có lợi thông qua hợp đồng kinh tế ký kết giữa các bên tham gia và trong khuôn khổ pháp luật của các nhà nước. Chính mối quan hệ liên kết đã đưa đến cho các chủ thể kinh tế những cơ hội để nhận được những lợi ích lớn hơn, an toàn hơn. Mục tiêu của liên kết kinh tế là tạo ra mối quan hệ kinh tế ổn định thông qua các hợp đồng kinh tế hoặc các quy chế hoạt động để tiến hành phân công sản xuất chuyên môn hoá, nhằm khai thác tốt tiềm năng của từng đơn vị tham gia liên kết; hoặc để cùng nhau tạo thị trường chung, phân định hạn mức sản lượng cho từng đơn vị thành viên, hay giá cả cho từng loại sản phẩm nhằm bảo vệ quyền lợi cũng như lợi ích của các bên.

Có thể thấy, trong điều kiện hiện nay, phát triển kinh tế biển độc lập sẽ không tận dụng được hết những tiềm năng, nguồn lực cho sự phát triển, đồng thời không tạo được sự liên kết cần thiết với các lĩnh vực khác trong quá trình

Một phần của tài liệu Kinh tế biển ở khu kinh tế nghi sơn, tỉnh thanh hóa hiện nay (Trang 27 - 41)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(113 trang)