ĐẤT ĐAI TẠI TÒA ÁN Ở VIỆT NAM

Một phần của tài liệu Chuyen de phap luat dat dai va nha o (Trang 27 - 34)

NGUYỄN VĂN CƯỜNG * PHÙNG THỊ HOÀN**

* TS. Thẩm phán - Phó Viện trưởng VKHXX TANDTC

* Chuyên viên Viện khoa học xét xử TANDTC

quyền, độc lập, không thiên vị và được lập ra trên cơ sở pháp luật để quyết định về lời buộc tội người đó trong các vụ án hình sự, hoặc để xác định quyền và nghĩa vụ của người đó trong các vụ kiện dân sự”. Quyền được xét xử công bằng, hay còn gọi là thi hành công lý một cách công bằng, là một trong những nền móng của nhà nước pháp quyền và là một trong những biện pháp thực hiện “nguyên tắc quyền bình đẳng và được đối xử bình đẳng” đối với con người trên toàn thế giới.

Quyền được xét xử công bằng là một tiêu chuẩn của pháp luật nhân quyền quốc tế, theo đó, mọi người có quyền được hưởng sự xét xử công bằng và công khai của một tòa án có thẩm quyền, độc lập và không thiên vị do luật định. Nhận thức tầm quan trọng của nguyên tắc xét xử công bằng, ngay từ khi thành lập nhà nước Việt nam nguyên tắc này đã được ghi nhận trong Hiến pháp 1946 và sau này được kế thừa trong Hiến pháp 1960, Hiến pháp 1980 và Hiến pháp 1992. Hiến pháp năm 1992 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2001) khẳng định rõ tại Điều 50 “Ở nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hoá và xã hội được tôn trọng, thể hiện ở các quyền công dân và được quy định trong Hiến pháp và luật”; tại Điều 52 “Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật”; tại Điều 130 “Khi xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật”;

tại Điều 131 “Toà án nhân dân xét xử công khai, trừ trường hợp do luật định. Toà án nhân dân xét xử tập thể và quyết định theo đa số”.

Những quy định này khẳng định sự tôn trọng các quyền cơ bản của con người nói chung và quyền được bình đẳng trước pháp luật và trước Tòa án nói riêng của Nhà nước Việt Nam.

Trên cơ sở quy định của Hiến pháp, các bộ luật và các văn bản dưới luật như: Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS), Luật tố tụng hành chính (TTHC) cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp, quy định vấn đề Tòa án phải đảm bảo thực hiện các nguyên tắc vì quyền con

người, Tòa án thực hiện hoạt động tố tụng nhằm mục đích bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức; bảo đảm bình đẳng về quyền và nghĩa vụ trong tố tụng dân sự.

Điều 8 BLTTDS quy định: “Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, trước Toà án không phân biệt dân tộc, nam nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ văn hoá, nghề nghiệp. Mọi cơ quan, tổ chức đều bình đẳng không phụ thuộc vào hình thức tổ chức, hình thức sở hữu và những vấn đề khác. Các đương sự đều bình đẳng về quyền và nghĩa vụ trong tố tụng dân sự, Toà án có trách nhiệm tạo điều kiện để họ thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình”; Điều 10 Luật TTHC cũng quy định nội dung tương tự: “1. Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, trước Toà án không phân biệt dân tộc, nam nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ văn hoá, nghề nghiệp. 2. Mọi cơ quan, tổ chức đều bình đẳng không phụ thuộc vào hình thức tổ chức, hình thức sở hữu và những vấn đề khác. 3.

Các đương sự bình đẳng về quyền và nghĩa vụ trong quá trình giải quyết vụ án hành chính.

Toà án có trách nhiệm tạo điều kiện để họ thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình”; BLDS quy định nguyên tắc bình đẳng trong quan hệ dân sự tại Điều 1, theo đó “BLDS có nhiệm vụ bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng;

bảo đảm sự bình đẳng và an toàn pháp lý trong quan hệ dân sự, góp phần tạo điều kiện đáp ứng nhu cầu vật chất và tinh thần của nhân dân, thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội”;

Luật đất đai và văn bản hướng dẫn thi hành nhất quán các quy định về quyền, nghĩa vụ của người sử dụng đất, các phương thức giải quyết tranh chấp, thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai, các vấn đề liên quan quản lý đất đai,… đều vì mục tiêu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, những quyền cơ bản liên quan đất đai của con người. Ngoài ra, còn nhiều văn bản pháp luật khác quy định sự giám sát công tác xét xử của các cơ quan khác như:

Quốc hội, Viện kiểm sát, các cơ quan khác theo quy định của pháp luật.

Trong quá trình giải quyết tranh chấp nói chung và tranh chấp đất đai nói riêng, để đảm bảo nguyên tắc “quyền được xét xử công bằng”

của đương sự, Tòa án đảm bảo thực hiện tất cả các nguyên tắc hướng tới đảm bảo quyền con người được quy định trong Hiến pháp, Luật tổ chức Tòa án nhân dân và pháp luật tố tụng như: Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa;

nguyên tắc việc xét xử của Toà án nhân dân có Hội thẩm nhân dân tham gia theo quy định của pháp luật tố tụng, khi xét xử Hội thẩm ngang quyền với Thẩm phán; nguyên tắc khi xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; nguyên tắc Toà án xét xử công khai, trừ trường hợp do luật định; nguyên tắc Toà án xét xử tập thể và quyết định theo đa số;

nguyên tắc Toà án xét xử mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt nam, nữ, dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần xã hội, địa vị xã hội, cá nhân, cơ quan, tổ chức, đơn vị vũ trang nhân dân và các cơ sở sản xuất, kinh doanh thuộc mọi thành phần kinh tế đều bình đẳng trước pháp luật; nguyên tắc Toà án bảo đảm cho những người tham gia tố tụng quyền dùng tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình trước Toà án; nguyên tắc có quyền tự bào chữa hoặc nhờ người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự, khi xét xử Tòa án đảm bảo nguyên tắc độc lập và chỉ tuân theo pháp luật.

1.2. Đảm bo thc hin các quyn ca đương s trong công tác gii quyết tranh chp đất đai

Giải quyết tranh chấp đất đai là một trong những quá trình, thủ tục thể hiện việc thực thi những quyền con người, quyền công dân được pháp luật cụ thể hóa trên cơ sở Hiến pháp Việt Nam và pháp luật quốc tế mà Việt Nam tham gia và ký kết. Những quyền của các đương sự được ghi nhận trong pháp luật tố tụng đảm bảo các đương sự trong các tranh chấp nói chung và tranh chấp đất đai nói riêng được đảm bảo nhiều quyền con người cơ bản như: Quyền tự

do thỏa thuận các vấn đề dân sự liên quan trực tiếp đến họ; quyền được đối xử công bằng, bình đẳng trước Tòa án; quyền được tiếp cận thông tin; quyền được bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp theo quy định của pháp luật,…

Theo khoản 13 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều BLTTDS (sẽ có hiệu lực từ ngày 01-01-2012) thì đương sự có quyền giữ nguyên, thay đổi, bổ sung hoặc rút yêu cầu theo quy định của BLTTDS; cung cấp tài liệu, chứng cứ, chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình; yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức đang lưu giữ, quản lý tài liệu, chứng cứ cung cấp tài liệu, chứng cứ đó cho mình để giao nộp cho Toà án; đề nghị Toà án xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ của vụ án mà tự mình không thể thực hiện được hoặc đề nghị Toà án triệu tập người làm chứng, trưng cầu giám định, định giá, thẩm định giá; được biết và ghi chép, sao chụp tài liệu, chứng cứ do các đương sự khác xuất trình hoặc do Toà án thu thập; đề nghị Toà án quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời;

tự thoả thuận với nhau về việc giải quyết vụ án; tham gia hoà giải do Toà án tiến hành; nhận thông báo hợp lệ để thực hiện các quyền, nghĩa vụ của mình; tự bảo vệ hoặc nhờ người khác bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình;

tham gia phiên toà; yêu cầu thay đổi người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng theo quy định của BLTTDS; tranh luận tại phiên toà; đề nghị Toà án đưa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng; đưa ra câu hỏi với người khác về vấn đề liên quan đến vụ án khi được phép của Toà án hoặc đề xuất với Toà án những vấn đề cần hỏi với người khác; được đối chất với nhau hoặc với người làm chứng;

được cấp trích lục bản án, quyết định của Toà án; phải có mặt theo giấy triệu tập của Toà án và chấp hành các quyết định của Toà án trong thời gian giải quyết vụ án; kháng cáo, khiếu nại bản án, quyết định của Toà án; đề nghị người có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm bản án, quyết định của Toà

án đã có hiệu lực pháp luật; chấp hành nghiêm chỉnh bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật; các quyền, nghĩa vụ khác mà pháp luật có quy định.

Những quyền và nghĩa vụ của đương sự được pháp luật ghi nhận và Tòa án đảm bảo trong quá trình giải quyết tranh chấp trên đây là sự cụ thể hóa thực thi quyền con người tại Tòa án nói riêng và trước pháp luật nói chung.

Những quyền và nghĩa vụ này của đương sự đều hướng tới việc đảm bảo những điều kiện tốt nhất để các đương sự được tự mình lựa chọn hoặc yêu cầu cơ quan nhà nước thực thi nhiệm vụ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Qua đó, thể hiện quyền bình đẳng của công dân trước pháp luật, quyền được Tòa án xét xử công bằng mà không làm thiệt hại đến lợi ích hợp pháp của người khác.

Ngoài ra, còn thể hiện thông qua việc quy định ưu tiên hình thức giải quyết tranh chấp bằng hòa giải cơ sở trong giải quyết tranh chấp đất đai, hay nguyên tắc tôn trọng sự thỏa thuận của các đương sự về việc giải quyết vụ án trong quá trình giải quyết tranh chấp hoặc ngay tại phiên tòa.

Trong quá trình giải quyết tranh chấp đất đai tại Tòa án, Tòa án tuân thủ các quy định trên đây, tạo điều kiện thuận lợi để đương sự thực hiện quyền hợp pháp của mình. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy, việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của đương sự còn chưa được đảm bảo, đương sự còn gặp khó khăn trong việc yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức đang lưu giữ, quản lý chứng cứ cung cấp chứng cứ đó cho mình để giao nộp cho Toà án. Mặc dù, pháp luật tố tụng quy định nhưng thực tế những năm vừa qua cho thấy, khi giải quyết các vụ án mà có các tài liệu, chứng cứ đang do cơ quan, tổ chức lưu giữ, quản lý thì việc thu thập chứng cứ không hề đơn giản. Trong rất nhiều vụ án, mặc dù đương sự đã cất công đi lại nhiều lần yêu cầu cơ quan, tổ chức cung cấp các chứng cứ liên quan đến việc giải quyết vụ án để họ giao nộp cho Tòa án nhưng đều bị từ chối với

đủ mọi lý do. Với cách từ chối này, đương sự khó có thể chứng minh việc họ đã áp dụng mọi biện pháp nhưng vẫn không thu thập được chứng cứ để làm cơ sở yêu cầu Tòa án, thậm chí có trường hợp ngay cả yêu cầu của Tòa án cũng không được thực hiện nghiêm túc.

1.3. Đảm bo quyn được bo h v tài sn, bo v quyn và li ích hp pháp ca các đương s trong công tác gii quyết tranh chp đất đai

Giải quyết tranh chấp đất đai đúng quy định của pháp luật, kịp thời, hợp lý, hợp tình là biện pháp bảo vệ quyền tài sản, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các cá nhân, tổ chức đối với đất đai. Đối với mỗi cá nhân, hộ gia đình, tổ chức ở Việt Nam, đất đai là tài sản lớn, có giá trị vô cùng quan trọng. Việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người dân đối với đất đai là nhiệm vụ, mục tiêu luôn được Nhà nước quan tâm đảm bảo. Hiến pháp Việt Nam ghi nhận tại Điều 58 “Công dân có quyền sở hữu về thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt, tư liệu sản xuất, vốn và tài sản khác trong doanh nghiệp hoặc trong các tổ chức kinh tế khác; đối với đất được Nhà nước giao sử dụng thì theo quy định tại Điều 17 và Điều 18. Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu hợp pháp và quyền thừa kế của công dân”. Trên cơ sở đó, hệ thống pháp luật Việt Nam bao gồm văn bản quy phạm pháp luật và các thể chế được xây dựng nhằm đảm bảo thực thi quyền này của công dân Việt Nam.

Nhà nước đặt ra nhiều hình thức giải quyết tranh chấp đất đai là một trong những phương pháp để thực hiện nhiệm vụ, mục tiêu này một cách có hiệu quả nhất. Việc giải quyết tranh chấp đất đai bằng hòa giải, bằng thủ tục hành chính hay thủ tục tố tụng tại Tòa án đều nhằm mục đích bảo vệ người có quyền lợi hợp pháp đối với tài sản, đặc biệt là quyền sở hữu nhà, quyền sử dụng đất.

Việc giải quyết tranh chấp đất đai cũng bảo đảm quyền của người thứ ba ngay tình, người có công khai phá, tôn tạo đất, tài sản trên đất,...

Ví dụ, trên cơ sở các quy định về bảo vệ người thứ ba ngay tình quy định tại các Điều 138, 257, 258 và các điều, khoản cụ thể khác của BLDS, trong trường hợp tài sản giao dịch là bất động sản đã được chuyển giao bằng một giao dịch khác cho người thứ ba ngay tình thì giao dịch với người thứ ba không bị vô hiệu nếu người thứ ba ngay tình nhận được tài sản này thông qua bán đấu giá hoặc giao dịch với người mà theo bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền là chủ sở hữu tài sản nhưng sau đó người này không phải là chủ sở hữu tài sản do bản án, quyết định bị huỷ, sửa.

Quyền, lợi ích hợp pháp của công dân ở Việt Nam chính là những quyền con người được Nhà nước cụ thể hóa trong pháp luật để thực thi trực tiếp một cách hiệu quả nhất. Việc giải quyết tranh chấp đất đai luôn nhằm đảm bảo quyền công bằng, bình đẳng của mọi công dân trong việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình trước pháp luật. Chủ thể có quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng hợp pháp ban đầu được bảo đảm quyền tài sản của mình thông qua việc tự bảo vệ hoặc yêu cầu cơ quan nhà nước thực thi quyền bảo vệ tài sản của công dân.

Để đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của mọi cá nhân, tổ chức trong tranh chấp đất đai, đòi hỏi bộ máy trực tiếp tham gia giải quyết vụ án, trong đó đóng vai trò quyết định là những cán bộ chuyên trách phải có hiểu biết sâu sắc, toàn diện những quy định của pháp luật nội dung về đất đai cũng như pháp luật tố tụng. Nhưng thực tiễn giải quyết tranh chấp đất đai cho thấy, năng lực của cán bộ trực tiếp thực hiện công tác này còn nhiều hạn chế. Do điều kiện lịch sử, chính sách quản lý đất đai của Việt Nam thay thổi theo từng thời kỳ, dân số tăng cao và giá trị của đất ngày càng tăng lên, công tác quản lý đất đai gặp nhiều khó khăn, tranh chấp đất đai xảy ra nhiều và tính chất phức tạp ngày càng cao. Đặc biệt là hiện tượng những tranh chấp đất đai mang tính chất tập thể dẫn tới khiếu nại kéo dài, khó giải quyết.

1.4. Quyn được Nhà nước bi thường thit hi do hành vi trái pháp lut ca Thư Tòa án, Thm phán, Hi đồng xét x gây ra

Quyền con người được đối xử công bằng, bình đẳng, được bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp không chỉ thể hiện trong mối tương quan giữa các công dân trong xã hội, mà còn thể hiện cụ thể trong mối quan hệ giữa Nhà nước và công dân. Nhà nước có thể ghi nhận quyền và quy định rất nhiều nghĩa vụ cho công dân của đất nước mình, đồng thời Nhà nước cũng phải thực hiện những trách nhiệm tương ứng để bảo vệ và phục vụ nhân dân.

Một trong những khía cạnh thể hiện rõ ràng việc bảo vệ quyền con người trong mối quan hệ giữa Nhà nước và công dân là việc bồi thường thiệt hại cho công dân khi người thi hành công vụ của Nhà nước có hành vi gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của công dân. Đây là một trong những yếu tố thể hiện nguyên tắc của sự công bằng mà Nhà nước không được coi là ngoại lệ, bởi người có hành vi vi phạm pháp luật mà gây ra thiệt hại thì phải bồi thường phần thiệt hại đó. Hiến pháp Việt Nam ghi nhận tại Điều 72 rằng “... Người bị bắt, bị giam giữ, bị truy tố, xét xử trái pháp luật có quyền được bồi thường thiệt hại về vật chất và phục hồi danh dự. Người làm trái pháp luật trong việc bắt, giam giữ, truy tố, xét xử gây thiệt hại cho người khác phải bị xử lý nghiêm minh”.

Pháp luật tố tụng cụ thể hóa những trường hợp trong quá trình giải quyết tranh chấp tại Tòa án nói chung hay giải quyết tranh chấp đất đai nói riêng, người tiến hành tố tụng có hành vi trái pháp luật gây thiệt hại cho cá nhân, tổ chức thì Toà án có trách nhiệm bồi thường cho người bị thiệt hại và người tiến hành tố tụng có trách nhiệm hoàn trả cho Toà án theo quy định của pháp luật (Điều 13 BLTTDS).

Nhằm củng cố thêm cơ sở pháp lý và hiệu quả của việc thực hiện trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước (TNBTCNN) được Quốc hội

Một phần của tài liệu Chuyen de phap luat dat dai va nha o (Trang 27 - 34)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(62 trang)