TƯ PHÁP VÀ VIỆC SỬA ĐỔI HIẾN PHÁP LIÊN QUAN ĐẾN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT
III. Một số kiến nghị
Trước thực trạng pháp luật về quyền sử dụng đất và thẩm quyền của Tòa án nhân dân đối với các tranh chấp về quyền sử dụng đất như đã nêu trên, việc hoàn thiện pháp luật về quyền sử dụng đất và thẩm quyền của Tòa án nhân dân đối với các tranh chấp về quyền sử dụng đất là cấp thiết, cần phải đặt ra trong thời gian trước mắt và lâu dài. Việc hoàn thiện pháp luật về vấn đề này không chỉ là ban hành pháp luật mà còn phải xuất phát từ quyền công dân, cơ chế áp dụng pháp luật đặt trong bối cảnh cải cách tư pháp nhằm xây dựng nhà nước pháp quyền, xã hội dân chủ, văn minh.
Thứ nhất, Hiến pháp bổ sung sửa đổi cần ghi nhận quyền sử dụng đất của công dân nhưng có giới hạn. Phạm vi giới hạn là công dân chỉ được sở hữu đối với loại đất ở. Đối với các loại đất khác việc giao quyền sở hữu phải theo lộ trình. Việc ghi nhận quyền sử hữu đất ở của công dân không làm xáo trộn đời sống xã hội, thực chất là chính thức thừa nhận bản chất tài sản vốn lâu nay vẫn là sở hữu toàn dân
Thứ hai, về lâu dài, phải xác định các tranh chấp về quyền sử dụng đất phải thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân.
Hiện nay, các quan hệ đất đai được điều chỉnh bởi hai ngành luật: đất đai và dân sự. Các tranh chấp đất đai được điều chỉnh theo hai thủ tục: hành chính và tư pháp.
Tuy nhiên, với mức độ phát triển kinh tế
như hiện nay cùng với việc hội nhập với thế giới về nhiều mặt, pháp luật giải quyết tranh chấp đất đai cần có sự đổi mới, hoàn thiện hơn nữa, phù hợp với yêu cầu điều chỉnh pháp luật. Để đạt được mục tiêu này, cần phải:
- Tăng cường việc giải quyết tranh chấp đất đai bằng thủ tục tư pháp thay cho thủ tục hành chính. Tách bạch vai trò quản lý nhà nước về đất đai với cơ quan giải quyết tranh chấp đất đai. Giảm thiểu việc một cơ quan hành chính nhà nước vừa quản lý nhà nước về đất đai, vừa giải quyết các tranh chấp. Các tranh chấp đất đai phải được giải quyết tại Tòa án, được thi hành bằng cơ quan thi hành án, hạn chế việc giải quyết bằng ý chí chủ quan từ cơ quan quản lý nhà nước. Việc giải quyết các tranh chấp đất đai phải công khai, minh bạch theo thủ tục tranh tụng và được thi hành bằng cơ quan độc lập. Giải quyết các tranh chấp đất đai bằng thủ tục tư pháp có nhiều ưu điểm so với thủ tục hành chính. Một, thủ tục tư pháp bảo đảm quyền tự định đoạt và tính công khai của hình thức giải quyết tranh chấp. Các phán quyết của Tòa án nhân dân là kết quả của quá trình chứng minh của các bên đương sự một cách bình đẳng, công khai theo trình tự do luật định. Các đương sự bảo vệ quyền lợi của mình bằng chính các hành vi tố tụng của họ, đương sự nào chứng minh được quyền lợi bị xâm phạm Tòa án công nhận kết quả chứng minh đó.
Ngược lại, giải quyết tranh chấp theo thủ tục hành chính phụ thuộc phần lớn vào ý chí của cơ quan giải quyết, không có tranh luận công khai, bình đẳng về quyền nghĩa vụ pháp lý giữa các bên. Thủ tục hành chính thực hiện theo phương pháp mệnh lệnh, bất bình đẳng không tạo ra cơ hội để các bên tranh chấp có điều kiện được tranh tụng, làm sáng tỏ bản chất của vấn đề. Hai, thủ tục tư pháp được thực hiện theo thủ
tục chặt chẽ, lô gích; các phán quyết căn cứ vào quy định của pháp luật và bảo đảm bằng cưỡng chế nhà nước. So với thủ tục hành chính, trình tự giải quyết tranh chấp tại Tòa án nhân dân bắt buộc phải được thực hiện theo các giai đoạn tố tụng, tiến trình giải quyết phải đảm bảo về thời gian và quy trình chặt chẽ. Mọi hoạt động tố tụng chịu sự kiểm soát của các cơ quan chức năng và cả người tham gia tố tụng.
Trong khi đó, trình tự giải quyết tranh chấp tại cơ quan hành chính thiếu sự chuyên môn hóa, thủ tục không chặt chẽ, phương hướng giải quyết không đồng nhất, kết quả giải quyết thường kéo dài, hiệu quả không cao. Hơn nữa, việc thi hành các quyết định hành chính chưa thực sự hiệu quả, thuyết phục.
- Thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân về tranh chấp đất đai phải được mở rộng hơn nữa về phạm vi loại việc. Ngoài các loại việc quy định tại khoản 1, 2, 5 điều 50 của Luật đất đai hiện hành, cần bổ sung những tranh chấp khác về đất đai thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án, dần dần thay thế giải quyết tranh chấp đất đai bằng thủ tục hành chính sang thủ tục tư pháp.
- Mọi tranh chấp đất đai phải được giải quyết kịp thời, nhanh chóng, dứt điểm, khắc phục tình trạng giải quyết kéo dài, không có lợi cho người sử dụng đất.
- Thừa nhận tranh chấp đất đai là tranh chấp dân sự. Bản chất của quyền sử dụng đất cũng là tài sản, do đó, các quan hệ về đất đai cũng là quan hệ dân sự. Song song đó, pháp luật đất đai về lâu dài thừa nhận quyền sở hữu đất của công dân, cơ quan, tổ chức.
Với quy định theo hướng như trên, chắc chắn quyền công dân trong việc bảo vệ quyền sử dụng đất trước Tòa án nhân dân sẽ tốt hơn nhiều so với quy định của pháp
luật hiện hành. Điều này được xác định qua hai yếu tố: (i) Tài phán của Tòa án bao giờ cũng khách quan, công khai và toàn diện hơn các chủ thể khác trong việc giải quyết tranh chấp, nhất là so với cơ chế giải quyết tranh chấp theo pháp luật hiện hành; (ii) Phán quyết của Tòa án được bảo đảm thi hành bằng cơ quan quyền lực bao giờ cũng nhanh chóng và hiệu quả hơn cơ chế thi hành hành chính. Hơn nữa, đây cũng là xu thế chung của pháp luật các nước trên thế giới, mà Việt Nam đang trong quá trình hội nhập và tiếp thu có chọn lọc các kinh nghiệm trên thế giới để thực hiện Chiến lược cải cách tư pháp trong giai đoạn trước mắt và lâu dài.
Thứ ba, Tòa án tối cao phối hợp với Bộ Tài nguyên môi trường thống nhất hướng dẫn cụ thể các tranh chấp về quyền sử dụng đất thuộc thẩm quyền của Tòa án bằng một thông tư liên tịch. Trong đó, xác định cụ thể khái niệm tranh chấp về quyền sử dụng đất (phạm vi, loại tranh chấp, cơ quan giải quyết). Có như vậy, các Tòa án địa phương thuận lợi hơn trong việc xác định các loại việc thuộc thẩm quyền của mình. Điều này đồng nghĩa với việc quyền công dân sẽ được xác định rõ ràng, cụ thể hơn trong việc yêu cầu cơ quan Tòa án giải quyết quyền lợi của mình.
Thứ tư, Tòa án tối cao phải hủy bỏ Công văn số 141/TANDTC-KHXX, ngày 21 tháng 09 năm 2011 của Tòa án nhân dân tối cao về Thẩm quyền giải quyết các yêu cầu trả lại giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản.
Thứ năm, thời hạn hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã đối với các tranh chấp về quyền sử dụng đất không nên tính vào thời hiệu khởi kiện. Bộ luật Tố tụng dân sự (cụ thể điều 159) nên quy định: Thời hạn hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã đối với các tranh chấp về quyền sử dụng đất không tính vào thời hiệu khởi kiện. Quy định bổ sung này là cần thiết và quan trọng vì nó gắn liền
với quyền khởi kiện của công dân và thẩm quyền của Tòa án. Bởi vì hành vi thực hiện trách nhiệm của cơ quan công quyền mà loại bỏ quyền khởi kiện của công dân là không đúng với bản chất pháp luật và quyền công dân.
Thứ sáu, năng lực hành vi của người sử dụng đất nên xác định theo năng lực hành vi dân sự được quy định trong Bộ luật Dân sự 2005. Kiến nghị này xuất phát từ các lý do sau:
1. Quyền sử dụng đất là quyền tài sản, thuộc sở hữu của công dân. Nên ghi nhận quyền sở hữu cho công dân như Bộ luật Dân sự 2005 là phù hợp.
2. Ở Việt Nam, hầu hết công dân sống ở nông thôn, tham gia lao động nông nghiệp từ rất sớm, nên việc để họ có quyền định đoạt tài sản của mình là cần thiết.
3. Người từ đủ 15 tuổi trở lên đã có nhận thức tương đối đầy đủ đối với việc định đoạt tài sản của mình là quyền sử dụng đất trong trường hợp đất đó do Nhà nước giao cho hộ gia đình. Nghĩa là họ sẽ thể hiện ý chí cùng với các thành viên khác trong gia đình trên cơ sở có thể tham khảo thêm ý chí của những thành viên khác vì lợi ích chung của họ.
Tóm lại, quyền sở hữu đất đai và tranh chấp quyền sử dụng đất là loại quan hệ pháp luật có tính phổ biến trong đời sông xã hội nhất là khi Việt Nam đang trong bối cảnh đất nước đang phát triển, kinh tế nông nghiệp, công nghiệp ngày càng khẳng định vai trò của mình, giá trị thương mại của quyền sử dụng đất ngày càng cao. Điều này đòi hỏi pháp luật về sở hữu đất đai và thẩm quyền giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất phải ngày càng hoàn thiện, đầy đủ, cụ thể. Có như vậy, pháp luật mới đáp ứng đòi hỏi của thực tiễn xã hội, quyền công dân mới được bảo đảm, kinh tế, xã hội mới phát triển và mục tiêu xây dựng nhà nước pháp quyền mới được thực hiện và phát huy hiệu quả..
Trong xã hội hiện đại, bảo vệ tài sản là quyền sử dụng đất cho cá nhân, hộ gia đình, tổ chức là vấn đề có ý nghĩa “sống còn”, điều tất yếu để người sử dụng đất thưc hiện hiệu quả quyền tài sản. Cùng với việc xác định cơ sở để người sử dụng đất tự bảo vệ mình, pháp luật còn dự liệu nhiều cơ chế bảo vệ quyền của người sử dụng đất, trong đó suy đoán tài sản chung theo pháp luật hôn nhân và gia đình được đánh giá là cơ chế bảo vệ khá hữu hiệu. Bài viết này bàn về việc bảo vệ quyền của vợ chồng đối với tài sản là quyền sử dụng đất bằng nguyên tắc suy đoán tài sản chung. Đồng thời, qua một vài vụ án, bài biết nêu những vướng mắc trong thực tiễn áp dụng nguyên tắc suy đoán tài sản chung để giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất do một bên vợ, chồng đứng tên và trao đổi hướng tháo gỡ nhằm đảm bảo cho vợ chồng thụ hưởng quyền tài sản của mình một cách trọn vẹn trên thực tế.
1. Quyền sử dụng đất – tài sản đặc thù của vợ chồng
Về lý luận, quyền sử dụng đất của cá nhân, pháp nhân, hộ gia đình, chủ thể khác là quyền khai thác các thuộc tính có ích từ đất nhằm thỏa mãn nhu cầu của người sử dụng đất. Quyền sử dụng đất của các chủ thể được xác lập do nhà nước giao đất, cho
thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất hoặc được xác lập do người khác chuyển quyền sử dụng đất theo qui định của pháp luât.
Trong quan hệ pháp luật hôn nhân và gia đình, quyền sử dụng đất có thể là tài sản riêng của một bên hoặc tài sản chung của vợ chồng. Đó là quyền khai thác các thuộc tính có ích từ đất nhằm thỏa mãn nhu cầu của một bên hoặc nhu cầu của gia đình và vợ chồng. Nếu như Luật hôn nhân và gia đình (LHN&GĐ) năm 1959 không thừa nhận quyền có tài sản riêng của vợ chồng vì “mọi tại tài có trước và sau khi cưới đều là tài sản chung” thì kế thừa LHN&GĐ năm 1986, LHN&GĐ năm 2000 đã công nhận hai khối tài sản thuộc sở hữu chung, riêng của vợ chồng trong đó có quyền sử dụng đất. Theo khoản 1 Điều 27 LHN&GĐ hiện hành thì “… Quyền sử dụng đất mà vợ chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng. Quyền sử dụng đất mà vợ hoặc chồng có được trước khi kết hôn, được thừa kế riêng chỉ là tài sản chung khi vợ chồng có thỏa thuận”. Trên tinh thần này, Nghị định 70/2001/NĐ - CP ngày 3.10.2001 của Chính phủ qui định chi tiết thi hành LHN&GĐ (NĐ 70/2001) đã đưa ra căn cứ xác lập quyền sử dụng đất của vợ chồng, theo đó, “… quyền sử dụng đất mà mỗi bên có được trước khi kết hôn do được chuyển nhượng, chuyển đổi, thừa kế, nhận thế chấp hoặc quyền sử dụng đất mà mỗi bên được