1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phát triển nguồn nhân lực ở khu kinh tế nghi sơn, tỉnh thanh hóa hiện nay

110 24 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 110
Dung lượng 1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Song thực tế, so với yêu cầu của tình hình mới thì công tác phát triển nguồn nhân lực vẫn còn nhiều hạn chế: trình độ chuyên môn kỹ thuật, tay nghề, trình độ ngoại ngữ của nhân lực còn t

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC

HÀ NỘI - 2015

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học do chính tôi thực hiện Luận văn được hoàn thành dưới sự hướng dẫn của TS Bùi Thị Kim Hậu Các số liệu, tư liệu được sử dụng trong luận văn là hoàn toàn khoa học và đáng tin cậy Kết quả trong luận văn không trùng lặp với những công trình đã được công bố

Thanh Hóa, ngày 13 tháng 10 năm 2015

Học viên

Trần Thị Hà

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: QUAN NIỆM CƠ BẢN VỀ NGUỒN NHÂN LỰC, PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC VÀ NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN NGUỒN NHÂN LỰC Ở KHU KINH TẾ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA 9

1.1 Nguồn nhân lực 9

1.2 Phát triển nguồn nhân lực 21

1.3 Những nhân tố tác động đến sự phát triển nguồn nhân lực ở khu kinh tế Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa 30

Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC Ở KHU KINH TẾ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA HIỆN NAY VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐANG ĐẶT RA 44

2.1 Khái quát điều kiện tự nhiên – xã hội của khu kinh tế Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa 44

2.2 Thực trạng phát triển nguồn nhân lực ở khu kinh tế Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa giai đoạn từ 2010 đến nay 48

2.3 Những vấn đề đặt ra trong quá trình phát triển nguồn nhân lực ở Khu kinh tế Nghi Sơn hiện nay 68

Chương 3: QUAN ĐIỂM CƠ BẢN VÀ CÁC NHÓM GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC Ở KHU KINH TẾ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA HIỆN NAY 74

3.1 Những quan điểm cơ bản phát triển nguồn nhân lực ở Khu kinh tế Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa đến năm 2020 74

3.2 Các nhóm giải pháp nhằm phát triển nguồn nhân lực ở Khu kinh tế Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa hiện nay 78

KẾT LUẬN 96

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 98

PHỤ LỤC 103

TÓM TẮT LUẬN VĂN 106

Trang 4

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa : CNH, HĐH

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Ngày nay, thế giới đang có những biến đổi hết sức phức tạp, khó lường Nhiều vấn đề nảy sinh trong xu thế toàn cầu hóa như an ninh lương thực, biến đổi khí hậu, dịch bệnh…Đặc biệt là, trước sự phát triển như vũ bão của khoa học kỹ thuật và việc hình thành nền kinh tế tri thức đang đặt ra yêu cầu khách quan của mỗi đất nước phải phát triển nguồn nhân lực tương xứng bởi nó được xem là sức mạnh nội sinh và là nhân tố quan trọng quyết định cho sự phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia, nhất là những quốc gia đang tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Nước ta tiến hành xây dựng CNXH từ xuất phát điểm thấp của một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu phải trải qua nhiều năm chiến tranh, hơn nữa lại tiến hành công nghiệp hóa chậm so với các nước phát triển trên thế giới từ vài chục năm đến hàng trăm năm Trong bối cảnh đó cần có nguồn nội lực mạnh, trước hết là nâng cao nguồn nhân lực cả về thể lực và trí lực với những người

có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất tốt, có trí tuệ để tiếp thu và vận dụng một cách sáng tạo khoa học – kỹ thuật của nhân loại vào điều kiện của đất nước Sớm nhận thức được điều đó, ngay từ khi bước vào thời kỳ CNH, HĐH

Đảng ta đã xác định: “Lấy việc phát huy nguồn lực con người làm yếu tố cơ

bản cho sự phát triển xã hội” [18, tr 85]nhằm xây dựng và phát triển đất nước

Sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước của nhân dân ta do Đảng Cộng sản lãnh đạo trong những năm qua đã đưa đất nước ta thoát khỏi tình trạng khủng hoảng, đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và ổn định, đời sống nhân dân cũng được nâng lên một cách đáng kể Một trong những tiền đề để tạo ra sự thành công đó là Đảng ta đã đánh giá đúng vị trí và vai trò của việc phát huy nguồn lực con người phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH đất nước góp phần vào sự nghiệp xây dựng CNXH ở nước ta hiện nay

Trang 6

Thanh Hóa là một tỉnh có nhiều tiềm năng, thế mạnh để phát triển kinh

tế - xã hội như du lịch, thuỷ, hải sản đặc biệt là kinh tế công nghiệp với trọng tâm là khu kinh tế Nghi Sơn Đây là vùng kinh tế động lực thúc đẩy phát triển kinh tế của tỉnh Thanh Hóa, vùng Nam Thanh - Bắc Nghệ và Bắc Trung Bộ Khu kinh tế Nghi Sơn chú trọng công nghiệp nặng và công nghiệp cơ bản như: Công nghiệp lọc hoá dầu, công nghiệp luyện cán thép cao cấp, cơ khí chế tạo, sửa chữa và đóng mới tàu biển, công nghiệp điện, công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng, sản xuất hàng tiêu dùng, chế biến xuất khẩu… gắn với việc xây dựng và khai thác có hiệu quả cảng biển Nghi Sơn Với lợi thế và tiềm năng sẵn có, Khu kinh tế Nghi Sơn không chỉ thúc đẩy kinh tế - xã hội của tỉnh Thanh Hóa phát triển mà còn là động lực quan trọng góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế trên toàn khu vực Bắc Trung Bộ

Tuy nhiên, những thế mạnh đó chỉ có thể được phát huy khi có một nguồn nhân lực tương xứng với tiềm năng Đó là tiền đề để tỉnh phát huy được thế mạnh của mình phấn đấu trở thành tỉnh mạnh về kinh tế, ổn định về chính trị góp phần tích cực vào sự phát triển của tỉnh Thanh Hóa nói riêng, Việt Nam nói chung Nhận thức được tầm quan trọng đó, tỉnh luôn chú trọng phát triển nguồn nhân lực và đã có những thành tựu đáng kể Song thực tế, so với yêu cầu của tình hình mới thì công tác phát triển nguồn nhân lực vẫn còn nhiều hạn chế: trình độ chuyên môn kỹ thuật, tay nghề, trình độ ngoại ngữ của nhân lực còn thấp, các cơ sở đào tạo chưa đáp ứng được yêu cầu về quy mô, năng lực và chất lượng nguồn nhân lực, năng suất lao động thấp, chuyển dịch

cơ cấu lao động còn chậm, sự phối hợp giữa các ngành quản lý, giữa cơ sở đào tạo với các doanh nghiệp và người lao động chưa thực sự chặt chẽ Để khắc phục những hạn chế trên trong bối cảnh hội nhập khu vực và quốc tế, việc phát triển nguồn nhân lực ở Khu kinh tế Nghi Sơn là hết sức cần thiết góp phần thực hiện thắng lợi sự nghiệp CNH, HĐH của tỉnh Thanh Hóa

Từ những lý do trên, là học viên chuyên ngành chủ nghĩa xã hội khoa

học, tác giả đã chọn đề tài: “Phát triển nguồn nhân lực ở khu kinh tế Nghi

Trang 7

Sơn, tỉnh Thanh Hóa hiện nay” làm đề tài luận văn tốt nghiệp thạc sĩ chuyên

ngành chủ nghĩa xã hội khoa học

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Trong những năm qua, đề tài nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực đã được nhiều công trình khoa học khác nhau đề cập và nghiên cứu như:

- Phạm Minh Hạc: “Phát triển giáo dục, phát triển con người phục vụ

phát triển kinh tế - xã hội”, NXB khoa học – xã hội, Hà Nội, 1996 Tác giả

chủ yếu đề cập đến sự phát triển của giáo dục – đào tạo và phát triển con người trong sự nghiệp CNH, HĐH

- Trần Văn Tùng, Lê Ái Lâm : “Phát triển nguồn nhân lực kinh nghiệm

thế giới và thực tiễn nước ta”, NXB CTQG, Hà Nội, 1996 Cuốn sách giới

thiệu khái quát về vai trò của nguồn nhân lực trong nền kinh tế đổi mới và kinh nghiệm phát triển nguồn nhân lực ở khía cạnh phát triển giáo dục của một số nước trên thế giới và ở Việt Nam

- Mai Quốc Chánh: “Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu

cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”, NXB CTQG, Hà Nội, 1999

Công trình đã chỉ ra sự cần thiết phải nâng cao chất lượng của nguồn lực con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

- TS Đỗ Minh Cương-PGS.TS Nguyễn Thị Doan: “Phát triển nguồn

nhân lực giáo dục Đại học Việt Nam”, Nxb CTQG, Hà Nội, 2001 Cuốn sách

nghiên cứu một số nội dung về giáo dục đại học Qua đó đưa ra mục tiêu, giải pháp có tính khả thi nhằm phát triển nguồn nhân lực giáo dục đại học nước ta, phục vụ cho sự nghiệp CNH, HĐH đất nước

- Phạm Minh Hạc: “Nghiên cứu con người và nguồn nhân lực đi vào

công nghiệp hóa, hiện đại hóa”, Nxb CTQG, H.2001 Cuốn sách trình bày

khái quát lịch sử hình thành và phát triển của ngành khoa học xã hội nghiên cứu về con người Từ đó tác giả đã nêu ra một số thành tựu đạt được trong quá trình nghiên cứu về con người và nguồn nhân lực Đồng thời, đưa ra hệ

Trang 8

thống các giải pháp nhằm phát triển toàn diện con người và nguồn lực Việt Nam trong giai đoạn CNH, HĐH hiện nay

- Bùi Thị Ngọc Lan: “Nguồn lực trí tuệ trong sự nghiệp đổi mới ở Việt

Nam”, NXB CTQG, H.2002 Tác giả đã phân tích khái niệm, vai trò của trí

tuệ, nguồn lực trí tuệ trong phát triển xã hội, nêu một cách khái quát đặc điểm, thực trạng, xu hướng phát triển của nguồn lực trí tuệ Việt Nam Đồng thời nêu ra những phương hướng, giải pháp nhằm phát huy nguồn lực trí tuệ Việt Nam trong công cuộc đổi mới đất nước

- Nguyễn Hữu Dũng: “Sử dụng hiệu quả nguồn lực con người ở Việt

Nam”, NXB Lao động – xã hội, H.2003 Tác giả tập trung nghiên cứu về

nguồn lực con người, kinh nghiệm của một số quốc gia trong việc sử dụng nguồn lực con người, từ đó đánh giá thực trạng phát triển và sử dụng nguồn lực con người Việt Nam trong thời kỳ đổi mới Ngoài ra, tác giả còn đề xuất một số chính sách, giải pháp nhằm phát triển nguồn lực con người Việt Nam đến năm 2010

- Nguyễn Đình Hòa: “Mối quan hệ giữa phát triển nguồn nhân lực và

đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa”, Tạp chí triết học số 1 – 2004

Công trình đề cao vai trò cuả nguồn nhân lực trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đặt quá trình phát triển nguồn nhân lực trong sự phát triển của đất nước

- Đặng Hữu: “Đào tạo nguồn nhân lực cho sự nghiệp công nghiệp hóa,

hiện đại hóa dựa trên tri thức ở nước ta hiện nay”- Tạp chí Cộng sản số

4/2005 Công trình đi sâu nghiên cứu rõ hơn về vai trò của nguồn nhân lực, sự cần thiết phải phát triển nguồn nhân lực Qua đó đề xuất một số giải pháp để phát triển nguồn lực này

- Năm 2006, Viện Chiến lược phát triển của Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã

chủ trì triển khai nghiên cứu đề tài khoa học cấp Bộ với chủ đề: “Nguồn nhân

lực chất lượng cao: Hiện trạng phát triển, sử dụng và các giải pháp tăng cường” Đề tài đã bước đầu đánh giá thực trạng một số nhóm nguồn lực chất

Trang 9

lượng cao của nước ta và đề xuất phương hướng, giải pháp để phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao của Việt Nam những năm tiếp theo

- Bùi Thị Ngọc Lan: “Một số bổ sung, phát triển trong chiến lược phát triển

nguồn nhân lực Việt Nam” Tạp chí lý luận chính trị, số 2/2007, tr.66-70 Công trình

đã nghiên cứu một cách hệ thống những quan điểm cơ bản của Đảng cộng sản Việt Nam về nguồn nhân lực qua các kỳ Đại hội Làm rõ cơ sở lý luận của việc phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao theo tinh thần Đại hội X (2006)

Các công trình trên đã làm rõ sự cần thiết phải phát triển nguồn nhân lực, từ đó đánh giá thực trạng nguồn nhân lực ở nước ta và đề xuất những phương hướng, giải pháp phát triển nhanh nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu CHH, HĐH đất nước

Ngoài ra, trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa cũng có một số công trình khoa học nghiên cứu về đề tài phát triển nguồn nhân lực như:

- TS Bùi Sĩ Lợi: “Phát triển nguồn nhân lực của tỉnh Thanh Hóa đến

năm 2010 theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa”, Nxb CTQG Hà Nội,

2002 Công trình nêu lên quan điểm và định hướng cụ thể để phát triển nguồn nhân lực của tỉnh trong thời kỳ mới

- Nguyễn Thị Hải Lý : “Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của tỉnh

Thanh Hóa” Chuyên ngành Kinh tế, Trường Đại học kinh tế - ĐHQG Hà

Nội, 2011 Trên cơ sở những lý luận cơ bản về chất lượng nguồn nhân lực, đề tài phân tích, đánh giá thực trạng chất lượng nguồn nhân lực ở Thanh Hóa, từ

đó tìm ra nguyên nhân của tình hình và đề ra những giải pháp cơ bản nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tại Thanh Hoá

- Học viên Hoàng Thị Thảo: “Phát triển nguồn nhân lực nữ chất lượng

cao trong quá trình CNH-HĐH ở Thanh Hoá”, Chuyên ngành Triết học,

Trường Đại học Khoa học Xã hội & nhân văn, 2011 Luận văn góp phần làm

rõ thêm về nguồn nhân lực nữ chất lượng cao, phát triển nguồn nhân lực nữ chất lượng cao và tầm quan trọng của việc phát triển nguồn nhân lực nữ chất lượng cao ở Thanh Hoá hiện nay Trên cơ sở đó luận văn đã đưa ra một số

Trang 10

phương hướng, giải pháp nhằm phát triển nguồn nhân lực nữ chất lượng cao

để đáp ứng yêu cầu sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Thanh Hoá hiện nay

Đây là nguồn tài liệu quý để tham khảo Tuy nhiên, đất nước mỗi ngày một phát triển cùng với những đòi hỏi về nguồn nhân lực để đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH đất nước Vì vậy hướng nghiên cứu này vẫn cần phải tiếp tục nghiên cứu và làm rõ hơn

3 Mục tiêu và nhiệm vụ của đề tài

- Mục tiêu của đề tài: Làm rõ thực trạng nguồn nhân lực ở Khu kinh tế

Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa hiện nay và những vấn đề đặt ra Trên cơ sở đóđưa ra các quan điểm và đề xuất các nhóm giải pháp cơ bản nhằm phát triển nguồn nhân lực cho khu kinh tế Nghi Sơn hiện nay và thời gian tới

- Nhiệm vụ của đề tài:

+ Phân tích khái niệm, quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lê nin,

Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam về nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực Qua đó đưa ra vai trò, các tiêu chí đánh giá và những yếu tố

cơ bản tác động đến sự phát triển nguồn nhân lực ở khu kinh tế Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa hiện nay

+ Phân tích thực trạng, những vấn đề nảy sinh trong quá trình phát triển nguồn nhân lực ở khu kinh tế Nghi Sơn từ năm 2010 đến nay

+ Từ đó nêu ra các quan điểm và đề xuất các nhóm giải pháp nhằm phát triển nhanh nguồn nhân lực này trong những năm tới

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu của đề tài: Những vấn đề lý luận và thực tiễn

liên quan đến quá trình phát triển nguồn nhân lực trong khu kinh tế Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa hiện nay

- Phạm vi nghiên cứu:

+ Về nội dung luận văn nghiên cứu những vấn đề liên quan đến quá

trình phát triển nguồn nhân lực ở khu kinh tế Nghi Sơn

Trang 11

+ Về không gian, luận văn chỉ nghiên cứu giới hạn trong khu kinh tế Nghi Sơn

+ Về thời gian, luận văn nghiên cứu quá trình phát triển nguồn nhân lực

ở khu kinh tế Nghi Sơn từ năm 2010 đến nay

5 Cơ sở lý luận thực tiễn và phương pháp nghiên cứu của đề tài

- Cơ sở lý luận của đề tài: Dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác –

Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta, những chủ trương, chính sách của tỉnh Thanh Hóa, cùng một số công trình nghiên cứu về nguồn nhân lực và quá trình phát triển nguồn nhân lực trong sự nghiệp CNH, HĐH

- Cơ sở thực tiễn của đề tài: Thực trạng phát triển nguồn nhân lực ở

khu kinh tế Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa từ năm 2010 đến nay

- Phương pháp nghiên cứu: cơ sở phương pháp luận của luận văn là

chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Ngoài ra, đề tài còn được triển khai dựa trên các phương pháp như: điều tra thống kê, phân tích, tổng hợp để nghiên cứu đề tài dưới góc độ chính trị - xã hội

6 Đóng góp mới của luận văn

Luận văn góp phần làm rõ thực trạng việc phát triển nguồn nhân lực ở khu kinh tế Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa hiện nay Trên cơ sở đó đề xuất những phương hướng, giải pháp chủ yếu để phát triển nguồn nhân lực phục vụ cho thời kỳ CNH, HĐH của tỉnh nói riêng, của Việt Nam nói chung

Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần bổ sung và làm rõ thêm những vấn đề lý luận về nguồn nhân lực, đặc biệt là phát triển nguồn nhân lực ở Khu kinh tế Nghi Sơn Những kết quả nghiên cứu trong đề tài có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo phục vụ công tác giảng dạy và nghiên cứu khoa học về nguồn nhân lực nói chung và phát triển nguồn nhân lực cho phát triển kinh tế

- xã hội nói riêng, đồng thời góp phần cung cấp thêm căn cứ khoa học cho các

cơ quan, ban ngành của tỉnh Thanh Hóa để hoạch định và thực thi các chính

Trang 12

sách nhằm phát triển nguồn nhân lực của tỉnh đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh CNH, HĐH và hội nhập kinh tế quốc tế

7 Ý nghĩa thực tiễn của luận văn

Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu vấn đề phát triển nguồn nhân lực ở tỉnh Thanh Hóa, từ đó làm cơ

sở lý luận, thực tiễn cho việc đề ra những hoạch định để phát triển nguồn nhân lực của tỉnh trong sự nghiệp CNH, HĐH

8 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mục lục, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm …trang, được kết cấu thành 3 chương, 8 tiết

Trang 13

Chương 1 QUAN NIỆM CƠ BẢN VỀ NGUỒN NHÂN LỰC, PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC VÀ NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN NGUỒN NHÂN LỰC Ở KHU KINH TẾ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA

1.1 Nguồn nhân lực

1.1.1 Định nghĩa nguồn nhân lực

Theo quan điểm duy vật lịch sử, sản xuất vật chất là cơ sở của đời sống

xã hội Để tiến hành sản xuất xã hội cần có những yếu tố cơ bản như sức lao động, đối tượng lao động, tư liệu lao động Trong số các yếu tố đó sức lao động với tư cách là toàn bộ những năng lực thể chất và tinh thần tồn tại trong một cơ thể, trong một con người đang sống, và được người đó đem ra vận dụng mỗi khi sản xuất ra một giá trị sử dụng nào đó được coi là yếu tố tích cực, năng động, sáng tạo, có ý nghĩa quyết định đối với sản xuất

Theo sự phát triển của sản xuất xã hội, sức lao động của xã hội không ngừng được hoàn thiện, phát triển và nguồn lực này cũng được nhận thức đầy

đủ hơn Sự phát triển của nhận thức về sức lao động của xã hội được thể hiện trong khái niệm nguồn nhân lực Nếu như trước đây, nguồn nhân lực chỉ đơn thuần được coi là phương tiện, là một trong số nguồn lực cho phát triển như các nguồn lực vật chất khác, thì ngày nay nguồn nhân lực còn được xác định

là mục tiêu của sự phát triển Chính vì vậy, nghiên cứu để phát triển nguồn nhân lực phục vụ phát triển KT – XH đã và đang là vấn đề mà mọi quốc gia quan tâm

Nghiên cứu về con người trước hết phải kể đến những cống hiến của các nhà sáng lập ra chủ nghĩa Mác – Lênin Những quan niệm về con người của chủ nghĩa Mác – Lênin có tính chất quyết định, tạo ra bước ngoặt cách mạng trong lịch sử tư tưởng của nhân loại Trên cơ sở tiếp thu, kế thừa có chọn lọc những di sản lý luận trước đó và những thành tựu của khoa học tự nhiện, xuất phát từ con người hiện thực và hoạt động thực tiễn triết học Mác -

Trang 14

xít đã chỉ ra rằng “ Bản chất con người không phải là một cái gì trừu tượng,

cố hữu của cá nhân riêng biệt Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa những quan hệ xã hội” [31, tr.11] Với quan niệm đó, C

Mác đã chỉ ra rằng bản chất con người không phải là trừu tượng mà là hiện thực, không phải tự nhiên mà là lịch sử Con người là một thực thể thống nhất giữa yếu tố sinh học và yếu tố xã hội, nhưng yếu tố xã hội mới là bản chất đích thực của con người Thông qua hoạt động thực tiễn xã hội, con người làm biến đổi tự nhiên, xã hội, biến đổi chính bản thân mình và đã làm nên lịch

sử của xã hội loài người Chủ nghĩa Mác đã chỉ rõ vai trò của mối quan hệ giữa cá nhân con người và xã hội Khẳng định tầm quan trọng của con người

trong xã hội Hơn nữa C Mác cũng đã quan niệm : “Vậy thì nền công nghiệp

do toàn xã hội thực hiện một cách tập thể và có kế hoạch lại càng cần có những con người có năng lực phát triển toàn diện, đủ sức tinh thông toàn bộ

hệ thống sản xuất”[32, tr.474] Điều này đã nêu rõ vai trò của nguồn nhân

lực, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao trong việc phát triển xã hội

Kế thừa những tư tưởng của chủ nghĩa Mác – Lênin, Chủ tịch Hồ Chí

Minh đã đặc biệt chú ý đến nguồn lực con người Theo Bác:“ chữ người,

nghĩa hẹp là gia đình, anh em, họ hàng, bầu bạn Nghĩa rộng là đồng bào cả nước Rộng hơn nữa là cả loài người” [35, tr.644] Với ý nghĩa đó, khái niệm

con người mang trong nó bản chất xã hội, là con người xã hội, phản ánh các quan hệ xã hội từ hẹp đến rộng trong đó con người hoạt động và sinh sống Người thường đặt mỗi cá nhân con người trong mối quan hệ ba chiều: quan

hệ với một cộng đồng xã hội nhất định trong đó mỗi con người là một thành viên, quan hệ với một chế độ xã hội nhất định trong đó con người được làm chủ hay bị áp bức bóc lột, quan hệ với tự nhiên trong đó con người là một bộ phận không thể tách rời Như vậy con người trong quan niệm của chủ tịch Chủ tịch Hồ Chí Minh là một chỉnh thể thống nhất giữa thể lực, tâm lực, trí lực và sự hoạt động Đó là một hệ cấu trúc bao gồm : sức khỏe, tri thức, năng lực thực tiễn, đạo đức, đời sống tinh thần… Người cho con người là tài sản

Trang 15

quý giá nhất, chăm lo bồi dưỡng và phát triển con người coi con người là mục tiêu, động lực của sự phát triển xã hội là nhân tố quyết định thành công của cách mạng

Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã khẳng định vai trò của con người : “Vì

chúng ta quên một lẽ rất đơn giản dễ hiểu : tức là vô luận việc gì, đều do người làm ra, từ nhỏ đến to, từ gần đến xã, đều thế cả”, “Tất cả của cải vật chất trong xã hội đều do công nhân và nông dân làm ra Nhờ sức lao động của công nhân và nông dân, xã hội mới phát triển” [35, tr.295] Người giải

thích trên cơ sở khoa học cho vai trò đó xuất phát từ chỗ : “Lực lượng dân

chúng nhiều vô cùng…dân chúng biết giải quyết nhiều vấn đề một cách đơn giản, mau chóng, đầy đủ, mà những người tài giỏi, những đoàn thể to lớn, nghĩ mãi không ra” [35, tr.295] Do đó có thể khẳng định nhân tố con người

là vốn quý nhất, là động lực vĩ đại, nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam

Kế thừa những quan điểm của chủ tịch Hồ Chí Minh về con người

Đại hội XI của Đảng đã chỉ rõ: “ phát triển nâng cao chất lượng nguồn nhân

lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao là một trong những yếu tố quyết định sự phát triển nhanh và bền vững đất nước” [17, tr.76] Đồng thời khẳng định:“con người là trung tâm của chiến lược phát triển, đồng thời là chủ thể

phát triển” [17, tr.76]

Kế thừa những quan niệm về con người của chủ nghĩa Mác – Lênnin và những thành tựu của nhân loại trong yêu cầu về con người đã có rất nhiều nghiên cứu đưa ra những khái niệm khái quát nhất về nguồn lực con người hay nguồn nhân lực

“Nguồn lực con người” hay “nguồn nhân lực” là khái niệm được hình thành trong quá trình nghiên cứu xem xét con người với tư cách là một nguồn lực, là động lực của sự phát triển

Hiện nay trong quá trình nghiên cứu trên thế giới và trong nước có rất nhiều cách tiếp cận khác nhau về nguồn nhân lực

Trang 16

Theo Từ điển tiếng Việt, nhân lực có nghĩa là sức người về mặt dùng trong lao động sản xuất

Nếu xét theo quan niệm từ dân số học lao động, “nguồn nhân lực bao

gồm dân số trong độ tuổi lao động, trong đó nhấn mạnh dân số có khả năng lao động đang có việc làm, tức là đang hoạt động kinh tế và đang không có việc làm” [40, tr.96]

Theo thuyết lao động xã hội, nguồn nhân lực theo nghĩa rộng là nguồn cung cấp sức lao động cho sản xuất và cho sự phát triển xã hội, do đó bao gồm toàn bộ dân cư có cơ thể phát triển bình thường (trừ những người bị

dị tật) Theo nghĩa hẹp, nguồn nhân lực là khả năng lao động thực tế của xã hội, bao gồm các nhóm dân cư trong độ tuổi lao động đang tham gia vào quá trình sản xuất xã hội

Ở Việt Nam, những năm gần đây có rất nhiều công trình khoa học nghiên cứu về nguồn nhân lực Theo Giáo sư, Viện sĩ Phạm Minh Hạc cho

rằng: “Nguồn nhân lực là tổng thể các tiềm năng lao động của một nước hay

một địa phương sẵn sáng tham gia một công việc lao động nào đó” [22,

tr.161] Với quan niệm như vậy, nguồn nhân lực chính là nguồn lao động sẵn sàng tham gia lao động trong phạm vi quốc gia hay một địa phương Hay nguồn nhân lực là một bộ phận dân số trong độ tuổi lao động theo quy định của pháp luật có khả năng tham gia lao động

Nguồn nhân lực được hiểu là số lượng và chất lượng con người, bao gồm cả thể chất và tinh thần, trí tuệ và sức khỏe, năng lực và phẩm chất, thái

độ và phong cách làm việc Tác giả Lê Thị Ngân trong luận án tiến sĩ nghiên cứu về “Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tiếp cận kinh tế tri thức ở Việt Nam” cho rằng nguồn nhân lực là tổng thể sức lao động của xã hội đang và sẽ được vận dụng cho quá trình sản xuất

Theo tiến sĩ Nguyễn Hữu Dũng, Viện trưởng Viện khoa học lao động

và các vấn đề xã hội cho rằng: Nguồn nhân lực là tổng thể những tiềm năng

của con người, của một quốc gia có trong một thời kỳ nhất định Tiềm năng

Trang 17

đó bao hàm tổng hòa năng lực về thể lực, trí lực, nhân cách của con người đáp ứng một cơ cấu do nền kinh tế - xã hội đòi hỏi Toàn bộ tiềm năng đó hình thành năng lực xã hội của con người (năng lực xã hội của nguồn nhân lực) Năng lực xã hội của nguồn nhân lực có được thông qua giáo dục, đào tạo, chăm sóc sức khỏe và nó không ngừng được tăng cường, nâng cao trong quá trình sống và làm việc [12] Với quan niệm như vậy có thể hiểu rằng:

nguồn nhân lực là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội, đây là bộ phận quan trọng nhất của dân số, có khả năng tạo ra các giá trị vật chất và tinh thần cho xã hội Đó là căn cứ định hướng phát triển nguồn nhân lực để không ngừng nâng cao các tiềm năng để nâng cao năng lực xã hội của nguồn nhân lực Tuy nhiên, nếu xét nguồn nhân lực ở dạng tiềm năng thì chưa đủ, mà phải phát huy tiềm năng đó tức là thông qua hệ thống chính sách, thể chế, giải pháp, phương pháp, phát huy tốt tiềm năng con người Và tiềm năng con người là vô tận, nếu được tự do phát triển, tự do sáng tạo và cống hiến được quan tâm và trả đúng giá trị thì tiềm năng vô tân đó được phát huy khai thác trở thành nguồn lực vô cùng to lớn…

Dưới góc độ của CNXHKH thì nguồn lực con người là: “toàn bộ

những yếu tố nói lên vai trò tiềm ẩn hay tiềm lực, khả năng có thể huy động

… của một cộng đồng người xác định, cụ thể vào các hoạt động thực tiễn nhằm hoàn thành các nhiệm vụ phát triển kinh tế, xã hội…thực hiện các mục tiêu cụ thể, xác định”[43; tr.293]

Từ nhiều cách tiếp cận và những quan niệm khác nhau, có thể rút ra rằng, nguồn nhân lực về chất là tổng thể sức lao động của xã hội, bao gồm cả thể lực và trí lực, được huy động vào quá trình phát triển KT – XH, là tổng thể hữu cơ của nhiều yếu tố hợp thành như thể chất, trí tuệ cùng với trình độ văn hóa, kỹ năng chuyên môn, kinh nghiệm nghề nghiệp, thái độ và phong cách làm việc của người lao động Về lượng, nguồn nhân lực bao gồm toàn bộ những người có khả năng lao động trong nền kinh tế, trong đó thành phần quan trọng nhất là những người trong độ tuổi lao động và đang lao động

Trang 18

1.1.2 Vai trò của nguồn nhân lực đối với phát triển kinh tế - xã hội

Con người với tư cách là chủ thể của mọi sự sáng tạo, kiến tạo nên xã hội Vì vậy, ở mọi thời đại, chế độ xã hội, sự phát triển nguồn lực con người đều được đặt ở vị trí trung tâm Trong thời đại ngày nay, sự phát triển nguồn nhân lực càng cần thiết hơn bao giờ hết, vì những lý do cơ bản sau đây:

Thứ nhất, là nhân tố chủ yếu để tăng năng suất lao động, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững

Tăng trưởng kinh tế là sự lớn lên của nền kinh tế được đo bằng sự gia tăng của các chỉ số như GDP và GNP, chỉ có thể thực hiện được khi các hoạt động sản xuất kinh doanh được duy trì và phát triển không ngừng, do vậy phụ thuộc vào nhiều yếu tố như vốn, khoa học – công nghệ, nguồn nhân lực, cơ cấu kinh tế, thể chế kinh tế…và sự kết hợp giữa chúng với nhau Trong số các nhân tố quyết định tăng trưởng kinh tế thì nguồn nhân lực có vai trò quan trọng đặc biệt vì trong mọi hoạt động của con người, đặc biệt là hoạt động lao động sản xuất, nhân tố con người luôn là yếu tố quyết định, có tính sáng tạo

và là nguồn lực không cạn kiệt

Vai trò quyết định của nguồn nhân lực trong tăng trưởng kinh tế thể hiện ở chỗ, nguồn nhân lực là nguồn cung cấp lao động sống cho nền kinh tế,

do đó là yếu tố quyết định hiệu quả sử dụng của các yếu tố khác Tác động của nguồn nhân lực tới tăng trưởng kinh tế thể hiện trên hai phương diện: Tái sản xuất mở rộng theo chiều rộng và tái sản xuất theo chiều sâu Để thực hiện tái sản xuất mở rộng theo chiều rộng, bên cạnh sự gia tăng về tư liệu sản xuất thì luôn cần tới sự gia tăng của nguồn nhân lực, trong đó nguồn nhân lực với

tư cách là lao động sống có vai trò cải tử hoàn sinh đối với lao động quá khứ biểu hiện trong các tư liệu sản xuất, biểu hiện cụ thể vai trò đó là không thể

mở rộng sản xuất theo chiều rộng nếu thiếu nguồn nhân lực phù hợp

Trong tái sản xuất mở rộng theo chiều sâu, khoa học – công nghệ (KH – CN) có vai trò động lực vì chỉ trên cơ sở ứng dụng các thành tựu khoa học - công nghệ hiện đại thì mới có thể tạo ra năng suất lao động xã hội cao từ đó

Trang 19

thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững Tuy nhiên, bản thân các thành tựu khoa học – công nghệ cũng không thể tự động tạo ra năng suất lao động cao và từ đó tạo ra tăng trưởng kinh tế Chủ thể của quá trình này vẫn là con người lao động với thể lực, trình độ chuyên môn tay nghề cũng như ý thức tổ chức kỷ luật, tác phong làm việc phù hợp Việc phát huy vai trò động lực của khoa học – công nghệ phụ thuộc chủ yếu vào số lượng và chất lượng của nguồn nhân lực hiện có, do đó thực tiễn phát triển kinh tế thế giới cho thấy, các quốc gia phát triển đều quan tâm tới phát triển nguồn nhân lực, đặc biệt thông qua các chính sách tổng thể về phát triển con người, trong đó, giáo dục đào tạo thường được coi là quốc sách

Thứ hai, là nhân tố thúc đẩy việc sáng tạo và ứng dụng tiến bộ khoa học – công nghệ vào quá trình sản xuất

Trong cuộc cách mạng công nghiệp trước đây, máy móc thay thế lao động cơ bắp của con người, còn ngày nay máy tính giúp con người trong lao động trí óc, nhân lên gấp đôi sức mạnh trí tuệ, sức sáng tạo của con người Thông tin, tri thức trở thành yếu tố quyết định nhất của việc tạo ra của cải, việc làm, nâng cao năng lực cạnh tranh Tri thức trở thành hình thức cơ bản nhất của vốn, quan trọng hơn cả tài nguyên, sức lao động Lực lượng sản xuất

xã hội con người từ dựa vào tài nguyên thiên nhiên đang chuyển dần sang dựa chủ yếu vào năng lưc trí tuệ của con người Sử dụng nền kinh tế tri thức cho

sự phát triển kinh tế - xã hội, bao gồm cả việc khai thác kho tri thức toàn cầu, cũng như làm chủ và sáng tạo tri thức cho những nhu cầu của riêng mình

Trong Báo cáo Chính trị tại Đại hội toàn quốc lần thứ XI, Đảng ta xác

định rằng: “Phát triển kinh tế tri thức trên cơ sở phát triển giáo dục, đào tạo,

khoa học, công nghệ; xây dựng đồng bộ cơ sở hạ tầng khoa học công nghệ trước hết là công nghệ thông tin, truyền thông, công nghệ tự động nâng cao năng lực nghiên cứu - ứng dụng gắn với phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao Phát huy và sử dụng có hiệu quả nhất nguồn trí thức của con người Việt

Trang 20

Nam và khai thác nhiều nhất tri thức của nhân loại Xây dựng và triển trai đồng bộ phát triển khoa học trí thức đến năm 2020” [17, tr 220]

Để có thể phát triển kinh tế tri thức cần phải có nguồn nhân lực với chất lượng cao cho nên cần đổi mới giáo dục – đào tạo, cải cách triệt để nền giáo dục theo chuẩn mực quốc tế, nhằm đào tạo những con người năng động sáng tạo, thích nghi với sự phát triển kinh tế tri thức Cải cách triệt để nền giáo dục, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao – yếu tố chi phối nhiều nhất đối với năng lực sáng tạo và tốc độ đổi mới Con người phải biết tự đào tạo, luôn tiếp thu tri thức mới, có năng lực sáng tạo, thường xuyên đổi mới cách nghĩ, cách làm thì mới có thể thích nghi và làm chủ được kinh tế tri thức

Giáo dục góp phần vào việc tạo ra tri thức đồng thời góp phần quảng bá tri thức Vì vậy, người ta coi giáo dục là ngành sản xuất cơ bản nhất trong nền kinh tế tri thức Để giáo dục thực sự là quốc sách hàng đầu, thì trước hết nhà nước phải có chính sách trọng dụng nhân tài, thực sự coi “hiền tài là ngyên khí của quốc gia”, tạo điều kiện làm việc thuận lợi, phát huy năng lực của những cán bộ giỏi, đầu đàn trong các lĩnh vực khoa học công nghệ, quản lý kinh doanh, văn học – nghệ thuật Đi đôi với nâng cao chất lượng giáo dục, cần phát triển quy mô giáo dục hợp lý

Trong giáo dục cần cải cách triệt để, sâu sắc cả về mục tiêu, nội dung, phương pháp dạy học, hệ thống giáo dục, phương thức tổ chức quản lý giáo dục – đào tạo Chuyển trọng tâm của giáo dục từ trang bị kiến thức sang bồi dưỡng rèn luyện phương pháp tư duy, phương pháp giải quyết vấn đề, năng lực sáng tạo, khả năng tự đào tạo, thích nghi, sự phát triển Chuyển từ mô hình giáo dục truyền thống sang mô hình giáo dục mới; hệ thống học tập suốt đời, phát triển nghề nghiệp liên tục, theo đó nhà trường đào tạo những kỹ năng cơ bản để người học ra trường vừa lao động vừa học tập Phát triển hệ thống học tập suốt đời và xây dựng xã hội học tập là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu để bồi dưỡng nhân lực cho CNH, HĐH rút ngắn dựa trên tri thức

Xã hội học tập và xã hội thông tin là tiền đề cho nền kinh tế tri thức

Trang 21

Thứ ba, là nhân tố thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động theo hướng CNH, HĐH

Nguồn nhân lực được xem là nhân tố quyết định của quá trình sản xuất

và phát triển kinh tế - xã hội Chất lượng nguồn nhân lực càng cao càng thúc đẩy nhanh quá trình hình thành và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động theo hướng CNH, HĐH cả về quy mô và cường độ Cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động càng tiến bộ càng đòi hỏi khả năng thích ứng cao hơn của nguồn nhân lực cả về trình độ học vấn, trí tuệ, năng lực sáng tạo, trình độ chuyên môn kỹ thuật, kỹ năng nghề nghiệp, thể lực cũng như phẩm chất tâm sinh lý,

ý thức, lối sống, đạo đức… Đó là mối quan hệ biện chứng nhân quả giữa chất lượng nguồn nhân lực với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động của mỗi quốc gia và vùng lãnh thổ

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tiến bộ trong từng quốc gia là quá trình thay đổi cấu trúc của nền kinh tế dựa trên cơ sở phát huy những lợi thế tuyệt đối và so sánh đất nước trong điều kiện cách mạng khoa học – công nghệ hiện đại và hội nhập kinh tế quốc tế Ở nước ta, chuyển dịch cơ cấu kinh

tế theo hướng tiến bộ đang được xác định là một trong những nội dung cơ bản của quá trình CNH, HĐH đất nước

Xét về thực chất, chuyển dịch cơ cấu kinh tế là quá trình tiếp tục phát triển phân công lao động xã hội, được biểu hiện tập trung trong sự thay đổi cơ cấu kinh tế ngành Theo sự phát triển của lực lượng sản xuất dưới tác động của cách mạng khoa học – công nghệ, năng suất lao động có xu hướng tăng lên không ngừng, đặc biệt trong lĩnh vực sản xuất vật chất, làm cho khu vực sản xuất vật chất có xu hướng ngày càng thu hẹp, trước hết là sản xuất nông nghiệp và tiếp đó là sản xuất công nghiệp, còn ngành dịch vụ sẽ có xu hướng ngày càng tăng về tỷ trọng trong GDP Do đó quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tiến bộ đồng thời là quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động thông qua tự giải phóng sức lao động từ ngành này và sự gia tăng sức lao động trong các ngành khác

Trang 22

Việc giải phóng sức lao động trong các ngành sản xuất vật chất mà trước hết là từ nông nghiệp là xu hướng tất yếu trong quá trình công nghiệp hóa, song cũng đặt ra nhiều thách thức đối với thu hút lao động nông nghiệp dôi dư vào các ngành kinh tế khác Quá trình chuyển đổi lao động trong chuyển dịch cơ cấu ngành đòi hỏi phải có chất lượng nguồn nhân lực phù hợp,

do đó tiến bộ chuyển dịch cơ cấu kinh tế nhanh hay chậm phụ thuộc rất lớn vào công tác đào tạo và đặc biệt là đào tạo nghề cho người lao động nói chung

và lao động nông thôn nói riêng

Việt Nam ngày nay vẫn đang đứng trước thách thức rất lớn về nguồn nhân lực cho phát triển công nghiệp, dịch vụ, đặc biệt là các ngành công nghệ cao Chất lượng nguồn nhân lực Việt Nam còn khoảng cách khá xa so với một

số nước Đông Á Cụ thể, ta đang ở mức gần tương đương với Indonesia, nhưng thua hầu hết các nước và lãnh thổ khác như Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore, Đài Loan, Trung Quốc, Malaysia, Hồng Kông… Đến năm 2009, lao động qua đào tạo mới đạt 40% Do đó, trong khi dư thừa rất lớn lao động phổ thông, thì lại thiếu hụt nghiêm trọng lao động có trình độ cao, nhất là lao động cung cấp cho các ngành công nghiệp, khu kinh tế, khu chế xuất và cho xuất khẩu lao động Tình hình đó đang cản trở cho tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Để đạt được mục tiêu đưa nước ta về cơ bản trở thành một nước công nghiệp vào năm 2020 với cơ cấu kinh tế ngành: Công nghiệp và dịch vụ trong GDP chiếm khoảng 85 – 90%, nông nghiệp chỉ còn 10 – 15% thì nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực là rất lớn Dự báo về nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực Việt Nam thể hiện qua biểu 1.1 [41, tr.12]

Như vậy, vấn đề cơ bản, có tính chất chiến lược trong phát triển nguồn nhân lực là phải tăng nhanh về số lượng để nâng cao tỷ lệ lao động được đào tạo Đặc biệt, chú trọng đào tạo nghề, đảm bảo cơ cấu đào tạo hợp lý giữa đại học, cao đẳng trở lên so với trung cấp chuyên nghiệp và đào tạo nghề, đồng thời nâng cao chất lượng nguồn nhân lực với tiêu chuẩn về trình độ chuyên

Trang 23

môn, kỹ năng nghề nghiệp, phẩm chất và năng lực phù hợp với yêu cầu kinh

tế tri thức ở Việt Nam, có như thế mới rút ngắn được khoảng cách tụt hậu so với các nước trong khu vực và thế giới, góp phần đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tiến bộ, đảm bảo cho tăng trưởng nhanh và bền vững theo hướng CNH, HĐH

Thứ tư, là nhân tố góp phần nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm, ngành, vùng và toàn bộ nền kinh tế, thúc đẩy phát triển kinh tế đối ngoại

Trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế, cạnh tranh là điều tất yếu xảy ra, do đó nâng cao sức cạnh tranh là nhiệm vụ thường xuyên, liên tục của từng chủ thể sản xuất, từng ngành hàng, địa phương và toàn bộ nền kinh tế Sức cạnh tranh phụ thuộc vào nhiều yếu tố như quy mô vốn, trình độ ứng dụng khoa học – công nghệ, trình độ tổ chức quản lý sản xuất, nguồn nhân lực, các chính sách của chính phủ…, trong đó nguồn nhân lực có vai trò rất quan trọng, đặc biệt là đội ngũ quản lý, kỹ sư và công nhân

kỹ thuật

Thực tế cho thấy, để nâng cao sức cạnh tranh cần phải có nguồn nhân lực với số lượng, chất lượng và cơ cấu nhất định và có chế độ đào tạo, sử dụng, đãi ngộ phù hợp Các doanh nghiệp, ngành, vùng, nền kinh tế thành công và đứng vững trong cạnh tranh trong nước và quốc tế ngày này đều là các chủ thể đã và đang quan tâm tới đầu tư phát triển nguồn nhân lực Lợi thế cạnh tranh từ giá cả sức lao động thấp đang có xu hướng giảm xuống, làm cho các doanh nghiệp không thể bàng quan với vấn đề nguồn nhân lực của mình nếu muốn tự đứng vững trong cạnh tranh, do đó việc các chủ doanh nghiệp tự thực hiện đào tạo nguồn nhân lực của mình, kết hợp với các cơ sở đào tạo để phát triển nguồn nhân lực, đưa kỹ sư, công nhân đi đào tạo nước ngoài, thuê chuyên gia hướng dẫn, huấn luyện, mở các lớp chuyên ngành đào tạo chủ yếu đội ngũ công nhân kỹ thuật đang trở thành những xu thế phổ biến để phát triển ngành kinh tế

Trang 24

Bên cạnh đó, trong bối cảnh hội nhập, thị trường sức lao động được mở rộng không ngừng vượt khỏi biên giới quốc gia Để xuất khẩu sức lao động có hiệu quả, vừa giải quyết việc làm, thu nhập cho người lao động, tăng nguồn ngoại tệ cho quốc gia, cần phải có biện pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho xuất khẩu sức lao động Nguồn nhân lực Việt Nam tuy có một số ưu điểm nhưng không ít hạn chế, nổi bật nhất là chưa thực sự phù hợp với thị trường lao động quốc tế Nền giáo dục Việt Nam cho đến nay mới chỉ căn cứ vào nhu cầu của thị trường trong nước để đào tạo mà chưa căn cứ vào nhu cầu của thị trường quốc tế để đổi mới hệ thống đào tạo cho phù hợp với yêu cầu hội nhập quốc tế Thị trường lao động Việt Nam tuy đã được hình thành nhưng hiện đang còn nhiều vấn đề phải được nghiên cứu giải quyết như: tỷ lệ giữa tiền lương và thu nhập ngoài lương hiện chưa hợp lý làm người lao động chạy theo thu nhập ngoài lương nhiều hơn; cơ cấu đào tạo và cơ cấu nhu cầu của thị trường chưa phù hợp, thị trường cần nhiều kỹ sư, lao động kỹ thuật, nhưng hệ thống giáo dục, hệ thống hướng nghiệp và đào tạo không đáp ứng đủ; hệ thống bảo hiểm xã hội cho người lao động còn rất sơ khai….Chỉ với những nhược điểm trên đây, nguồn nhân lực Việt Nam khi tham gia hội nhập quốc tế sẽ kém hiệu quả Do vậy sự nghiệp đổi mới giáo dục - đào tạo, chính sách sử dụng và cơ chế bảo vệ nguồn nhân lực của nước ta theo hướng khắc phục các hạn chế trên đây là vấn đề cấp bách

Để phát huy vai trò của nguồn nhân lực trong mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại, cần đặc biệt coi trọng việc bồi dưỡng rèn luyện năng lực, phẩm chất của đội ngũ chuyên gia, kỹ sư, công nhân kỹ thuật nhất là những đội ngũ quản lý làm công tác đối ngoại và quản lý doanh nghiệp, để đủ sức, đủ bản lĩnh thực hiện tốt các nhiệm vụ theo đúng đường lối, quan điểm chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của nhà nước, xem đây là một yếu tố có tính chất quyết định để bảo đảm độc lập tự chủ trong hội nhập Việc rèn luyện, bồi dưỡng này một mặt, tăng cường việc học tập thấm nhuần đường lối, quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng, luật pháp của nhà

Trang 25

nước, nâng cao bản lĩnh và trình độ chính trị, chuyên môn nghiệp vụ; mặt khác, quan trọng hơn là phải thông qua thực tiễn sản xuất, vận hành máy móc,

cọ sát với thị trường sản xuất trong và ngoài nước Khuyến khích tinh thần dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm Có như vậy mới mau chóng có một đội ngũ nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu và nhiệm vụ góp phần phát triển kinh tế - xã hội, ổn định chính trị của tỉnh, khu vực và cả nước

Như vậy, việc phát huy yếu tố con người để nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm, các doanh nghiệp có vai trò tạo tiền đề để cho nâng cao sức cạnh tranh của từng ngành, vùng kinh tế và toàn bộ nền kinh tế, từ đó tạo thuận lợi cho việc mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại, cho nên phát triển nguồn nhân lực không những là mối quan tâm của chủ thể doanh nghiệp mà còn là nhiệm vụ của các cơ sở đào tạo, các cấp chính quyền

1.2 Phát triển nguồn nhân lực

1.2.1 Định nghĩa phát triển nguồn nhân lực

Nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lưc là một trong những vấn

đề cốt lõi của sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội ở mỗi quốc gia Đặc biệt trong thời đại ngày nay, đối với các nước đang phát triển, giải quyết vấn đề này đang là yêu cầu cấp bách, vì nó vừa mang tính thời sự, vừa mang tính chiến lược xuyên suốt quá trình phát triển kinh tế - xã hội của mỗi nước

Phát triển nguồn nhân lực chính là quá trình tạo môi trường, động lực

và định hướng cho phát triển nguồn nhân lực Đó là quá trình mang tính xã hội cả về hệ tác động, bối cảnh và mục tiêu

Con người vừa là chủ thể của lịch sử, chủ thể của sự phát triển kinh tế -

xã hội Vì vậy, phát triển con người là cơ sở, chỉ tiêu quan trọng để đánh giá

sự phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia Cách đây hơn 150 năm, C.Mác

đã đề cập tới vấn dề phát triển con người toàn diện, lấy đó làm tiền đề cho sự phát triển của xã hội cộng sản chủ nghĩa C Mác khẳng định: sự phát triển lực

lượng sản xuất xã hội trước hết có nghĩa là “phát triển sự phong phú của bản

chất con người, như là một mục tiêu tự thân” [33, tr.168] Theo C.Mác, cuộc

Trang 26

đấu tranh của những người cộng sản chống lại trật tự xã hội tư bản chính là nhằm mục đích “tạo ra hoàn cảnh có tính người” để “phát triển những năng lực phẩm chất người” Kết quả của cuộc đấu tranh ấy là sự xuất hiện một liên hợp, trong đó “sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển

tự do của mọi người” Phát triển con người là kết quả của hai tác động cơ bản: nhu cầu phát triển của sản xuất, lực lượng sản xuất và tạo ra quan hệ sản xuất phù hợp, tạo ra điều kiện xã hội để con người phát triển C Mác và Ph

Ăngghen cũng nhấn mạnh: “chỉ có trong cộng đồng, cá nhân mới có được

những phương tiện để phát triển toàn diện những năng khiếu của mình” [34]

Vậy phát triển nguồn nhân lực hay phát triển nguồn lực con người, hoặc phát triển nguồn tài nguyên con người là những cách dịch khác nhau từ cụm từ Human Resources Development Khái niệm này hình thành và phát triển từ những năm 70 của thế kỷ XX, dựa trên quan niệm mới của Liên hợp quốc về phát triển và vị trí của con người trong sự phát triển Liên hợp quốc cho rằng, phát triển nguồn nhân lực bao gồm: Giáo dục, đào tạo và sử dụng tiềm năng con người nhằm thúc đẩy nền kinh tế - xã hội phát triển và nâng cao chất lượng cuộc sống Quan niệm này đã nhấn mạnh khía cạnh xã hội của vấn đề: nguồn nhân lực vừa là một yếu tố của sản xuất, của tăng trưởng kinh

tế và là mục tiêu của phát triển Phát triển nguồn nhân lực được coi “là quá

trình làm biến đổi về số lượng, chất lượng và cơ cấu nguồn nhân lực để ngày càng đáp ứng tốt hơn yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội” [52, tr.20] Quá trình

này bao gồm sự phát triển về thể lực, trí lực, khả năng nhận thức và tiếp thu kiến thức, tay nghề, tính năng động xã hội và sức sáng tạo của con người Trong đó, nền văn hóa, truyền thống lịch sử dân tộc cũng có phần quan trọng trong việc hun đúc nên bản lĩnh, ý chí của mỗi người

Khái niệm phát triển con người (Human Developmen) xuất hiện từ năm

1990, trong báo cáo về phát triển con người (HDR) được chương trình phát triển của Liên hợp quốc công bố Theo Liên hợp quốc, khái niệm phát triển con người nhấn mạnh đến mục tiêu hơn là phương tiện của sự phát triển và tiến bộ

Trang 27

Mục đích thật sự của phát triển là cần phải tạo một môi trường đảm bảo cho con người có khả năng được hưởng một cuộc sống sáng tạo, khỏe mạnh và trường thọ, đảm bảo quyền tự do chính trị, quyền con người và cá nhân

Tổ chức lao động quốc tế (ILO) cũng cho rằng: “Phát triển nguồn nhân lực bao hàm phạm vi rộng lớn hơn, không chỉ là sự chiếm lĩnh lành nghề hoặc vấn đề đào tạo nói chung, mà còn là sự phát triển năng lực và sử dụng năng lực đó vào việc làm có hiệu quả, cũng như thỏa mãn nghề nghiệp và cuộc sống cá nhân”

Như vậy, phát triển nguồn nhân lực là quá trình đào tạo, sử dụng, bồi

dưỡng về số lượng và chất lượng nguồn nhân lực, nhằm tạo ra cho lực lượng này những năng lực, phẩm chất cần thiết, đáp ứng được những yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội

Do đó, phát triển nguồn nhân lực đòi hỏi có sự quan tâm và can thiệp của nhà nước bằng các phương pháp, chính sách và biện pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao sức lao động xã hội nhằm đáp ứng đòi hỏi về nguồn nhân lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội trong từng giai đoạn lịch sử

1.2.2 Các tiêu chí đánh giá phát triển nguồn nhân lực

Theo cách hiểu chung nhất, nguồn nhân lực được cấu thành bởi hai yếu

tố cơ bản là số lượng và chất lượng

1.2.2.1 Đánh giá về số lượng nguồn nhân lực

Đánh giá về số lượng nguồn nhân lực dựa trên các khía cạnh sau:

Một là, Nguồn nhân lực có sẵn trong dân số: Bao gồm toàn bộ những

người nằm trong độ tuổi lao động có khả năng lao động không kể đến trạng thái có hay không có làm việc Nó phản ánh một khả năng, một tiềm năng cần khai thác

Hai là, Nguồn nhân lực tham gia hoạt động kinh tế: Theo quy định của

tổ chức lao động Quốc tế (ILO), dân số hoạt động kinh tế bao gồm toàn bộ những người đủ 15 tuổi trở lên đang làm việc (kể cả lực lượng vũ trang) hoặc chưa có việc làm nhưng có nhu cầu việc làm Đây chính là nguồn cung trong

Trang 28

thị trường lao động và thực sự đặt ra cầu về việc làm mà nền kinh tế có trách nhiệm phải bố trí để họ được tham gia vào phát triển KT – XH trong kỳ kế hoạch

Ba là, Nguồn nhân lực dự trữ (nhân lực bổ sung): Là những người nằm

trong độ tuổi lao động có khả năng lao động nhưng vì một lý do nào đó họ chưa có việc làm trong xã hội Số người này đóng vai trò là nguồn nhân lực

dự trữ gồm: Học sinh tốt nghiệp trung học chưa đi làm, sinh viên tốt nghiệp đại học, trung học chuyên nghiệp, tốt nghiệp các trường dạy nghề chưa đi làm, bộ đội xuất ngũ mới trở về địa phương và số người đang thất nghiệp Nguồn nhân lực dự trữ phản ánh tiềm năng lao động chưa được khai thác, chưa sử dụng hết

Như vậy, theo cách hiểu chung nhất đánh giá nguồn nhân lực về số lượng, là bộ phận dân số trong độ tuổi quy định có khả năng tham gia lao

động Điều đó có ý nghĩa không chỉ số người có khả năng tham gia lao động

mà còn phụ thuộc cả vào độ tuổi được quy định và sự quy định độ tuổi ở mỗi quốc gia lại phụ thuộc vào nhiều yếu tố và nhiều mối quan hệ Cụ thể hơn, số lượng nguồn nhân lực phụ thuộc vào thời gian làm việc có thể được của cá nhân và quy định độ tuổi lao động của mỗi quốc gia Khi xét về số lượng nguồn nhân lực có thể chỉ ra tính tương xứng, nếu thừa nguồn nhân lực sẽ dẫn đến thất nghiệp, tạo sức ép giải quyết vấn đề xã hội Ngược lại, nếu thiếu không đủ nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội sẽ dẫn đến lãng phí các nguồn lực khác, vốn, tài nguyên

1.2.2.2 Đánh giá về chất lượng nguồn nhân lực:

Chất lượng nguồn nhân lực là trình độ năng lực thể chất và tinh thần của các thành viên cấu thành nguồn nhân lực của xã hội Đó chính là thể lực, trí lực, tinh thần thái độ, động cơ ý thức lao động, tác phong lao động công nghiệp, phẩm chất đạo đức, ý thức công dân…Trong đó thể lực là nền tảng,

cơ sở để phát triển trí lực, là phương thức truyền tải khoa học – kỹ thuật vào thực tiễn sản xuất kinh doanh và đời sống Ý thức, tinh thần là yếu tố chi phối

Trang 29

hiệu quả hoạt động chuyển hóa của trí thức thành hiện thực Trí thức là yếu tố quan trọng nhất để nghiên cứu, sáng tạo và vận dụng tiến bộ khoa học – công nghệ vào quá trình sản xuất kinh doanh và cải biến xã hội Chất lượng nguồn nhân lực có nội hàm rộng thể hiện ở các tiêu chí sau đây:

Một là, Về thể lực của nguồn nhân lực

Thể lực phản ánh tình trạng sức khỏe của nguồn nhân lực, bao gồm cả yếu tố về thể chất lẫn tinh thần của con người Sức khỏe là yếu tố cơ sở của nguồn nhân lực, vì vậy vấn đề này luôn được các quốc gia và các tổ chức quốc tế quan tâm Thể lực của nguồn nhân lực được hình thành, duy trì và phát triển bởi các chế độ dinh dưỡng, chăm sóc sức khỏe Vì thế, nó phụ thuộc vào trình độ phát triển KT – XH, phân phối thu nhập và chính sách xã hội của mỗi quốc gia Sức khỏe là điều kiện tiên quyết để duy trì và phát triển trí tuệ, là phương tiện để truyền tải trí thức vào hoạt động thực tiễn, để biến tri thức thành sức mạnh vật chất phát triển KT – XH

Theo Tổ chức Y tế thế giới sức khỏe là trạng thái thoải mái toàn diện

về thể chất, tinh thần và xã hội chứ không phải chỉ bao gồm có tình trạng không có bệnh hay thương tật

Một người có thể chất tốt là người các hoạt động thể lực, hình dáng,

ăn ngủ…tất cả các hoạt động sống đều ở trạng thái tốt nhất phù hợp với từng lứa tuổi Sức khỏe thể chất được thể hiện một cách tổng quát sự sảng khoái và thoải mái về thể chất mà cơ sở của nó trước hết là sức lực – khả năng hoạt động của cơ bắp mạnh, có sức đẩy, sức kéo, sức nâng cao…do đó làm công việc chân tay một cách thoải mái như mang vác, điều khiển máy móc, sử dụng công cụ….Cơ sở thứ hai là sự nhanh nhẹn, đó là khả năng phản ứng của chân tay nhanh nhạy, đi lại, chạy nhảy, làm các thao tác kỹ thuật một cách nhẹ nhàng, thoải mái Thứ ba là sự dẻo dai có nghĩa là làm việc hoặc hoạt động chân tay tương đối lâu và liên tục mà không cảm thấy mệt mỏi; khả năng chống đỡ được các yếu tố gây bệnh như ít ốm đau hoặc nếu có bệnh cũng nhanh khỏi và chóng hồi phục; khả năng chịu đựng được những điều kiện

Trang 30

khắc nghiệt của môi trường như chịu nóng, lạnh, hay sự thay đổi đột ngột của thời tiết Đồng thời có sức khoẻ về mặt thể chất mới tạo điều kiện để có một sức khoẻ tinh thần tốt, hoàn toàn thoải mái

Tình trạng sức khỏe được phản ánh bằng một hệ thống chỉ tiêu sau:

- Các chỉ tiêu tổng hợp: Tuổi thọ bình quân (tuổi ); Chiều cao trung bình của thanh niên (m );Cân nặng (kg ) Các chỉ tiêu này đo lường thể lực chung và được xem như là một chỉ số của tình trạng kinh tế xã hội, vệ sinh xã hội và tình trạng sức khỏe của nhân dân

- Các chỉ tiêu y tế cơ bản: Tỷ suất chết trẻ em dưới 1 tuổi ; Tỷ suất chết trẻ em dưới 5 tuổi; Tỷ lệ trẻ em đẻ dưới 2500g; Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng; Tỷ suất chết mẹ

- Các chỉ tiêu về tình hình bệnh tật: Tỷ lệ mắc bệnh truyền nhiễm; Tỷ lệ mắc các bệnh có tiêm chủng; Tỷ lệ chết so với người mắc các bệnh

Như vậy, Thể lực tốt của người lao động thể hiện ở sự nhanh nhẹn, tháo vát, bền bỉ của sức mạnh cơ bắp trong công việc Thể lực tốt còn là điều kiện cho sự phát triển trí lực Trình độ phát triển KT – XH càng cao thì càng đòi hỏi cao về thể lực của nguồn nhân lực, vì nếu không có thể lực tốt thì sẽ không thể chịu mọi áp lực, căng thẳng trong công việc, nhất là trong điều kiện ứng dụng những thành tựu của khoa học – kỹ thuật vào trong lao động sản xuất Nếu không có thể lực tốt thì cũng rất khó sáng tạo ra những tri thức mới, những sản phẩm mới Do vậy, sức khỏe vừa là mục đích, đồng thời cũng là điều kiện của sự phát triển, do đó yêu cầu nâng cao sức khỏe là yêu cầu chính đáng mà là mục đích phát triển xã hội hướng tới

Hai là, Về trí lực của nguồn nhân lực

Trí lực là năng lực trí tuệ, khả năng nhận thức và tư duy mang tính sáng tạo thích ứng với xã hội của con người Nói đến trí lực là nói đến yếu tố tinh thần, trình độ văn hóa và học vấn của con người, biểu hiện ở khả năng vận dụng những điều kiện vật chất, tinh thần vào hoạt động thực tiễn nhằm đạt

Trang 31

hiệu quả cao, đồng thời là khả năng định hướng giá trị hoạt động của bản thân

để đạt được mục tiêu

Trí lực được biểu hiện ở trình độ học vấn, trình độ chuyên môn kỹ thuật, kỹ năng nghề nghiệp Đây là tiêu chí quan trọng nhất trong các tiêu chí đánh gía chất lượng nguồn nhân lực Trình độ học vấn là tiêu chí biểu hiện đầu tiên về trí lực nguồn nhân lực, đó là sự hiểu biết của người lao động về những kiến thức tự nhiên, xã hội tổng quát Thông qua hệ thống giáo dục đào tạo và tự đào tạo hình thành trình độ học vấn của nguồn nhân lực Tuy nhiên, quá trình đào tạo phải đặt trong môi trường xã hội nhất định để xác định, đó chính là trình độ dân trí của một dân tộc, một quốc gia Trình độ học vấn được biểu hiện qua các chỉ số: tỷ lệ người biết chữ trên dân số; tỷ lệ các bậc đào tạo; tiểu học; trung học cơ sở và phổ thông trung học; bổ túc văn hóa các cấp…, tỷ lệ người đi học đúng độ tuổi Những tiêu chí này của dân cư mỗi nước, trong từng thời kỳ phản ánh khá chính xác trình độ học vấn của nguồn nhân lực nước đó Thông qua các chỉ tiêu định lượng được xác định về trình

độ học vấn của từng thời kỳ nhất định, làm căn cứ để Chính phủ các nước đề xuất chính sách vĩ mô về chiến lược phát triển giáo dục quốc gia về các giải pháp để đạt được mục tiêu đề ra

- Trình độ học vấn: Thể hiện sự hiểu biết của người lao động thông qua

những kiến thức tự nhiên và xã hội Trình độ học vấn được cung cấp thông qua hệ thống giáo dục chính quy, không chính quy, qua quá trình tự học suốt đời của người lao động

Đây là tiêu chí quan trọng của chất lượng nguồn nhân lực, bởi vì trình

độ học vấn cao tạo ra những điều kiện và khả năng để tiếp thu và vận dụng một cách nhanh chóng, sáng tạo tiến bộ khoa học – kỹ thuật vào thực tiễn sản xuất kinh doanh và đời sống để tạo ra những sản phẩm mới chất lượng, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh góp phần thúc đẩy sự tiến bộ xã hội Thực

tế cho thấy rằng quốc gia nào có trình độ học vấn cao thì quốc gia đó có nền kinh tế thị trường phát triển nhanh Tuy nhiên, cũng có những nước dân cư có

Trang 32

trình độ học vấn cao nhưng chưa tận dụng được tiềm năng này, do cơ chế tổ chức quản lý, khai thác và sử dụng nguồn nhân lực kém hiệu quả

- Trình độ chuyên môn kỹ thuật: là những kiến thức, sự hiểu biết và

những kỹ năng cần thiết để đảm đương những nhiệm vụ trong quản lý, kinh doanh và các hoạt động nghề nghiệp Trình độ chuyên môn kỹ thuật có được

là nhờ đào tạo ở các bậc: Trung học chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học và sau đại học Lao động có chuyên môn kỹ thuật bao gồm những công nhân kỹ thuật có từ bậc ba trở lên (hoặc không có bằng nhưng nhờ kinh nghiệm thực

tế mà có) có tới những người có trình độ sau đại học Trình độ chuyên môn kỹ thuật của lực lượng lao động trong một doanh nghiệp, công ty, tập đoàn hay một quốc gia thể hiện qua những con số cụ thể như: tỷ lệ cán bộ, công nhân viên kỹ thuật có trình độ trung cấp, cao đẳng, đại học, sau đại học trong toàn

bộ lực lượng lao động của cơ sở

Trình độ chuyên môn kỹ thuật của nguồn nhân lực dùng để chỉ những người được đào tạo ở các trường kỹ thuật được trang bị những kỹ năng thực hành về một công việc nào đó và được thể hiện qua các chỉ tiêu so sánh như:

Số lao động được đào tạo và lao động phổ thông; số công nhân có bằng kỹ thuật và không có bằng kỹ thuật; trình độ xếp bậc thợ với những tỷ lệ nhất định với các nghề cụ thể Trên thực tế trình độ chuyên môn và trình độ kỹ thuật luôn kết hợp chặt chẽ với nhau qua thông số so sánh chuyên môn kỹ thuật như: Tỷ lệ lao động được đào tạo so với lực lượng lao động đang làm việc, chỉ tiêu này đánh giá một cách khái quát về trình độ chuyên môn kỹ thuật của một quốc gia, vùng, lãnh thổ, công ty

Trong từng giai đoạn phát triển KT – XH nhất định, thì công tác đào tạo của từng quốc gia và địa phương cần hướng tới một nguồn nhân lực với

cơ cấu phù hợp về trình độ đào tạo

Trong giai đoạn hiện nay, nâng cao trí lực của nguồn nhân lực là cơ sở thúc đẩy CNH, HĐH nhất là phát triển các ngành công nghệ cao như công nghệ thông tin, công nghệ sinh học Để nâng cao trí lực của nguồn nhân lực

Trang 33

giải pháp cấp thiết là phải đẩy mạnh, nâng cao chất lượng GD – ĐT từ giáo dục phổ thông đến GD – ĐT đại học, dạy nghề Do đó, GD – ĐT là quốc sách của nhiều quốc gia trên thế giới

Ngoài ra, chất lượng của nguồn nhân lực còn phụ thuộc vào chính sách

và các thể chế quản lý KT – XH như: cơ chế tuyển dụng lao động; phương pháp đánh giá trình độ nghề nghiệp, mức độ cống hiến, phẩm chất đạo đức – chính trị của người lao động Những phẩm chất đạo đức cần thiết như ý thức

tổ chức kỷ luật, tự giác lao động, tiết kiệm, tinh thần trách nhiệm, tác phong làm việc của nguồn nhân lực, những phẩm chất ấy có ý nghĩa quan trọng trong phát triển KT – XH

Ba là, Về kinh nghiệm sống, năng lực hiểu biết thực tiễn, phẩm chất đạo đức, thái độ và tác phong làm việc của người lao động

Đây là yếu tố xã hội của nguồn nhân lực, đó là toàn bộ tình cảm, tập quán, tác phong, quan niệm sống, truyền thống, đạo đức và nghệ thuật gắn với truyền thống văn hóa dân tộc Những yếu tố này đóng vai trò quan trọng, quy định bản tính của nguồn nhân lực góp phần vào sự phát triển của quốc gia Do vậy phát triển nguồn nhân lực trong nền kinh tế thị trường đòi hỏi người lao động phải có hàng loạt những phẩm chất cần thiết như: có ý thức tổ chức kỷ luật; tự giác trong lao động; có tinh thần trách nhiệm trong công việc, tác phong làm việc nhanh nhẹn, chính xác, có lương tâm trong nghề nghiệp Tất

cả những phẩm chất đó nằm trong phạm trù phẩm chất đạo đức của con người

Đạo đức được coi là nền tảng của giữ vai trò định hướng cho hoạt động của con người, hướng con người tới những giá trị chân – thiện – mĩ Năng lực

là khả năng của con người vươn lên để hoàn thành nhiệm vụ góp phần thức đẩy xã hội phát triển Như vậy trong các tiêu chí của chất lượng nguồn lực con người thì đạo đức của người lao động cùng với tiêu chí trí lực là năng lực của con người chính là những yếu tố cơ bản để phát triển nguồn nhân lực

Trang 34

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói : “ Có tài mà không có đức là người

vô dụng, có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó” Qua đó ta mới

thấy được một người lao động không phải chỉ có trình độ chuyên môn học vấn còn phải có đạo đức phẩm chất tốt đẹp Người lao động tuy có tài những chỉ dùng tài năng đó để phục vụ cho bản thân mình không thôi thì chẳng có ý nghĩa gì Thậm chí với lối sống cá nhân và làm việc như vậy có thể gây hại cho tập thể cho xã hội Vì vậy, tiêu chí để phát triển nguồn nhân lực còn được thể hiện qua chính lối sống đạo đức, phẩm chất tốt đẹp thái độ trong thực tiễn lao động sản xuất và sáng tạo cá nhân Đây là một trong những tiêu chí cơ bản

để phát triển nguồn nhân lực

Trong thực tế, ở nước ta lực lượng lao động còn hạn chế về ý thức và tác phong công nghiệp, thể lực và trình độ chuyên môn, nghiệp vụ; năng lực hành nghề chưa cao, nên tình trạng lao động không tìm được việc làm thích hợp hoặc làm việc không đúng với ngành nghề được đào tạo còn xảy ra đáng

kể So với các nước trong khu vực, thứ bậc xếp hạng về chất lượng nguồn nhân lực của nước ta còn thấp (Việt Nam chỉ đạt 3,79/10 so với Trung Quốc

1.3.1 Giáo dục và Đào tạo

Trong các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng nguồn lực con người thì mức độ phát triển của giáo dục đào tạo là yếu tố quan trọng hàng đầu vì nó

Trang 35

không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến trình độ văn hóa, chuyên môn kỹ thuật và

kỹ năng lao động thực hành của người lao động, mà còn gián tiếp ảnh hưởng đến sức khỏe và tuổi thọ đến phẩm chất đạo đức của người lao động

Giáo dục theo nghĩa rộng là tất cả các dạng học tập của con người nhằm nâng cao biểu thức và kỹ năng của con người trong suốt cả cuộc đời

Giáo dục phổ thông (giáo dục cơ bản) nhằm cung cấp những biểu thức

cơ bản để phát triển năng lực cá nhân Giáo dục nghề và giáo dục đại học (đào tạo) vừa giúp người học có kiến thức đồng thời còn giúp cung cấp tay nghề,

kỹ năng và chuyên môn Với mỗi trình độ đào tạo nhất định, người được đào tạo biết được họ sẽ phải đảm nhận những công việc gì? Yêu cầu kỹ năng cũng như chuyên môn nghề nghiệp phải như thế nào?

Vai trò của giáo dục đối với việc nâng cao chất lượng lao động được phân tích qua các nội dung sau

Thứ nhất, giáo dục là cách thức để tăng tích luỹ vốn con người đặc biệt

là tri thức và sẽ giúp cho việc sáng tạo ra công nghệ mới, tiếp thu công nghệ mới do đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế dài hạn

Nói cách khác trong bối cảnh thay đổi công nghệ nhanh, giáo dục giữ vai trò chủ yếu trong tiếp thu và phát triển công nghệ Các nước đang phát triển có thể tham gia vào hưởng lợi của tiến bộ công nghệ hay không phụ thuộc vào điều kiện tiên quyết là giáo dục Giáo dục cơ bản là nền tảng để tạo

ra một xã hội học vấn, nhưng chưa đủ để các quốc gia cạnh tranh trên thị trường toàn cầu Giáo dục đại học mới có khả năng đào tạo những người có khả năng theo dõi các khuynh hướng công nghệ, đánh giá được sự thích ứng của chúng đối với những triển vọng của đất nước và giúp xây dựng triển khai một chiến lược phát triển công nghệ quốc gia thích hợp Chiến lược thích hợp cho phần lớn các quốc gia đang phát triển là thu nhận được công nghệ nước ngoài với giá rẻ và có thể sử dụng nó hiệu quả nhất bằng cách thích nghi nó với các điều kiện của địa phương Những khám phá khoa học và các phát minh không chỉ đòi hỏi nguồn tài chính dồi dào mà còn cần lực lượng lao

Trang 36

động có chất lượng cao với năng lực tinh vi của con người và sự nhạy bén kinh doanh để thắng lợi trong cạnh tranh Tuy là những nước đi sau về công nghệ, nhưng các nền kinh tế Đông Á đã rất thành công trong phát triển kinh tế nhờ thích nghi rất tốt công nghệ nước ngoài do các nước này có một lực lượng lao động kỹ thuật cao, đặc biệt khi các công nghệ thay đổi nhanh

chóng Nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới cho thấy “trong 1000 nhà phát

minh của Ấn Độ có 90% tốt nghiệp đại học, hơn 50% được đào tạo sau đại học và gần 30% có bằng tiến sỹ” [38; tr.80]

Thứ hai, Giáo dục tạo ra một lực lượng lao động có trình độ, có kỹ năng

làm việc với năng suất cao, là cơ sở thúc đẩy tăng trưởng nhanh và bền vững

Từ những năm 1970, với lý thuyết về tỷ suất lợi nhuận, các nhà nghiên cứu đã xác định được tỷ lệ hoàn trả của giáo dục sau đầu tư Vai trò của giáo dục có thể được đánh giá qua tác động của nó đối với năng suất lao động được tính toán bằng so sánh sự khác biệt giữa sản phẩm của một cá nhân làm

ra trong cùng một đơn vị thời gian trước và sau khi cá nhân đó được học một khoá đào tạo với chi phí cho khoá đào tạo đó Kết quả này được gọi là tỷ suất lợi nhuận xã hội khi đầu tư vào giáo dục Các nhà nghiên cứu đã chứng minh

tỷ suất lợi nhuận của giáo dục rất cao ở những nước có thu nhập vừa và thấp

Các nước Đông Á tăng trưởng nhanh đã đầu tư rất nhiều vào cả giáo dục tiểu học lẫn trung học nhằm tăng cường chất lượng của lực lượng lao động Nỗ lực này được thực hiện do yêu cầu của mô hình kinh tế tăng trưởng

sử dụng một cách có hiệu quả nguồn lao động và do đầu tư bổ sung vào nguồn vốn vật chất Chi phí đáng kể cho giáo dục đã nâng cao mức tăng

trưởng “Các thuyết tăng trưởng về kinh tế đều cho thấy mối quan hệ bổ sung

lẫn nhau giữa nguồn vốn nhân lực và vốn vật chất; trữ lượng vốn nhân lực lớn sẽ làm tăng giá trị lợi tức của máy móc; trữ lượng vốn vật chất tăng lại làm tăng hiệu quả đầu tư vào giáo dục; và đầu tư chung nếu không có sự hỗ trợ của giáo dục chỉ đóng vai trò không lớn đối với tăng trưởng kinh tế” [38;

Trang 37

tr.25] Kết quả nghiên cứu của các nước cho thấy tỷ suất lợi nhuận đầu tư vào cấp tiểu học là cao hơn các cấp học khác

Thứ ba, giáo dục đào tạo góp phần cải thiện sức khỏe và nâng cao tuổi

thọ của người dân Trước hết giáo dục cung cấp kiến thức và những thông tin

để người dân đặc biệt là phụ nữ có thể sử dụng những công nghệ nhằm tăng cường sức khoẻ, dinh dưỡng Chẳng hạn tỷ lệ tử vong trẻ em giảm xuống, tỷ

lệ dinh dưỡng trẻ em tăng lên cùng với học vấn của cha mẹ, đặc biệt là người

mẹ vì biết sinh hoạt vệ sinh hơn hay biết cách sử dụng những thức ăn giàu dinh dưỡng hơn Với ý nghĩa trên giáo dục còn giúp bổ sung cho các dịch vụ

y tế (giảm nhu cầu về những dịch vụ y tế)

Mặt khác giáo dục cơ bản (trong phần lớn các nước là giáo dục tiểu học và trung học) phát triển năng lực học tập, giải thích thông tin và thích nghi tri thức vào điều kiện, môi trường sống của mỗi người Đó là nền tảng cho việc học tập suốt đời đóng góp vào việc chống suy dinh dưỡng, cải thiện sức khoẻ trẻ em và người lớn, đồng thời nó cũng giúp giảm tỷ lệ chết và nâng cao tuổi thọ Nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới ở 29 nước đang phát triển cho thấy rằng tỷ lệ chết của trẻ sơ sinh và trẻ em có tương quan tỷ lệ nghịch với trình độ giáo dục của các bà mẹ: trung bình cứ mỗi năm học bình quân giảm được 9% tỷ lệ chết của trẻ em và trẻ sơ sinh

Do vai trò quan trọng trong sự hình thành và phát triển trí tuệ và nhân cách của con người nên nhân tố này được coi là phương thức phát triển nhanh chất lượng nguồn nhân lực Ngược lại, nếu như giáo dục – đào tạo không được quan tâm một cách đúng mực không chỉ làm ảnh hưởng đến chất lượng nguồn nhân lực mà còn làm đất nước bị bỏ lỡ nhiều cơ hội mới, bị tụt hậu, kìm hãm sự phát triển của toàn xã hội

1.3.2 Những biến đổi kinh tế – xã hội trong và ngoài nước

Tăng trưởng là nhân tố kinh tế quan trọng tác động đến chất lượng nguồn nhân lực trên nhiều phương diện Tăng trưởng kinh tế không chỉ trực tiếp góp phần cải thiện đời sống nhân dân mà còn tăng tiết kiệm và đầu tư

Trang 38

trong nước, tạo được nhiều việc làm mới với mức thu nhập cao Ngoài ra nhờ thành tựu tăng trưởng, thu ngân sách tăng nên đảm bảo nhu cầu chi thường xuyên cho các chương trình mục tiêu quốc gia, chi cho phát triển giáo dục đào tạo, y tế, văn hóa tác động tích cực hơn đến chất lượng nguồn nhân lực

Sự phát triển kinh tế với cơ cấu biến đổi theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ, giảm nông nghiệp dẫn đến sự phân bổ lao động trong các lĩnh vực hoạt động đòi hỏi người lao động phải được đào tạo, có khả năng tự học hỏi, thích ứng với nền sản xuất mới

Bên cạnh mặt tích cực quá trình tăng trưởng kinh tế cũng có một số ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng nguồn nhân lực Tăng trưởng kinh tế thường gắn liền với quá trình đô thị hóa, thay đổi trong lối sống Các nghiên cứu cho thấy quá trình đô thị hóa gắn liền với mức độ ô nhiễm môi trường tăng cao, tỷ

lệ tai nạn gia tăng đáng kể gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe của người dân Do thu nhập tăng lên và sự thay đổi trong lối sống nên ở các đô thị tồn tại phổ biến đồng thời mô hình bệnh tật của nước nghèo và của “mức sống cao” Hiện tượng này được gọi bằng thuật ngữ “ gánh nặng gấp đôi”, ám chỉ những khó khăn mà người dân và hệ thống y tế xã hội ở các nước đang phát triển đang vấp phải

Đối với các nước trong thời kỳ chuyển đổi kinh tế như Việt Nam thì tác động của những biến đổi kinh tế – xã hội đến chất lượng nguồn nhân lực còn phức tạp hơn:

- Việc đa dạng hóa các hình thức sở hữu, cơ chế thị trường thay cho quản lý tập trung đã làm cho nhiều ngành nghề, xí nghiệp lạc hậu phải giảm qui mô và đóng cửa, thất nghiệp gia tăng làm ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của người lao động, gây nhiều hậu quả xã hội nghiêm trọng

- Gắn liền với sự phát triển của cơ chế thị trường là bất bình đẳng về thu nhập trong các tầng lớp dân cư, giữa các ngành cũng như vùng kinh tế Điều này chi phối rất lớn đến khả năng tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản như giáo dục, y tế Những vùng kinh tế phát triển, người dân có thu nhập cao có

Trang 39

khả năng tiếp cận dễ dàng hơn người có thu nhập thấp Hơn thế nữa một số điều chỉnh chính sách của Nhà nước trong thời kỳ này như xóa bỏ hoặc giảm bớt bao cấp từ ngân sách trong nhiều lĩnh vực càng làm cho vấn đề trên thêm đậm nét

- Việc tổ chức lại nền kinh tế và cơ cấu xã hội đã góp phần làm biến đổi theo chiều sâu môi trường kinh tế – xã hội Các cá thể và nhóm xã hội khác nhau phải chuyển biến để thích nghi với môi trường thay đổi hàng ngày Chẳng hạn trong vấn đề giáo dục, khi Nhà nước không còn là người bao cấp hầu như toàn bộ kinh phí và sắp xếp việc làm khi tốt nghiệp thì chiến lược giáo dục của các hộ gia đình ngày càng hướng tới tương lai và đưa quan hệ chất lượng – giá cả vào lựa chọn Các hộ gia đình và cá nhân có thể từ không quan tâm đến đặc biệt coi trọng đầu tư cho giáo dục Chính điều này ảnh hưởng rất lớn đến trình độ học vấn và sự chênh lệch giữa các vùng kinh tế

- Ngoài ra, những chính sách về quản lý xã hội, quản lý kinh tế, chính sách phân phối đặc biệt là chính sách trả công lao động cũng có ảnh hưởng rất lớn Chúng có thể kìm hãm, triệt tiêu hoặc nhân lên nhiều lần những yếu tố tốt của chất lượng nguồn nhân lực Nếu trả công đúng theo chất lượng và hiệu quả của lao động sẽ khuyến khích học tập và rèn luyện để nâng cao kỹ năng, kiến thức Ngược lại, chế độ phân phối bình quân sẽ hạn chế tính năng động

và sáng tạo của người lao động

Như vậy, mối quan hệ giữa phát triển nguồn nhân lực và sự biến đổi kinh tế - xã hội là mối quan hệ nhân quả, quan hệ qua lại hai chiều Kinh

tế - xã hội càng phát triển thì khả năng đầu tư của nhà nước và xã hội cho

sự phát triển nguồn nhân lực ngày càng tăng, tạo mọi cơ hội và môi trường thuận lợi cho phát triển nguồn nhân lực Ngược lại, nguồn nhân lực của quốc gia, địa phương được phát triển tốt sẽ góp phần đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội và trong vòng xoáy ốc thuận chiều này nhân tố nọ kích thích nhân tố kia phát triển

Trang 40

1.3.3 Toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế

Toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế cũng ảnh hưởng đến sự phát triển nguồn nhân lực ở Khu kinh tế, bởi những nhân tố này đã tạo điều kiện cho các quốc gia, địa phương kết hợp tốt nhất sức mạnh dân tộc với sức mạnh quốc tế, phát huy được nội lực và mọi tiềm năng sáng tạo; đồng thời, tranh thủ được tối đa các nguồn lực bên ngoài phục vụ cho phát triển

Xu thế hội nhập quốc tế có tác động nhiều mặt đặt ra những yêu cầu mới đối với việc phát triển nguồn nhân lực ở mỗi quốc gia, dẫn đến một cuộc cách mạng về đào tạo ngành nghề trong xã hội Do đó, các quốc gia, địa phương phải chuẩn bị cho mình những tiềm lực lao động đáp ứng yêu cầu của một hệ thống ngành nghề mới đang phát triển phù hợp với xu thế thời đại Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, các quốc gia còn phải hướng đến việc phát triển những con người thích ứng với thời đại cạnh tranh

ồ ạt và khốc liệt để phát triển

Có thể nhận ra rằng, tác động của xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc

tế đối với việc điều chỉnh, lực chọn chiến lược phát triển của các quốc gia, địa phương mà trong đó có cả phát triển nguồn nhân lực là rất mạnh mẽ và sâu sắc Phát triển một thế hệ mới các doanh nhân, đội ngũ trí thức, những người lao động có chuyên môn cao, có tay nghề vững vàng, có năng lực quản lý, sản xuất và kinh doanh để có thể giành phần thắng trong cuộc cạnh tranh trước bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay Trong đó kinh tế tri thức hiện cũng cũng được xem là nhân tố ảnh hưởng rất lớn đến phát triển nguồn nhân lực, bởi sức lan tỏa mạnh mẽ và được xem là xu hướng tất yếu của quá trình phát triển kinh tế

- xã hội nói chung, quá trình CNH – HĐH nói riêng, nó thúc đẩy sự tăng nhanh năng suất lao động, sở hữu cá nhân và sở hữu xã hội, tạo ra bước đột phá về chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao Nếu kinh tế trí thức là nền kinh tế sử dụng có hiệu quả tri thức cho sự phát triển kinh tế và xã hội, bao gồm cả việc khai thác kho tri thức toàn cầu, cũng như làm chủ và sáng tạo tri thức cho những nhu cầu của riêng mình

Ngày đăng: 11/11/2021, 19:06

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Ban tư tưởng văn hóa trung ương (1994), Phát triển công nghiệp, công nghệ đến năm 2000 theo hướng CNH, HĐH đất nước và xây dựng giai cấp công nhân trong giai đoạn mới, Nxb CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển công nghiệp, công nghệ đến năm 2000 theo hướng CNH, HĐH đất nước và xây dựng giai cấp công nhân trong giai đoạn mới
Tác giả: Ban tư tưởng văn hóa trung ương
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 1994
4. Bộ khoa học công nghệ và môi trường – Viện nghiên cứu chiến lược và chính sách KH&CN (1996), Chiến lược CNH, HĐH đất nước và cách mạng công nghệ, Nxb CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược CNH, HĐH đất nước và cách mạng công nghệ
Tác giả: Bộ khoa học công nghệ và môi trường – Viện nghiên cứu chiến lược và chính sách KH&CN
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 1996
5. Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội (2006), Số liệu thống kê Lao động – Việc làm ở Việt Nam, Nxb Lao động – Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Số liệu thống kê Lao động – Việc làm ở Việt Nam
Tác giả: Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội
Nhà XB: Nxb Lao động – Xã hội
Năm: 2006
7. Cục thống kê Thanh Hóa (2013), Niên giám thống kê tỉnh Thanh Hóa 2003, Nxb thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê tỉnh Thanh Hóa 2003
Tác giả: Cục thống kê Thanh Hóa
Nhà XB: Nxb thống kê
Năm: 2013
8. Chương trình khoa học công nghệ cấp nhà nước KX 07, Đề tài KX 07-14 GSTS Nguyễn Minh Đường (chủ biên) (1996), Bồi dưỡng và đào tạo lại đội nghũ nhân lực trong điều kiện mới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bồi dưỡng và đào tạo lại đội nghũ nhân lực trong điều kiện mới
Tác giả: Chương trình khoa học công nghệ cấp nhà nước KX 07, Đề tài KX 07-14 GSTS Nguyễn Minh Đường (chủ biên)
Năm: 1996
9. PTS Mai Quốc Chánh (chủ biên) (1999), Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH đất nước, Nxb CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH đất nước
Tác giả: PTS Mai Quốc Chánh (chủ biên)
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 1999
11. Vũ Đình Cự, Đẩy mạnh phát triển công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức, Tạp chí cộng sản điện tử, ngày 19/11/2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đẩy mạnh phát triển công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức
12. TS.Nguyễn Hữu Dũng (2002), Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong sự nghiệp CNH, HĐH đất nước và hội nhập quốc tế - Tạp chí lý luận chính trị số 8 – T8/2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong sự nghiệp CNH, HĐH đất nước và hội nhập quốc tế
Tác giả: TS.Nguyễn Hữu Dũng
Năm: 2002
13. Đảng cộng sản Việt Nam (1991), Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1991
14. Đảng cộng sản Việt Nam (1991), Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2000, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2000
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1991
15. Đảng cộng sản Việt Nam [2006]: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
16. Đảng Cộng sản Việt Nam [2011]: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
17. Đảng cộng sản Việt Nam (1994), Văn kiện hội nghị lần thứ 7, Ban chấp hành trung ương khóa VII, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện hội nghị lần thứ 7, Ban chấp hành trung ương khóa VII
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1994
19. Học viện Hành chính quốc gia [1996] : Vấn đề con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Nxb chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Nhà XB: Nxb chính trị quốc gia
20. Chu Hảo (2004), “Năm yếu tố làm nên nhân tài”, Tạp chí Tia sáng số 6/2004, tr 16-17 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Năm yếu tố làm nên nhân tài
Tác giả: Chu Hảo
Năm: 2004
21. Phạm Minh Hạc [2001]: Nghiên cứu con người và nguồn nhân lực đi vào công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Nhà xuất bản chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu con người và nguồn nhân lực đi vào công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Nhà XB: Nhà xuất bản chính trị quốc gia
22. Khoa Chủ Nghĩa Xã Hội Khoa Học [10/2009]: Đề cương bài giảng tác phẩm kinh điển Mác – Ăngghen về chủ nghĩa xã hội khoa học, Học Viện Báo Chí Và Tuyên Truyền, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề cương bài giảng tác phẩm kinh điển Mác – Ăngghen về chủ nghĩa xã hội khoa học
23. Khoa chủ nghĩa xã hội khoa học [2011]: Giới thiệu một số tác phẩm kinh điển của Lênin về CNXHKH, Học viện Báo chí và Tuyên Truyền, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giới thiệu một số tác phẩm kinh điển của Lênin về CNXHKH
24. Khoa Chủ Nghĩa Xã Hội Khoa Học [5/2007]: Giáo trình Chủ nghĩa xã hội khoa học (lưu hành nội bộ), Học Viện Báo Chí Và Tuyên truyền, Hà Nội 25. Bùi Thị Ngọc Lan, Phát triển nguồn nhân lực chất lược cao, Tạp chí Bảohiểm xã hội, số 6B/2009 (132) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Chủ nghĩa xã hội khoa học" (lưu hành nội bộ), Học Viện Báo Chí Và Tuyên truyền, Hà Nội 25. Bùi Thị Ngọc Lan, "Phát triển nguồn nhân lực chất lược cao
26. Bùi Thị Ngọc Lan [2011]: Đại hội XI với vấn đề phát triển nguồn nhân lực, Tạp chí của Ban tuyên giáo Trung ương, số 4/2011, tr 25 -28 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại hội XI với vấn đề phát triển nguồn nhân lực

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w