Xuất phát từ những lợi thế đó, và để phát huy mọi tiềm năng của biển, cũng như đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội, bảo vệ chủ quyền an ninh và môi trường biển, Hội nghị trung ương
Trang 1HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
Trang 2XÁC NHẬN LUẬN VĂN ĐÃ ĐƯỢC SỬA CHỮA
Luận văn đã được chỉnh sửa theo khuyến nghị của Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ
Hà Nội, ngày tháng 11 năm 2015
CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG
TS Đồng Văn Phường
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Luận văn được hoàn thành dưới sự hướng dẫn của TS Trần Thị Ngọc Nga Các số liệu, tài liệu trong luận văn là hoàn toàn đáng tin cậy
Hà Nội, ngày……tháng… năm 2015 TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Trang 4DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Cơ cấu sản lượng khai thác thủy sản huyện Hậu Lộc 2011 – 2014 52 Bảng 2.2: Tổng giá trị khai thác thủy sản huyện Hậu Lộc 2011 – 2014 53 Bảng 2.3: Cơ cấu sản lượng nuôi trồng thủy sản huyện Hậu Lộc 2011 – 2014 55 Bảng 2.4: Tổng giá trị sản lượng nuôi trồng thủy sản huyện Hậu Lộc
2011 – 2014 57 Bảng 2.5: Cơ cấu sản lượng chế biến thủy sản huyện Hậu Lộc 2011 – 2014 58 Bảng 2.6: Tổng sản lượng và tổng giá trị ngành thủy sản huyện Hậu Lộc
2011 – 2014 59 Bảng 2.7: Kết quả hoạt động sản xuất muối huyện Hậu Lộc 60 Bảng 2.8: Cơ cấu sản lượng khai thác thủy sản huyện Hoằng Hóa 2011 – 2014 63 Bảng 2.9: Diện tích nuôi trồng thủy sản huyện Hoằng Hóa 2011-2014 65 Bảng 2.10 Tổng sản lượng và năng suất nuôi trồng thủy sản huyện Hoằng Hóa giai đoạn 2011-2014 65 Bảng 2.11: Cơ cấu sản lượng chế biến thủy sản huyện Hoằng Hóa giai đoạn 2011-2014 66 Bảng 2.12: Kết quả hoạt động ngành du lịch biển huyện Hoằng Hóa giai đoạn 2012-2014 70 Bảng 2.13 : Kết quả hoạt động nuôi trồng thủy sản huyện Quảng Xương giai đoạn 2011-2014 73 Bảng 2.14: Kết quả hoạt động du lịch biển huyện Quảng Xương giai đoạn
2011 – 2014 75
DANH MỤC BIỂU
Biểu đồ 2.1: Tốc độ tăng trưởng sản lượng thủy sản huyện Hậu Lộc 2011 – 2014 52 Biểu đồ 2.2: Tốc độ tăng trưởng sản lượng nuôi trồng thủy sản huyện Hậu Lộc 2011 – 2014 56 Biểu đồ 2.3: Tốc độ tăng trưởng sản lượng khai thác thủy sản huyện Hoằng Hóa giai đoạn 2011 – 2014 64
Trang 5MỤC LUC
MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ KINH TẾ BIỂN 7
1.1 Khái niệm, cơ cấu và đặc điểm của kinh tế biển 7 1.2 Nội dung, vai trò và nhân tố ảnh hưởng đến phát triển kinh tế biển 17 1.3 Kinh nghiệm phát triển kinh tế biển ở một số địa phương 31
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ BIỂN Ở CÁC HUYỆN VEN BIỂN TỈNH THANH HÓA GIAI ĐOẠN 2011 – 2014 41
2.1 Khái quát đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội ảnh hưởng đến phát triển kinh tế biển 41 2.2 Thực trạng phát triển kinh tế biển ở các huyện ven biển tỉnh Thanh Hóa 49 2.3 Đánh giá chung 76
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN KINH
TẾ BIỂN Ở CÁC HUYỆN VEN BIỂN TỈNH THANH HÓA ĐẾN NĂM
2020 83
3.1 Phương hướng phát triển kinh tế biển các huyện ven biển tỉnh Thanh Hóa 83 3.2 Giải pháp tiếp tục phát triển kinh tế biển ở các huyện ven biển tỉnh Thanh Hóa 86
KẾT LUẬN 100 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 102
Trang 6DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
ĐVT : Đơn vị tính
FAO : Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc HĐND : Hội đồng nhân dân
NN & PTNN : Nông nghiệp và phát triển nông thôn
UBND : Uỷ ban nhân dân
VH-TT&DL : Văn hóa – thể thao và du lịch
VSANTP : Vệ sinh an toàn thực phẩm
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam là quốc gia có bờ biển dài hơn 3200 kilômét bao lấy lãnh thổ
ở cả ba hướng: Đông, Nam và Tây Nam, trung bình cứ khoảng 100 km2 đất liền thì có 1 bờ biển, không một nơi nào trên lãnh thổ Việt Nam lại cách xa biển hơn 500 km Vì vậy, từ trước đến nay, biển luôn gắn bó mật thiết và ảnh hưởng tới mọi miền của tổ quốc Đặc biệt, với vị trí địa lý thuận lợi nằm trên đường hàng hải quốc tế, có cảng biển sâu, có 1 triệu km2 vùng biển kinh tế đặc quyền rộng gấp 3 lần diện tích đất liền, có vị trí địa chính trị hết sức quan trọng với hơn 3000 hòn đảo,… thì biển cũng như phát triển kinh tế biển càng đóng vai trò to lớn và ảnh hưởng sâu rộng đến mọi mặt của đời sống kinh tế -
xã hội ở nước ta
Xuất phát từ những lợi thế đó, và để phát huy mọi tiềm năng của biển, cũng như đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội, bảo vệ chủ quyền an ninh
và môi trường biển, Hội nghị trung ương 4 (khóa X) đã thông qua nghị quyết
số 09 – NQ/TW ngày 9/2/2007 về “Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020”, trong đó đã đề ra mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia mạnh từ biển, giàu lên từ biển, bảo đảm vững chắc chủ quyền, quyền chủ quyền quốc gia trên biển, đảo, góp phần quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, làm cho đất nước giàu mạnh Cho đến nay, Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020 đã và đang được triển khai ở các tỉnh thành có biển trên
cả nước, trong đó có Thanh Hóa
Thanh Hóa nằm ở cực Bắc miền trung, cách thủ đô Hà Nội 150 km về phía Nam, cách thành phố Hồ Chí Minh 1560 km Thanh Hóa có 102 km bờ biển và vùng lãnh hải rộng 17000 km2 với những bãi cá, bãi tôm có trữ lượng lớn Bờ biển Thanh Hóa trải dài trên 5 huyện (Hậu Lộc, Nga Sơn, Hoằng Hóa, Quảng Xương, Tĩnh Gia) và 1 thị xã (Sầm Sơn) với những lợi thế và tiềm
Trang 8năng phong phú Do đó, phát triển kinh tế biển ở các huyện, thị xã này đóng một vai trò vô cùng quan trọng và ảnh hưởng lớn đến các lĩnh vực kinh tế xã hội của tỉnh nói chung và mỗi vùng nói riêng
Trong những năm qua, các vùng ven biển của tỉnh Thanh Hóa đều chú trọng phát triển nhiều lĩnh vực của kinh tế biển như nuôi trồng và đánh bắt thủy, hải sản; vận tải biển, cảng biển; du lịch; làm muối… Có thể nói, với mỗi ngành nghề, các huyện đều đã có những đầu tư nhất định về mọi mặt và đạt được nhiều thành quả đáng khích lệ, không chỉ góp phần đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng GDP của tỉnh mà còn nâng cao mức thu nhập hàng năm của người dân, cải thiện rõ rệt đời sống vật chất, tinh thần của ngư dân… Do đó, trong thời gian tới, chúng ta cần phải có những giải pháp và chiến lược thích hợp nhằm khai thác tối đa nguồn lợi từ biển đem lại
Bên cạnh những thành quả đã đạt được, kinh tế biển với nhiều ngành nghề khác nhau ở mỗi địa phương cũng đang gặp phải những khó khăn nhất định về chiến lược, về vốn, về kỹ thuật, về nhân lực… Và những khó khăn này nếu không có giải pháp khắc phục thì không chỉ thành quả đạt được không tương xứng với tiềm năng vốn có của biển, mà thậm chí còn ảnh hưởng
và gây ra những hệ lụy đến mọi mặt của đời sống kinh tế xã hội nói chung Chính vì vậy, phát triển kinh tế biển vừa có vai trò quan trọng, lại vừa là nhu cầu bức thiết đối với các vùng ven biển của tỉnh Thanh Hóa
Xuất phát từ tầm quan trọng và nhu cầu bức thiết đó, tôi xin lựa chọn
đề tài “Phát triển kinh tế biển các huyện ven biển tỉnh Thanh Hóa hiện nay” làm đề tài luận văn tốt nghiệp của mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Biển và phát triển kinh tế biển luôn là vấn đề được Đảng, Nhà nước, các cấp, các ngành cũng như nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu Từ
Trang 9trước đến nay, đã có nhiều công trình khoa học, đề tài nghiên cứu, các bài viết liên quan đến vấn đề phát triển kinh tế biển được công bố, cụ thể:
- Vũ Khánh Trường, Kinh tế biển ở Nghệ An trong quá trình hội nhập
kinh tế quốc tế, Luận văn thạc sỹ kinh tế, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí
Minh, 2009 Tác giả đã trình bày một cách khoa học những vấn đề lý luận về khái niệm, đặc điểm, vị trí, vai trò của kinh tế biển trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế Bên cạnh đó, tác giả cũng đã đưa ra một số khuynh hướng và kinh nghiệm phát triển kinh tế biển ở các địa phương khác Tiếp theo, tác giả tiến hành phân tích tiềm năng và thực trạng phát triển kinh tế biển ở tỉnh Nghệ An trong giai đoạn 2003 – 2008, từ đó đưa ra một số đánh giá chung về kết quả mà Nghệ An đã đạt được về lĩnh vực này Trên cơ sở phân tích lý luận
và thực trạng, tác giả đã đề xuất các giải pháp chủ yếu nhằm phát triển kinh tế biển ở Nghệ An đến năm 2015 trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
- Lê Minh Thông, Chính sách phát triển kinh tế ven biển tỉnh Thanh
Hóa, Luận án tiến sỹ kinh tế, 2010 Với công trình nghiên cứu này, tác giả đã
trình bày một hệ thống lý luận về kinh tế biển, kinh tế ven biển, chính sách phát triển kinh tế ven biển… Trên cơ sở phân tích thực trạng chính sách phát triển kinh tế ven biển ở tỉnh Thanh Hóa trong giai đoạn 2000 – 2010, tác giả
đã đưa ra những nhận xét đánh giá về thành tựu và hạn chế cũng như một số nguyên nhân của chính sách phát triển kinh tế ven biển mà tinh Thanh Hóa đã gặp phải Từ sự phân tích khoa học và khách quan về lý luận cũng như thực trạng của chính sách phát triển kinh tế biển ở tỉnh Thanh Hóa, tác giả đã đề xuất một số giải pháp và điều kiện để thực hiện giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của chính sách phát triển kinh tế ven biển tỉnh Thanh Hóa trong thời gian tiếp theo
- Nguyễn Đăng Chương, Kinh tế biển ở Thanh Hóa trong thời kỳ hội
nhập kinh tế quốc tế, Luận văn thạc sỹ kinh tế, Học viện Báo chí và Tuyên
Trang 10truyền, 2013 Trong luận văn này, tác giả đã trình bày một loạt các vấn đề lý luận sâu sắc như khái niệm, vị trí, vai trò của kinh tế biển; tác động của hội nhập kinh tế quốc tế đối với quá trình phát triển kinh tế biển ở nước ta; kinh nghiệm phát triển của một số nước và địa phương khác… Tiếp theo, tác giả cũng đã phân tích một cách khoa học những thành tựu và hạn chế (thực trạng) của hoạt động kinh tế biển ở Thanh Hóa thời kỳ 2008 – 2012 Trên cơ sở đó, tác giả đã đưa ra một số phương hướng và giải pháp chủ yếu nhằm phát triển kinh tế biển ở tỉnh Thanh Hóa đến năm 2020
- Nguyễn Thị Lương, Kinh tế biển góp phần xóa đói giảm nghèo ở
huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa, Luận văn thạc sỹ kinh tế, Học viện
Báo chí và Tuyên truyền, 2013 Với công trình nghiên cứu này, tác giả đã trình bày nhiều vấn đề lý luận về kinh tế biển và xóa đói giảm nghèo như khái niệm, vai trò của kinh tế biển, sự tác động của kinh tế biển đến vấn đề xóa đói giảm nghèo, kinh nghiệm của một số địa phương khác về vấn đề phát triển kinh tế biển để góp phần xóa đói giảm nghèo Đồng thời, tác giả cũng đã phân tích những điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của huyện Quảng Xương có ảnh hưởng đến quá trình xóa đói giảm nghèo của kinh tế biển; cũng như phân tích thực trạng của hoạt động kinh tế biển và xóa đói giảm nghèo ở huyện, từ đó đưa ra nhận xét đánh giá của bản thân về vấn đề này Cuối cùng, tác giả đã đưa ra phương hương và giải pháp nhằm thúc đẩy kinh tế biển phát triển nhằm góp phần xóa đói giảm nghèo ở huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa trong thời gian tiếp theo
Tóm lại, các công trình nghiên cứu nói trên đã phân tích một cách hệ thống và khoa học những vấn đề lý luận nói chung về kinh tế biển, kinh tế du lịch ở nhiều địa phương khác nhau Đồng thời, các tác giả cũng đã căn cứ vào thực trạng phát triển ở từng vùng mà đưa ra nhiều giải pháp thiết thực nhằm phát triển kinh tế biển và kinh tế du lịch Tuy nhiên, các công trình đó chủ yếu nghiên cứu kinh tế biển hay kinh tế du lịch của một tỉnh nói chung, hoặc có
Trang 11công trình đi vào phân tích kinh tế biển gắn với vấn đề xóa đói giảm nghèo, nhưng chưa có công trình nào tiến hành nghiên cứu về vấn đề phát triển kinh tế biển ở các huyện ven biển tỉnh Thanh Hóa Bên cạnh đó, tác giả tiến hành nghiên cứu kinh tế biển tỉnh Thanh Hoá với cách tiếp cận dưới góc độ kinh tế chính trị, tức là sự tác động qua lại giữa lực lượng sản xuất
- Nhiệm vụ:
+ Hệ thống hóa các quan niệm về kinh tế biển nhằm đưa ra quan niệm
cơ bản về kinh tế biển
+ Tiến hành khảo sát, đánh giá thực trạng phát triển kinh tế biển ở các huyện ven biển tỉnh Thanh Hóa nhằm phát hiện các vấn đề và nguyên nhân
+ Tiến hành luận chứng cho các giải pháp tác động có thể được áp dụng nhằm nâng cao hiệu quả phát triển kinh tế biển trong giai đoạn sau nghiên cứu
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
+ Thời gian: Từ 2011 đến nay
Trang 125 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
- Cơ sở lý luận:
Luận văn lấy chủ nghĩa Mác – Lênin và các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam làm cơ sở lý luận, kế thừa những lý luận về kinh tế biển của các tác giả đi trước…
- Phương pháp luận của đề tài là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử
Phương pháp nghiên cứu chủ đạo của đề tài này là phương pháp phân tích – tổng hợp Trong quá trình nghiên cứu, tôi sẽ chú ý kết hợp với phương pháp phương pháp thu thập và phân loại sơ bộ tài liệu, phương pháp đọc tài liệu và thu thập thông tin, phương pháp lược thuật, tổng thuật tài liệu trong khi xây dựng cơ
sở lý thuyết của đề tài và tiến hành đánh giá quá trình phát triển kinh tế biển của các huyện ven biển tỉnh Thanh Hóa trong thời gian qua
6 Đóng góp của luận văn
- Hệ thống hóa và làm sáng tỏ thêm những vấn đề lý luận về phát triển
kinh tế biển trong tình hình và điều kiện mới
- Khảo sát, đánh giá quá trình phát triển kinh tế biển, từ đó đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả phát triển kinh tế biển
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được chia thành 3 chương lớn:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn cơ bản về kinh tế biển Chương 2: Thực trạng phát triển kinh tế biển ở các huyện ven biển tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2011 - 2014
Chương 3: Phương hướng và giải pháp phát triển kinh tế biển ở các huyện ven biển tỉnh Thanh Hóa đến năm 2020
Trang 13CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ KINH TẾ BIỂN
1.1 Khái niệm, cơ cấu và đặc điểm của kinh tế biển
1.1.1 Khái niệm kinh tế biển và kinh tế ven biển
Kinh tế biển và kinh tế ven biển là các khái niệm với những nội dung khác nhau, việc phân định các khái niệm này sẽ giúp cho việc nghiên cứu được tiến hành rõ ràng và chính xác
Riêng ở Việt Nam, kể từ khi dựng nước cho đến nay, biển luôn là một thành phần không thể thiếu và đem lại nhiều lợi ích thiết thực kể cả trong việc chiến thắng ngoại xâm cho đến phát triển kinh tế Đặc biệt, trong những năm gần đây, khái niệm kinh tế biển đã trở thành một phạm trù quen thuộc nhưng
Trang 14Theo nghĩa rộng, kinh tế biển bao gồm những hoạt động kinh tế trực tiếp liên quan đến khai thác biển, tuy không phải diễn ra trên biển nhưng những hoạt động kinh tế này là nhờ vào yếu tố biển hoặc trực tiếp phục vụ các hoạt động kinh tế biển dải đất liền ven biển, đó là: một, đóng và sửa chữa tàu biển ( hoạt động này cũng có thể xếp vào chung lĩnh vực kinh tế hàng hải); hai, công nghiệp chế biến dầu khí; ba, công nghiệp chế biến thủy hải sản; bốn, cung cấp dịch vụ biển; năm, thông tin liên lạc biển (đài phát tín ven biển, hệ thống định vị); sáu, nghiên cứu khoa học, công nghệ biển, đào tạo nhân lực phục vụ phát triển kinh tế biển, điều tra cơ bản về tài nguyên – môi trường biển
Khái quát lại, có thể định nghĩa kinh tế biển như sau: Kinh tế biển là
một ngành kinh tế bao gồm nhiều phân ngành khác nhau trong tổng thể cơ cấu nền kinh tế quốc dân; các hoạt động kinh tế biển được diễn ra trên biển
và vùng ven biển để tạo ra của cải vật chất cho xã hội cũng như thu nhập cho người dân
Ở Việt Nam hiện nay, kinh tế biển bao gồm nhiều hoạt động đa dạng có mối liên hệ tác động qua lại lẫn nhau trong quá trình phát triển như vận tải biển, cảng biển; khai thác, nuôi trồng và chế biển thủy hải sản; khai thác dầu khí trên biển; du lịch biển; nghề làm muối; kinh tế hải đảo,… Mỗi hoạt động, mỗi phân ngành của kinh tế biển đều có những đặc điểm và vai trò khác nhau,
vì vậy, phát triển kinh tế biển đòi hỏi vừa phải có sự đồng bộ vừa phải có trọng tâm, trọng điểm trong từng thời kỳ, từng giai đoạn và từng địa phương
1.1.1.2 Kinh tế ven biển
Kinh tế ven biển là toàn bộ các hoạt động kinh tế ở dải ven biển, có thể tính theo địa bàn các xã ven biển, các huyện ven biển hoặc các tỉnh ven biển
và biên giới giáo đất liền tiếp giáp với biển
Kinh tế ven biển bao gồm các hoạt động kinh tế trong những lĩnh vực như: nông nghiệp (nông – lâm – ngư nghiệp), công nghiệp và dịch vụ diễn ra trên phạm vi địa bàn lãnh thổ này
Trang 151.1.2 Cơ cấu của kinh tế biển
Ở Việt Nam, cơ cấu kinh tế biển đã dần hình thành ngày càng hoàn chỉnh qua các thời đại từ xa xưa cho đến nay Lúc đầu, khi con người còn sống trong thời cổ đại, họ đã biết dử dụng tài nguyên biển cho đời sống hàng ngày, lợi dụng thủy triều để thực hiện giao thông thương mai, trồng trọt, đánh giạc ngoại xâm Sang thời kỳ phong kiến, kinh tế biển ngày càng được khai thác rộng và sâu hơn Thời Trần và Lý, nghề muối đã bắt đầu phát triển, bên cạnh đó là việc khai hoang vùng ven biển, đánh bắt cá và làm nước mắm cũng được thực hiện Vào thời nhà Nguyễn, việc giao thương qua các cửa khẩu được chú ý nhiều hơn, các đội thuyền được phát triển nhằm phục vụ kinh tế
và đảm bảo an ninh Một số đạo luật về khai thác phát triển kinh tế biển vùng ven biển đã được ban hành vào thời vua Minh Mạng Từ sau năm 1945, kinh
tế biển đã có những bước phát triển mới, song vẫn mang tính tự cấp, tự túc, các hoạt động chỉ diễn ra gần bờ với phương tiện thô sơ, chỉ tập trung vào nghề khai thác thủy sản Sau đó, với sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, nền kinh tế biển đã thực sự được đầu từ cả về chiều rộng và chiều sâu; đồng thời, cũng dần dần hình thành cơ cấu kinh tế biển hoàn chỉnh hơn
Cơ cấu kinh tế là tổng thể các ngành, lĩnh vực, bộ phận kinh tế có quan
hệ hữu cơ tương đối ổn định hợp thành Cơ cấu ngành kinh tế là một bộ phận cấu thành cơ bản của nền kinh tế quốc dân
Hiện nay, cơ cấu kinh tế biển Việt Nam bao gồm 5 thành phần chủ yếu sau: Một, kinh tế hàng hải (vận tải biển, dịch vụ cảng biển và công nghiệp đóng, sửa chữa tàu biển); hai, đánh bắt và nuôi trồng thủy hải sản; ba, công nghiệp dầu khí; bốn, nghề làm muối; năm, du lịch biển
1.1.2.1 Kinh tế hàng hải
Kinh tế hàng hải là một ngành chủ yếu và quan trọng trong các ngành kinh tế biển Kinh tế hàng hải bao gồm vận tải biển, dịch vụ cảng biển và công nghiệp đóng, sửa chữa tàu biển
Trang 16Kinh doanh vận tải biển là việc khai thác tàu biển của doanh nghiệp để vận chuyển hàng hóa, hành khách, hành lý trên các tuyến vận tải biển Cơ sở vật chất kỹ thuật của vận tải biển là các tuyến đường biển, cảng biển và các phương tiện vận chuyển Các tuyến đường biển là các tuyến đường nối hai hay nhiều cảng với nhau trên đó tàu biển hoạt động chở khách hoặc hàng hóa Khác với đường sông, đường sắt, đường bộ, đường biển là đường thiên nhiên, tương đối bằng phẳng, khả năng thông thương lớn, nhiều tàu thuyền có thể qua lại cùng lúc Cảng biển là nơi ra vào neo đậu của tàu biển, là nơi phục vụ tàu và hàng hóa trên tàu và là đầu mối giao thông quan trọng của một quốc gia có biển Phương tiện vận chuyển của vận tải biển chủ yếu là tàu biển Tàu biển có hai loại là tàu buôn và tàu quân sự, trong đó tàu buôn là những tàu biển được dùng vào mục đích kinh tế trong hàng hải Tàu chở hàng là loại tàu buôn chiếm tỷ lệ cao nhất trong đội tàu buôn Ngày nay, phương thức vận tải biển phổ biến nhất là vận tải container đường biển Đây là phương thức vận tài tiên tiến đã phát triển rất nhanh trên thế giới
Dịch vụ cảng biển bao gồm các loại dịch vụ như bốc xếp hàng hóa tại cảng, dịch vụ giao nhận ( hay dịch vụ logistic – là hoạt động thương mại, theo
đó thương nhân tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công việc bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên quan đến hàng hóa theo thỏa thuận khác với khách hàng
để hưởng thù lao – theo điều 233 Luật Thương mại), dịch vụ phục vụ khách
du lịch tại cảng,…
Công nghiệp đóng và sửa chữa tàu biển là ngành công nghiệp cung cấp phương tiện vận chuyển cho ngành vận tải đường biển Hoạt động chủ yếu của ngành này là đóng mới và sửa chữa tàu biển bị hư hỏng, bảo trì thường xuyên, định kỳ tàu biển để đảm bảo an toàn cho các phương tiện này trong
Trang 17quá trình sử dụng Sản phẩm của ngành là phương tiện vận tải sử dụng trên biển, phục vụ các hoạt động kinh tế
1.1.2.2 Đánh bắt, nuôi trồng và chế biến thủy hải sản
Đánh bắt và nuôi trồng thủy hải sản là một lĩnh vực trong hệ thống kinh
tế biển, đóng vai trò quan trọng đối với phát triển kinh tế nói chung và hỗ trợ cho các ngành kinh tế khác nói riêng Đặc biệt, cùng với ngành nông nghiệp
và lâm nghiệp, đánh bắt và nuôi trồng thủy hải sản đã góp phần cung cấp thực phẩm chủ yếu cho xã hội
Theo tổ chức FAO thì việc nuôi trồng thủy sản là nuôi các thủy sinh vật trong môi trường nước ngọt và lợ/mặn, bao gồm áp dụng các kỹ thuật vào qui trình nuôi nhằm nâng cao năng suất thuộc sở hữu cá nhân hay tập thể Trong
đó, nguồn lợi thủy sản là tài nguyên sinh vật trong vùng nước tự nhiên, có giá trị kinh tế, khoa học để phát triển nghề khai thác thủy sản, bảo tồn và phát triển nguồn lợi thủy sản
Hoạt động thủy sản là việc tiến hành khai thác, nuôi trồng, vận chuyển thủy sản khai thác; bảo quản, chế biến, mua bán, xuất khẩu, nhập khẩu thủy sản; dịch vụ trong hoạt động thủy sản, điều tra, bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản Khai thác thủy sản là việc khai thác nguồn lợi thủy sản trên biển, sông, hồ, đầm, phá và các vùng nước tự nhiên khác Ðất để nuôi trồng thủy sản là đất có mặt nước nội địa, bao gồm ao, hồ, đầm, phá, sông, ngòi, kênh, rạch; đất có mặt nước ven biển; đất bãi bồi ven sông, ven biển; bãi cát, cồn cát ven biển; đất sử dụng cho kinh tế trang trại; đất phi nông nghiệp có mặt nước được giao, cho thuê để nuôi trồng thủy sản Hầu hết các thủy sản là động thực vật hoang dã, nhưng nuôi trồng thủy sản đang gia tăng Canh tác có thể thực hiện ở ngay các vùng ven biển, chẳng hạn như với các trang trại hàu, nhưng hiện này vẫn thường canh tác trong vùng nước nội địa, trong các hồ, ao, bể chứa và các hình thức khác
Trang 18Biển Việt Nam có khoảng hơn 2000 loài hải sản, trong đó có khoảng hơn 130 loài hải sản khác nhau với trữ lượng là 3 triệu tấn, tiềm năng nuôi trồng thủy hải sản là rất lớn 1,7 triệu ha mặt nước nội địa, 300000 ha bãi biển,
400000 ha hồ chứa sông, suối nhỏ; 600000ha ao hồ nhỏ, rộng trũng và hàng trăm ngìn ha bồi ven biển có thể đưa vào nôi trồng thủy hải sản
Tại các địa phương có biển trên cả nước nói chung, hoạt động đánh bắt
và nuôi trồng thủy hải sản luôn được chú trọng và tạo điều kiện tối đa để đạt hiệu quả cao nhất Vì thế, ngành thủy sản ngày càng phát triển và tỷ trọng GDP của ngành đóng góp vào GDP của toàn quốc liên tục tăng qua các năm
Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X và Nghị quyết TW4 (khóa X) về chiến lược biển Việt Nam 2020 đã tiếp tục khẳng định ngành thủy sản là một ngành kinh tế mũi nhọn, có tiềm năng phát triển mạnh nhất là
về nuôi trồng, cần phấn đấu vươn lên hàng đầu trong khu vực
1.1.2.3 Công nghiệp dầu khí
Công nghiệp dầu khí bao gồm các hoạt động khai thác, chiết tách, lọc, vận chuyển (thường bằng các tàu dầu và đường ống), và tiếp thị các sản phẩm dầu mỏ Phần lớn các sản phẩm của ngành công nghiệp này là dầu nhiên liệu
và xăng Dầu mỏ là nguyên liệu thô dùng để sản xuất các sán phẩm hóa học như dược phẩm, dung môi, phân bón, thuốc trừ sâu và nhựa tổng hợp
Công nghiệp dầu khí là ngành kinh tế chủ lực trong kinh tế biển trong những năm qua, ngành dầu khí đã có nhiều đóng góp vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Hoạt động kinh doanh dầu khí ở nước ta đang từng bước được hiện đại hóa với hệ thống cơ sở vật chất – kỹ thuật tiên tiến Cho đến nay, ngành dầu khí đã được xây dựng và phát triển tương đối đồng bộ từ tìm kiếm, thăm dò, khai thác tới chế biến, phân phối và kinh doanh dịch vụ
Trang 191.1.2.4 Nghề làm muối
Việt Nam với chiều dài bờ biển hơn 3200 kilômét chạy dài khắp ba miền Bắc – Trung – Nam thì làm muối được coi là một ngành nghề có nhiều tiềm năng và cơ hội Đây là nghề truyền thống đã có từ rất lâu đời và được phát triển ở khắp các tỉnh có biển trên cả nước Tuy nhiên, do đặc thù ngành muối phụ thuộc quá nhiều vào tự nhiên nến có lúc mất mùa, lúc được mùa; đồng thời nghịch lý “được mùa mất giá, được giá mất mùa” cũng thương xuyên diễn ra trong ngành này Hơn nữa, do trình độ cũng như công nghệ sản xuất muối còn lạc hậu nên cả về số lượng và chất lượng muối đều không đáp ứng được nhu cầu trong nước Chính vì thế, hiện nay Việt Nam vẫn còn tình trạng nhập khẩu muối công nghiệp từ nước ngoài
Riêng trong năm 2014, tính đến tháng 11/2014, Báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn cho thấy giá trị nhập khẩu muối trong tháng
11 ước đạt 2 triệu USD, đưa giá trị nhập khẩu 11 tháng đầu năm 2014 lên 19 triệu USD, tăng 20,8% so với cùng kỳ năm trước Tuy nhiên, trong khi Việt Nam phải bỏ tiền để nhập khẩu muối công nghiệp về dùng thì nhiều nước giàu có như Mỹ, Nhật, Hàn Quốc lại tìm cách nhập khẩu muối biển sạch tự nhiên từ Việt Nam để phục vụ nhu cầu người tiêu dùng trong việc ăn, nêm, chế biến thực phẩm Hiện tại, sản phẩm muối của ta đã xuất khẩu sang một
số nước như Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Lào Trong đó xuất sang Mỹ bình quân 800 tấn/năm, Nhật gần 2.000 tấn/năm Tuy nhiên, ngành muối vẫn chưa thể đẩy mạnh xuất khẩu do còn nhiều tồn tại, đó là sản xuất muối vẫn chủ yếu thủ công, phụ thuộc chính vào những điều kiện thời tiết Hệ thống
cơ sở hạ tầng còn yếu kém nên phần lớn chỉ xuất muối thô để các nước nhập khẩu tinh chế lại
Đầu năm 2015, do diễn biến thời tiết phức tạp, không khí lạnh liên tục tràn về theo hướng từ biển vào, nền nhiệt độ các vùng muối cả nước xuống
Trang 20thấp, sương mù nhiều nên lượng muối sản xuất ra không nhiều tuy nhiên tình hình cung cầu muối vẫn ổn định, giá muối trên cả nước vẫn giữ ở mức hợp lý
Cụ thể, diện tích sản xuất muối cả nước ước đạt 14.814 ha, tăng 625 ha so với cùng kỳ 2014 Sản lượng muối đạt khoảng 12.688 tấn, giảm 41% so với cùng
kỳ 2014
Thực hiện ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Văn bản số 1815/TTg-KTN ngày 22/9/2014 về việc phê duyệt Quy hoạch phát triển sản xuất muối đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn có Quyết định số 4513/QĐ-BNN-CB ngày 21/10/2014 phê duyệt Quy hoạch phát triển sản xuất muối đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030 (thay thế cho Quyết định số 161/QĐ-TTg ngày 05/02/2007 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch phát triển sản xuất muối đến năm 2010 và năm 2020): Giữ ổn định diện tích sản xuất muối
là 14.500 ha, sản lượng muối đạt 2 triệu tấn (trong đó muối công nghiệp là 1,35 triệu tấn) vào năm 2020
Vùng sản xuất muối công nghiệp: Tập trung phát triển ở những nơi có điều kiện thuận lợi và có lợi thế sản xuất tập trung, quy mô lớn để hình thành vùng sản xuất muối công nghiệp và thực hiện cơ giới hóa sản xuất, nhất là khâu thu hoạch muối
Vùng sản xuất muối thủ công: Gắn chuyển dịch cơ cấu sản xuất với việc áp dụng tiến bộ khoa học công nghệ, nhằm giảm thiểu sự ảnh hưởng của thời tiết, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả trên đơn vị diện tích; giải quyết việc làm ổn định cho diêm dân, tăng tỷ lệ muối qua chế biến và đảm bảo an toàn thực phẩm
1.1.2.5 Du lịch biển
Việt Nam là một quốc gia có tiềm năng lớn về du lịch biển với hệ thống biển, đảo rộng khắp cả nước Ngành du lịch nói chung, du lịch biển nói riêng
Trang 21của nước ta ngày càng phát triển lớn mạnh đem lại giá trị lớn trong tổng thu nhập quốc dân
Dọc bờ biển Việt Nam đã có khoảng 125 bãi biển thuận lợi cho việc phát triển du lịch, trên 30 bãi biển đã được đầu tư và khai thác Trong đó, các khu vực biển có tiềm năng lớn đã đầu tư phát triển là vịnh Hạ Long – Hải Phòng – Cát Bà; Huế – Đà Nẵng – Quảng Nam; Vân Phong – Đại Lãnh – Nha Trang; Vũng Tàu – Long Hải – Côn Đảo; Hà Tiên – Phú Quốc; Phan Thiết – Mũi Né
Với địa thế nằm giữa hai trung tâm du lịch tàu biển lớn trong khu vực
là Hong Kong và Singapore, là quốc gia ổn định về chính trị với nền kinh tế đang phát triển, đặc biệt có lợi thế về bờ biển với nhiều di tích thiên nhiên, văn hóa được UNESCO công nhận… Việt Nam có rất nhiều lợi thế để phát triển du lịch tàu biển Các vùng biển, đảo và ven biển hiện thu hút rất nhiều khách du lịch, còn nhiều tiềm năng để phát triển nên từ đây đến năm 2020, cơ quan quản lý nhà nước sẽ có sự đầu tư mạnh mẽ về cơ sở hạ tầng, sản phẩm, quảng bá để đến năm 2020 thu nhập du lịch biển đạt trên 10 tỉ đô la Mỹ
Như vậy, kinh tế biển Việt Nam với 5 lĩnh vực: kinh tế hàng hải (vận tải biển, dịch vụ cảng biển và công nghiệp đóng, sửa chữa tàu biển), đánh bắt
và nuôi trồng thủy hải sản, công nghiệp dầu khí, nghề làm muối, du lịch biển
đã và đang ngày càng phát triển với những tiềm năng và đầu tư thiết thực
1.1.3 Đặc điểm của kinh tế biển
Kinh tế biển là một bộ phận quan trọng trong cơ cấu kinh tế ở nước ta hiện nay Và có thể khẳng định, chúng ta đã gặt hái được khá nhiều thành quả trong quá trình phát triển kinh tế biển, cũng như đã có những bước cải thiện lớn về tư duy, công nghệ và nhân lực của ngành Tuy nhiên, kinh tế biển luôn luôn biến động vì nhiều lý do khác nhau, điều này đòi hỏi chúng ta phải không ngừng đổi mới và sáng tạo trong tư duy, đường lối và cách làm Mà
Trang 22muốn đổi mới, muốn sáng tạo mà không đi sai hướng thì trước hết chúng ta cần phải nắm rõ những đặc điểm cơ bản của kinh tế biển như sau:
Thứ nhất, kinh tế biển là một bộ phận trong cơ cấu nền kinh tế quốc dân Cùng với những lĩnh vực kinh tế khác, kinh tế biển đang ngày càng khẳng định vị trí và vai trò quan trọng của mình trong nền kinh tế nước ta Nếu như không có kinh tế biển thì những ngành kinh tế khác cũng sẽ bị suy yếu và trì trệ, ngược lại, khi kinh tế biển phát triển sẽ kéo theo những ngành kinh tế khác cùng phát triển Do đó, chúng ta cần phải xác định được vị trí của kinh tế biển là một ngành kinh tế độc lập và mạnh mẽ như những ngành khác, chứ không phải chỉ bó hẹp trong phạm vi là một phần phụ trợ cho các lĩnh vực khác
Thứ hai, kinh tế biển là một lĩnh vực rộng lớn, bao gồm nhiều ngành nghề khác nhau Nếu như trước đây kinh tế biển chỉ bó hẹp trong phạm vị đánh bắt, vận chuyển, du lịch thì ngày nay kinh tế biển đã mở rộng ra các lĩnh vực như khai thác tài nguyên dưới đáy biển, năng lượng biển, công nghiệp xây dựng trên biển, bảo vệ mội trường biển,…
Thứ ba, kinh tế biển phụ thuộc rất lớn vào điều kiện tự nhiên Sự thay đổi của tự nhiên về thời tiết, khí hậu, thủy triều…sẽ ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực một cách rõ rệt tới các hoạt động kinh tế biển, đặc biệt là nghề làm muối, đánh bắt nuôi trồng thủy hải sản và du lịch biển
Thứ tư, các hoạt động kinh tế biển ảnh hưởng lớn và trực tiếp tới môi trường sinh thái Ngày nay, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, kinh tế biển cũng ngày càng được đầu tư và cải thiện rõ rệt, từ đó đem lại nguồn thu vô cùng lớn cho quốc gia Tuy nhiên, đi đôi với những đổi mới và phát triển đó chính là sự ô nhiễm môi trường sinh thái, ảnh hưởng lớn đến cuộc sống và sức khỏe của nhân dân, đặc biệt là người dân ven biển
Như vậy, đặc điểm của kinh tế biển có thể khái quát lại thành bốn điểm
cơ bản như trên Việc nghiên cứu đặc điểm của kinh tế biển sẽ góp phần giúp
Trang 23các nhà quản lý có những kiến thức nền tảng về lĩnh vực này Hơn nữa, trong quá trình tiến hành hoạch định và triển khai các giải pháp phát triển kinh tế biển chúng ta cũng cần phải xem xét và căn cứ vào các đặc điểm cơ bản để có hướng đi đúng đắn và chính xác
1.2 Nội dung, vai trò và nhân tố ảnh hưởng đến phát triển kinh tế biển
1.2.1 Nội dung phát triển kinh tế biển
Việc xác định nội dung phát triển kinh tế biển đóng vai trò đặc biệt quan trọng không thể thiếu trong quá trình thúc đẩy các hoạt động kinh tế biển đạt hiệu quả tối đa Ở Việt Nam hiện nay, phát triển kinh tế biển bao gồm những nội dung cơ bản sau:
Thứ nhất, nhận diện lợi thế để phát triển các ngành kinh tế biển
Việt Nam nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa ẩm, có đường bờ biển dài hơn 3260 km từ Móng Cái (Quảng Ninh) đến Hà Tiên (Kiên Giang), 1 triệu km2 vùng biển kinh tế đặc quyền rộng gấp 3 lần diện tích đất liền, có vị trí địa chính trị hết sức quan trọng với hơn 3.000 hòn đảo Cả nước có 28 tỉnh thành phố trực thuộc trung ương có biển (trong đó có 10 tỉnh và thành phố có hải đảo, quần đảo) với tổng diện tích 208.560 km2 chiếm 41% diện tích cả nước và 41,2 triệu dân chiếm gần một nửa dân số Việt Nam Trong vùng biển Việt Nam có trên 400 hòn đảo lớn nhỏ, là nơi có thể cung cấp các dịch vụ hậu cần cơ bản, trung chuyển sản phẩm khai thác, đánh bắt, đồng thời làm nơi neo đậu cho tàu thuyền trong những chuyến ra khơi; chủng loại sinh vật đa dạng và phong phú với khoảng 510 loài cá trong đó có nhiều loài có giá trị kinh tế cao
Sự ổn định chính trị - xã hội là nền tảng vững chắc tạo ra môi trường thuận lợi cho phát triển kinh tế xã hội, công cuộc đổi mới do Đảng lãnh đạo đang chuyển sang giai đoạn phát triển cao theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Nguồn lao động có kinh nghiệm đánh bắt và nuôi trồng, giá nhân công thấp hơn so với khu vực và thế giới
Trang 24Nhu cầu trên thế giới ngày càng tăng, thị trường ngày càng mở rộng Khoa học và công nghệ phát huy có tác dụng thúc đẩy phát triển sản xuất kinh doanh, có thể tạo ra các bước đột phá mới về giống, nguyên liệu, nhất là trong việc tạo luận cứ cho việc phát triển bền vững trong nhiều năm tới
Từ những đặc điểm trên, Việt Nam cần phát triển các ngành nghề kinh
tế biển trên ba phương diện: Một là khai thác vùng không gian biển (mặt biển, dưới biển và bầu trời trên biển); hai là khai thác vùng bờ biển (vùng duyên hải với các cảng biển, bãi biển, thành phố biển, khu kinh tế ven biển); ba là phát triển các lĩnh vực “hậu cần” cho kinh tế biển và các khu vực kết nối (các ngành phục vụ phát triển kinh tế biển, phát triển khoa học – công nghệ biển, nguồn nhân lực cho kinh tế biển, kết nối tuyến du lịch đất liền, v.v.)
Ba phương diện này hình thành các khâu liên tục của một chuỗi phát triển cho bất cứ ngành kinh tế biển cụ thể nào Thiếu một khâu bất kỳ nào, các ngành kinh tế biển cũng đều sẽ bị mất cân đối, khó vươn lên thành ngành hiện đại, hoạt động hiệu quả và có năng lực cạnh tranh quốc tế
Thứ hai, xây dựng kế hoạch phát triển các ngành kinh tế biển mà Việt Nam có lợi thế
Hội nghị lần thứ 4 ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá X) đã thông qua Nghị quyết số 09-NQ/TW ngày 09/2/2007 “Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020”, trong đó đã phấn đấu đến năm 2020 “kinh tế trên biển và ven biển đóng góp khoảng 53-55% tổng GDP của cả nước; xây dựng một số thương cảng quốc tế có tầm cỡ khu vực, hình thành một số tập đoàn kinh tế mạnh, sẽ xây dựng một số khu kinh tế mạnh ở ven biển”
Dựa trên những lợi thế về điều kiện tự nhiên, kinh tế - chính trị - xã hội nêu trên, đồng thời, cũng dựa trên tinh thần của Nghị quyết số 09, Việt Nam cần phải xây dựng một kế hoạch phát triển lâu dài, trong đó, trọng tâm chính
là chuyên môn hóa phát triển các phân ngành kinh tế biển căn cứ vào lợi thế
Trang 25của mỗi địa phương nhằm khai thác tối đa và hiệu quả nguồn tài nguyên biển
Cụ thể:
Đối với khu vực Bắc bộ mà trọng điểm là Hải Phòng – Quảng Ninh, chúng ta cần đẩy mạnh phát triển một số lĩnh vực sau: kinh tế hàng hải (vận tải biển, cảng biển và đóng, sửa chữa tàu biển), du lịch biển đảo và khai thác dầu khí, khoáng sản than
Đối với khu vực Trung bộ mà trọng điểm là Đà Nẵng, cần phải xây dựng chương trình tập trung phát triển các lĩnh vực: kinh tế hàng hải (vận tải biển, cảng biển và đóng, sửa chữa tàu biển), du lịch biển, khai thác khoáng sản ven biển (quặng sắt, titan cát thủy tinh) và công nghiệp chế biến dầu khí cũng như các sản phẩm dầu nói chung
Đối với khu vực Đông Nam bộ mà trọng điểm là Vũng Tàu, chúng ta cần tập trung vào các vấn đề như: xây dựng các khu công nghiệp tập trung, khu chế xuất dọc theo tuyến dựa trên cơ sở các nguyên liệu từ biển và lợi thế
về cảng biển sẽ tạo điều kiện cho các ngành công nghiệp chế biến, công nghiệp sản xuất hàng tiêu dung
Đối với khu vực Tây Nam bộ mà trọng điểm là huyện đảo Phú Quốc, trong giai đoạn tiếp theo, chúng ta cần phát triển toàn diện ngành hải sản, bao gồm cả khai thác, nuôi trồng, chế biến hải sản và hậu cần dịch vụ nghề cá ven biển, đưa thủy sản thành ngành kinh tế biển mũi nhọn của tiểu vùng và của cả nước; đồng thời, xây dựng Phú Quốc trở thành trung tâm giao thương quốc tế, trung tâm du lịch sinh thái đảo - biển của các nước và khu vực và thiết lập Đặc khu hành chính-kinh tế Phú Quốc
Thứ ba, tổ chức các nguồn lực để tập trung phát triển kinh tế biển Việt Nam
Sau khi xây dựng kế hoạch phát triển các ngành kinh tế biển dựa trên
cơ sở điều kiện và lợi thế của Việt Nam, chúng ta cần phải tập trung đầy đủ
Trang 26mọi nguồn lực để không ngừng đẩy mạnh các lĩnh vực kinh tế biển của từng khu vực
Đối với cấp trung ương, Nhà nước cần phải ban hành nhiều chính sách nhằm thu hút và tập trung nguồn vốn, nhân lực, tài nguyên và khoa học công nghệ như là: chính sách hỗ trợ về vốn cho ngư dân vay với lãi suất thấp, thủ tục vay vốn nhanh gọn, thời gian thu hồi vốn chậm; chính sách đào tạo, bồi dưỡng và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực để phục vụ cho quá trình phát triển các lĩnh vực kinh tế biển; chính sách thu hút nhân tài và phân bổ hợp lý nguồn nhân lực vào các vị trí khác nhau; chính sách bảo vệ và tái tạo tài nguyên thiên nhiên; xây dựng kế hoạch cải tiến và ứng dụng khoa học công nghệ vào các lĩnh vực kinh tế biển…
Đối với chính quyền địa phương cấp tỉnh, huyện cần phải quán triệt sâu sắc chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước, việc thực hiện luôn bảo đảm tính chính xác, khách quan Trên cơ sở đó ban hành các chương trình cụ thể phù hợp với điều kiện và lợi thế của địa phương mình như: đẩy mạnh tuyên truyền quảng bá về các sản phẩm có nhiều lợi thế của địa phương để xây dựng thương hiệu và mở rộng phạm vi tiêu thụ hàng hóa; tiến hành các giải pháp thực tế để thu hút đầu tư từ bên ngoài; hỗ trợ cho ngư dân vay vốn lãi suất thấp…
Đặc biệt, Nhà nước cùng với chính quyền địa phương và nhân dân ven biển phải có các biện pháp thiết thực đối với từng ngành nghề khác nhau, cụ thể như sau:
Một là đối với lĩnh vực khai thác, nuôi trồng và chế biến thủy hải sản: tiến hành đưa hàng loạt các tàu đánh bắt có công suất lớn ra khơi thay thế cho tàu công suất nhỏ trước đây, đồng thời, phải trang bị cơ sở vật chất và thông tin liên lạc hiện đại cho mỗi tàu thuyền; triển khai các chương trình hỗ trợ cho ngư dân vay vốn lái suất thấp, thời hạn dài khi nâng cấp hay đóng mới tàu thuyền; tiến hành nghiên cứu và ứng dụng khoa học kỹ thuật hiện đại vào
Trang 27nuôi trồng và chế biến thủy hải sản; xây dựng chương trình đào tạo, bồi dưỡng và nâng cao trình độ ngư dân cũng như các cán bộ chuyên môn về nuôi trồng, chế biến…
Hai là đối với lĩnh vực du lịch sinh thái biển và biển đảo: có thể nhận thấy rằng bờ biển đẹp cùng hàng trăm hòn đảo lớn nhỏ ở nước ta chính là cơ
sở và lợi thế góp phần làm cho ngành du lịch Việt Nam trở nên ngày càng lớn mạnh Do đó, để phát triển du lịch biển, trước tiến chúng ta cần phải có các chương trình hành động bảo vệ cảnh quan thiên nhiên và môi trường sinh thái; sau đó, mở rộng phạm vi và đẩy mạnh công tác tuyên truyền quảng bá về các khu du lịch của Việt Nam nói chung, các địa phương trên cả nước nói riêng; quy hoạch các vùng biển đẹp trở thành khu du lịch sinh thái; xây dựng
kế hoạch thu hút đầu tư từ bên ngoài,…
Ba là đối với kinh tế hàng hải bao gồm vận tải biển, dịch vụ cảng biển
và công nghiệp đóng, sửa chữa tàu biển Ở Việt Nam hiện nay có khoảng 50 cảng biển, kéo theo đó là các hoạt động vận tải và dịch vụ đang dần dần đem lại nhiều lợi nhuận; bên cạnh đó, công nghiệp đóng tàu cũng đóng vai trò hết sức quan trọng đối với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước
ta trong giai đoạn tới Chính vì vậy, đầu tiên, Nhà nước cũng như chính quyền địa phương cần tiến hành nhanh và chuẩn việc tái cơ cấu ngành công nghiệp tàu thủy nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp nhà nước Sau đó, phải đẩy mạnh nghiên cứu, chuyển giao và ứng dụng khoa học công nghệ vào lĩnh vực này Cuối cùng, cần thực hiện các chính sách ưu đãi để thu hút vốn đầu tư từ trong và ngoài nước để tạo nguồn ngân sách lớn mạnh cho việc tiến hành các hoạt động đóng tàu công suất lớn, tàu viễn dương,…
Bốn là đối với phân ngành công nghiệp dầu khí của Việt Nam Công nghiệp dầu khí bao gồm các hoạt động khai thác, chiết tách, lọc, vận chuyển (thường bằng các tàu dầu và đường ống), và tiếp thị các sản phẩm dầu mỏ
Trang 28Đây được coi là tiền đề cho nhiều ngành công nghiệp mới của Việt Nam Tuy nhiên, dù đã hình thành từ sau năm 1954 song đến nay công nghiệp dầu khí mới chỉ đạt được một số thành quả nhất định như sự ra đời và phát triển của Nhà máy lọc dầu Dung Quất với việc ứng dụng công nghệ hóa dầu đầu tiên ở Việt Nam đáp ứng được khoảng 50% nhu cầu trong nước
Trong giai đoạn từ nay đến 2020, cùng với mục tiêu phấn đấu đưa Việt Nam trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại thì ngành công nghiệp dầu khí cũng phải có những bước tiến vượt bậc Chính vì vậy, chúng ta cần đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu và ứng dụng khoa học công nghệ vào ngành này, cần phải xây dựng một chương trình triển khai có bước đi, có lộ trình và phải quyết liệt
Khái quát lại, nội dung phát triển kinh tế biển ở Việt Nam chính là: nhận diện lợi thế về biển của quốc gia cũng như mỗi địa phương, trên cơ sở
đó xây dựng chương trình, kế hoạch phát triển cho từng vùng với những lĩnh vực trọng tâm khác nhau; sau khi xác định được vùng nào phát triển cái gì thì chúng ta tiến hành triển khai các biện pháp cụ thể nhằm tập trung toàn bộ nguồn lực cho sự phát triển của kinh tế biển
1.2.2 Vai trò của kinh tế biển
Đối với Việt Nam, kinh tế biển đóng vai trò đặc biệt quan trọng và không thể thiếu trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước hiện nay Vai trò của kinh tế biển thể hiện rõ nhất và sâu sắc nhất ở ba nội dung sau đây:
1.2.2.1 Thúc đẩy phát triển các ngành kinh tế khác, đặc biệt là công nghiệp
Sự phát triển của kinh tế biển đã góp phần đẩy mạnh các lĩnh vực kinh
tế khác ngày càng phát triển như là nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ Đối với ba ngành kinh tế cơ bản này, nhìn chung kinh tế biển có các tác dụng như cung cấp thực phẩm, dịch vụ vận tải và các khu du lịch biển
Trang 29Đặc biệt, vai trò to lớn của kinh tế biển được thể hiện rõ nhất và mạnh nhất ở lĩnh vực công nghiệp, đó là phát triển giao thông vận tải, dầu khí, điện lực và khai thác khoảng sản Cụ thể như sau:
Thứ nhất, phát triển giao thông nối liền với nhiều quốc gia nhất và có chi phí vận tải thấp nhất nhưng lại có thể đáp ứng khối lượng vận tải lớn nhất Vì vậy, chính vận tải biển phát triển đã thúc đẩy thương mại các quốc gia, ngày càng trở lên có hiệu quả Phát triển vận tải biển thúc đẩy quá trình xuất nhập khẩu hàng hoá, là động lực thúc đẩy phát triển công nghiệp
Trong sản xuất công nghiệp, chi phí cho vận tải nguyên vật liệu, hàng hoá chiếm tỷ trọng lớn, nhất là khi phải vận chuyển xa từ quốc gia này đến quốc gia khác, thậm chí từ châu lục này tới châu lục khác Vận tải bằng đường biển hầu như không phải làm đường mà chỉ xây dựng cảng và mua sắm phương tiện vận tải
Có thể nói, chính nhờ có hệ thống giao thông biển mà các trung tâm công nghiệp lớn của đất nước đã hình thành và phát triển như khu vực kinh tế trọng điểm Nam Bộ, Bắc Bộ gắn liền với cụm cảng Sài Gòn và Hải Phòng Chính nhờ có cảng biển nên đã tạo ra lợi thế cạnh tranh hoặc xuất khẩu nông lâm thuỷ sản chế biến
Thứ hai, phát huy lợi thế phát triển ngành dầu khí và điện lực
Ngành Dầu khí ngày nay đã trở thành một trong những ngành chủ lực
của Việt Nam, là ngành xuất khẩu hàng đầu của đất nước (hơn ba tỷ USD hàng năm), gắn liền với kinh tế biển Gần như toàn bộ trữ lượng dầu khí của nước ta nằm trong thềm lục địa Nhờ có nguồn dầu khí khai thác, chúng ta có thể phát triển công nghiệp điện lực, hoá chất (phân bón và hóa dầu) với quy
mô lớn Các cơ sở công nghiệp này đều gắn liền với các vùng ven biển như khu khí điện đạm Phú Mỹ, Cà Mau; khu lọc hoá dầu Dung Quất, Nghi Sơn Đặc biệt, nhờ có khai thác công mà các ngành công nghiệp và dịch vụ tại tỉnh
Trang 30Bà Rịa - Vũng Tàu đã phát triển nhanh trong thời gian vừa qua Trong tương lai, khi các nguồn điện sơ cấp cạn kiện thì việc phát triển phong điện và điện nguyên tử dọc bờ biển sẽ đóng vai trò vô cùng quan trọng trong công nghiệp
Biển cung cấp ngày càng nhiều và đa dạng các loại nguyên liệu cho công nghiệp chế biến như: cá, tôm, cua, sò, mực, rong, ngọc trai… dưới dạng đánh bắt tự nhiên và nuôi trồng
Thứ ba, phát triển kinh tế biển gắn với khai thác khoáng sản khác
Dọc dải bờ biển nước ta có nhiều sa khoáng kim loại, đáng kể nhất là các sa khoáng ilmenit tập trung các vùng biển Hà Tĩnh, Thừa Thiên - Huế, Bình Định, Phú Yên, Ninh Thuận với tổng trữ lượng khoảng 10 triệu tấn Các khoáng vật đi kèm ilmenit là zircon, monaxit có giá trị kinh tế cao
Có thể nói, kinh tế biển ngày càng giữ vai trò quan trọng trong nền kinh
tế biển đã trở thành động lực thúc đẩy phát triển công nghiệp vì biển là cửa ngõ giao lưu với thế giới, tạo điều kiện cho công tác xuất nhập khẩu hàng hoá thuận lợi với chi phí thấp Trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực như hiện nay thì biển ngày càng đóng vai trò quan trọng trong việc tạo năng lực cạnh tranh của quốc gia và của ngành công nghiệp Ngoài ra, biển còn là nơi cung cấp nguyên liệu phong phú, đa dạng cho công nghiệp chế biến
1.2.2.2 Góp phần mở rộng giao lưu quốc tế và giữ vững độc lập chủ quyền
Với bờ biển dài hơn 3200 kilômét, Việt Nam có thể mở rộng giao lưu
về kinh tế, chính trị, xã hội và văn hóa với các nước bạn Hơn nữa, kinh tế biển phát triển không chỉ giúp cho chúng ta mở rộng hội nhập quốc tế mà còn góp phần giữ vững độc lập chủ quyền, đặc biệt là trên biển Đông
Biển với những tài nguyên khoáng sản giá trị luôn là miếng mồi béo bở cho tất cả các quốc gia trên thế giới, chính vì vậy, việc tranh chấp chủ quyền biển đảo luôn là vấn đề nóng và cấp bách đối với chúng ta Một khi kinh tế
Trang 31biển mở rộng và vững mạnh, chúng ta sẽ có nhiều cơ hội để khẳng định vị thế của mình trên trường quốc tế cả về kinh tế lẫn chính trị Do đó, đẩy mạnh đầu
tư và phát triển kinh tế biển là một vấn đề cấp bách và có ý nghĩa thiết thực đối với Việt Nam hiện nay Nếu như kinh tế biển của Việt Nam không phát triển thì việc mở rộng hội nhập cũng như giữ vững chủ quyền của chúng ta sẽ
bị hạn chế rất nhiều
1.2.2.3 Giải quyết việc làm và nâng cao thu nhập cho người dân
Kinh tế biển với các lĩnh vực như vận tải biển, cảng biển, nuôi trồng, đánh bắt thủy sản, nghề làm muối, du lịch… sẽ tạo ra nhiều cơ hội việc làm cho người dân ở khắp mọi miền của đất nước Do đó, khi kinh tế biển phát triển đồng thời cũng sẽ giải quyết vấn đề việc làm cho một bộ phận không nhỏ người dân, đặc biệt là người dân vùng ven biển
Nước ta có khoảng 1/3 dân số sinh sống ven biển, trong đó có 40% các hoạt động kinh tế liên quan đến biển Các cộng đồng dân cư ven biển là một tiềm năng lao động dồi dào của đất nước Chính vì vậy, kinh tế biển đóng vai trò rất quan trọng trong vấn đề giải quyết việc làm và nâng cao thu nhập cho người dân
1.2.3 Nhân tố ảnh hưởng đến phát triển kinh tế biển
Kinh tế biển là một trong những ngành kinh tế quan trọng của Việt Nam, việc phát triển ngành kinh tế này có ý nghĩa đặc biệt về cả mặt lý luận và thực tiễn trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước Mà để phát triển một lĩnh vực nói chung, cụ thể là kinh tế biển, chúng ta cần nghiên cứu chính xác các nhân tố ảnh hưởng đến nó để có hướng tác động phù hợp và hiệu quả nhất
Hiện nay, kinh tế biển của Việt Nam chịu sự tác động chủ yếu từ các yếu tố như: tài nguyên, tri thức, cơ chế, vốn, khoa học công nghệ, nhân lực, tình hình quốc tế,
Trang 321.2.3.1 Tài nguyên biển của Việt Nam
Vùng biển Việt Nam là một phần biển Đông với bờ biển dài 3.260km,
từ Quảng Ninh đến Kiên Giang, tức là cứ l00 km2 thì có l km bờ biển (trung bình của thế giới là 600km2 đất liền/1km bờ biển) gồm có những nguồn tài nguyên cơ bản sau:
Thứ nhất, tài nguyên sinh vật:
Biển Đông có nguồn tài nguyên sinh vật phong phú và đa dạng, có đến hơn 160.000 loài, gần 10.000 loài thực vật và 260 loài chim sống ở biển Trữ lượng các loài động vật ở biển ước tính khoảng 32,5 tỷ tấn, trong đó, các loài
cá chiếm 86% tổng trữ lượng
Vùng biển Việt Nam có hơn 2.458 loài cá, gồm nhiều bộ, họ khác nhau, trong đó có khoảng 110 loài có giá trị kinh tế cao Trữ lượng cá ở vùng biển nước ta khoảng 5 triệu tấn/năm, trữ lượng cá có thể đánh bắt hàng năm khoảng 2,3 triệu tấn Các loài động vật thân mềm ở Biển Đông có hơn 1.800 loài, trong đó có nhiều loài là thực phẩm được ưa thích, như: mực, hải sâm, Các loài chim biển ở nước ta vô cùng phong phú, gồm: hải âu, bồ nông, chim
rẽ, hải yến,
Ngoài động vật, biển còn cung cấp cho con người nhiều loại rong biển
có giá trị Đây là nguồn thực phẩm giàu dinh dưỡng và là nguồn dược liệu phong phú Biển nước ta có khoảng 638 loài rong biển Các loại rong biển dễ gây trồng, ít bị mất mùa và cho năng suất thu hoạch cao nên sẽ là nguồn thực phẩm quan trọng của loài ngườitrong tương lai
Thứ hai, tài nguyên phi sinh vật:
Dầu khí là tài nguyên lớn nhất ở thềm lục địa nước ta, có tầm chiến lược quan trọng Đến nay, chúng ta đã xác định được tổng tiềm năng dầu khí tại bể trầm tích: Sông Hồng, Phú Khánh, Nam Côn Sơn, Cửu Long, Malay - Thổ Chu, Tư Chính - Vũng Mây Trữ lượng dầu khí dự báo của toàn thềm lục
Trang 33địa Việt Nam khoảng 10 tỷ tấn quy dầu Ngoài dầu, Việt Nam còn có khí đốt với trữ lượng khai thác khoảng 3.000 tỷ m3/năm Trữ lượng đã được xác minh là gần 550 triệu tấn dầu và trên 610 tỷ m3 khí Trữ lượng khí đã được thẩm lượng, đang được khai thác và sẵn sàng để phát triển trong thời gian tới vào khoảng 400 tỷ m3
Ngoài ra, vùng biển nước ta nằm gọn trong phần phía Tây của vành đai quặng thiếc Thái Bình Dương, có trữ lượng thiếc lớn, và tiềm năng to lớn về quặng sa khoáng của các nguyên tố hiếm, có triển vọng băng cháy lớn
Thứ ba, tài nguyên giao thông vận tải:
Lãnh thổ nước ta có đường bờ biển chạy theo hướng Bắc - Nam dọc theo chiều dài đất nước, lại nằm kề trên các tuyến đường biển quốc tế quan trọng của thế giới, có những vụng sâu kín gió là điều kiện thuận lợi để phát triển giao thông vận tải biển và mở rộng giao lưu với bên ngoài Biển Đông được coi là con đường chiến lược về giao lưu và thương mại quốc tế giữa Ấn
Độ Dương và Thái Bình Dương, ở cả bốn phía đều có đường thông ra Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương qua các eo biển Từ các hải cảng ven biển của Việt Nam thông qua eo biển Ma-lắc-ca để đi đến Ấn Độ Dương, Trung Đông, Châu Âu, Châu Phi; qua eo biển Basi có thể đi vào Thái Bình Dương đến các cảng của Nhật Bản, Nga, Nam Mỹ và Bắc Mỹ; qua các eo biển giữa Phi-lip-pin, In-đô-nê-xia, Xin-ga-po đến Ôtx-trây-lia và Niu Di Lân
Hầu hết các nước trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương đều có các hoạt động thương mại hàng hải rất mạnh trên Biển Đông Trong tổng số 10 tuyến đường biển lớn nhất trên thế giới hiện nay, có 5 tuyến đi qua Biển Đông hoặc có liên quan đến Biển Đông
Thứ tư, tài nguyên du lịch:
Bờ biển dài có nhiều bãi cát, vịnh, hang động tự nhiên đẹp là tiềm năng
về du lịch lớn của nước ta Do đặc điểm kiến tạo khu vực, các dãy núi đá vôi
Trang 34vươn ra sát bờ biển tạo nhiều cảnh quan thiên nhiên sơn thủy rất đa dạng, nhiều vụng, vịnh, bãi cát trắng, hang động, các bán đảo và các đảo lớn nhỏ liên kết với nhau thành một quần thể du lịch hiếm có trên thế giới như di sản thiên nhiên Hạ Long được UNESCO xếp hạng
Hệ thống gần 82 hòn đảo ven bờ có diện tích trên 01 km2, trong đó 24 đảo có diện tích trên 10 km2 (10 - 320 km2), cách bờ không xa là những hệ sinh thái đảo hấp dẫn Ở đây không khí trong lành, nước biển trong và sạch, bãi cát trắng mịn Các thắng cảnh trên đất liền nổi tiếng như Phong Nha, Bích Động, Non Nước Các di tích lịch sử và văn hoá như Cố đô Huế, phố cổ Hội
An, Tháp Chàm, nhà thờ đá Phát Diệm, phân bố ngay ở vùng ven biển
Các trung tâm kinh tế thương mại, các thành phố du lịch nằm ven biển hoặc cách bờ biển không xa như Hạ Long, Hải Phòng, Vinh, Đà Nẵng, Quy Nhơn, Nha Trang, Vũng Tàu, Hà Tiên, Hà Nội, Sài Gòn, Hệ thống đường
bộ, đường xe lửa xuyên Việt và liên vận quốc tế chất lượng cao được xây dựng dọc bờ biển
1.2.3.2 Tri thức của con người
Nguồn tài nguyên là lợi thế quan trọng đầu tiên và không thể thiếu trong quá trình phát triển kinh tế biển, song đó mới chỉ là điều kiện cần, còn điều kiện đủ có vai trò quyết định lâu dài chính là tri thức của con người nói chung, của hệ thống cán bộ lãnh đạo các cấp nói riêng
Ngày nay, hầu hết các nước trên thế giới trong đó có Việt Nam đều đang dần tiến tới phát triển nền kinh tế tri thức Chính vì vậy, kinh tế biển cũng đòi hỏi có sự đầu tư lớn mạnh hàng đầu về nâng cao tri thức cho cán bộ các cấp và ngư dân vùng biển Khi tri thức được nâng cao thì trên cơ sở những điều kiện đã có, con người sẽ không ngừng sáng tạo, không ngừng cải tiến để thúc đấy quá trình phát triển của ngành kinh tế biển
Trang 35Chỉ có như vậy, Việt Nam nói chung, các tỉnh thành có biển nói riêng mới có thể không ngừng khai thác có hiệu quả bền vững nguồn tài nguyên biển Một khi tri thức không có, cho dù chúng ta có đủ lợi thế, đủ tài nguyên,
đủ vốn, đủ nhân lực thì với cách làm lối mòn, không hiệu quả sẽ dẫn đến cạn kiệt toàn bộ các nguồn lực đó
1.2.3.3 Cơ chế chính sách của Nhà nước
Trong giai đoạn hiện nay, Việt Nam đã và đang tiến hành xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, do đó, Nhà nước đóng vai trò đặc biệt quan trọng, vừa định hướng vừa điều tiết quá trình phát triển đất nước nói chung Điều này được thể hiện rõ trong hệ thống các cơ chế chính sách
mà Nhà nước ban hành
Sự tác động của các cơ chế chính sách đối với quá trình phát triển kinh
tế - xã hội nói chung chính là sự tác động hai chiều: hoặc là thúc đẩy hoặc là kìm hãm Do đó, đây là yếu tố có ảnh hướng lớn đến sự phát triển đất nước nói chung, phát triển ngành kinh tế biển của Việt Nam nói riêng
Đối với ngành kinh tế biển, Đảng và Nhà nước đã sớm có những chủ trương, chính sách đúng đắn và nhất quán đáp ứng nhu cầu thực tiễn Đại hội Đảng lần thứ X (năm 2006) khẳng định: “Phát triển mạnh kinh tế biển vừa toàn diện, vừa có trọng tâm, trọng điểm với những ngành lợi thế so sánh để đưa đất nước trở thành quốc gia mạnh về kinh tế biển gắn với đảm bảo quốc phòng, an ninh và hợp tác quốc tế” Từ các quan điểm chỉ đạo trên, Hội nghị lần thứ tư Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ X đã thông qua Nghị quyết về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020 với mục tiêu đến năm 2020 đưa nước ta trở thành quốc gia mạnh về biển, làm giàu từ biển
Với những kết quả đã đạt được trên các lĩnh vực của kinh tế biển Việt Nam tính từ năm 2007 đến nay, có thể khẳng định sự lãnh đạo, chỉ đạo đúng
Trang 36đắn và sự phù hợp, chính xác của hệ thống các cơ chế chính sách của Đảng và Nhà nước ta đối với phát triển kinh tế biển
1.2.3.4 Nhân lực, vốn và khoa học công nghệ
Nhân lực, vốn và khoa học công nghệ chính là những nguồn lực cơ bản tác động trực tiếp đến sự phát triển của kinh tế nói chung, kinh tế biển Việt Nam nói riêng
Thứ nhất, về nhân lực:
Nhân lực tức là người lao động bao gồm cả hai mặt trí lực và thể lực, đây là hai mặt thống nhất trong một cơ thể sống Chính vì vậy, việc phát triển đồng đều cả trí và thể của ngư dân sẽ góp phần thúc đẩy các hoạt động kinh tế biển đạt hiệu quả cao Ngược lại, nếu một trong hai mặt này, hoặc cả hai mặt này đều không được đầu tư cải thiện thì dù có nguồn tài nguyên phong phú cũng sẽ không có người tiến hành khai thác một cách hiệu quả nhất
Chính vì vậy, việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực chính là đòi hỏi cấp thiết và xuyên suốt trong quá trình phát triển kinh tế biển Việt Nam
Thứ hai, về vốn đầu tư:
Yếu tố tiếp theo ảnh hưởng tới sự phát triển của một ngành kinh tế nói chung, kinh tế biển nói riêng chính là vốn đầu tư Đây là yếu tố quan trọng, mang ý nghĩa thực tiễn cao đối với mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế
Việc thu hút vốn đầu tư cho các lĩnh vực kinh tế biển như thuỷ sản, vận tải biển, cảng biển, du lịch biển, dầu khí, nghề muối, là đòi hỏi cấp bách từ trong chính quá trình xây dựng và phát triển các ngành kinh tế biển của Việt Nam
Hiện nay, kinh tế biển nói riêng, cả nền kinh tế quốc dân của Việt Nam nói chung đều rơi vào tình trạng thiếu vốn đầu tư dẫn đến sự kìm kẹp, bó hẹp không thể phát huy hết những tiềm năng và lợi thế của chúng ta Bên cạnh đó, tình trạng đầu tư dàn trải, không đúng hướng cũng có tác động kìm hãm sự phát triển của ngành cũng như của nền kinh tế quốc dân
Trang 37Thứ ba, về khoa học công nghệ:
Hiện nay, khoa học công nghệ ngày càng phát triển như vũ bão, nếu chúng ta không theo kịp, không ứng dụng những công nghệ mới của thế giới vào sản xuất kinh doanh nói chung, vào các hoạt động kinh tế biển nói riêng thì chúng ta sẽ dần tụt hậu so với các nước khác Do đó, khoa học công nghệ
là một trong những yếu tố quan trọng hàng đầu đối với quá trình phát triển kinh tế biển của Việt Nam
1.2.3.5 Tình hình quốc tế
Vùng biển Việt Nam là một phần biển Đông, trong đó có 2 quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và 2.577 đảo lớn, nhỏ, gần và xa bờ, hợp thành phòng tuyến bảo vệ, kiểm soát và làm chủ vùng biển
Biển nước ta có vị trí chiến lược quan trọng: nối liền Thái Bình Dương với Ấn Độ Dương, châu Á với châu Âu, châu Úc với Trung Đông, cùng với tiềm năng lớn về tài nguyên thiên nhiên chính là những yếu tố khiến cho ngành kinh tế biển của Việt Nam trở thành lĩnh vực quan trọng và vấn đề tranh chấp trên biển trở thành vấn đề thực tiễn cấp bách
Chính vì vậy, tình hình quốc tế nói chung và các hoạt động liên quan đến biển của những quốc gia khác sẽ có ảnh hưởng hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp đến sự phát triển của các lĩnh vực kinh tế các biển Việt Nam
Tóm lại, kinh tế biển chịu sự tác động từ các nhân tố như tài nguyên, tri thức, cơ chế, vốn, công nghệ và tình hình quốc tế Việc nghiên cứu các nhân
tố này sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình đề ra chủ trương, giải pháp và cách tiến hành cụ thể cho từng lĩnh vực kinh tế biển của Việt Nam
1.3 Kinh nghiệm phát triển kinh tế biển ở một số địa phương
1.3.1 Kinh nghiệm phát triển kinh tế biển ở một số huyện thuộc Nghệ An và Nam Định
Việt Nam có 28 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có biển, với 125 huyện ven biển và 12 huyện đảo trải dài cả ba miền Bắc – Trung – Nam Mỗi
Trang 38tỉnh thành, huyện đảo đều có những đặc điểm và điều kiện khác nhau về tự nhiên, dân cư, tiềm năng biển,…, do đó, trong quá trình phát triển kinh tế biển, các địa phương cần phải căn cứ vào tình hình cụ thể đồng thời phải xem xét học hỏi kinh nghiệm phát triển từ những địa phương khác trên cả nước
1.3.1.1 Kinh nghiệm ở huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An
Nghi Lộc là một huyện đồng bằng lớn thứ 3 sau Quỳnh Lưu và Yên Thành (Nghệ An) Đây là huyện thuộc vùng khí hậu có những đặc điểm chung của khí hậu miền Trung nhiệt đới ẩm và gió mùa Huyện Nghi Lộc có 14km bờ biển, diện tích khoảng 12.000 km2 mặt biển tạo nên vùng bãi triều tương đối rộng, tập trung ở 7 xã: Nghi Yên, Nghi Tiến, Nghi Thái, Nghi Xuân, Nghi Quang, Nghi Thiết, Phúc Thọ Biển Nghi Lộc có tiềm năng lớn
để phát triển nuôi trồng các loại thuỷ sản như tôm, cua và các loại cá có giá trị kinh tế cao, khai thác phục vụ chế biến thuỷ sản, phát triển du lịch biển
Nghi Lộc không nhiều về tài nguyên khoáng sản, ít chủng loại, chủ yếu chỉ có nhóm làm vật liệu xây dựng và một ít kim loại màu Thế nhưng huyện
có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển du lịch biển, du lịch sinh thái, lịch
sử văn hoá và du lịch nghỉ dưỡng Bờ biển có nhiều bãi tắm đẹp và hấp dẫn như bãi Lữ, Bãi Tiền Phong (Nghi Tiến), Cửa Hiền, Núi Rồng (Nghi Thiết) nước và cát sạch, sóng không lớn, độ sâu thoải, độ mặn thích hợp và có vị trí thuận lợi về giao thông, môi trường thiên nhiên trong lành Hiện tại khu du lịch Bãi Lữ đã hoàn thành đưa vào khai thác và bước đầu phát huy hiệu quả
Bên cạnh đó, Nghi Lộc có mạng lưới giao thông thuận lợi như đường
bộ, đường sắt, đường thuỷ, có nhiều tuyến giao thông quan trọng chạy qua địa bàn huyện
Phát huy tiềm năng kinh tế biển, thời gian qua, cùng với những quan tâm đầu tư của cấp trên, huyện Nghi Lộc cũng đã có những cơ chế chính sách nhằm tạo đà cho ngành khai thác thủy sản phát triển Với hệ thống cửa sông,
Trang 39cửa biển phân bố đều là điều kiện thuận lợi để các địa phương tập trung phát triển nghề nuôi tôm Nhiều mô hình nuôi tôm thẻ chân trắng được vận dụng trên quy mô rộng và đầu tư lớn đem lại hiệu quả cao cho người dân Bên cạnh
đó, cá Hồng Mỹ, cá Vược cũng được người dân huyện Nghi Lộc lựa chọn bởi nhiều ưu điểm như: thích nghi tốt với biến động môi trường, lớn nhanh, chất lượng thịt cá thơm ngon, dễ bán Nhờ vậy, nhiều hộ gia đình đã thoát nghèo
và vươn lên làm giàu với mức thu nhập mỗi năm từ 400-700 triệu đồng/mô hình Để phong trào này có sức lan tỏa hiện nay Hội nông dân huyện tiếp tục phối hợp với Trung tâm hướng nghiệp dạy nghề và các ban ngành liên quan
mở các lớp tập huấn, hội thảo chuyển giao khoa học kỹ thuật trong sản xuất, kinh doanh và nuôi trồng thủy hải sản, nâng cao trình độ kiến thức tin học, internet cho hội viên, nhằm góp phần quảng bá sản phẩm ra diện rộng, đáp ứng nhu cầu của thị trường trong nước và phục vụ xuất khẩu
Ngoài ra, trên địa bàn huyện cũng đã có các cơ sở đóng tàu thuyền nhằm phục vụ hoạt động khai thác, đánh bắt hải sản Nhờ đó, vừa nâng cao hiệu quả kinh tế cho các chủ xưởng lại vừa giải quyết một phần lớn bộ phận người dân không có việc làm ổn định Điều đặc biệt là không chỉ làm giàu cho bản thân, các chủ cơ sở sản xuất, kinh doanh còn giúp đỡ tạo việc làm, trao đổi kinh nghiệm kiến thức cho bà con, tạo mối đoàn kết trong cộng đồng dân
cư, điển hình như cơ sở đóng tàu thuyền của Anh Hoàng Văn Lệ ở xã Nghi Thiết, Nhà hàng ăn uống nuôi trồng thủy sản của Anh Nguyễn Quốc Huy, xóm Khánh Trung xã Nghi Khánh, hàng năm tạo công ăn việc làm cho 30 lao động địa phương Thông qua các hoạt động trên đã góp phần cùng địa phương giảm tỷ lệ hộ nghèo toàn huyện xuống còn 9,2%
Ngành du lịch biển của huyện Nghi Lộc cũng được đầu tư và phát triển mạnh mẽ, nhất là tại Bãi Lữ Hiện nay có một khu resort lớn được xây dựng ở Bãi Lữ, gồm các khu biệt thự, khách sạn đạt tiêu chuẩn 4 sao và 5 sao Khu
Trang 40tắm biển được chia làm các khu như khu tắm thiếu nhi, khu tắm nghỉ dưỡng
và khu tắm tiên
Tóm lại, có thể thấy rằng Nghi Lộc không phải là một huyện có quá nhiều tiềm năng và lợi thế về biển, cũng không phải là một huyện có xuất phát điểm cao như một số huyện khác của tỉnh Nghệ An, thế nhưng, bằng các biện pháp thiết thực, bằng những chủ trương chính xác đã khuyến khích và thúc đẩy kinh tế biển của huyện không ngừng đi lên qua các năm
1.3.1.2 Kinh nghiệm ở huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An
Diễn Châu là huyện đồng bằng ven biển của tỉnh Nghệ An Diễn Châu
có 25 km bờ biển, chạy dài từ xã Diễn Trung ra đến Diễn Hùng tạo thành hình cánh cung lõm vào đất liền tạo thành một vĩnh nhỏ, một số người gọi đó là Vịnh Diễn Châu Thiên nhiên ban tặng cho Diễn Châu nhiều cảnh quan đẹp, khí hậu biển mát lành Biển Diễn Châu giàu hải sản, thềm lục địa bằng phẳng,
có bãi tắm và khu nghỉ mát Diễn Thành thuộc loại đất tốt trong khu vực miền Trung Vị trí địa lý và điều kiện thiên nhiên thuận lợi nên Diễn Châu quanh năm nhiều nắng, độ ẩm không khí cao (trên 80%), khí hậu mát mẻ (Nhiệt độ bình quân năm từ 22-25oC) Đây là điều kiện rất thuận tiện để phát triển kinh
tế - xã hội của địa phương
Có thể nói Diễn Châu là một huyện đặc trưng của Nghệ An làm giàu
từ biển, các tiềm năng biển đã được huyện khai thác một cách hiệu quả và ngày càng lớn mạnh Từ đó, không chỉ góp phần thúc đẩy kinh tế huyện phát triển mà còn nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống của người dân trên địa bàn huyện
Về việc khai thác hải sản, ngư dân Diễn Châu chú trọng đầu tư mua sắm máy móc trang thiết bị để vươn khơi Hiện toàn huyện có gần 1.500 chiếc tàu, thuyền to máy lớn được đầu tư mua sắm ngày càng nhiều, với trên 100 chiếc có công suất từ 90CV – 600CV Việc ngư dân đầu tư mua sắm máy