Những hạn chế của chế độ sở hữu đất đai hiện nay ở Việt Nam được bộ lộ ở tất cả các khâu của quá trình thực hiện quyền sở hữu như: thiếu nhất quán trong việc đưa quan hệ đất đai vận hành
Trang 1I Đặt vấn đề
Đất đai là yếu tố quan trọng hàng đầu cấu
thành môi trường sống, là tư liệu sản xuất,
tư liệu tiêu dùng đặc biệt quan trọng không
thể thay thế Quan hệ đấ t đai luôn được coi
là mối quan hệ mang tính nền tảng Ở cá c
nướ c phương Tây, quyề n sở hữu đố i vớ i đấ t
đai “được coi như một quyền cơ bản của con
người bởi nó bảo đảm cho sự tồn tại của một
nơi chốn cần thiết làm cơ sở cho khả năng
trở thành một công dân năng động và đầy
đủ” 1 Đố i vớ i cá c nướ c phương Đông, đất đai
ngoà i ý nghĩ a là tư liệu sản xuất, tư liệu tiêu
dùng còn là di sản lưu truyền giữa các thế hệ,
là sự tiếp nối truyền thống, là hương hỏa, là
tài sản chứa đựng các giá trị nhân văn Do
vậy, vấn đề sở hữu đất đai là vấn đề cơ bản
có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển kinh tế, xã
hội và cuộc sống của đại đa số dân cư
Theo quy định của Hiến pháp 1980 và Hiến
pháp 1992, đất đai ở Việt Nam thuộc sở hữu
toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lí Do
chỉ có một hình thức sở hữu duy nhất đối với
đất đai nên đất đai không thể là đối tượng lưu
thông trên thị trường Với tư cách chủ sở hữu,
Nhà nước phải trao quyền sử dụng đất cho
người sử dụng đất Phạm vi quyền này không
chỉ dừng lại ở việc khai thác, sử dụng, hưởng
hoa lợi mà còn bao gồm cả việc đưa quyền sử
* PGS- TS Hiệu trưởng Trường Đại học Luật TP
Hồ Chí Minh
1 Tim Murphy, Simon Roberts & Tatiana Flessas
(2004), Understanding Property Law, London Sweet
& Maxwell, tr 8
dụng đất vào giao dịch dân sự Đây có thể coi
là thành công của Việt Nam trong quá trình đưa quan hệ đất đai vận hành theo cơ chế thị trường trong điều kiện đất đai thuộc sở hữu toàn dân
Mặc dù đã đạt được những thành tựu to lớn, nhưng cơ chế thực hiện quyền sở hữu toàn dân đối với đất đai hiện nay ở Việt Nam
đã bộc lộ nhiều hạn chế gây ảnh hưởng xấu tới lợi ích của Nhà nước, của người dân đặc biệt là của những đối tượng dễ bị tổn thương
là hộ gia đình, cá nhân Những hạn chế của chế độ sở hữu đất đai hiện nay ở Việt Nam được bộ lộ ở tất cả các khâu của quá trình thực hiện quyền sở hữu như: thiếu nhất quán trong việc đưa quan hệ đất đai vận hành theo
cơ chế thị trường, việc điều phối đất đai còn mang nặng yếu tố hành chính, giá đất do Nhà nước quy định còn mang tính áp đặt và có khoảng cách quá lớn so với giá thị trường, quyền của người sử dụng đất chưa được đối
xử như một quyền tài sản nhất là trong lĩnh vực thu hồi đất, trong việc bảo vệ quyền này khi bị xâm phạm bởi hành vi của các cơ quan nhà nước với tư cách đại diện chủ sở hữu…
Từ những hạn chế này, đã đặt ra yêu cầu phải
có những giải pháp triệt để trong đổi mới chế
độ sở hữu đất đai và trước hết và trọng tâm
là trong sửa đổi Hiến pháp mà chúng ta đang tiến hành
II Các quan điểm khoa học về đổi mới chế độ sở hữu đất đai ở Việt Nam hiện nay
Các quan điểm khoa học về đổi mới chế
ĐỔI MỚI CHẾ ĐỘ SỞ HỮU ĐẤT ĐAI VỚI VẤN ĐỀ BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI TẠI VIỆT NAM
MAI HỒNG QUỲ *
Trang 2độ sở hữu đất đai ở Việt Nam hiện nay chủ
yếu tập trung vào hai hướng tiếp cận: (i) giữ
nguyên chế độ sở hữu toàn dân đối với đất
đai, đồng thời hoàn thiện cấu trúc nội dung
của quyền năng sở hữu, chủ thể tham gia
thực hiện quyền sở hữu (chủ sở hữu, người
quản lí, người sử dụng đất…), đổi mới
phương thức thực hiện quyền sở hữu; (ii) đa
dạng hóa các hình thức sở hữu đất đai theo
hướng thừa nhận hình thức sở hữu tư nhân,
sở hữu của cộng đồng dân cư, sở hữu tập thể
bên cạnh hình thức sở hữu nhà nước
Theo tôi, cả hai hướng tiếp cận trên đều
có những ưu điểm và hạn chế riêng Điều
quan trọng là cần phải làm rõ cơ sở lí luận
và thực tiễn, tính khả thi và đặc biệt là hệ
lụy về chính trị, kinh tế, xã hội của chúng,
cụ thể:
1 Về quan điểm giữ nguyên chế độ sở
hữu toàn dân đối với đất đai đồng thời hoàn
thiện cấu trúc nội dung của quyền năng sở
hữu, chủ thể tham gia thực hiện quyền sở
hữu, đổi mới phương thức thực hiện quyền
sở hữu
- Thứ nhất, đổi mới chế độ sở hữu đất
đai theo quan điểm này chính là tiếp tục
hoàn thiện cái mà chúng ta đang triển khai
áp dụng nên có ưu điểm ít gây xáo trộn, dễ
được chấp nhận về mặt chính trị, tư tưởng
và về mặt lí luận cũng như thực tiễn đã cho
thấy hoàn toàn không trái nguyên lí của kinh
tế thị trường cũng như các quan điểm, học
thuyết về quyền tài sản hiện đại
Theo các học thuyết về quyền tài sản đã
được thừa nhận rộng rãi, việc đất đai thuộc
sở hữu của ai không phải là vấn đề quan
trọng mà quan trong nhất chính là thực chất,
ai đang là người chi phối kiểm soát chúng
Xu hướng tiếp cận quyền sở hữu hiện nay
là tập trung vào cấu trúc của nó Việc tuyệt
đối hóa vai trò của hình thức sở hữu được
coi như một quan niệm lỗi thời Đánh giá về
việc đa dạng hóa các hình thức sở hữu đất
đai ở các nước XHCN Đông Âu trong quá
trình chuyển đổi cho thấy: “Thay vì tuyên
truyề n tư hữ u hó a là điề u kiệ n tiên quyế t cho
sự phá t triể n thì nay cấ u trú c củ a quyề n sở
hữ u mớ i thự c sự là kế t quả củ a sự tiế n hó a xã
hộ i Về phương diệ n nà y, tư hữ u hó a không thể tạ o ra mà chỉ dầ n hướ ng theo điề u kiệ n kinh tế , xã hộ i, phá p lý thí ch hợ p mà thôi”2
Trong khi đó: “Mô hì nh Nhà nướ c sở hữ u
đấ t đai nhưng giao quyền sử dụng đất cho tư nhân ở Việ t Nam có thể đượ c coi là mô hì nh
tố t mà cá c nướ c đang chuyể n đổ i sang nề n kinh tế thị trường cầ n phả i họ c tậ p và là m theo”3 Cùng với sự phát triển ấn tượng của Trung Quốc, các học giả phương tây cũng
phải thừa nhận: “việ c tư hữ u hó a đấ t đai
thậ t sự không phả i là không có thì không thể đượ c (condition sine qua non)”4
Mặt khác, khi nói về vấn đề sở hữu đất đai cũng cần lưu ý đất đai là tài nguyên thiên nhiên, là tặng vật mà tạo hóa ban tặng cho con người Chế độ tư hữu đối với đất đai, theo quan niệm của C Mác là điều vô lí 5 Ngày nay, quan điểm này tiếp tục được gia
cố bởi bởi các học thuyết hiện đại của các học giả tư sản 6
2 Peter Ho (2001), Who owns China’s land? cies, Property rights and Deliberate Institutional Am- biguity, The China Quarterly, tr 398
Poli-3 Đinh Trọ ng Thắ ng (2002), Sở hữ u tư nhân về đấ t đai hay về quyề n sử dụ ng đấ t đai: Kinh nghiệ m quố c
tế và mộ t và i liên hệ vớ i Việ t Nam, Tạ p chí Tà i chí nh, (07), (tr 47-50)
4 Peter Ho (2001), Who owns China’s land? cies, Property rights and Deliberate Institutional Am- biguity, The China Quarterly, tr 420
Poli-5 C.Má c (1963), Tư bả n, quyể n III, tậ p II, Nxb Sự thậ t, Hà Nộ i, tr 224
6 Trong cuốn Capitalism 3.0, Peter Barnes cho rằng, tài nguyên thiên nhiên phải thuộc sở hữu chung và cộng đồng cần phải giành lại quyền sở hữu tài nguyên
từ các công ty Theo công trình nghiên cứu đã đoạt giải Nobel kinh tế năm 2009, Elinor Ostrom cho rằng sở hữu tư nhân đối với tài nguyên thiên nhiên sẽ cản trở quyền tiếp cận chúng của đa số dân chúng và khẳng định tính ưu việt của mô hình tài nguyên thuộc sở hữu chung trên cơ sở phân bổ nguồn lực thông qua cấu trúc của quyền sở hữu.
Trang 3Mô hình đất đai thuộc sở hữu duy nhất
của Nhà nước ở Việt Nam hiện nay không
phải là cá biệt Ở các nước thuộc Vương
quốc Anh, đất đai vẫn thuộc sở hữu của
Nữ hoàng Người dân chỉ có quyền sử
dụng đất với ý nghĩa là một quyền năng
“gần giống như quyền sở hữu”7 và họ cũng
không đặt ra vấn đề phải thay đổi mô hình
sở hữu này
Hiến pháp 1980, 1992 quy định đất đai
thuộc sở hữu toàn dân không phủ nhận việc
đưa quan hệ đất đai vận hành theo quy luật
của kinh tế thị trường, không cản trở quyền
tiếp cận quyền tài sản đối với đất đai của
công chúng Thực tế ở Việt Nam cho thấy,
việc người dân có quyền sở hữu hay chỉ có
quyền sử dụng đất đai không phải là nhân
tố quyết định đến nội dung quyền năng đối
với đất đai của họ Trước Hiến pháp 1980,
pháp luật tuy thừa nhận nhiều hình thức sở
hữu đất đai (sở hữu toàn dân, sở hữu tập
thể, sở hữu tư nhân) nhưng lại nghiêm cấm
mọi hành vi mua bán, chuyển nhượng đất
đai, phát canh thu tô dưới mọi hình thức8
Trong khi đó, theo Hiến pháp 1992 và Luật
Đất đai 2003, mặc dù không có quyền sở
hữu đất đai nhưng người sử dụng đất lại
được chuyển nhượng, tặng cho, góp vốn,
cho thuê… quyền sử dụng đất Xét về nội
dung quyền năng, rõ ràng, quyền sử dụng
của người sử dụng đất hiện nay rộng và
đầy đủ hơn so với quyền sở hữu tư nhân
đối với đất đai trước kia
Thứ hai, nếu chúng ta đổi mới chế độ sở
hữu đất đai theo hướng tiếp cận này, cần
phải lưu ý các hệ lụy sau:
- Việc thực hiện quyền sở hữu toàn dân
đối với đất đai phải qua nhiều tầng cấp
dẫn đến sự mập mờ về khái niệm, thủ tục
7 Michel Fromont (2006), Các hệ thống pháp luật
trên thế giới, Nxb Tư pháp, Hà Nội, tr 216
8 Xem Quyế t đị nh 201- CP ngà y 01 thá ng 7 năm
- Khó phân định và tách bạch yếu tố tài sản và yếu tố quyền lực trong quan hệ đất đai dẫn đến tình trạng ‘hai trong một” khi Nhà nước tham gia quan hệ đất đai vừa với
tư cách là chủ sở hữu, vừa với tư cách là chủ thể của quyền lực công, sử dụng chính quyền lực công làm công cụ thực hiện quyền sở hữu Do vậy, tuy bản chất mối quan hệ giữa Nhà nước với người sử dụng đất là quan hệ tài sản nhưng lại không chứa đựng yếu tố song vụ mà mang tính bất đối xứng Tình trạng này sẽ làm cho quan hệ đất đai bị méo mó, biến dạng ảnh hưởng xấu tới quyền và lợi ích chính đáng của người sử dụng đất Thực tiễn thực hiện quyền sở hữu toàn dân đối với đất đai hiện nay ở Việt Nam cho thấy, hệ lụy này đã ảnh hưởng xấu đến nhận thức trong tiếp cận quyền tài sản đối với đất đai của người sử dụng đất Mặc dù quyền sử dụng đất của người sử dụng đất trong nhiều trường hợp được coi là quyền tài sản và được bảo vệ như quyền sở hữu nhưng về bản chất nó chỉ
là quyền mà Nhà nước trao cho người sử dụng và khi cần, Nhà nước có thể dùng tư cách chủ sở hữu để lấy lại thông qua hoạt động thu hồi, ấn định đơn giá bồi thường
áp đặt bằng những mệnh lệnh hành chính Nếu người sử dụng đất cho rằng, quyền sử dụng đất hợp pháp của mình đã bị xâm hại bởi quyết định hành chính, họ cũng không thể khởi kiện theo thủ tục tố tụng dân sự
mà phải khiếu nại đến chính cơ quan đã thực hiện hành vi xâm hại giống như việc khiếu nại những quyết định hành chính thông thường Trong khi đó, quyết định thu hồi đất, về bản chất, là quyết định được
Trang 4ban hành với tư cách đại diện: chủ sở hữu
(đất của Nhà nước thì Nhà nước mới được
thu hồi), yếu tố mệnh lệnh hành chính chỉ
là cái vỏ bên ngoài với ý nghĩa là công cụ
thực hiện quyền sở hữu;
- Hướng tiếp cận này làm nảy sinh tình
trạng thiếu đồng bộ giữa pháp luật đất đai
và pháp luật về tài sản gắn liền với đất,
tác động xấu đến quyền đối với tài sản gắn
liền với đất của tổ chức, cá nhân nhất là
trong giao dịch quyền sử dụng đất và tài
sản gắn liền với đất, trong việc xử lí đối
với tài sản gắn liền với đất khi Nhà nước
thu hồi đất…
2 Về quan điểm đa dạng hóa các hình
thức sở hữu đất đai
Ưu điểm của việc áp dụng quan điểm
này là giải quyết một phần những hạn chế
của chế độ sở hữu hiện hành như tạo sự
đồng bộ giữa pháp luật về đất đai với pháp
luật về tài sản gắn liền với đất, hạn chế
việc lạm dụng quyền lực nhà nước trong
quá trình thực hiện quyền sở hữu đối với
đất đai Tuy nhiên, bên cạnh những ưu
điểm, việc đa dạng hóa các hình thức sở
hữu đất đai chắc chắn hoặc có thể làm phát
sinh những vấn đề sau:
- Về hướng tiếp cận, nếu ta cho rằng
việc xác lập chế độ sở hữu toàn dân đối
với đất đai theo Hiến pháp 1980 là sai lầm
thì đó chính là sai lầm của việc tuyệt đối
hóa vai trò của hình thức sở hữu mà không
coi trọng cấu trúc nội dung và chủ thể thực
hiện quyền sở hữu Vậy việc sửa đổi sai
lầm này bằng cách thừa nhận nhiều hình
thức sở hữu đối với đất đai thực chất có
phải vẫn là sự lặp lại sai lầm theo hướng
tuyệt đối hóa vai trò của hình thức sở hữu?
- Việc đa dạng hóa các hình thức sở hữu
đất đai không phải là liều thuốc thần để thể
giải quyết hết các hạn chế của chế độ sở
hữu đất đai hiện nay như nhiều người đang
kì vọng Nếu có thừa nhận sở hữu tư nhân
đối với đất đai, chắc chắn Nhà nước cũng
chỉ thừa nhận ở một mức độ nhất định và phần lớn đất đai ở Việt Nam vẫn thuộc sở hữu nhà nước Đây là điều đương nhiên phải chấp nhận vì sở hữu tư nhân được đất đai không phải là nét đặc thù của Việt Nam
mà ngay ở các nước thừa nhận nhiều hình thức sở hữu đất đai thì phần lớn đất đai vẫn thuộc sở hữu nhà nước9 Và khi đó, quá trình thực hiện quyền sở hữu đối với đất đai thuộc
sở hữu nhà nước vẫn mang đầy đủ những nét đặc trưng, đặc thù của cơ chế hiện hành
- Hầu hết đất đai hiện nay ở Việt Nam đều đã có chủ sử dụng dưới nhiều hình thức khác nhau (giao đất có thu tiền sử dụng đất; giao đất không thu tiền sử dụng đất; thuê đất trả tiền thuê đất hàng năm; thuê đất trả tiền thuê đất một lần) Nguồn gốc của quyền sử dụng đất của họ cũng được xác lập bằng nhiều con đường (được Nhà nước giao đất, cho thuê đất; nhận chuyển quyền sử dụng đất; được Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất) Nếu thừa nhận quyền sở hữu tư nhân đối với đất đai thì công nhận cho đối tượng nào? bằng phương thức nào? Đây là bài toán không
dễ tìm ra lời giải thỏa đáng nhất là ở khía cạnh bảo đảm sự công bằng
- Việc công nhận sở hữu tư nhân đối với đất đai sẽ tạo ra sự xáo trộn và nguy
cơ “phục tích” trong sở hữu đất đai Về
khía cạnh này, tôi hoàn toàn thống nhất với
quan điểm: “Nhữ ng ý kiế n cho rằ ng có thể
tư hữ u hó a đấ t đai mà không gây nhữ ng
hậ u quả tai hạ i thực chất đã không lườ ng trướ c đượ c nhữ ng phả n ứ ng củ a xã hộ i
Do chí nh sá ch đấ t đai trong thờ i gian qua
có quá nhiều bất hợp lý và trong quá trình thực hiện những chính sách bất hợp lý đó lại phát sinh tình trạng áp dụng sai… tạ o
ra quá nhiề u biế n độ ng chủ thể sở hữ u, chủ thể sử dụ ng, khi quyề n sở hữ u tư nhân đượ c
9 Kevin Cahill (2006), Who owns the world: the hidden facts behind the landownership? Mainstream Publishing
Trang 5công nhậ n chắ c chắ n sẽ thổ i bù ng nên ý
thứ c về quyề n sở hữ u củ a nhữ ng chủ thể
đã bị quố c hữ u hó a nhất là những người
bị quốc hữu hóa sai đối tượng, không đúng
thủ tục theo quy định đương thời mà hiệ n
nay đang đượ c khỏa lấp bở i sở hữu toàn
dân Đa dạ ng hó a cá c hì nh thứ c sở hữ u
đấ t đai không đơn giả n là thừ a nhậ n mộ t
thự c tế đang tồ n tạ i mà sẽ tạ o ra là n só ng
đò i lạ i đấ t dẫ n đế n xá o trộ n hiệ n trạ ng sử
dụ ng đấ t đang dầ n đượ c ổ n đị nh về cơ bả n
Tì nh trạ ng nà y sẽ là rấ t khó kiể m soá t khi
- Trong điều kiện pháp luật còn chưa
hoàn thiện, cơ chế kiểm tra, giám sát việc
thi hành pháp luật còn nhiều hạn chế, nếu
thừa nhận sở hữu tư nhân đối với đất đai,
quá trình này sẽ rất khó kiểm soát một cách
hiệu quả và dễ bị lợi dụng để chuyển đất
công thành đất tư như đã có ý kiến quan
ngại: “xét trong bối cảnh thực tế, khi tình
trạng tham nhũng chưa được phòng chống
có hiệu quả, khi mà quyền kiểm tra,… nếu
lúc này ta tư hữu hóa đất đai, chắc chắn
sẽ không bảo đảm sự công bằng Quá trình
tư hữu hóa đất đai rất dễ sẽ trở thành quá
trình xác lập và hợp pháp hóa quyền sở hữu
đất đai được chiếm đoạt bởi tham nhũng
mà sau này, theo kinh nghiệm của các nước
Đông Âu, việc xem xét lại là điều gần như
không thể Ngoài ra, nếu tư hữu hóa đất đai,
việc xác lập quyền sở hữu chính đáng theo
quy định của pháp luật cũng sẽ phát sinh
nhiều tiêu cực, nhũng nhiễu”11
10 Phạm Văn Võ, Chế độ pháp lí về sở hữu đất đai
ở Việt Nam hiện nay, luận án tiến sĩ luật học, Trường
Đại học Luật TP Hồ Chí Minh, 2009, tr 176
11 Sđd, tr 181
III Kết luận
Những nội dụng đã phân tích nói trên cho thấy, việc đổi mới chế độ sở hữu đất đai ở Việt Nam hiện nay là vấn đề vô cùng phức tạp và khó khăn Khi lựa chọn hướng tiếp cận nào, cũng cần phải lường trước
hệ lụy của nó Nhiệm vụ của chúng ta lúc này là xem xét xem trong số các hệ lụy của từng hướng tiếp cận, hệ lụy nào có thể chấp nhận, có thể khắc phục để có sự lựa chọn dứt khoát trên cơ một vài lưu ý sau: (i) chế độ sở hữu không có mục đích tự thân mà chỉ là phương tiện thực hiện mục đích Vậy mục đích của việc xác lập chế
độ sở hữu đất đai hiện nay là gì? Và, để thực hiện mục đích đó, có nhất thiết phải
đa dạng hóa các hình thức sở hữu đất đai hay không?; (ii) cần có giải pháp đổi mới chế độ sở hữu đất đai một cách triệt để với mục tiêu, nguyên tắc và bước đi cụ thể, rõ ràng để có sự nhất quán trong hành động, tránh tình trạng nửa vời, mò mẫm, sai đâu sửa đó một cách chắp vá; (iii) dù chúng ta đổi mới quan hệ sở hữu đất đai theo hướng tiếp cận nào cũng cần phải đảm bảo đưa quan hệ đất đai vận hành theo cơ chế thị trường, bảo đảm quyền tài sản đối với đất đai của người dân với ý nghĩa là quyền dân
sự cơ bản; (iv) việc đổi mới chế độ sở hữu đất đai phải bảo đảm yêu cầu của quá trình hội nhập quốc tế, phải tôn trọng những đặc thù của quan hệ sở hữu đất đai, đặc thù của Việt Nam, tham khảo mô hình sở hữu đất đai, các quan điểm, các học thuyết về quyền tài sản trên thế giới..
Trang 6“Một bóng ma đang ám ảnh châu Âu: bóng
ma của chủ nghĩa cộng sản”, ấy là lời của Karl
Marx vĩ nhân viết trong Tuyên ngôn của Đảng
Cộng Sản năm 1848 Cũng trong tác phẩm ấy,
ông viết “những người cộng sản có thể tóm tắt
lý luận của mình thành một luận điểm duy nhất
là: xóa bỏ chế độ tư hữu” Hàng thế kỷ đã trôi
qua, ngày nay một bóng ma khác đang trùm lên
phố phường, đồng ruộng, rừng núi và bờ biển
của đất nước chúng ta Dưới bàn tay phù thủy
của thị trường, đất nước liền một dải đã biến hóa
thành hàng trăm triệu ô thửa riêng lẻ của những
ông chủ cũ và mới đang dần dần lộ diện Sở hữu
tư nhân đã quay trở lại, của công đang dần biến
thành tư Quá trình phi tập trung quyền tài sản ấy
khó mà cưỡng lại được, bởi quay trở lại với kinh
tế thị trường nghĩa là khuyến khích toàn dân nỗ
lực làm sinh sôi nảy nở quyền tư hữu, động lực
mạnh mẽ ấy tạo nên quốc gia giàu mạnh Bài
viết ngắn này lạm bàn về những quyền tài sản
đa tầng đối với đất đai ở Việt Nam
Tầm quan trọng của sở hữu đất đai: Sở
hữu đất đai có lẽ là phần trọng yếu nhất của luật
tài sản của mỗi quốc gia, bởi đất là nơi người
ta sống, canh tác, kinh doanh, đất là tư bản, là
của cải để dành, là di sản nối liền tiền nhân với
hậu thế Từ điền sản trong Quốc triều hình luật
tới vật quyền trong Dân luật 1931, không ngạc
nhiên các quy định về sở hữu đất đai chiếm phần
trang trọng bậc nhất trong các quy định về tài
sản Từ năm 1945 cho đến nay, mọi chính sách
kinh tế, thành hay bại, đều liên quan trực tiếp
đến chính sách đất đai “Người cày có ruộng” đã
là một chủ trương giúp Việt Minh trở thành một lực lượng lãnh đạo xã hội nông dân Việt Nam Thì cũng thế, “cải cách ruộng đất”, “kế hoạch hóa tập trung”, “cải tạo XHCN” và “quốc hữu hóa đất đai” đã đẩy quốc gia vào tình cảnh trì trệ Cùng tắc biến, “khoán 10”, tên gọi tắt thông dụng của Nghị quyết số 10/NQ-TW của Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam thông qua ngày 05/08/1988 đã dần trả lại quyền tự do canh tác cho nông dân trên mảnh đất của họ, sự tự do
ấy đã cứu quốc gia thoát khỏi hiểm họa kiệt quệ Luật Đất đai như một biên sử tỷ mỷ ghi lại một cách trung thành những biến đổi kinh tế và chính trị đầy máu và nước mắt trên đất nước chúng ta
Từ Luật Đất đai 1987, sửa đổi liên tục trong các năm 1993, 1998, 2003, trong hơn hai thập kỷ qua bốn đạo luật và hệ thống ngày càng phình rộng các văn bản dưới luật về đất đai đã góp phần làm cho 70 triệu mảnh ruộng của 14 triệu nông hộ, hàng trăm triệu ô thửa đất ở, đất kinh doanh và căn hộ của cá nhân, doanh nghiệp đã dần dần rõ chủ Minh định quyền định đoạt của các chủ nhân trên từng ô thửa đất có lẽ là một chủ đề đáng thảo luận bậc nhất trong chương chế độ kinh tế của Hiến pháp Nếu không muốn hời hợt, khó có thể né tránh thảo luận về chế độ
sở hữu đất đai trong bản Hiến pháp 1992
Tổng quan về sở hữu đất đai: Dù không biết tới một cách rạch ròi các quan niệm sở hữu và quyền định đoạt mang tính loại trừ, song trong Quốc triều hình luật, có thể nhận thấy hạt nhân của ba loại sở hữu về đất đai, bao gồm: Ruộng đất công (sở hữu nhà nước), ruộng đất của làng (sở hữu cộng đồng làng xã) và ruộng đất tư (sở hữu tư nhân của người dân) Khi du nhập dân
QUYỀN TÀI SẢN ĐA TẦNG ĐỐI VỚI ĐẤT ĐAI
ẨN SAU HIẾN PHÁP 1992
PHẠM DUY NGHĨA *
* PGS-TS Khoa Luật và Chương trình Fulbright,
ĐH Kinh tế Tp Hồ Chí Minh.
Trang 7luật Pháp, Dân luật Bắc Kỳ 1931 quy định sở
hữu đất đai thuộc cá nhân hoặc pháp nhân, trong
đó nhà nước, làng xã là những pháp nhân công1
Người ta cho rằng phải có một chủ thể pháp
luật, có đủ năng lực pháp luật và hành vi mới
có thể làm chủ nhân của một quyền tài sản Chủ
thể ấy được khái quát gọi là người, tức là một cá
nhân hoặc pháp nhân Hiến pháp 1946 và 1959
đều không tuyên bố quốc hữu hóa đất đai, duy
trì chế độ đa sở hữu về đất đai Từ năm 1980 cho
đến nay, đất đai được Hiến pháp tuyên bố thuộc
sở hữu toàn dân: Điều 19 Hiến pháp 1980, Điều
17 Hiến pháp 1992 Vì toàn dân không phải là
một chủ thể pháp luật, trên thực tế cần có một cơ
chế hành xử đại diện cho 87 triệu đồng bào
Với mong muốn làm cho sở hữu toàn dân
rõ chủ hơn, Bộ luật Dân sự (BLDS) 2005
quy định đất đai thuộc hình thức sở hữu nhà
nước, do Nhà nước thực hiện các quyền sở
hữu2 Bằng quy định này, Nhà nước trở thành
người đại diện cho toàn dân, từ chế độ sở hữu
toàn dân được diễn giải thành hình thức sở
hữu nhà nước, đất đai từ sở hữu của toàn dân
trở thành sở hữu của Nhà nước Sự diễn giải
này của BLDS 2005 khá mập mờ, hai khái
niệm chế độ sở hữu và hình thức sở hữu khó
có thể phân biệt rạch ròi, vì thế đã góp phần
trộn lẫn sở hữu của toàn dân với sở hữu của
Nhà nước
Quyền định đoạt của Nhà nước với đất
đai: Theo khoản 2 Điều 5 Luật Đất đai 2003,
với tư cách đại diện cho sở hữu toàn dân, Nhà
nước giữ 6 quyền định đoạt quan trọng dưới
đây đối với đất đai: Thứ nhất, ấn định mục
đích sử dụng cho các ô, thửa đất thông qua
quy hoạch; Thứ hai, quyết định chuyển đổi
mục đích sử dụng đất; Thứ ba, quyết định
giao đất, cho thuê đất cho các cá nhân và tổ
chức; Thứ tư, thu hồi đất đã giao hoặc cho
thuê; Thứ năm, ấn định các hạn chế về thời
gian và hạn mức đối với việc giao đất hoặc
cho thuê đất; Thứ sáu, định giá đất.
Thực thi quyền định đoạt của Nhà nước:
Các quyền định đoạt kể trên được thực hiện bởi
1 Xem: Điều 284 Dân luật 1931
2 Điều 200 và 201 BLDS 2005.
nhiều cơ quan nhà nước khác nhau, rải từ Quốc hội cho tới UBND cấp huyện Trong các quyền định đoạt đó, quan trọng bậc nhất đối với giá trị của đất đai là ấn định mục đích sử dụng thông qua quy hoạch, quyết định chuyển đổi mục đích
sử dụng, ví dụ từ đất nông nghiệp sang đất ở hoặc đất kinh doanh, quyết định thu hồi đất và
ấn định giá đất Quyền quyết định quy hoạch đất được phân bổ cho Quốc hội, Chính phủ, UBND cấp tỉnh và UBND cấp huyện tùy theo loại quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất3 Quyền chuyển đổi mục đích sử dụng đất và thu hồi đất được phân cấp xuống UBND cấp tỉnh và huyện tùy theo đối tượng người sử dụng đất bị thu hồi4
Lý do để Nhà nước thu hồi đất cũng được định nghĩa rất rộng rãi, rất thuận tiện cho cơ quan nhà nước thu hồi đất, bao gồm các mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích cộng đồng, phát triển kinh tế5 Khi Nhà nước có quyết định thu hồi đất, bất kỳ người
sử dụng đất nào cũng có nghĩa vụ giao lại đất cho Nhà nước6 Như vậy, Nhà nước giữ quyền định đoạt rất đáng kể đối với đất đai ở Việt Nam
Quyền sử dụng đất: Tuy không có chủ quyền tuyệt đối về ô thửa đất đang sử dụng, tức là không có quyền sở hữu tư nhân tuyệt đối, không thể ngăn cản Nhà nước thu hồi đất
vì những lý do được cho là hợp pháp nêu trên, song chủ nhân của hàng trăm triệu ô thửa đất ở Việt Nam ngày càng được hưởng nhiều quyền lợi, các quyền lợi này được nới rộng dần qua bốn lần sửa đổi Luật Đất đai Quyền sử dụng đất (QSDĐ), tuy chưa đạt tới sở hữu tư nhân tuyệt đối, song đã trở thành một quyền tài sản quan trọng Theo Điều 105 và Điều 106 Luật Đất đai 2003, ngoại trừ người thuê đất trả tiền thuê hàng năm (Điều 111 Luật Đất đai 2003), chủ nhân của QSDĐ có thể có hàng chục quyền mang tính loại trừ, tức là các quyền tài sản tư dưới đây:
3 Điều 26 Luật Đất đai 2003.
4 Điều 37 và Điều 44 Luật Đất đai 2003.
5 Khoản 1 Điều 38 Luật Đất đai 2003.
6 Khoản 7 Điều 107 Luật Đất dai 2003.
Trang 8Tên quyền phái sinh
QSDĐ bị vi phạm
Loại trừ người thứ ba Khiếu nại, tố cáo khi
QSDĐ bị vi phạm
Tố quyền Chuyển đổi Đổi QSDĐ,
đổi đất Chuyển nhượng Bán QSDĐ,
đổi chủ Cho thuê Khai thác
QSDĐ Cho thuê lại Khai thác
QSDĐ
thừa kế Tặng cho Tùy ý định
đoạt quyền Thế chấp Bảo đảm vay
vốn Bảo lãnh (đệ đương) Bảo đảm
nghĩa vụ Góp vốn bằng QSDĐ Khai thác
QSDĐ Được bồi thường khi
nhà nước thu hồi
Bù đắp tài sản
Quyền sử dụng đất của nông hộ: Các
quyền tài sản trong bảng nêu trên phụ thuộc vào
loại đất và chủ thể sử dụng đất Khác với đất ở,
đất kinh doanh của các hộ được nhà nước công
nhận là đất sử dụng ổn định lâu dài7; đất nông
nghiệp của các nông hộ được coi là đất sử dụng
có thời hạn 20 năm hoặc 50 năm tùy theo loại
cây trồng hàng năm hoặc cây lâu năm hoặc đất
rừng8 Thêm nữa, đất nông nghiệp còn bị giới
hạn bởi hạn mức giao đất (hạn điền)9 Vì các lý
do đó, so với đất ở, nhất là đất ở đô thị, quyền
tài sản của các nông hộ đối với đất nông nghiệp
được bảo hộ kém hơn, QSDĐ của nông dân dễ
bị thu hồi với mức giá do Nhà nước ấn định
Nông dân đã gánh chịu phần đáng kể chi phí
của quá trình công nghiệp hóa Theo Bộ Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn, để có được 132
khu công nghiệp và 60 cụm công nghiệp, 123
sân gôn, trong các năm 2005-2007, Nhà nước
đã thu hồi 34.330 ha đất trồng lúa, cứ 1 ha đất
bị thu hồi bình quân có 10 người bị mất việc từ
7 Theo Điều 66 Luật Đất đai 2003.
8 Theo Điều 67 Luật Đất đai 2003.
9 Xem: Điều 70 Luật Đất đai 2003.
khu vực nông nghiệp Đồng thời với mất đất do chuyển đổi mục đích, nhiều nông hộ cũng mất đất do quá trình tích tụ ruộng đất
Quyền sử dụng đất của doanh nghiệp: Luật Đất đai 2003 có những quy định mang tính phân biệt đối xử giữa tổ chức được giao đất, nhà đầu tư nước ngoài thuê đất và doanh nghiệp Việt Nam thuê đất, trong đó không hiếm khi doanh nghiệp trong nước được đối xử kém bình đẳng hơn so với doanh nghiệp nước ngoài10 Về nguyên tắc, nếu doanh nghiệp thuê đất trả tiền thuê đất hàng năm, quyền của doanh nghiệp đối với QSDĐ khá hạn chế, không bao gồm các quyền chuyển nhượng, thế chấp, bảo lãnh hay góp vốn bằng QSDĐ đã được thuê Doanh nghiệp thuê đất trả tiền thuê đất hàng năm chỉ có những quyền tài sản đối với công trình xây dựng, nhà xưởng hoặc các tài sản tư hữu khác gắn liền với đất đã được thuê Ngược lại, theo Luật Đất đai 2003, các doanh nghiệp được giao đất theo Điều 109, Điều 110 và tổ chức, cá nhân nước ngoài thuê đất tại Việt Nam, theo mục c khoản 2 Điều 120 lại có những quyền tài sản rộng rãi hơn đối với QSDĐ Đối với các đơn vị sự nghiệp có thu, các trường đại học và cơ sở y tế, đôi khi Nhà nước vẫn duy trì chế độ giao đất có hoặc không thu tiền sử dụng đất Chế độ pháp lý phiền nhiễu này phản ánh một quá khứ phân phối đất đai từ nền kinh tế kế hoạch, cần có thời gian để chuyển đổi sang chế độ thuê đất áp dụng chung cho mọi loại hình doanh nghiệp
Quyền sở hữu nhà: Nếu đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện giữ quyền định đoạt, thì nhà ở, căn hộ, công trình xây dựng
và các tài sản khác gắn liền với đất có thể thuộc
sở hữu tư nhân, quyền tư hữu này được Nhà nước bảo hộ11 Các quyền của chủ sở hữu nhà
ở được ghi nhận tại Điều 21 và Điều 22 Luật Nhà ở 2005 Chủ sở hữu nhà khi định đoạt các quyền với nhà ở, phải tuân thủ điều kiện giao dịch, nội dung giao dịch, các thủ tục về hình thức đăng ký địa bạ, tuân thủ các quy định bảo
vệ hợp lý quyền lợi của bên thuê nhà v.v12 Trên
10 Xem và đối chiếu Điều 111 và mục c khoản 2 Điều
120 Luật Đất đai 2003
11 Xem: Điều 5 Luật Nhà ở 2005
12 Xem: các điều 93, 102, 104 Luật Nhà ở 2005
Trang 9thực tế, đạo luật này đang bị phê phán là bất hợp
lý, nhất là quy định sở hữu nhà được chuyển
giao cho bên mua vào thời điểm hợp đồng bán
nhà được công chứng Ngoài ra đối với chung
cư, việc khai thác phần sở hữu được xem là sở
hữu chung trong tòa nhà thường là đối tượng
tranh chấp phổ biến giữa các chủ căn hộ và ban
quản trị hoặc chủ đầu tư13
Bằng khoán điền thổ: Khác với vật dễ cầm
nắm khác, các ô thửa đất phải được “đóng gói”,
phải có lý lịch và bằng chứng pháp lý mới có
thể dễ dàng được giao dịch Vì thế, một chế
độ đăng ký các vật quyền gắn với đất đai đã ra
đời Từ năm 1925, một hệ thống đăng ký bằng
khoán điền thổ đã được du nhập vào Việt Nam,
cơ quan chuyên môn thực thi các dịch vụ đăng
ký này được gọi là các sở bảo thủ điền thổ hay ty
điền địa Bằng khoán điền thổ là bằng chứng về
quyền sở hữu nhà đất, thường gồm nhiều trang,
trang bìa ghi các thông số về ô thửa đất và người
chủ, các trang trống tiếp theo ghi chú nguồn gốc
đất, các hợp đồng mua bán, dịch quyền và thỏa
thuận hay biến đổi khác liên quan đến thửa đất
Theo PGS-TS Nguyễn Ngọc Điện14, Sắc lệnh
Điền địa 1925 quy định rằng bằng khoán điền
thổ là bằng chứng duy nhất và tuyệt đối, không
thể đảo ngược được về tình trạng sở hữu nhà đất
và các dịch quyền trên đất đó Các hành vi liên
quan đến đăng ký những biến động về quyền
đối với đất gọi là đăng bộ Sau nhiều biến đổi,
Giấy chứng nhận QSDĐ (sổ đỏ) một thời được
tách khỏi Giấy chứng nhận sở hữu nhà (sổ hồng)
và các giấy chứng nhận đăng ký giao dịch bất
động sản khác Từ năm 1993 cho đến 2007, một
chương trình cấp Giấy chứng nhận QSDĐ rộng
lớn đã được tiến hành ở Việt Nam, Nhà nước đã
cấp được 11 triệu Giấy chứng nhận QSDĐ cho
khoảng 90% nông hộ toàn quốc15 Cũng như vậy,
khoảng 70% đất đô thị đã được cấp Giấy chứng
nhận QSDĐ Từ năm 2009, với mong muốn tái
thiết lập một hệ thống đăng ký vật quyền đối với
13 Xem thêm: Điều 70 Luật Nhà ở 2005
14 Nguyễn Ngọc Điện, Mối quan hệ giữa đăng ký bất
động sản và xác lập quyền sở hữu bất động sản, Tạp chí
Nghiên cứu lập pháp
15 Truong Thien Thu, Ranjith Perera, Intermediate levels
of property rights and the emerging housing market in HCM
City, Vietnam, Land Use Policy 28 (2010) 124-138
nhà đất thống nhất, cùng với dự luật về đăng ký bất động sản, “bằng khoán điền thổ” ngày nay
có tên gọi khá dài dòng là “Giấy chứng nhận
QSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất” Từ giữa năm 2010, các Văn phòng
đăng ký QSDĐ bắt đầu được thiết lập như một
cơ quan chuyên môn của Phòng Tài nguyên và Môi trường cấp huyện hoặc ở các đô thị, đảm nhiệm việc cấp Giấy chứng nhận QSDĐ, sở hữu nhà và các biến động khác liên quan đến nhà đất Manh nha của một hệ thống địa chính thống nhất toàn quốc đã xuất hiện
Quyền tài sản đa tầng: Sau 4 lần sửa đổi Luật Đất đai, có thể nhận thấy Nhà nước tuy vẫn giữ nhiều quyền định đoạt, song các quyền tài sản
về đất đã được phi tập trung hóa tới các nông hộ,
cá nhân và tổ chức Ẩn sau sở hữu toàn dân, một trật tự quyền tài sản đa tầng đã xuất hiện Bắt đầu với một quyết định hành chính phân phối đất đai, ngay lập tức hình thành quyền tài sản mang tính loại trừ của một cá nhân hay tổ chức Quyền tài sản đang hình thành ấy, sau khi ra đời sẽ được giao dịch trong những thị trường trung gian, rất sớm trước khi bằng khoán được cấp cho người
có QSDĐ ở thị trường công khai Dựa vào mô tả của Trương Thiên Thu16, có thể minh họa quyền tài sản đa tầng này trong thị trường bất động sản, từ hình thành dự án cho đến bán nền, bán quyền mua
căn hộ qua các hợp đồng góp vốn như sau:
Quyền tài sản đa tầng đối với đất đai ở VN
Sở hữu toàn dân, NN quản lý Quy hoạch tổng thể tỉnh/TP
Dự án được phân cho chủ đầu tư
QĐ thay đổi mục đích sử dụng đất Thu hồi đất, cấp đất cho chủ đầu tư Bồi thường, giải phóng mặt bằng Cấp GCN QSD đất cho chủ đầu tư Triển khai, phát triển dự án BĐS Cấp GCN QSD đất và sở hữu nhà
“Giấy tờ pháp lý”
doanh BĐS
Bằng khoán cấp cho DN kinh doanh BĐS
Bằng khoán cấp cho người mua nhà, căn hộ
Tầng 1 của quyền tài sản (QTS) Tầng 2 Tầng 3 Tầng 4
Tầng 5Thị trường trung gian các QTS
Thị trường công khai/chính thức
Cấp GCN cho người mua Tầng 6
16 Trương Thiên Thu, tài liệu đã dẫn.
Xem tiếp trang 53
Trang 10Trong điều kiện kinh thế thị trường,
thị trường hóa quan hệ đất đai là
một yêu cầu tất yếu Tuy nhiên, khi
pháp luật chỉ thừa nhận một hình thức sở hữu
duy nhất đối với đất đai, đất đai không thể là
đối tượng của quan hệ giao dịch, cùng với cơ
chế thực hiện quyền sở hữu vừa mang tính tài
sản, vừa mang tính quyền lực, việc đưa quan
hệ đất đai vận hành theo cơ chế thị trường ở
Việt Nam chứa đựng nhiều nét đặc thù Thị
trường hóa quan hệ đất đai ở Việt Nam chính
là quá trình hàng hóa hóa quyền sử dụng đất,
coi quyền sử dụng đất là quyền tài sản được
trị giá bằng tiền, là đối tượng của giao dịch
dân sự, trên cơ sở đó, từng bước thay thế hoạt
động điều phối đất đai được thực hiện bởi
những quan hệ hành chính bằng quan hệ thị
trường thông qua giao dịch dân sự Bài viết
này tập trung vào phân tích, đánh giá cơ sở
khoa học và thực tiễn của thị trường hóa quan
hệ đất đai ở Việt Nam, những tác động tích cực
của thị trường hóa quan hệ đất đai đến việc bảo
đảm quyền tài sản của người sử dụng đất trên cơ
sở những quy định của pháp luật hiện hành và
thực tiễn áp dụng chúng, cụ thể:
1 Mô hình thị trường hóa quan hệ đất
đai trong điều kiện đất đai thuộc sở hữu
toàn dân
Vớ i tư cá ch chủ sở hữ u, Nhà nước có
quyề n chuyể n giao quyề n sở hữ u đấ t đai củ a
mì nh Nhưng vì chỉ Nhà nước mớ i đượ c phé p
sở hữ u đố i vớ i đấ t đai cho nên Nhà nước cũng
không thể chuyể n giao quyề n sở hữ u đấ t đai
củ a mì nh cho bấ t cứ ai Theo Điều 5 của LĐĐ (LĐĐ) 2003, phạm vi quyền định đoạt của Nhà nước với tư cách là chủ thể sở hữu rất hạn chế
và không bao gồm quyền định đoạt quyền sở hữu Về phí a người sử dụng đất, họ cũ ng không thể chuyể n giao quyề n sở hữ u đấ t đai cho cá c chủ thể khá c vì họ không có quyề n đó Khi Nhà nước giao đấ t cho ngườ i sử dụ ng, cho ngườ i sử
dụ ng thuê đấ t, Nhà nước chỉ chuyể n giao cho họ quyền sử dụng đất, cò n quyề n sở hữ u, theo luật định vẫ n thuộ c về Nhà nước
Vậy nế u đấ t đai không thể là đố i tượ ng
củ a quan hệ dị ch chuyể n quyề n sở hữ u thì
là m sao chú ng ta có thể coi đấ t đai là hà ng
hó a? là m sao có thể đưa quan hệ đấ t đai vậ n
hà nh theo quy luậ t củ a kinh tế thị trường? Dưới góc độ pháp lí, khi đấ t đai tham gia
và o lưu thông dân sự , đó chí nh là sự lưu thông
củ a cá c quyề n năng đối với nó, trong đó quan trọng nhất là quyền sử dụng (nộ i dung cơ
bả n nhấ t củ a quyề n sở hữ u chí nh là quyề n sử
dụ ng, quyề n chiế m hữ u chỉ là hì nh thứ c bên ngoà i củ a quyề n sử dụ ng, quyề n đị nh đoạ t suy cho cùng, chỉ là đị nh đoạ t quyề n sử dụ ng) Trong xu hướ ng phân chia, cắ t lớ p quyề n sở
hữ u, nội hàm của quyền sở hữu thường được khái niệm hóa dưới dạng các quyền tài sản một cách cụ thể, tương đối riêng biệt, có thể được giới định cho nhiều chủ thể khác nhau thông qua cấu trúc nội dung và chủ thể tham gia quan hệ sở hữu Đối với thị trường bất động sản, điều mà các chủ thể tham gia quan tâm chí nh là quyề n tà i sả n đố i vớ i đấ t đai, như
THỊ TRƯỜNG HÓA QUAN HỆ ĐẤT ĐAI
VÀ VẤN ĐỀ BẢO ĐẢM QUYỀN TÀI SẢN CỦA NGƯỜI SỬ DỤNG ĐẤT
PHẠM VĂN VÕ*
* TS Trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh
Trang 11quyền khai thá c, sử dụ ng và giao dị ch , vớ i ý
nghĩ a là nhữ ng yếu tố quyế t đị nh đế n giá trị và
giá cả củ a đất đai1
Do vậy, trong điều kiện Nhà nước là chủ
thể sở hữu duy nhất đối với toàn bộ vốn đất
quốc gia như hiện nay, yế u tố quyế t đị nh đế n
hiệ u quả sử dụ ng đấ t, đế n việ c đưa quan hệ
đấ t đai vậ n hà nh theo quy luậ t củ a kinh tế thị
trường không phả i ở chỗ ai là ngườ i sở hữ u
đấ t đai, đố i tượ ng giao dị ch là quyề n sở hữ u
hay quyề n sử dụ ng mà chính là việc Nhà nước
sẽ tổ chứ c thự c hiệ n quyề n sở hữ u đấ t đai củ a
mì nh như thế nà o? quyề n năng mà Nhà nước
trao cho người sử dụng đất về mặ t thờ i gian
và nộ i dung ra sao? bằng phương thức gì? và
nhữ ng chí nh sá ch kinh tế - xã hộ i có liên quan
Thị trườ ng đấ t đai không nhấ t thiế t phả i là thị
trườ ng củ a quyề n sở hữ u mà có thể chỉ là thị
trườ ng củ a quyề n sử dụng Đấ t đai thuộ c sở
hữ u củ a ai không phả i là yế u tố quyế t đị nh
đế n khả năng tham gia giao dị ch củ a nó Khái
niệm thị trường quyền sử dụng đất không phải
là sản phẩm đặc thù của Việt Nam mà ngay cả
ở những nước tồn tại nhiều hình thức sở hữu
đất đai cũng có loại thị trường này Điều khác
biệt là nếu ở các nước này thị trường quyền sử
dụng đất chỉ là một trong các yếu tố cấu thành
thị trường đất đai bên cạnh thị trường của quyền
sở hữu thì ở Việt Nam, thị trường đất đai chính
là và chỉ là thị trường của quyền sử dụng
Xé t cả về mặ t lý luậ n và thự c tiễ n, quyề n
sở hữ u duy nhấ t củ a Nhà nước đố i vớ i đấ t đai
không phủ nhậ n việ c đưa quan hệ đấ t đai và o
quan hệ thị trườ ng Nhà nướ c vớ i tư cá ch là
chủ sở hữ u đấ t đai sẽ trao quyền sử dụng đất
cho cá c chủ thể sử dụ ng trên cơ sở có giá vớ i
nhữ ng quyề n năng cầ n thiế t để rồi, nhữ ng chủ
thể nà y, sẽ sử dụ ng nhữ ng quyề n năng đó để
dị ch chuyể n quyền sử dụng đất mà Nhà nước
đã trao cho mì nh thông qua quan hệ thị trườ ng
Đây chí nh là quy trì nh để đưa quan hệ đấ t đai
1 Lệ Dĩ Ninh (1998), Đại từ điển kinh tế thị trường,
Việ n nghiên cứu và phổ biến tri thức bách khoa , Hà
Nội, tr 197.
vậ n hà nh theo nhữ ng quy luậ t củ a kinh tế thị trường trong điề u kiệ n đấ t đai thuộ c sở hữu nhà nước Quy trì nh nà y gồ m hai tầ ng cấ p:(i) Tầ ng cấ p thứ nhấ t (thị trường sơ cấp) gồm những quan hệ phát sinh trong quá trì nh lưu chuyể n đấ t đai theo chiề u dọ c: Nhà nước thông qua cá c cơ quan quả n lý trao quyền sử dụng cho cá c cá nhân, hộ gia đì nh, tổ chứ c…
xá c lậ p tư cá ch chủ thể sử dụng đất cho họ
cả về mặ t nộ i dung và hì nh thứ c Những hoạt động của thị trường bất động sản ở tầng cấp thứ nhất không chỉ bao gồm hoạt động giao đất, cho thuê đất mà còn bao gồm cả hoạt động thu hồi đất và những hoạt động khác ảnh hưởng đến quan hệ cung - cầu của thị trường quyền sử dụng đất như hoạt động cho phép chuyển mục đích sử dụng đất, thay đổi hình thức sử dụng đất v.v Tuy hoạt động diễn ra
ở thị trường sơ cấp là những hoạt động hành chính nhưng cũng được coi là những hoạt động của thị trường quyền sử dụng đất vì:
- Quan hệ giữa Nhà nước với người được giao đất, được thuê đất là quan hệ tài sản Về bản chất, đây chính là quan hệ phát sinh trong quá trình thực hiện quyền sở hữu đất đai của Nhà nước Yếu tố quyền lực trong mối quan
hệ giữa Nhà nước với người sử dụng đất chỉ là công cụ thực hiện quyền tài sản
- Do bản chất của hoạt động này chứa đựng yếu tố thị trường Nếu so sánh trường hợp giao đất có thu tiền sử dụng đất ở tầng cấp thứ nhất với trường hợp nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở tầng cấp thứ hai, tuy có khác nhau
về cách thức thực hiện nhưng lại giống nhau
ở hệ quả pháp lý vì chúng đều xác lập quyền
sử dụng đất của chủ thể sử dụng đất mới với quyền và nghĩa vụ như nhau (củ a người được giao và củ a người nhận chuyển quyền), đều phải trả tiền, mà số tiền này tuy được gọi bằng những cái tên khác nhau (tiền sử dụng đất, tiền chuyển nhượng quyền sử dụng đất) nhưng tiêu chí xác định là như nhau (giá thị trường hoặc bám sát giá thị trường),…
Trang 12(ii) Ở tầ ng cấ p thứ hai (thị trường thứ cấp),
thể hiệ n mố i quan hệ theo chiề u ngang Tầ ng
cấ p này bao gồm mố i quan hệ giữ a cá c chủ thể
sử dụng đất vớ i nhau và vớ i cá c chủ thể có liên
quan khá c trong quá trì nh thự c hiệ n quyền sử
dụng đất trên cơ sở quan hệ thị trườ ng Để tạ o
cơ sở phá p lý cho quan hệ nà y hì nh thà nh và
phá t triể n, Nhà nước phả i trao cho người sủ
dụng đất nhữ ng quyề n năng cầ n thiế t trong đó
có quyề n giao dị ch quyền sử dụng đất Quan hệ
theo chiề u ngang thườ ng đượ c thự c hiệ n thông
qua cá c hì nh thứ c như chuyể n đổ i, chuyể n
nhượ ng, cho thuê, thế chấ p quyền sử dụng
đất, gó p vố n bằ ng quyền sử dụng đất v.v…
Đây là quan hệ mang tí nh tà i sả n đơn thuầ n và
được thực hiện theo cơ chế thỏa thuận Thự c tế
thự c hiệ n LĐĐ 1993, LĐĐ 2003 ở Việ t Nam
và thự c hiệ n quyề n sở hữ u Nhà nước đố i vớ i
đấ t đô thị ở Trung Quố c trong thờ i gian qua
đã chứ ng minh tí nh khả thi củ a mô hì nh nà y2
2 Những tác động tích cực của việc thị
trường hóa quan hệ đất đai đối với việc bảo
đảm quyền tài sản của người sử dụng đất:
Thứ nhất, thị trường hóa quan hệ đất đai
và vấn đề ‘tài sản hóa” quyền sử dụng đất của
người sử dụng đất
Theo quy định của Bộ luật dân sự (BLDS),
quyền tài sản là quyền được trị giá bằng tiền và
có thể trở thành đối tượng của giao dịch dân sự
và là một dạng thức của tài sản Để đưa quan
hệ đất đai vận hành theo quy luật của kinh tế
thị trường, Nhà nước phải thừa nhận giá đất
theo nguyên tắc thị trường, nghĩa là quyền sử
dụng đất được trị giá bằng tiền Bên cạnh đó,
Nhà nước phải cho phép người sử dụng đất
đưa quyền sử dụng đất vào lưu thông theo cơ
chế thị trường thông qua các giao dịch dân sự
Mặc dù bả n chấ t quyền sử dụng đất của
người sử dụng đất chỉ là quyề n được Nhà nước
trao, nhưng để người sử dụng đất có thể khai
thá c sử dụ ng đấ t, nhà nước phả i trao cho họ
2 Lei Chen (2007), The New Chinese Property Code:
A Giant Step Forward?, vol 11.2 ELECTRONIC
JOUR-NAL OF COMPARATIVE LAW, pp.13.
quyề n chiế m hữ u; để người sử dụng đất có thể đưa quyền sử dụng đất và o lưu thông dân sự , Nhà nước phả i trao cho họ quyề n đị nh đoạ t Qua những quy định của LĐĐ, có thể thấ y rấ t nhiề u chủ thể sử dụng đất đã có đủ ba quyề n năng củ a chủ thể sở hữ u (như quyền của hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất mà không phải
là đất thuê của Nhà nước…) và theo Điề u 173
củ a BLDS 2005, quyề n này được phá p luậ t
bả o vệ như bả o vệ quyề n sở hữ u Sự mở rộng quyền năng của người sử dụng đất nhằm đáp ứng như cầu thị trường hóa quan hệ đất đai đã làm cho việ c so sá nh quyề n sở hữ u củ a Nhà nước và quyền sử dụng củ a ngườ i sử dụ ng đấ t, nếu chỉ giới hạn ở việc so sá nh về nộ i dung quyề n năng, có thể đi đế n bế tắ c về lý luậ n bở i: (i) nộ i hà m củ a quyề n sử dụ ng đôi khi không
có gì khá c so vớ i quyề n sở hữ u; (ii) trong tiếp cận quyền tài sản đối với đất đai, pháp luật Việt Nam, giống so với pháp luật của các nước theo hệ thống thông luật (common law), không phân biệ t giữ a vậ t quyề n và trá i quyề n,
tấ t cả cá c quyề n liên quan đế n bấ t độ ng sả n
đề u đượ c coi là quyề n đố i vớ i tà i sả n3 Thực tiễn ở Việt Nam cũng cho thấy, không thị trường hóa quan hệ đất đai sẽ không có quyền tài sản đối với đất đai dù đất đai thuộc hình thức sở hữu nào Mặc dù trước Hiế n phá p
1980 tuy ở Việt Nam vẫ n cò n tồ n tạ i hì nh thứ c
sở hữ u tư nhân, sở hữ u tậ p thể đố i vớ i đấ t đai nhưng trong điề u kiệ n nề n kinh tế kế hoạ ch
hó a tậ p trung, cù ng vớ i quy đị nh cấm chủ sở hữu không được phát canh thu tô, cho thuê, cầm cố hoặc bán nhượng đất dưới bất cứ hình thức nào…4 , không thừa nhận đất đai là hàng hóa thì cái gọi là “sở hữ u tậ p thể ” và “sở hữ u
tư nhân” đố i vớ i đấ t đai lú c nà y cũng không thể coi là quyền tài sản bởi chúng không được trị giá bằng tiền, không thể trở thành đối tượng
3 Michel Fromont (2006), Các hệ thống pháp luật
trên thế giới, Nxb Tư pháp, Hà Nội, tr 184
4 Quyế t đị nh 201- CP ngà y 01 thá ng 7 năm 1980 củ a
Hộ i đồ ng Chí nh phủ về việ c thố ng nhấ t quả n lý ruộ ng đấ t
và tăng cườ ng công tá c quả n lý ruộ ng đấ t trong cả nướ c.
Trang 13của giao dịch dân sự
Thứ hai, thị trường hóa quan hệ đất đai và
vấn đề bảo đảm quyền của người sử dụng đất
đối với tài sản gắn liền với đất
Hiể u theo nghĩ a rộ ng, đấ t đai đượ c coi là
“mộ t diệ n tí ch cụ thể củ a bề mặ t trá i đấ t, bao
gồ m tấ t cả cá c yế u tố cấ u thà nh môi trườ ng
sinh thá i ngay trên và dướ i bề mặ t đó ” 5
Vớ i ý nghĩ a là mộ t thự c thể thố ng nhấ t xá c
đị nh theo không gian, đấ t không chỉ bao gồ m
nhữ ng yế u tố thổ nhưỡ ng mà cò n bao gồ m cá c
tà i sả n trên đấ t và trong lò ng đấ t như khoá ng
Trong nề n văn minh nông nghiệ p, do nhu
cầ u và khả năng củ a con ngườ i lú c đó mà việ c
sử dụ ng đấ t trên thự c tế chủ yếu giớ i hạ n trên
bề mặ t, việ c phân đị nh quyề n sở hữ u đấ t đai
và quyề n đố i vớ i cá c tà i nguyên khá c nó i trên
chưa đượ c quan tâm như mộ t nhu cầ u thự c tế
Quan niệ m phổ biế n ở các nước theo hệ thống
dân luật (civil law) là, ngườ i sở hữ u đấ t có
quyề n sở hữ u đố i vớ i tấ t cả cá c yế u tố thuộ c
về đấ t đai theo nguyên tắc: “đấ t đai thuộ c về
ai thì ngườ i đó có quyề n sở hữ u lên đế n tậ n
trờ i xanh (for cujus est solum ejus est usque
ad coelum)” và “sâu đế n tận lòng đấ t (ad
centrum terrae)” 6 Ở các nước theo hệ thống
thông luật (common law) cũng có nguyên tắc
cho rằng: “những gì gắn liền với đất đai đều
trở thành một bộ phận của đất đai (quicquid
plantatur solo, solo credit)” 7
Khi khoa họ c và lực lượng sản xuất phá t
6 J.G.Riddall MA (TCD) (1993), Introduction to land
law, Butterworths, London, Dublin and Edinburgh, pp.51
7 Sđd, tr 52.
triể n, tà i nguyên trong lò ng đấ t đượ c khai thá c sử dụ ng theo hướ ng mở rộ ng về chủ ng loạ i và độ sâu, giá trị và tầ m quan trọ ng củ a chú ng ngà y cà ng đượ c khẳ ng đị nh, việ c phân
đị nh quyề n đố i vớ i tà i nguyên trong lò ng đấ t, trên mặ t đấ t củ a chủ sở hữ u đấ t đã trở thà nh mộ t yêu cầ u cầ n thiế t Xu hướng chung trên thế giới hiện nay là không thừa nhận quyền của chủ sở hữu đất đai trong việc khai thác tài nguyên thiên nhiên Theo pháp luật của Pháp, Đức, Anh, Nhật Bản… để thăm dò và khai thác tài nguyên, cần phải có sự cho phép chính thứ c của cơ quan nhà nướ c có thẩm quyền Chủ sở hữu đất đai không
có quyền khiếu nại xin nhận bồi thường trong trường hợp Nhà nước hoặc chủ sở hữu khác khai thác tài nguyên trong lòng đất của mình8 Khi đấ t đai đượ c đưa và o sử dụ ng, lú c nà y trên đấ t lạ i xuấ t hiệ n nhữ ng tà i sả n do chủ sở
hữ u và ngườ i có quyề n sử dụ ng tạ o lậ p Nhữ ng
tà i sả n nà y có thể là nhữ ng tà i sả n gắ n liề n vớ i
đấ t, có nghĩ a là chú ng đã nhấ t thể hó a vớ i đấ t
tạ o thà nh mộ t khố i không thể chia cắ t Vì vậ y, phá p luậ t cầ n quy đị nh về quyề n sở hữ u đấ t đai trong mối quan hệ với quyề n đố i vớ i cá c
tà i sả n khá c có trên đấ t hoặ c trong lò ng đấ t, quyề n và nghĩ a vụ củ a chủ đấ t đố i vớ i cá c tà i
sả n trên mộ t cá ch hợ p lý và công bằ ng
Theo quy định của Hiến pháp 1992, đất đai và tài nguyên thiên nhiên trong lòng đất, trên mặt đất như khoáng sản, nước, rừng… đều thuộc sở hữu toàn dân Việc không thừa nhận quyền của người sử dụng đất đối với tài nguyên thiên nhiên khác với ý nghĩa là những cái thuộc về đất đai là phù hợp với xu thế chung trên thế giới Song, xét dưới khía cạnh bảo đảm quyền con người đối với tài sản do người sử dụng đất tạo lập với ý nghĩa là thành quả lao động, kết quả đầu tư của họ, chế độ sở hữu đất đai hiện nay đã và đang làm nảy sinh tình trạng có sự khá c biệ t giữ a chế độ phá p lý
đố i vớ i đấ t đai và chế độ phá p lý đố i vớ i tà i sả n
8 PGS TS Hà Thị Mai Hiên (2000), Quyền sở hữu
của công dân ở Việt Nam, Luận án Phó Tiến sỹ luật
học, Hà Nội, tr 24.
Trang 14gắ n liề n vớ i đấ t vì đấ t luôn thuộ c sở hữ u Nhà
nước (công hữu) nhưng tà i sả n gắ n liề n vớ i đấ t
lạ i có thể thuộ c sở hữ u củ a tổ chứ c, cá nhân
(tư hữu) Vớ i tư cá ch là chủ sở hữ u đố i vớ i
tà i sả n gắ n liề n vớ i đấ t (đất đai và tài sản gắn
liền với nó đã nhất thể hóa), người sử dụng đất
có quyề n bá n chú ng nhưng đố i vớ i đấ t thì chỉ
có thể chuyể n nhượ ng quyề n sử dụ ng, thậm
chí có trườ ng hợ p đượ c bá n tà i sả n thuộ c sở
hữ u củ a mì nh gắ n liề n vớ i đấ t nhưng quyền sử
dụng đất lạ i không đượ c phé p chuyể n nhượ ng
(LĐĐ 1987 hoặ c trườ ng hợ p thuê đấ t trả tiề n
thuê đấ t hà ng năm theo LĐĐ 2003…)
Sự không thố ng nhấ t giữ a quyề n sở hữ u đấ t
đai và quyề n sở hữ u tà i sả n gắ n liền vớ i đấ t là
hiện tượng phổ biến trên thế giớ i, ngay cả đối
với nhữ ng nướ c thừ a nhậ n nhiề u hì nh thứ c sở
hữ u đấ t đai Nhưng nế u sự không đồ ng nhấ t
mang tí nh phổ biế n trên thế giớ i là hệ quả củ a
sự vậ n độ ng mang tí nh khá ch quan phá t sinh
trong quá trì nh thự c hiệ n quyề n sở hữ u vố n
ngà y cà ng đa dạ ng và hoà n toà n không loạ i
trừ sự thố ng nhấ t, thì sự khá c biệ t ở nướ c ta là
sự khá c biệ t không thể trá nh khỏ i, xuấ t phá t
từ ý chí lậ p phá p qua chế độ sở hữ u đượ c quy
đị nh trong Hiế n phá p Nó i cá ch khá c, sự đồng
nhất giữ a chế độ phá p lý đố i vớ i đấ t đai và chế
độ phá p lý đối vớ i tà i sả n gắ n liề n vớ i đấ t là
không thể có đượ c nế u cá c quy đị nh về chế độ
sở hữ u trong Hiế n phá p không thay đổ i
Theo quan điểm khoa học về quyền tài sản,
hệ tài sản đối với đất đai và tài sản gắn liền với
đất Do vậy, thị trường hóa quan hệ đất đai là
giải pháp để đảm bảo sự đồng bộ này Mộ t khi
quyề n sở hữ u tài sản và quyền sử dụng đất đề u
đượ c coi là tà i sả n củ a tổ chứ c, cá nhân… đề u
đượ c đưa và o lưu thông trên thị trường thì có
- Theo Luật Nhà ở, doanh nghiệp có chức năng kinh doanh bất động sản khi bán nhà ở thì hợp đồng mua bán nhà ở không cần phải công chứng, nhưng khi họ bán nhà thì phải chuyển quyền sử dụng đất (Điều 22 của Luật kinh doanh Bất động sản) trong khi đó, theo LĐĐ, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất bắt buộc phải công chứng Ngoài
ra, theo Luật Nhà ở, quyền sở hữu nhà ở của bên mua phát sinh từ thời điểm hợp đồng mua bán nhà ở được công chứng hoặc từ thời điểm được bàn giao nhà nhưng theo LĐĐ, hợp đồng giao dịch chuyển quyền sử dụng đất chỉ phát sinh hiệu lực từ thời điểm được đăng kí…
- Do đất đai thuộc sở Nhà nước nên, theo LĐĐ, khi cần thiết Nhà nước có thể thu hồi bằng quyết định hành chính (kể cả đối với trường hợp cần sử dụng đất vào mục đích phát triển kinh tế) Đối với tài sản gắn liền với đất thuộc sở hữu của người sử dụng, Nhà nước không được thu hồi Điều 23 của Hiến pháp
1992 quy định: “Trong trường hợp thật cần
thiết vì lý do quốc phòng, an ninh và vì lợi ích quốc gia, Nhà nước trưng mua hoặc trưng dụng có bồi thường tài sản của cá nhân hoặc
tổ chức theo thời giá thị trường” Trong cá c
quy đị nh củ a LĐĐ không đề cậ p đế n việ c trưng mua tà i sả n thuộ c sở hữ u củ a người sử dụng đất có trên đấ t bị thu hồ i mà coi việ c giả i tỏ a tà i sả n có trên đấ t là hệ quả tấ t yế u
củ a việ c thu hồ i đấ t theo kiể u: đấ t bị thu hồ i
Trang 15thì tà i sả n có trên đấ t đương nhiên bị giả i tỏ a
mà không cầ n phả i trưng mua Thậm chí, nếu
như Nhà nước có trưng mua tài sản thuộc sở
hữu của người sử dụng đất theo đúng Hiến
pháp thì cũng không có cơ sở pháp lí để thực
hiện trong một số trường hợp Theo quy định
tại Luật Trưng mua, trưng dụng tài sản, việc
trưng mua, trưng dụng tài sản “chỉ được thực
hiện trong trường hợp thật cần thiết với lý do
quốc phòng, an ninh và vì lợi ích công cộng”
(khoản 1, Điều 4) Trong các trường hợp trưng
mua, trưng dụng tài sản theo quy định tại Điều
5 của Luật này, không có trường hợp trưng
mua tài sản của tổ chức, cá nhân vào mục đích
phát triển kinh tế Vậy Nhà nước sẽ xử lý như
thế nào đối với tài sản thuộc sở hữu của người
sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất nếu như
tài sản đó không rơi vào các trường hợp được
trưng mua theo quy định của Luật Trưng mua,
trưng dụng tài sản?
Thứ ba, thị trường hóa quan hệ đất đai và vấn
đề bảo đảm quyền tài sản của người sử dụng đất
trong hoạt động điều phối đất đai
Trong quá trình sử dụng đất, việc dịch
chuyển quyền sử dụng đất từ người này sang
người khác là nhu cầu tất yếu Quá trình dịch
chuyển này ở Việt Nam hiện nay thường được
thực hiện bằng hai phương thức:
- Thông qua giao dịch dân sự như chuyển
nhượng quyền sử dụng đất, góp vốn bằng giá
trị quyền sử dụng đất… Phương thức này có
ưu điểm là được thực hiện theo cơ chế thỏa
thuận, Nhà nước không cần phải can thiệp
bằng những mệnh lệnh hành chính, vì thế sẽ
bảo đảm được quyền và lợi ích của các bên,
giảm thiểu chi phí giao dịch…
- Thông qua việc Nhà nước thu hồi đất của
người đang sử dụng để trao quyền sử dụng đất
cho chủ đầu tư như giao đất, cho thuê đất, đấu
giá quyền sử dụng đất, đấu thầu dự án có sử
dụng đất Phương thức này có ưu điểm là giúp
cho chủ đầu tư dễ dàng tiếp cận quyền sử dụng
đất vì có sự can thiệp, hỗ trợ từ Nhà nước nhưng
lại có hạn chế là thực hiện theo cơ chế mệnh lệnh hành chính, trái với nguyên lí thị trường
và không bảo đảm quyền tài sản của người sử dụng đất
Trong nền kinh tế thị trường, hoạ t độ ng củ a
cá c doanh nghiệ p phả i lấ y thị trườ ng là m trung tâm Vậy nên, việ c dị ch chuyể n quyền sử dụng đất không chỉ dừ ng lạ i ở quan hệ hà nh chí nh
cứ ng nhắ c là thu hồ i đấ t củ a ngườ i nà y để giao cho ngườ i khá c qua thị trường sơ cấp mà chủ
yế u phả i thông qua hà nh vi tự dị ch chuyể n quyền sử dụng đất giữ a cá c chủ thể sử dụng đất Thị trường hóa quan hệ điều phối đất đai
là giải pháp khả dĩ nhất để khắc phục những hạn chế của hoạt động điều phối đất đai hiện nay Khi thị trường quyền sử dụng đất được kiện toàn, những hoạt động điều phối đất đai bằng mệnh lệnh hành chính mang nặng yếu
tố ‘xin – cho” (thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất) sẽ được thay thế bằng quan hệ thị trường (chuyển quyền sử dụng đất, đấu giá quyền sử dụng đất…) Chỉ có như vậy, thị trường bất động sản nói chung và thị trường quyền sử dụng đất nói riêng mới có thể vận hành một cách đồng bộ, quyền tài sản của người sử dụng đất mới được bảo đảm có hiệu quả
Trong thực tế áp dụng, hoạt động điều phối đất đai hiện hay vẫn chưa được thị trường hóa triệt để trong phạm vi có thể Theo khoả n 1 Điề u
38 củ a LĐĐ 2003, Nhà nước không chỉ thu hồi đất của người sử dụng khi có nhu cầ u sử dụ ng
đấ t và o mụ c đí ch, quố c phò ng, an ninh, lợ i í ch quố c gia mà còn được thu hồi đất để sử dụng
và o mụ c đí ch phá t triể n kinh tế (thu hồi đất của dân để giao cho các chủ thể kinh doanh) mặc dù
có nhiều trường hợp, chúng có thể được thay thế bằng giải pháp thị trường thông qua giao dịch dân sự hoặc những giải pháp mang đậm bản sắc thị trường hơn Ví dụ:
- Đối với trường hợp thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng hiện nay, tuy là thu hồi
để sử dụng vào mục đích chung nhưng cũng
Trang 16tồn tại những vấn đề cần phải xem xét Theo
Điều 23 của Hiến pháp 1992, trong trường hợp
thật cần thiết, Nhà nước phải trưng mua tài sản
của tổ chức, cá nhân theo thời giá thị trường
để sử dụng vào những mục đích nói trên Đối
với trường hợp quyền sử dụng đất thỏa mãn
điều kiện của quyền tài sản theo quy định của
BLDS thì nó cũng chính là tài sản theo quy
định của Bộ luật này9 Do vậy, nếu quyền sử
dụng đất được coi là tài sản của tổ chức, cá
nhân theo quy định thì nó phải được trưng
mua theo thời giá thị trường như quy định của
Hiến pháp mà không thể thu hồi và bồi thường
theo đơn giá mang tính áp đặt như hiện nay
Thu hồi đất trong trường hợp này nên chỉ đặt
ra khi người đang sử dụng đất không có quyền
chuyển nhượng quyền sử dụng đất
- Đối với trường hợp thu hồi đất để sử dụng
vào mục đích phát triển kinh tế, nếu đặt trong
bối cảnh thị trườ ng quyền sử dụng đất cò n
đang ở giai đoạ n manh nha, manh mú n, khi
mà , theo quy đị nh củ a phá p luậ t, cò n có nhữ ng
trườ ng hợ p chủ đầ u tư không thể nhậ n chuyể n
quyền sử dụng đất củ a ngườ i đang sử dụ ng
vì có thể do họ không thuộ c diệ n đượ c nhậ n
chuyể n quyề n hoặ c có thể do ngườ i đang sử
dụ ng không đượ c phé p chuyể n quyề n… việ c
thu hồ i đấ t trong mộ t số trườ ng hợ p là cầ n
thiế t Song, xét về lâu dài, đối với quyền sử
dụng đất là quyền tài sản, việc Nhà nước thu
hồi hoặc trưng mua để trao cho chủ đầu tư là
khó có thể chấp nhận vì: (i) việ c sử dụ ng đấ t
và o mụ c đí ch phá t triể n kinh tế trướ c hế t là
vì lợ i í ch củ a nhà đầ u tư, lợ i í ch chung trong
trườ ng hợ p nà y chỉ là suy diễ n và có thể á p
đặ t cho bấ t kỳ trườ ng hợ p sử dụ ng đấ t nà o;
(ii) trong cơ chế thị trườ ng, cá c nhà đầ u tư có
nhu cầ u sử dụ ng đấ t hoà n toà n có thể nhậ n
chuyể n quyền sử dụng đất củ a ngườ i đang sử
dụ ng qua sự thỏ a thuậ n mà không cầ n phả i có
sự can thiệ p củ a Nhà nước; ( iii) việ c thu hồ i
đấ t hiệ n nay là vấ n đề nhạ y cả m có ả nh hưở ng
lớ n cuộ c số ng củ a ngườ i dân, đế n vấ n đề an
9 Điều 163 của Bộ luật Dân sự.
ninh, xã hộ i nên Nhà nước không thể vì lợ i í ch
củ a nhà đầ u tư (thiể u số ) mà vô tì nh tiế p tay cho nhà đầ u tư chà đạ p lên lợ i í ch củ a ngườ i dân có đấ t bị thu hồ i (số đông) dẫ n đế n sự bấ t
bì nh chí nh đá ng trong xã hộ i Điề u 40 củ a LĐĐ 2003 đã cố gắ ng hạ n chế nhữ ng trườ ng
hợ p thu hồ i đấ t và o mụ c đí ch phá t triể n kinh
tế bằ ng quy đị nh: “Nhà nước thu hồ i đấ t và o
mụ c đí ch phá t triể n kinh tế trong trườ ng hợ p
đầ u tư xây dự ng khu công nghiệ p, khu kinh
tế , khu công nghệ cao và cá c dự á n đầ u tư
lớ n theo quy đị nh củ a Chí nh phủ ” Trên cơ
sở Điề u 40 củ a LĐĐ 2003, khoả n 2, Điề u 36, Nghị đị nh 181/2004 quy đị nh cụ thể những dự
á n đầ u tư lớ n mà Nhà nước sẽ thu hồ i đấ t, cá c
dự á n cò n lạ i, chủ đầ u tư phả i tự thỏ a thuậ n vớ i ngườ i đang sử dụ ng đấ t để nhậ n chuyể n nhượ ng, nhậ n gó p vố n hoặ c thuê quyề n sử dụ ng Nhưng rất đáng tiếc là, đế n Nghị đị nh 84/2007, ngoài những trường hợp thu hồi đất theo khoản 2 Điều
36 Nghị định 181/2004, Nhà nước đã mở rộ ng
cá c trườ ng hợ p thu hồ i đấ t để sử dụ ng và o mụ c
đí ch phá t triể n kinh tế bằng cách bổ sung thêm những dự án thuộc diện được Nhà nước thu hồi đất tại Điều 34 và Điều 35 của Nghị định này
Có thể coi đây là biểu hiện của xu hướng hành chính hóa quan hệ thị trường
- Trong hoạt động chuyển giao quyền sử dụng đất cho chủ đầu tư, hiện còn tồn tại nhiều
Tình trạng lạm dụng quyền lực công để thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất không chỉ ảnh hưởng xấu đến lợi ích của người có đất bị thu hồi mà còn dẫn đến phá vỡ tính thống nhất của thị trường quyền sử dụng đất, cơ chế hai
Trang 17giá tạo ra sự thiếu công bằng trong tiếp cận
quyền sử dụng đất của nhà đầu tư, ảnh hưởng
xấu đến lợi ích của nhà nước, dung dưỡng
cho nạn tham nhũng… Xé t về bả n chấ t, tiề n
chuyể n nhượ ng quyền sử dụng đất và tiề n bồ i
thườ ng thiệ t hạ i về đấ t có điể m giố ng nhau ở
chỗ chú ng đề u là khoả n tiề n mà người sử dụng
đất đượ c nhậ n khi chuyển nhượng hoặ c trao
trả quyền sử dụng đất cho Nhà nước và có thể
dù ng thay thế cho nhau Đố i vớ i trườ ng hợ p
chuyể n nhượ ng, giá đấ t để tí nh tiề n chuyể n
nhượ ng là giá thị trườ ng, đố i vớ i trườ ng hợ p
thu hồ i thì giá đấ t để tí nh tiề n bồ i thườ ng, mặc
dù do cơ quan nhà nước quyết định nhưng về
nguyên tắ c phả i bá m sá t “giá thị trườ ng trong
điều kiện bình thường” Đối với nhà đầu tư, tiền
mà họ phải trả để xác lập quyền sử dụng đất tuy
được diễn đạt bằng những tên gọi khác nhau tùy
theo cơ chế áp dụng như tiền chuyển nhượng,
tiền sử dụng đất nhưng chúng cũng có cùng bản
chất là tiền bỏ ra để “mua” quyền sử dụng đất
Tuy nhiên, trên thực tế, giá đất để tính tiền bồi
thường khi thu hồi đất, giá đất để tính tiền sử
dụng đất trong trường hợp không đấu giá (giá
Nhà nước quy định) so với giá chuyển nhượng
và giá đất để tính tiền sử dụng đất trong trường
hợp đấu giá quyền sử dụng đất (giá thị trường)
lại được hình theo những cơ chế khác nhau và
có sự chênh lệch lớn theo hướng giá Nhà nước
quy định thường chỉ bằng 30% đến 60% giá thị
trường do sự mơ hồ và bất hợp lí của tiêu chí
“giá thị trường trong điều kiện bình thường”10
10 Giá thị trườ ng là giá đượ c hì nh thà nh trong thự c tế
giao dị ch thông qua thỏ a thuậ n, giá thị trườ ng dù có biế n
độ ng như thế nà o cũ ng đề u coi là bì nh thườ ng vì nó đượ c
quyế t đị nh bở i quy luậ t cung cầ u, bở i sứ c mua củ a đồ ng
tiề n… như một thuộc tính tất yếu Vớ i cá ch giả i thí ch tạ i
khoả n 2, Điề u 3 củ a Nghị đị nh 188/2004/NĐ-CP, để đượ c
coi là “giá thị trườ ng trong điề u kiệ n bì nh thườ ng” phả i
loạ i trừ ả nh hưở ng củ a nhữ ng yế u tố tăng giá do đầ u cơ,
do quy hoạ ch… thì nguyên tắ c định giá đấ t của Nhà nước
không thể đả m bả o vì bỏ qua thuộc tính nói trên Mặt
khác, quy định này sẽ dẫn đến tình trạng cá c cơ quan nhà
nướ c, dự a và o nhữ ng yế u tố đượ c loạ i trừ (mà trên thự c tế
khó có thể xá c đị nh đượ c) để á p đặ t ý chí chủ quan trong
việ c quy đị nh giá đấ t dẫn đến việc giá đất do UBND các
tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương ban hành luôn có
một khoảng các khá xa so với giá thị trường.
Điều này dẫn đến tình trạng tiền bồi thường thiệt hại (người bị thu hồi được nhận), tiền sử dụng đất, tiền thuê đất tính theo giá đất do Nhà nước quy định (tiền người được giao đất phải trả) thường luôn thấp hơn so với tiền chuyển nhượng, tiền sử dụng đất, tiền thuê đất được tính theo giá trúng đấu giá
3 Kết luận
Thị trường hóa quan hệ đất đai là xu hướng mang tính tất yếu trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế Quá trình này không chỉ là động lực thức đẩy sự phát triển của kinh tế - xã hội mà còn có tác động tích cực đến việc khẳng định và bảo vệ quyền tài sản của người sử dụng đất bao gồm quyền sử dụng đất và quyền đối với tài sản
có trên đất Pháp luật đất đai hiện hành đã chính thức thừa nhận và đặt ra khung pháp luật cho sự tồn tại và phát triển của thị trường quyền sử dụng đất trong thị trường bất động sản Song, do hạn chế về nhận thức, do níu kéo của lợi ích cục bộ… mà quá trình thị trường hóa quan hệ đất đai vẫn còn chưa triệt
để, còn có sự đan xen của cơ chế thị trường
và mệnh lệnh hành chính, quyền tài sản của người sử dụng đất trong nhiều trường hợp vẫn chưa được thừa nhận đúng với bản chất
và yêu cầu của thực tiễn đúng như nhận xét của Ngân hàng Thế giới là vẫn còn mang
tính chất “lai tạp, chứa đựng những nhược
điểm của cơ chế tập trung quan liêu và cơ chế thị trường” 11 Để khắc phục những hạn
chế này, giải pháp khả thi nhất chính là tối đa hóa việc lưu chuyển đất đai theo cơ chế thị trường thông qua giao dịch quyền sử dụng đất với nguyên tắc: những quan hệ nào mà thị trường có thể điều tiết, tốt nhất nên để thị trường đảm nhiệm, Nhà nước chỉ can thiệp trong trường hợp thật cần thiết..
11 Đinh Trọ ng Thắ ng (2002), Sở hữ u tư nhân về đấ t
đai hay về quyề n sử dụ ng đấ t đai: Kinh nghiệ m quố c
tế và mộ t và i liên hệ vớ i Việ t Nam, Tạ p chí Tà i chí nh,
(07), (47-50).
Trang 18I THỰC TRẠNG CÁC QUY ĐỊNH
PHÁP LUẬT ĐẤT ĐAI VIỆT NAM LIÊN
QUAN ĐẾN BẢO ĐẢM QUYỀN CON
NGƯỜI
1 Pháp luật đất đai với việc bảo đảm
quyền được sống của con người
Sinh thời, C.Mác - Lãnh tụ vĩ đại của giai
cấp công nhân và phong trào cộng sản thế
giới - đã có câu nói rất nổi tiếng: “… Phàm
con người ta sinh ra trên đời, ai cũng có nhu
cầu ăn, ở, mặc và đi lại rồi mới nói đến hoạt
động chính trị, nghiên cứu khoa học, học tập
v.v” Câu nói nổi tiếng này đã chi tiết hóa
nội hàm khái niệm quyền được sống của con
người Để đảm bảo quyền được sống thì con
người phải được cung cấp đầy đủ lương thực,
thực phẩm để ăn; đồng thời, họ cũng có quyền
tiếp cận và sử dụng đất đai để xây dựng nhà ở
và sử dụng vào mục đích xây dựng hệ thống
cơ sở hạ tầng như giao thông, cầu, cống, hệ
thống hạ tầng khu đô thị, khu dân cư… phục
vụ nhu cầu đi lại Nghiên cứu quan hệ giữa
pháp luật đất đai Việt Nam với việc đảm bảo
quyền được sống của con người, chúng ta có
thể đưa ra một nhận xét rằng việc bảo đảm
quyền được sống của con người bằng pháp
luật nói chung và pháp luật đất đai nói riêng
ở Việt Nam ngày càng được thực hiện có hiệu
quả; bởi lẽ:
Thứ nhất, trước khi Hiến pháp năm 1980
ra đời (ngày 18/12/1980), theo Hiến pháp
năm 1959, ở nước ta tồn tại các hình thức sở
hữu khác nhau về đất đai: sở hữu nhà nước,
sở hữu tập thể và sở hữu cá nhân (sở hữu tư nhân) Sau khi Hiến pháp năm 1980 ra đời, bằng quy định: “… Đất đai là của Nhà nước, thuộc sở hữu toàn dân” (Điều 19); Nhà nước Việt Nam chỉ thừa nhận sự tồn tại của một chế độ sở hữu đất đai duy nhất: chế độ sở hữu toàn dân về đất đai Tiếp đó, Luật đất đai năm 1987 được ban hành đã thể chế hóa nội dung này của Hiến pháp năm 1980 bằng quy định: “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước thống nhất quản lý Nhà nước giao đất cho các nông trường, lâm trường, hợp tác xã, tập đoàn sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp,
xí nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân, cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội và cá nhân - dưới đây gọi là người sử dụng đất - để sử dụng ổn định, lâu dài” (Điều 1) và “Nghiêm cấm việc mua, bán, lấn, chiếm đất đai, phát canh thu
tô dưới mọi hình thức, nhận đất được giao
mà không sử dụng, sử dụng không đúng mục đích, tự tiện sử dụng đất nông nghiệp, đất có rừng vào mục đích khác, làm hủy hoại đất” (Điều 5) Quan hệ đất đai bị “đóng khung” trong mối quan hệ “chiều dọc” giữa Nhà nước
và người sử dụng đất; thể hiện qua việc Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất cho người sử dụng đất sử dụng Khi họ không có nhu cầu sử dụng đất thì bị Nhà nước thu hồi đất Như vậy, với cơ chế quản lý đất đai mang tính chất tập trung bao cấp trên đây, người lao động không được giao đất nông nghiệp trực tiếp sử dụng Họ sử dụng đất nông nghiệp của tập thể để canh tác và được phân chia lợi
PHÁP LUẬT ĐẤT ĐAI VỚI VẤN ĐỀ BẢO VỆ
QUYỀN CON NGƯỜI TRONG SỬ DỤNG
ĐẤT ĐAI Ở VIỆT NAM
NGUYỄN QUANG TUYẾN*
* PGS - TS, Trưởng Bộ môn Luật đất đai, Đại học
Luật Hà Nội.
Trang 19nhuận thu được dựa trên số lượng ngày công/
tháng làm việc cho tập thể Cơ chế quản lý
và sử dụng đất đai như vậy đã không khuyến
khích người sử dụng đất gắn bó với ruộng đất
của tập thể Hậu quả là năng suất lao động
và hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp ngày
càng giảm sút Đất nước rơi vào tình trạng
khủng hoảng về lương thực, thực phẩm và
thiếu đói kéo dài Điều này ảnh hưởng tiêu
cực đến việc đảm bảo quyền được sống của
con người
Thứ hai, để tạo động lực khuyến khích
người sử dụng đất gắn bó lâu dài với đất đai và
giải phóng mọi năng lực sản xuất của người
lao động, Nhà nước đã thực hiện việc đổi mới
cơ chế quản lý kinh tế trong nông nghiệp, bắt
đầu bằng việc xác định hộ gia đình là đơn vị
kinh tế tự chủ trong sản xuất nông nghiệp,
giao đất cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng
ổn định lâu dài Những tư tưởng đổi mới
này được ghi nhận trong Luật đất đai năm
1993 như: “Nhà nước giao đất cho các tổ
chức kinh tế, đơn vị vũ trang nhân dân, cơ
quan nhà nước, tổ chức chính trị, xã hội (gọi
chung là tổ chức), hộ gia đình và cá nhân sử
dụng ổn định lâu dài Nhà nước còn cho tổ
chức, hộ gia đình, cá nhân thuê đất” (Điều 1)
và “Người sử dụng đất ổn định, được Ủy ban
nhân dân xã, phường, thị trấn xác nhận thì
được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xét
và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”
(khoản 1 Điều 2” hoặc “Hộ gia đình, cá nhân
được Nhà nước giao đất có quyền chuyển
đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế, thế
chấp quyền sử dụng đất Các quyền nói trên
chỉ được thực hiện trong thời hạn giao đất
và đúng mục đích sử dụng của đất được giao
theo quy định của Luật này và các quy định
khác của pháp luật” (khoản 2 Điều 3) Như
vậy với những quy định này, hộ gia đình, cá
nhân được làm chủ thực sự đối với đất đai và
gắn bó lâu dài với đất đai Điều này đã tạo
động lực giải phóng mọi năng lực sản xuất
của người lao động và khuyến khích họ đầu
tư nâng cao hiệu quả sử dụng đất Sản lượng thóc gạo và các loại lương thực, thực phẩm khác được sản xuất ra ngày càng nhiều Nước
ta đã giải quyết vấn đề an ninh lương thực và trở thành quốc gia xuất khẩu gạo lớn thứ hai thế giới Đây là một trong những bảo đảm quan trọng cho việc thực hiện có hiệu quả quyền được sống của con người ở Việt Nam.Hơn nữa, việc pháp luật đất đai cho phép quyền sử dụng đất được chuyển nhượng đã tạo cơ sở pháp lý góp phần hình thành thị trường bất động sản nói chung và thị trường quyền sử dụng đất nói riêng Việc ra đời thị trường bất động sản đã có những đóng góp tích cực vào việc tạo lập hàng chục vạn m2 nhà ở nhằm đáp ứng chỗ ở cho hàng ngàn
hộ gia đình; đồng thời góp phần cải tạo và phát triển các đô thị ở nước ta theo hướng văn minh, hiện đại Bên cạnh đó, thị trường quyền sử dụng đất ra đời ở Việt Nam đã tạo điều kiện cho các chủ thể kinh doanh dễ dàng tiếp cận đất đai sử dụng vào mục đích sản xuất - kinh doanh, dịch vụ như xây dựng nhà xưởng, khu công nghiệp và các trung tâm thương mại
2 Pháp luật đất đai với việc bảo đảm quyền tự do của con người
Quyền tự do của con người trong lĩnh vực đất đai được thể hiện trên các khía cạnh
cơ bản như: (i) Quyền được Nhà nước bảo
hộ về mặt pháp lý các quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất; (ii) Quyền được lựa chọn hình thức sử dụng đất; (iii) Quyền được khiếu nại, tố cáo về những hành vi vi phạm quyền sử dụng đất hợp pháp của mình
và các hành vi khác vi phạm pháp luật đất đai; (iii) Quyền được Nhà nước thông tin về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; (iv) Quyền được Nhà nước thông tin về thu hồi đất, giải phóng mặt bằng và được phát biểu ý kiến về phương án tổng thể về bồi thường, giải phóng mặt bằng; (v) Quyền được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; (vi) Quyền được tự mình giải quyết các tranh chấp đất đai hoặc
Trang 20tham gia hòa giải tranh chấp đất đai ở cơ sở
hay đề nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền
giải quyết tranh chấp đất đai v.v
Dưới góc độ bảo đảm quyền tự do của con
người trong lĩnh vực đất đai, chúng ta thấy
rằng pháp luật đất đai đã có những đóng góp
rất tích cực thể hiện ở các nội dung cơ bản
sau đây:
Thứ nhất, pháp luật đất đai hiện hành ghi
nhận và bảo hộ các quyền và lợi ích hợp pháp
của người sử dụng đất tại Điều 105 và Điều
106 Luật đất đai năm 2003 Việc bảo hộ các
quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng
đất được thực hiện thông qua những phương
thức như: Một là, Nhà nước không thừa nhận
việc đòi lại đất đã giao cho người khác sử
dụng khi thực hiện các chính sách đất đai
của Nhà nước qua các thời kỳ; Hai là, Nhà
nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất, quyền sở hữu nhà và các tài sản khác
gắn liền với đất cho người có quyền sử dụng
đất, quyền sở hữu nhà và các tài sản khác gắn
liền với đất; Ba là, Nhà nước có chính sách
bảo đảm cho người trực tiếp sản xuất nông
nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản và
làm muối có đất để sản xuất; đồng thời, có
chính sách ưu đãi đầu tư, đào tạo nghề, phát
triển ngành nghề, tạo việc làm cho lao động
ở nông thôn phù hợp với quá trình chuyển
đổi cơ cấu sử dụng đất và chuyển đổi cơ cấu
kinh tế nông thôn theo hướng công nghiệp
hóa, hiện đại hóa
Thứ hai, pháp luật đất đai hiện hành thừa
nhận quyền của người sử dụng đất trong việc
lựa chọn hình thức giao đất, cho thuê đất
(được quy định tại Điều 108 Luật đất đai năm
2003) nhằm phù hợp với năng lực, khả năng
và điều kiện của người sử dụng đất
Thứ ba, một trong những quyền của người
sử dụng đất được Luật đất đai năm 2003 quy
định tại Điều 105 là quyền khiếu nại, tố cáo
về những hành vi vi phạm quyền sử dụng đất
hợp pháp của mình và những hành vi khác
vi phạm pháp luật đất đai Điều này cho thấy
pháp luật đất đai đã thừa nhận và trao cho người sử dụng đất quyền bảo vệ những lợi ích hợp pháp của mình đối với đất đai thông qua việc được khiếu nại tố cáo về những hành
vi vi phạm quyền sử dụng đất hợp pháp của mình và những hành vi khác vi phạm pháp luật đất đai
Thứ tư, quyền tự do trong lĩnh vực đất đai
của người sử dụng đất còn được thể hiện ở việc pháp luật đất đai ghi nhận họ được quyền tiếp cận thông tin về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và được tiếp cận thông tin về bồi thường, giải phóng mặt bằng khi Nhà nước thu hồi đất; cụ thể:
- Trong thời hạn không quá 30 ngày làm việc, kể từ ngày được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định hoặc xét duyệt, quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất phải được công
bố công khai tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn; tại trụ sở cơ quan quản lý đất đai các cấp và trên các phương tiện thông tin đại chúng Việc công bố công khai quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được thực hiện trong suốt thời gian của kỳ quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất có hiệu lực (Điều 28 Luật đất đai năm 2003)
- Diện tích đất ghi trong kế hoạch sử dụng đất đã được công bố phải thu hồi để thực hiện dự án, công trình hoặc phải chuyển mục đích sử dụng đất mà sau 03 năm không được thực hiện theo kế hoạch thì cơ quan nhà nước
có thẩm quyền xét duyệt kế hoạch sử dụng đất phải điều chỉnh hoặc hủy bỏ và công bố (khoản 3 Điều 29 Luật đất đai năm 2003)
- Đối với các trường hợp thu hồi đất để
sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng thì trước khi thu hồi đất, chậm nhất là 90 ngày đối với đất nông nghiệp và 180 ngày đối với đất phi nông nghiệp, cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải thông báo cho người bị thu hồi đất biết lý do thu hồi, thời gian và kế hoạch
di chuyển, phương án tổng thể về bồi thường, giải phóng mặt bằng tái định cư (khoản 2
Trang 21Điều 39 Luật Đất đai năm 2003)
Việc quy định quyền được tiếp cận thông
tin về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; về
bồi thường, giải phóng mặt bằng khi Nhà
nước thu hồi đất của người dân không chỉ
đảm bảo việc thực hiện được công khai, minh
bạch mà còn thể hiện sự tôn trọng và bảo hộ
quyền lợi của họ trong lĩnh vực đất đai Bởi
lẽ, đây là những lĩnh vực ảnh hưởng trực tiếp
đến quyền và lợi ích hợp pháp của người sử
dụng đất Tôn trọng các quyền con người nói
chung và quyền của người sử dụng đất trong
lĩnh vực đất đai nói riêng thông qua việc tạo
điều kiện để họ được tiếp cận thông tin về
quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và về bồi
thường, giải phóng mặt bằng khi thu hồi đất
là một phương thức không chỉ giúp người
dân hiểu và chấp hành đúng các quy định của
pháp luật đất đai mà còn tạo sự đồng thuận
từ phía cộng đồng người dân trong thực hiện
các chủ trương, chính sách, pháp luật đất đai
của Nhà nước
Thứ năm, quyền tự do của con người trong
lĩnh vực đất đai còn được thể hiện thông qua
việc đảm bảo cho người dân được bày tỏ
chính kiến, bàn bạc về những nội dung liên
quan trực tiếp đến cuộc sống của họ Hay nói
cách khác, quyền tự do của con người trong
lĩnh vực đất đai được thể hiện thông qua việc
đảm bảo các quyền dân chủ trong lĩnh vực
đất đai Các quyền này được Luật đất đai năm
2003 quy định lồng ghép trong một số nội
dung cụ thể sau đây:
- Quy hoạch sử dụng đất của xã, phường,
thị trấn được lập chi tiết gắn với thửa đất (sau
đây gọi là quy hoạch sử dụng đất chi tiết);
trong quá trình lập quy hoạch sử dụng đất chi
tiết, cơ quan, tổ chức thực hiện việc lập quy
hoạch sử dụng đất phải lấy ý kiến đóng góp
của nhân dân (khoản 5 Điều 25)
- Như phần trên đã đề cập, đối với các
trường hợp thu hồi đất để sử dụng vào mục
đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia,
lợi ích công cộng thì trước khi thu hồi đất, chậm nhất là 90 ngày đối với đất nông nghiệp
và 180 ngày đối với đất phi nông nghiệp, cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải thông báo cho người bị thu hồi đất biết lý do thu hồi, thời gian và kế hoạch di chuyển, phương án tổng thể về bồi thường, giải phóng mặt bằng tái định cư (khoản 2 Điều 39 Luật Đất đai năm 2003) Việc quy định thời hạn thông báo cho người bị thu hồi đất biết lý do thu hồi, thời gian và kế hoạch di chuyển, phương án tổng thể về bồi thường, giải phóng mặt bằng tái định cư trước khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền ra quyết định thu hồi đất sẽ giúp người sử dụng đất có thời gian để nghiên cứu, bàn bạc, thảo luận và phản hồi ý kiến của mình về phương án bồi thường, về những nội dung bồi thường chưa hợp lý Nhờ đó, cơ quan nhà nước có thẩm quyền có thể xem xét, điều chỉnh phương án bồi thường cho hợp lý hơn
Thứ sáu, quyền tự do của con người trong
lĩnh vực đất đai còn được thể hiện trong việc người sử dụng đất được quyền tự giải quyết các bất đồng, mâu thuẫn về đất đai Theo quy định của Luật Đất đai năm 2003 (Điều 135, Điều 136 và Điều 137), trình tự giải quyết tranh chấp đất đai được thực hiện theo các
bước sau: (i) Bước 1, Nhà nước khuyến khích
các bên tranh chấp đất đai tự hòa giải hoặc giải quyết tranh chấp đất đai thông qua hòa
giải ở cơ sở; (ii) Bước 2, tranh chấp đất đai
mà các bên tranh chấp không hòa giải được thì gửi đơn đến Ủy ban nhân dân xã, phường,
thị trấn nơi có đất tranh chấp để hòa giải; (iii)
Bước 3, tranh chấp đất đai đã được hòa giải tại
Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn mà một bên hoặc các bên đương sự không nhất trí thì được giải quyết tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền (cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai bao gồm: Tòa án nhân dân và Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, Ủy ban nhân dân
Trang 22tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương) Như
vậy, pháp luật đất đai hiện hành tôn trọng và
đề cao việc hòa giải tranh chấp đất đai; đồng
thời xác định hòa giải là phương thức chủ
yếu và được sử dụng trước tiên để giải quyết
tranh chấp đất đai Việc giải quyết tranh chấp
đất đai của các cơ quan công quyền chỉ được
thực hiện sau khi sự tự do thỏa hiệp ý chí của
các bên đương sự bị thất bại
3 Pháp luật đất đai với việc bảo đảm
quyền bình đẳng của người sử dụng đất
trước pháp luật
Một trong những quyền cơ bản của con
người là quyền bình đẳng trước pháp luật
Trong lĩnh vực đất đai, quyền bình đẳng của
người sử dụng đất trước pháp luật được pháp
luật đất đai thể hiện ở các khía cạnh cơ bản
sau đây:
Thứ nhất, về mặt hình thức, lần đầu tiên,
Luật đất đai năm 2003 đã dành hẳn một
chương quy định về quyền và nghĩa vụ của
người sử dụng đất (Chương IV- Từ Điều 105
- Điều 121) Theo đó, mọi đối tượng sử dụng
đất không phân biệt đó là tổ chức, hộ gia đình,
cá nhân trong nước hay người Việt Nam định
cư ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài
sử dụng đất tại Việt Nam đều được hưởng các
quyền và nghĩa vụ chung của người sử dụng
đất quy định tại Điều 105 và Điều 107 Luật
đất đai năm 2003
Bên cạnh đó, mọi đối tượng sử dụng đất
trong nước theo hình thức giao đất có thu tiền
sử dụng đất hoặc nhận chuyển quyền sử dụng
đất mà tiền sử dụng đất, tiền nhận chuyển
nhượng đã trả không có nguồn gốc từ ngân
sách nhà nước, tổ chức, hộ gia đình, cá nhân
được Nhà nước cho thuê đất trả tiền thuê đất
01 lần cho cả thời gian thuê hoặc thuê đất trả
trước tiền thuê đất cho nhiều năm mà thời
hạn thuê đất đã được trả tiền còn lại ít nhất
là 05 năm trước ngày 01/07/2004 (ngày Luật
đất đai năm 2003 có hiệu lực thi hành), người
Việt Nam định cư ở nước ngoài được Nhà
nước Việt Nam giao đất có thu tiền sử dụng
đất, người Việt Nam định cư ở nước ngoài,
tổ chức, cá nhân nước ngoài được Nhà nước Việt Nam cho thuê đất trả tiền thuê đất 01 lần cho cả thời gian thuê đáp ứng các điều kiện quy định tại khoản 1 Điều 106 Luật đất đai năm 2003 thì được chuyển nhượng, tặng cho, cho thuê lại, thừa kế, thế chấp, bảo lãnh và góp vốn bằng quyền sử dụng đất
Thứ hai, pháp luật đất đai hiện hành không
phân biệt người sử dụng đất là nam giới hay phụ nữ; nếu họ có nhu cầu và đáp ứng các điều kiện do pháp luật quy định thì được Nhà nước giao đất, cho thuê đất và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
Thứ ba, Luật đất đai năm 2003 quy định
đối với trường hợp quyền sử dụng đất là tài sản chung của vợ chồng thì khi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phải ghi cả
họ, tên vợ và họ, tên chồng (khoản 3 Điều 48) Điều này cho thấy sự bình đẳng về giới trong sử dụng đất đai được pháp luật đất đai tôn trọng và bảo hộ Đồng thời đây cũng là
cơ sở pháp lý góp phần bảo đảm quyền bình đẳng giữa phụ nữ và nam giới trong việc sử dụng đất và sở hữu các bất động sản khác trên đất
Thứ tư, mọi chủ thể sử dụng đất đều có
quyền khiếu nại, tố cáo về hành vi vi phạm pháp luật đất đai xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình và các hành vi khác vi phạm pháp luật đất đai Trình tự, thủ tục và thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai được thực hiện theo một quy trình thống nhất, áp dụng chung cho mọi đối tượng
sử dụng đất
Thứ năm, Luật đất đai năm 2003 dành một
chương quy định về thủ tục hành chính trong quản lý và sử dụng đất (Chương V - Từ Điều
122 - Điều 131) Các trình tự, thủ tục hành chính được quy định trong Chương này được
áp dụng chung cho mọi chủ thể sử dụng đất trong quá trình sử dụng đất đai
Thứ sáu, trình tự, thủ tục và thẩm quyền
Trang 23giải quyết tranh chấp đất đai và xử lý vi phạm
pháp luật đất đai quy định trong Luật đất đai
năm 2003 và các văn bản hướng dẫn thi hành
được áp dụng chung cho việc giải quyết mọi
tranh chấp đất đai cũng như áp dụng chung
cho việc xử lý vi phạm pháp luật đất đai do
người sử dụng đất gây ra mà không hề có sự
phân biệt đó là tổ chức, hộ gia đình, cá nhân
sử dụng đất hay người trong nước, người
nước ngoài sử dụng đất
4 Pháp luật đất đai với việc bảo đảm
quyền mưu cầu hạnh phúc của người sử
dụng đất
Quyền mưu cầu hạnh phúc của con người
trong lĩnh vực đất đai được thể hiện trên các
khía cạnh cơ bản như: (i) Quyền được tiếp
cận, sử dụng đất để đảm bảo cuộc sống của
bản thân và gia đình; (ii) Quyền được tiếp
cận đất đai và sử dụng đất vào hoạt động
kinh doanh nhằm mục đích thu lợi nhuận;
(iii) Quyền được hưởng thành quả lao động,
kết quả đầu tư trên đất; (iv) Quyền được bồi
thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu
hồi đất
Nghiên cứu dưới góc độ bảo đảm quyền
mưu cầu hạnh phúc của con người trong lĩnh
vực đất đai, chúng ta thấy rằng pháp luật đất
đai đã có những đóng góp rất tích cực thể
hiện ở các nội dung cơ bản sau đây:
Thứ nhất, pháp luật đất đai quy định hộ
gia đình, cá nhân được Nhà nước giao đất có
thu tiền sử dụng đất; được phép nhận chuyển
quyền sử dụng đất của người khác để sử dụng
vào mục đích để ở Trong trường hợp Nhà
nước thu hồi đất ở để sử dụng vào mục đích
quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích
công cộng và phát triển kinh tế theo khoản
1 Điều 40 Luật đất đai năm 2003 mà người
sử dụng đất phải di chuyển chỗ ở thì trước
khi thu hồi đất, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành
phố trực thuộc trung ương phải thành lập khu
tái định cư Khu tái định cư được quy hoạch
chung cho nhiều dự án, trên cùng một địa bàn
và phải có điều kiện phát triển bằng hoặc tốt hơn nơi ở cũ Trường hợp không có khu tái định cư thì người bị thu hồi đất ở được bồi thường bằng tiền và được ưu tiên mua hoặc thuê nhà ở thuộc sở hữu nhà nước Trường hợp người sử dụng đất ở bị thu hồi đất ở khu vực nông thôn thì được bồi thường bằng việc giao đất ở mới
Thứ hai, trường hợp Nhà nước thu hồi
đất nông nghiệp của người trực tiếp sản xuất nông nghiệp mà không có đất để giao cho họ tiếp tục sản xuất thì người bị thu hồi đất ngoài việc được bồi thường bằng tiền còn được hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề nghiệp và bố trí việc làm mới
Thứ ba, tổ chức, hộ gia đình, cá nhân và
người Việt Nam định cư ở nước ngoài có nhu cầu sử dụng đất thực hiện dự án đầu tư tại Việt Nam được Nhà nước Việt Nam giao đất hoặc cho thuê đất sử dụng vào mục đích sản xuất - kinh doanh
Thứ tư, thông qua các quy định về hạn mức
giao đất và hạn mức nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất nông nghiệp, Nhà nước thực hiện chính sách bảo đảm cho người trực tiếp sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản và làm muối có đất để sản xuất Điều này mang ý nghĩa chính trị, xã hội rất to lớn nhằm thực hiện khẩu hiệu “Người cày có ruộng” - mục tiêu chủ đạo của Cách mạng - trong điều kiện kinh tế thị trường…
II NHỮNG HẠN CHẾ, BẤT CẬP CỦA PHÁP LUẬT ĐẤT ĐAI VIỆT NAM LIÊN QUAN ĐẾN BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI TRONG SỬ DỤNG ĐẤT
Bên cạnh những thành tựu đạt được, pháp luật đất đai về đảm bảo quyền con người trong lĩnh vực đất đai còn bộc lộ một số tồn tại, hạn chế cơ bản sau đây:
Thứ nhất, pháp luật đất đai chưa xử lý
được sự chênh lệch về địa tô không do người
sử dụng đất gây ra Luật đất đai năm 2003 quy định: “Nhà nước thực hiện quyền điều
Trang 24tiết phần giá trị tăng thêm từ đất đai mà không
do đầu tư của người sử dụng đất mang lại”
(điểm c khoản 3 Điều 5) Tuy nhiên, do thiếu
các quy định cụ thể hướng dẫn thi hành nên
vấn đề này không đi vào cuộc sống Hậu quả
là phần giá trị tăng thêm từ đất đai không do
đầu tư của người sử dụng đất mang lại không
được điều tiết vào ngân sách nhà nước mà lại
rơi vào “túi” của một bộ phân dân cư trong xã
hội khiến họ giàu lên một cách nhanh chóng
Điều này không chỉ làm gia tăng khoảng cách
giàu, nghèo trong xã hội mà còn gây ra sự bất
bình đẳng, thiếu công bằng trong sử dụng đất
đai
Thứ hai, pháp luật đất đai còn tạo ra sự
bất bình đẳng về quyền và nghĩa vụ giữa tổ
chức, hộ gia đình, cá nhân với người Việt
Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân
nước ngoài trong sử dụng đất Theo Luật Đất
đai năm 2003, tổ chức, hộ gia đình, cá nhân
(gọi chung là chủ thể trong nước) chỉ được
Nhà nước cho thuê đất trả tiền thuê đất hàng
năm; trong khi đó, người Việt Nam định cư
ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài
(gọi chung là chủ thể ngước ngoài ) ngoài
việc được Nhà nước Việt Nam cho thuê đất
trả tiền thuê đất hàng năm giống như chủ thể
trong nước còn được cho thuê đất trả tiền thuê
đất một lần cho cả thời gian thuê thực hiện các
dự án đầu tư tại Việt Nam Người sử dụng đất
theo hình thức thuê đất trả tiền thuê đất hàng
năm chỉ có quyền tặng cho, chuyển nhượng,
cho thuê lại, thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng
tài sản thuộc sở hữu của mình gắn liền với
đất, trong khi đó, người sử dụng đất theo hình
thức thuê đất trả tiền thuê đất 01 lần cho cả
thời gian thuê được quyền tặng cho, chuyển
nhượng, cho thuê lại, thế chấp, bảo lãnh, góp
vốn bằng quyền sử dụng đất và tài sản thuộc
sở hữu của mình gắn liền với đất Như vậy, rõ
ràng pháp luật đất đai hiện hành đã tạo ra sự
bất bình đẳng về quyền và nghĩa vụ giữa người
sử dụng đất trong nước và người sử dụng đất
nước ngoài trong sử dụng đất đai
Thứ ba, việc thực thi quy định về xử lý
quy hoạch sử dụng đất “treo” của Luật đất đai năm 2003 đạt hiệu quả rất thấp Nhiều khu vực quy hoạch đã công bố sẽ thu hồi đất
và đã quá thời hạn 3 năm kể từ ngày công
bố, nhưng những cơ quan nhà nước có thẩm quyền không tiến hành điều chỉnh hoặc hủy
bỏ quy hoạch và công bố cho người dân biết Điều này gây nhiều khó khăn về đời sống và sản xuất của người sử dụng đất trong khu vực quy hoạch
Thứ tư, việc giao đất, cho thuê đất theo
hình thức đấu giá quyền sử dụng đất, đấu thầu dự án có sử dụng đất chưa được triển khai thực hiện nghiêm túc, trên thực tế chủ yếu giao đất, cho thuê đất được thực hiện theo hình thức chỉ định Điều này tạo ra sự không công khai, minh bạch, không chỉ tạo điều kiện tiềm ẩn tham nhũng, tiêu cực mà còn gây ra sự bất bình đẳng trong việc tiếp cận đất đai giữa những người sử dụng đất
Thứ năm, việc bảo đảm quyền của người
sử dụng đất trong thu hồi đất, giải phóng mặt bằng còn bộc lộ một số hạn chế; cụ thể:
- Việc thu hồi đất, bồi thường, giải phóng mặt bằng còn bất cập, chưa có cơ chế giải quyết một cách rõ ràng, minh bạch, hài hòa
về lợi ích giữa Nhà nước, người có đất bị thu hồi và nhà đầu tư
- Việc thực hiện các quy định về bồi thường,
hỗ trợ, tái định cư thiếu thống nhất giữa các
dự án thu hồi đất, giữa các địa phương có đất thu hồi với nhau, dẫn đến tình trạng người dân so bì, khiếu nại đông người Trong khi
đó, quy định về cơ chế tự thỏa thuận giữa nhà đầu tư với người sử dụng đất để thực hiện dự
án phát triển kinh tế đã giảm sức ép từ các cơ quan hành chính trong việc thu hồi đất nhưng cũng bộc lộ những hạn chế do giá thỏa thuận thường cao hơn giá bồi thường, dẫn đến khó khăn cho công tác thu hồi đất; một số dự án
đã thỏa thuận được trên 90% diện tích đất nhưng diện tích còn lại không đạt được thỏa thuận do chưa có cơ chế xử lý
Trang 25- Một số khu tái định cư chất lượng các
công trình kết cấu hạ tầng còn thấp, chưa
đồng bộ, chưa đảm bảo nguyên tắc phải có
điều kiện phát triển bằng hoặc tốt hơn nơi ở
cũ mà Luật đất đai đã quy định Nhiều địa
phương chưa lập khu tái định cư chung cho
các dự án tại địa bàn nên nhiều dự án chưa
có khu tái định cư đã thực hiện thu hồi đất ở,
thậm chí có những dự án mà người có đất bị
thu hồi phải đi thuê nhà ở nhiều năm mà vẫn
chưa được bố trí vào khu tái định cư
- Việc giải quyết việc làm cho người có
đất bị thu hồi chưa đáp ứng được yêu cầu,
chưa xử lý hài hòa mối quan hệ lợi ích giữa
người sử dụng đất, Nhà nước và nhà đầu tư…
Thứ sáu, công tác giải quyết khiếu nại, tố
cáo nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
của người sử dụng đất còn bộc lộ một số tồn
tại Tình hình tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về
đất đai vẫn diễn ra phức tạp, tính chất tranh
chấp ngày càng gay gắt, kéo dài tập trung
vào bồi thường, giải phóng mặt bằng phát
triển các khu đô thị Công tác hòa giải ở cấp
cơ sở chưa được quan tâm đúng mức, nhiều
địa phương không bố trí cán bộ có đủ năng
lực, phẩm chất, kinh nghiệm đảm nhiệm
công việc này nên việc hòa giải đạt hiệu quả
chưa cao Nhiều vụ việc giải quyết không
triệt để dẫn đến khiếu kiện đông người, có
trường hợp dẫn đến vụ án hình sự Một số địa
phương chưa làm tốt trách nhiệm phát hiện,
ngăn chặn, xử lý kịp thời những hành vi vi
phạm pháp luật về đất đai trên địa bàn như
vi phạm trong thu hồi đất, giao đất, cho thuê
đất, bồi thường, tái định cư, cấp giấy chứng
nhận
Thứ bảy, việc thực hiện các quy định về
quyền của người sử dụng đất còn bộc lộ một
địa phương còn vướng mắc, lúng túng và
không thống nhất, tiềm ẩn nguy cơ tranh chấp đất đai khó giải quyết
- Quy định chỉ có quyền thế chấp quyền sử dụng đất tại các tổ chức tín dụng được phép hoạt động tại Việt Nam và quy định tổ chức,
cá nhân nước ngoài không có quyền nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất để thực hiện các dự án đầu tư đã làm hạn chế việc huy động nguồn vốn đầu tư cho thị trường bất động sản
- Cơ chế quản lý, trình tự, thủ tục hành chính thực hiện các quyền của người sử dụng đất vẫn còn gây phiền hà cho người dân, không tạo điều kiện cho việc phát triển thị trường bất động sản (trong đó có thị trường quyền sử dụng đất)
- Cơ chế bảo hộ quyền lợi của các bên liên quan trong các giao dịch về quyền sử dụng đất thiếu đồng bộ, hiệu quả thấp Tình trạng giao dịch “ngầm” vẫn diễn ra khá phổ biến, Nhà nước chưa quản lý được và thất thu thuế v.v
III GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT ĐẤT ĐAI LIÊN QUAN ĐẾN BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI TRONG SỬ DỤNG ĐẤT ĐAI Ở VIỆT NAM
Trên cơ sở phân tích, đánh giá các quy định của pháp luật đất đai liên quan đến bảo đảm quyền con người trong sử dụng đất đai
và thực trạng áp dụng, chúng tôi xin đưa ra một số giái pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện lĩnh vực pháp luật này; cụ thể:
- Bổ sung các quy định cụ thể về kiểm tra, giám sát thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và công bố công khai quy hoạch,
kế hoạch sử dụng đất và các chế tài xử lý vi phạm quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất,
- Đối với đất sản xuất nông nghiệp, đất có rừng trồng, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối giao cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng
ổn định lâu dài, không quy định thời hạn sử dụng đất
- Bổ sung và hoàn thiện cơ chế đấu giá quyền sử dụng đất, đấu thầu dự án có sử
Trang 26dụng đất để góp phần tăng thu cho ngân sách
nhà nước và phù hợp với thực tế, tránh tham
nhũng, lãng phí trong sử dụng đất đai
- Bổ sung các quy định về hướng dẫn chi
tiết điểm c khoản 3 Điều 5 Luật đất đai năm
2003 về việc Nhà nước thực hiện quyền điều
tiết phần giá trị tăng thêm từ đất đai không do
đầu tư của người sử dụng đất mang lại
- Bổ sung quy định về việc Nhà nước
cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân thuê đất
trả tiền thuê đất 01 lần cho cả thời gian thuê
cho tương thích với việc Nhà nước cho người
Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức, cá
nhân nước thuê đất để thực hiện dự án đầu tư
tại Việt Nam theo hình thức thuê đất trả tiền
thuê đất 01 lần cho cả thời gian thuê
- Sửa đổi, bổ sung quy định đối với dự án
phát triển kinh tế nhằm mục đích sản xuất
- kinh doanh của doanh nghiệp, nhà đầu tư
tự thỏa thuận nhận chuyển nhượng quyền sử
dụng đất với tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử
dụng đất theo hướng: Trường hợp nhà đầu tư
nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất được
trên 80% diện tích đất cho dự án hoặc thỏa
thuận nhận chuyển nhượng quyền sử dụng
đất được trên 80% số chủ sử dụng ở trong
khu vực dự án mà phần diện tích đất còn lại
hoặc số chủ sử dụng đất còn lại nhà đầu tư
không thỏa thuận được thì Nhà nước ra quyết
định thu hồi đất
- Bổ sung quy định việc áp dụng giá đất
tính bồi thường, hỗ trợ theo cơ chế định giá
đất cụ thể do tổ chức tư vấn về giá đất xác
định, còn Nhà nước chỉ thực hiện việc thẩm
định giá đất Giá đất bồi thường khi thu hồi
đất tại các khu vực giáp ranh của tỉnh, thành
phố trực thuộc trung ương phải được cơ
quan nhà nước có thẩm quyền quản lý về giá
đất cấp trên thẩm định trước khi phê duyệt
Trường hợp người có đất bị thu hồi khiếu nại
về giá đất bồi thường thì giải quyết theo quy
sử dụng đất để thực hiện dự án đầu tư
- Bổ sung quy định bảo toàn tỷ lệ góp vốn bằng quyền sử dụng đất của hộ gia đình, cá nhân trong các doanh nghiệp, của bên Việt Nam trong các doanh nghiệp liên doanh
- Bổ sung quy định đối với trường hợp thuê đất trả tiền hàng năm nếu không có nhu cầu sử dụng đất thì Nhà nước thu hồi và bồi thường tài sản trên đất; bỏ quy định doanh nghiệp thuê đất trả tiền thuê đất hàng năm có quyền chuyển nhượng tài sản gắn liền với đất nhằm tránh gây thất thoát cho ngân sách nhà nước Bởi lẽ, trên thực tế các doanh nghiệp lợi dụng việc chuyển nhượng tài sản trên đất
để thực hiện việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất
- Bổ sung quy định xác định rõ trách nhiệm của Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn khi lập biên bản hòa giải tranh chấp đất đai phải kết luận rõ về nguồn gốc, thời điểm sử dụng đất; quy định rõ các trường hợp tranh chấp liên quan đến đất đai bắt buộc phải hòa giải và các trường hợp không bắt buộc phải hòa giải
- Sửa đổi quy định thời hạn kết thúc giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai của cơ quan hành chính và giải quyết của Tòa án nhân dân theo hướng trường hợp khiếu nại quyết định hành chính thì đương sự được khiếu nại lên cấp trên trực tiếp để giải quyết, trường hợp không đồng ý thì chuyển Tòa án nhân dân giải quyết
- Sửa đổi các thủ tục hành chính trong quản
lý và sử dụng đất đai theo hướng Luật đất đai chỉ quy định các nguyên tắc chung trong việc thực hiện thủ tục hành chính; trình tự, thủ tục thực hiện cụ thể giao cho Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quy định Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn thực hiện các quy định trên cho phù hợp với điều kiện cụ thể và từng giai đoạn phát triển, phù hợp với chủ trương cải cách hành chính của Đảng và Nhà nước..
Trang 27luật, chính sách thuế, đất đai được thừa nhận
có giá trị, quyền sử dụng đất (QSDĐ) được tham gia các giao dịch trên thị trường làm quan hệ đất đai ngày càng đa dạng và phức tạp, xuất hiện nhiều quan hệ mới liên quan đến chuyển nhượng, thừa kế, góp vốn,… làm gia tăng tranh chấp, mâu thuẫn đất đai Từ
đó, vấn đề bảo vệ quyền con người trong giải quyết đất đai là vấn đề đang được quan tâm bức thiết
Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi xin đề
cập vấn đề “bảo đảm quyền con người trong
công tác giải quyết tranh chấp đất đai tại Tòa
án ở Việt Nam”.
1 Việc đảm bảo quyền con người trong công tác giải quyết tranh chấp đất đai tại Tòa án ở việt nam
1.1 Đảm bảo quyền được xét xử công bằng thông qua Hiến pháp và các văn bản pháp luật
Quyền được xét xử công bằng là nguyên tắc mang tính nền tảng về quyền con người, xuất phát từ phẩm giá vốn có và bình đẳng của mọi
cá nhân Nguyên tắc này được quy định trong các công ước quốc tế và khu vực về bảo vệ quyền con người, như Công ước châu Âu về quyền con người, Công ước châu Mỹ về quyền con người, Hiến chương châu Phi về quyền con người và quyền dân tộc, đặc biệt là Công ước quốc tế về quyền dân sự và chính trị với
tuyên bố tại khoản 1 Điều 14 rằng “Mọi người
đều bình đẳng trước các toà án và cơ quan tài phán Mọi người đều có quyền được xét xử công bằng và công khai bởi một toà án có thẩm
Con người vừa là mục tiêu, vừa là động
lực của mọi chính sách phát triển kinh
tế - xã hội, quyền con người là một nội dung
lớn được các nước trên thế giới quan tâm Cho
đến nay, Việt Nam đã gia nhập hầu hết các điều
ước quốc tế về nhân quyền Các văn bản pháp
luật trong nước được ban hành hoặc sửa đổi
theo hướng nội luật hóa các điều ước quốc tế
mà Việt Nam tham gia, đồng thời không làm
cản trở việc thực hiện các công ước này
Trên cơ sở quy định của pháp luật quốc gia
và pháp luật quốc tế về quyền con người, Nhà
nước Việt Nam không ngừng nỗ lực thực hiện
các cam kết của mình, nhất quán chính sách,
hệ thống pháp luật trong nước đảm bảo và thúc
đẩy các quyền con người ở mọi lĩnh vực Trong
đó, lĩnh vực quản lý đất đai được đánh giá là
lĩnh vực đặc biệt quan trọng, bởi đất đai là loại
tài sản đặc biệt và có giá trị vô cùng quan trọng
đối với mỗi cá nhân, hộ gia đình, tổ chức ở
Việt Nam Hiến pháp và pháp luật Việt Nam
xác định, đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà
nước là đại diện chủ sở hữu; Nhà nước thống
nhất quản lý toàn bộ đất đai theo quy hoạch và
pháp luật, bảo đảm sử dụng đúng mục đích và
có hiệu quả; Nhà nước giao đất cho các tổ chức
và cá nhân sử dụng ổn định lâu dài Trong bối
cảnh Việt Nam đã chuyển đổi sang nền kinh
tế thị trường, Nhà nước không can thiệp trực
tiếp vào hoạt động sản xuất-kinh doanh mà
thực hiện quản lý thông qua hệ thống pháp
BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI TRONG
CÔNG TÁC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP
ĐẤT ĐAI TẠI TÒA ÁN Ở VIỆT NAM
NGUYỄN VĂN CƯỜNG * PHÙNG THỊ HOÀN**
* TS Thẩm phán - Phó Viện trưởng VKHXX
TANDTC
* Chuyên viên Viện khoa học xét xử TANDTC
Trang 28quyền, độc lập, không thiên vị và được lập ra
trên cơ sở pháp luật để quyết định về lời buộc
tội người đó trong các vụ án hình sự, hoặc để
xác định quyền và nghĩa vụ của người đó trong
các vụ kiện dân sự” Quyền được xét xử công
bằng, hay còn gọi là thi hành công lý một cách
công bằng, là một trong những nền móng của
nhà nước pháp quyền và là một trong những
biện pháp thực hiện “nguyên tắc quyền bình
đẳng và được đối xử bình đẳng” đối với con
người trên toàn thế giới
Quyền được xét xử công bằng là một tiêu
chuẩn của pháp luật nhân quyền quốc tế, theo
đó, mọi người có quyền được hưởng sự xét
xử công bằng và công khai của một tòa án có
thẩm quyền, độc lập và không thiên vị do luật
định Nhận thức tầm quan trọng của nguyên
tắc xét xử công bằng, ngay từ khi thành lập
nhà nước Việt nam nguyên tắc này đã được ghi
nhận trong Hiến pháp 1946 và sau này được kế
thừa trong Hiến pháp 1960, Hiến pháp 1980
và Hiến pháp 1992 Hiến pháp năm 1992 (đã
được sửa đổi, bổ sung năm 2001) khẳng định
rõ tại Điều 50 “Ở nước Cộng hoà xã hội chủ
nghĩa Việt Nam, các quyền con người về chính
trị, dân sự, kinh tế, văn hoá và xã hội được tôn
trọng, thể hiện ở các quyền công dân và được
quy định trong Hiến pháp và luật”; tại Điều
52 “Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp
luật”; tại Điều 130 “Khi xét xử, Thẩm phán và
Hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật”;
tại Điều 131 “Toà án nhân dân xét xử công
khai, trừ trường hợp do luật định Toà án nhân
dân xét xử tập thể và quyết định theo đa số”
Những quy định này khẳng định sự tôn trọng
các quyền cơ bản của con người nói chung và
quyền được bình đẳng trước pháp luật và trước
Tòa án nói riêng của Nhà nước Việt Nam
Trên cơ sở quy định của Hiến pháp, các bộ
luật và các văn bản dưới luật như: Bộ luật tố
tụng dân sự (BLTTDS), Luật tố tụng hành
chính (TTHC) cụ thể hóa các quy định của
Hiến pháp, quy định vấn đề Tòa án phải đảm
bảo thực hiện các nguyên tắc vì quyền con
người, Tòa án thực hiện hoạt động tố tụng nhằm mục đích bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức; bảo đảm bình đẳng
về quyền và nghĩa vụ trong tố tụng dân sự
Điều 8 BLTTDS quy định: “Mọi công dân
đều bình đẳng trước pháp luật, trước Toà án không phân biệt dân tộc, nam nữ, thành phần
xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ văn hoá, nghề nghiệp Mọi cơ quan, tổ chức đều bình đẳng không phụ thuộc vào hình thức tổ chức, hình thức sở hữu và những vấn đề khác Các đương sự đều bình đẳng về quyền và nghĩa vụ trong tố tụng dân sự, Toà án có trách nhiệm tạo điều kiện để họ thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình”; Điều 10 Luật TTHC cũng
quy định nội dung tương tự: “1 Mọi công dân
đều bình đẳng trước pháp luật, trước Toà án không phân biệt dân tộc, nam nữ, thành phần
xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ văn hoá, nghề nghiệp 2 Mọi cơ quan, tổ chức đều bình đẳng không phụ thuộc vào hình thức tổ chức, hình thức sở hữu và những vấn đề khác 3 Các đương sự bình đẳng về quyền và nghĩa vụ trong quá trình giải quyết vụ án hành chính Toà án có trách nhiệm tạo điều kiện để họ thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình”; BLDS
quy định nguyên tắc bình đẳng trong quan hệ
dân sự tại Điều 1, theo đó “BLDS có nhiệm vụ
bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng; bảo đảm sự bình đẳng và an toàn pháp lý trong quan hệ dân sự, góp phần tạo điều kiện đáp ứng nhu cầu vật chất và tinh thần của nhân dân, thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội”;
Luật đất đai và văn bản hướng dẫn thi hành nhất quán các quy định về quyền, nghĩa vụ của người sử dụng đất, các phương thức giải quyết tranh chấp, thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai, các vấn đề liên quan quản lý đất đai,… đều vì mục tiêu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, những quyền cơ bản liên quan đất đai của con người Ngoài ra, còn nhiều văn bản pháp luật khác quy định sự giám sát công tác xét xử của các cơ quan khác như:
Trang 29Quốc hội, Viện kiểm sát, các cơ quan khác theo
quy định của pháp luật
Trong quá trình giải quyết tranh chấp nói
chung và tranh chấp đất đai nói riêng, để đảm
bảo nguyên tắc “quyền được xét xử công bằng”
của đương sự, Tòa án đảm bảo thực hiện tất cả
các nguyên tắc hướng tới đảm bảo quyền con
người được quy định trong Hiến pháp, Luật
tổ chức Tòa án nhân dân và pháp luật tố tụng
như: Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa;
nguyên tắc việc xét xử của Toà án nhân dân có
Hội thẩm nhân dân tham gia theo quy định của
pháp luật tố tụng, khi xét xử Hội thẩm ngang
quyền với Thẩm phán; nguyên tắc khi xét xử,
Thẩm phán và Hội thẩm độc lập và chỉ tuân
theo pháp luật; nguyên tắc Toà án xét xử công
khai, trừ trường hợp do luật định; nguyên tắc
Toà án xét xử tập thể và quyết định theo đa số;
nguyên tắc Toà án xét xử mọi công dân đều
bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt
nam, nữ, dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo, thành
phần xã hội, địa vị xã hội, cá nhân, cơ quan,
tổ chức, đơn vị vũ trang nhân dân và các cơ sở
sản xuất, kinh doanh thuộc mọi thành phần kinh
tế đều bình đẳng trước pháp luật; nguyên tắc
Toà án bảo đảm cho những người tham gia tố
tụng quyền dùng tiếng nói, chữ viết của dân tộc
mình trước Toà án; nguyên tắc có quyền tự bào
chữa hoặc nhờ người bảo vệ quyền, lợi ích hợp
pháp của đương sự, khi xét xử Tòa án đảm bảo
nguyên tắc độc lập và chỉ tuân theo pháp luật
1.2 Đảm bảo thực hiện các quyền của
đương sự trong công tác giải quyết tranh
chấp đất đai
Giải quyết tranh chấp đất đai là một trong
những quá trình, thủ tục thể hiện việc thực thi
những quyền con người, quyền công dân được
pháp luật cụ thể hóa trên cơ sở Hiến pháp Việt
Nam và pháp luật quốc tế mà Việt Nam tham
gia và ký kết Những quyền của các đương sự
được ghi nhận trong pháp luật tố tụng đảm bảo
các đương sự trong các tranh chấp nói chung
và tranh chấp đất đai nói riêng được đảm bảo
nhiều quyền con người cơ bản như: Quyền tự
do thỏa thuận các vấn đề dân sự liên quan trực tiếp đến họ; quyền được đối xử công bằng, bình đẳng trước Tòa án; quyền được tiếp cận thông tin; quyền được bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp theo quy định của pháp luật,…Theo khoản 13 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều BLTTDS (sẽ có hiệu lực từ ngày 01-01-2012) thì đương sự có quyền giữ nguyên, thay đổi, bổ sung hoặc rút yêu cầu theo quy định của BLTTDS; cung cấp tài liệu, chứng cứ, chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình; yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức đang lưu giữ, quản lý tài liệu, chứng cứ cung cấp tài liệu, chứng cứ đó cho mình để giao nộp cho Toà án; đề nghị Toà án xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ của vụ án
mà tự mình không thể thực hiện được hoặc đề nghị Toà án triệu tập người làm chứng, trưng cầu giám định, định giá, thẩm định giá; được biết và ghi chép, sao chụp tài liệu, chứng cứ do các đương sự khác xuất trình hoặc do Toà án thu thập; đề nghị Toà án quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời;
tự thoả thuận với nhau về việc giải quyết vụ án; tham gia hoà giải do Toà án tiến hành; nhận thông báo hợp lệ để thực hiện các quyền, nghĩa
vụ của mình; tự bảo vệ hoặc nhờ người khác bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình; tham gia phiên toà; yêu cầu thay đổi người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng theo quy định của BLTTDS; tranh luận tại phiên toà; đề nghị Toà án đưa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng; đưa ra câu hỏi với người khác về vấn đề liên quan đến vụ án khi được phép của Toà án hoặc đề xuất với Toà án những vấn đề cần hỏi với người khác; được đối chất với nhau hoặc với người làm chứng; được cấp trích lục bản án, quyết định của Toà án; phải có mặt theo giấy triệu tập của Toà án
và chấp hành các quyết định của Toà án trong thời gian giải quyết vụ án; kháng cáo, khiếu nại bản án, quyết định của Toà án; đề nghị người
có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm bản án, quyết định của Toà
Trang 30án đã có hiệu lực pháp luật; chấp hành nghiêm
chỉnh bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu
lực pháp luật; các quyền, nghĩa vụ khác mà
pháp luật có quy định
Những quyền và nghĩa vụ của đương sự
được pháp luật ghi nhận và Tòa án đảm bảo
trong quá trình giải quyết tranh chấp trên đây
là sự cụ thể hóa thực thi quyền con người tại
Tòa án nói riêng và trước pháp luật nói chung
Những quyền và nghĩa vụ này của đương sự
đều hướng tới việc đảm bảo những điều kiện
tốt nhất để các đương sự được tự mình lựa
chọn hoặc yêu cầu cơ quan nhà nước thực thi
nhiệm vụ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
công dân Qua đó, thể hiện quyền bình đẳng
của công dân trước pháp luật, quyền được Tòa
án xét xử công bằng mà không làm thiệt hại
đến lợi ích hợp pháp của người khác
Ngoài ra, còn thể hiện thông qua việc quy định
ưu tiên hình thức giải quyết tranh chấp bằng hòa
giải cơ sở trong giải quyết tranh chấp đất đai, hay
nguyên tắc tôn trọng sự thỏa thuận của các đương
sự về việc giải quyết vụ án trong quá trình giải
quyết tranh chấp hoặc ngay tại phiên tòa
Trong quá trình giải quyết tranh chấp đất đai
tại Tòa án, Tòa án tuân thủ các quy định trên
đây, tạo điều kiện thuận lợi để đương sự thực
hiện quyền hợp pháp của mình Tuy nhiên,
thực tiễn cho thấy, việc thực hiện quyền tiếp
cận thông tin của đương sự còn chưa được đảm
bảo, đương sự còn gặp khó khăn trong việc yêu
cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức đang lưu giữ,
quản lý chứng cứ cung cấp chứng cứ đó cho
mình để giao nộp cho Toà án Mặc dù, pháp
luật tố tụng quy định nhưng thực tế những năm
vừa qua cho thấy, khi giải quyết các vụ án mà
có các tài liệu, chứng cứ đang do cơ quan, tổ
chức lưu giữ, quản lý thì việc thu thập chứng
cứ không hề đơn giản Trong rất nhiều vụ án,
mặc dù đương sự đã cất công đi lại nhiều lần
yêu cầu cơ quan, tổ chức cung cấp các chứng
cứ liên quan đến việc giải quyết vụ án để họ
giao nộp cho Tòa án nhưng đều bị từ chối với
đủ mọi lý do Với cách từ chối này, đương sự khó có thể chứng minh việc họ đã áp dụng mọi biện pháp nhưng vẫn không thu thập được chứng cứ để làm cơ sở yêu cầu Tòa án, thậm chí có trường hợp ngay cả yêu cầu của Tòa án cũng không được thực hiện nghiêm túc
1.3 Đảm bảo quyền được bảo hộ về tài sản, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự trong công tác giải quyết tranh chấp đất đai
Giải quyết tranh chấp đất đai đúng quy định của pháp luật, kịp thời, hợp lý, hợp tình là biện pháp bảo vệ quyền tài sản, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các cá nhân, tổ chức đối với đất đai Đối với mỗi cá nhân, hộ gia đình, tổ chức ở Việt Nam, đất đai là tài sản lớn, có giá trị vô cùng quan trọng Việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người dân đối với đất đai là nhiệm vụ, mục tiêu luôn được Nhà nước quan tâm đảm bảo Hiến pháp Việt Nam ghi nhận
tại Điều 58 “Công dân có quyền sở hữu về thu
nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt, tư liệu sản xuất, vốn và tài sản khác trong doanh nghiệp hoặc trong các tổ chức kinh tế khác; đối với đất được Nhà nước giao
sử dụng thì theo quy định tại Điều 17 và Điều
18 Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu hợp pháp
và quyền thừa kế của công dân” Trên cơ sở
đó, hệ thống pháp luật Việt Nam bao gồm văn bản quy phạm pháp luật và các thể chế được xây dựng nhằm đảm bảo thực thi quyền này của công dân Việt Nam
Nhà nước đặt ra nhiều hình thức giải quyết tranh chấp đất đai là một trong những phương pháp để thực hiện nhiệm vụ, mục tiêu này một cách có hiệu quả nhất Việc giải quyết tranh chấp đất đai bằng hòa giải, bằng thủ tục hành chính hay thủ tục tố tụng tại Tòa án đều nhằm mục đích bảo vệ người có quyền lợi hợp pháp đối với tài sản, đặc biệt là quyền sở hữu nhà, quyền sử dụng đất.Việc giải quyết tranh chấp đất đai cũng bảo đảm quyền của người thứ ba ngay tình, người
có công khai phá, tôn tạo đất, tài sản trên đất,
Trang 31Ví dụ, trên cơ sở các quy định về bảo vệ người
thứ ba ngay tình quy định tại các Điều 138,
257, 258 và các điều, khoản cụ thể khác của
BLDS, trong trường hợp tài sản giao dịch là
bất động sản đã được chuyển giao bằng một
giao dịch khác cho người thứ ba ngay tình thì
giao dịch với người thứ ba không bị vô hiệu
nếu người thứ ba ngay tình nhận được tài sản
này thông qua bán đấu giá hoặc giao dịch với
người mà theo bản án, quyết định của cơ quan
nhà nước có thẩm quyền là chủ sở hữu tài sản
nhưng sau đó người này không phải là chủ sở
hữu tài sản do bản án, quyết định bị huỷ, sửa
Quyền, lợi ích hợp pháp của công dân ở Việt
Nam chính là những quyền con người được
Nhà nước cụ thể hóa trong pháp luật để thực
thi trực tiếp một cách hiệu quả nhất Việc giải
quyết tranh chấp đất đai luôn nhằm đảm bảo
quyền công bằng, bình đẳng của mọi công dân
trong việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của
mình trước pháp luật Chủ thể có quyền sở hữu
hoặc quyền sử dụng hợp pháp ban đầu được
bảo đảm quyền tài sản của mình thông qua việc
tự bảo vệ hoặc yêu cầu cơ quan nhà nước thực
thi quyền bảo vệ tài sản của công dân
Để đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của mọi
cá nhân, tổ chức trong tranh chấp đất đai, đòi
hỏi bộ máy trực tiếp tham gia giải quyết vụ án,
trong đó đóng vai trò quyết định là những cán
bộ chuyên trách phải có hiểu biết sâu sắc, toàn
diện những quy định của pháp luật nội dung
về đất đai cũng như pháp luật tố tụng Nhưng
thực tiễn giải quyết tranh chấp đất đai cho thấy,
năng lực của cán bộ trực tiếp thực hiện công
tác này còn nhiều hạn chế Do điều kiện lịch
sử, chính sách quản lý đất đai của Việt Nam
thay thổi theo từng thời kỳ, dân số tăng cao
và giá trị của đất ngày càng tăng lên, công tác
quản lý đất đai gặp nhiều khó khăn, tranh chấp
đất đai xảy ra nhiều và tính chất phức tạp ngày
càng cao Đặc biệt là hiện tượng những tranh
chấp đất đai mang tính chất tập thể dẫn tới
khiếu nại kéo dài, khó giải quyết
1.4 Quyền được Nhà nước bồi thường thiệt hại do hành vi trái pháp luật của Thư ký Tòa án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử gây ra
Quyền con người được đối xử công bằng, bình đẳng, được bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp không chỉ thể hiện trong mối tương quan giữa các công dân trong xã hội, mà còn thể hiện cụ thể trong mối quan hệ giữa Nhà nước và công dân Nhà nước có thể ghi nhận quyền và quy định rất nhiều nghĩa vụ cho công dân của đất nước mình, đồng thời Nhà nước cũng phải thực hiện những trách nhiệm tương ứng để bảo
vệ và phục vụ nhân dân
Một trong những khía cạnh thể hiện rõ ràng việc bảo vệ quyền con người trong mối quan hệ giữa Nhà nước và công dân là việc bồi thường thiệt hại cho công dân khi người thi hành công
vụ của Nhà nước có hành vi gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của công dân Đây là một trong những yếu tố thể hiện nguyên tắc của sự công bằng mà Nhà nước không được coi là ngoại lệ, bởi người có hành vi vi phạm pháp luật mà gây ra thiệt hại thì phải bồi thường phần thiệt hại đó Hiến pháp Việt Nam ghi nhận tại
Điều 72 rằng “ Người bị bắt, bị giam giữ, bị truy
tố, xét xử trái pháp luật có quyền được bồi thường thiệt hại về vật chất và phục hồi danh dự Người làm trái pháp luật trong việc bắt, giam giữ, truy tố, xét xử gây thiệt hại cho người khác phải bị xử lý nghiêm minh”.
Pháp luật tố tụng cụ thể hóa những trường hợp trong quá trình giải quyết tranh chấp tại Tòa án nói chung hay giải quyết tranh chấp đất đai nói riêng, người tiến hành tố tụng có hành
vi trái pháp luật gây thiệt hại cho cá nhân, tổ chức thì Toà án có trách nhiệm bồi thường cho người bị thiệt hại và người tiến hành tố tụng có trách nhiệm hoàn trả cho Toà án theo quy định của pháp luật (Điều 13 BLTTDS)
Nhằm củng cố thêm cơ sở pháp lý và hiệu quả của việc thực hiện trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước (TNBTCNN) được Quốc hội