1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo " Các vấn đề pháp luật đất đai mà doanh nghiệp nước ngoài khi đầu tư vào Việt Nam cần quan tâm " docx

9 430 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 188,57 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, như đã đề cập ở mục 2 về hình thức thuê đất của nhà đầu tư nước ngoài, các quyền cụ thể của nhà đầu tư phụ thuộc rất lớn vào việc trả tiền thuê đất cho Nhà nước và khu vực mà

Trang 1

TS TrÇn Quang Huy *

1 Thủ tục hành chính về đất đai

Nhìn chung các nhà đầu tư nước ngoài

trong hơn 20 năm qua đều có tâm lí quan

ngại về thủ tục hành chính ở Việt Nam, đặc

biệt là trong lĩnh vực đầu tư Cho đến nay,

các nhà hoạch định chính sách cũng chưa

đưa ra mô hình chuẩn các thủ tục cần phải

làm trước khi cấp giấy chứng nhận đầu tư

cho đến khi đưa dự án vào vận hành trên mặt

bằng đã được Nhà nước Việt Nam cho thuê

Thủ tục xin giấy phép đầu tư sẽ tiếp cận

trước hay thủ tục về đất đai sẽ thực hiện

trước? Về nguyên tắc, khi trao giấy chứng

nhận đầu tư cho nhà đầu tư nước ngoài, cơ

quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận

đầu tư đã phải thẩm định nhu cầu sử dụng

đất của dự án (điểm a khoản 1 Điều 30 Nghị

định của Chính phủ số 181/2004/NĐ-CP

ngày 29/10/2004 về thi hành luật đất đai)

Do đó, trong dự án đầu tư, vấn đề đất đai

phục vụ cho dự án đã được nhà đầu tư trình

bày, giải trình để được xem xét chấp nhận

trước khi cấp giấy chứng nhận đầu tư Bởi

vậy, các thủ tục hành chính về đất đai sẽ

thực hiện ngay sau khi trao giấy chứng nhận

đầu tư cho nhà đầu tư Thủ tục đó bao gồm:

- Nhà đầu tư nước ngoài nộp 2 bộ hồ sơ

xin thuê đất đến sở tài nguyên và môi trường

nơi thực hiện dự án đầu tư Theo quy định tại

Điều 122 Luật đất đai năm 2003, bộ hồ sơ

xin thuê đất gồm: 1) Đơn xin thuê đất theo mẫu (do sở tài nguyên và môi trường cung cấp); 2) Bản sao giấy chứng nhận đầu tư có chứng thực của công chứng nhà nước; 3) Dự

án đầu tư

- Sở tài nguyên và môi trường có trách nhiệm tiếp nhận hồ sơ, thẩm định hồ sơ, trích lục hồ sơ địa chính hoặc trích đo địa chính khu đất xin thuê, xác định mức thu tiền thuê đất và các thủ tục để trình uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quyết định việc cho nhà đầu tư thuê đất

- Trao quyết định cho thuê đất cho nhà đầu tư, đại diện sở tài nguyên và môi trường

kí hợp đồng thuê đất với nhà đầu tư nước ngoài (hợp đồng thuê đất theo mẫu do sở tài nguyên và môi trường cung cấp) Thời gian bàn giao đất cho nhà đầu tư nhanh hay chậm phụ thuộc vào đất đã được giải phóng mặt bằng hay chưa? Theo quy định tại điểm a và điểm b khoản 2 Điều 122 Luật đất đai năm

2003, tổng thời gian thực hiện các thủ tục hành chính trong trường hợp đất đã giải phóng mặt bằng là 20 ngày (đất đã giải phóng mặt bằng được hiểu là đất không còn bất cứ ai đang sử dụng có thể gây khó khăn cho nhà đầu tư, sẵn sàng chuyển giao từ Nhà nước cho nhà đầu tư) Đối với đất chưa được

* Trường Đại học Luật Hà Nội

Trang 2

giải phóng mặt bằng thì có thêm thời gian và

thủ tục thu hồi đất từ phía Nhà nước Do đó,

theo quy định tại điểm a, điểm b và điểm c

khoản 3 Điều 122 Luật đất đai năm 2003 thì

tổng thời gian cho các thủ tục về xin thuê đất

ít nhất là 40 ngày

- Nhà đầu tư nước ngoài không phải trả

tiền bồi thường khi thu hồi đất Trách nhiệm

bồi thường thuộc về phía Việt Nam

- Nhà đầu tư nước ngoài được cấp giấy

chứng nhận quyền sử dụng đất và được phép

thực hiện các quyền của mình theo đúng các

quy định của pháp luật đất đai (Điều 118 -

Điều 120 Luật đất đai năm 2003)

2 Hình thức sử dụng đất của nhà đầu

tư nước ngoài

Theo quy định tại Điều 33, Điều 34 và

Điều 35 Luật đất đai năm 2003, hình thức

sử dụng đất nói chung đối với tất cả các nhà

đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài

là: 1) Giao đất không thu tiền sử dụng đất;

2) Giao đất có thu tiền sử dụng đất và 3)

Cho thuê đất Tuy nhiên, theo thông lệ quốc

tế và quy định hiện hành của Luật đất đai,

Nhà nước Việt Nam áp dụng hình thức thuê

đất đối với nhà đầu tư nước ngoài sử dụng

đất ở Việt Nam Song các nhà đầu tư nước

ngoài cần biết rằng việc thuê đất ở Việt

Nam được thực hiện dưới hai dạng cụ thể,

cho thuê trả tiền thuê hàng năm hoặc cho

thuê trả tiền thuê một lần cho Nhà nước

Nhà đầu tư nước ngoài không bị ép phải trả

tiền thuê bằng hình thức cố định mà họ có

quyền lựa chọn (khoản 3 Điều 108 Luật đất

đai năm 2003) Điều đó có nghĩa là trả tiền

theo phương thức hàng năm hay một lần là

do nhà đầu tư quyết định, Nhà nước Việt

Nam tạo điều kiện cho nhà đầu tư nước ngoài lựa chọn một cách phù hợp với năng lực tài chính hoặc theo nguyện vọng của nhà đầu tư Như vậy, so với nhà đầu tư Việt Nam, các nhà đầu tư nước ngoài có nhiều

sự lựa chọn hơn khi sử dụng đất dưới hình thức thuê Tuy nhiên, cần lưu ý rằng việc trả tiền thuê đất theo hình thức hàng năm hay trả tiền một lần sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến các quyền và lợi ích của nhà đầu tư Người Việt Nam có câu: “tiền nào của ấy”, điều đó đúng trong trường hợp các nhà đầu

tư lựa chọn hình thức thuê đất nào khi thực

hiện dự án tại Việt Nam Ví dụ, doanh

nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài A có lĩnh vực kinh doanh là bất động sản trả tiền thuê đất cho Nhà nước với hình thức hàng năm

và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

B cùng chung lĩnh vực kinh doanh bất động sản nhưng trả tiền thuê đất một lần cho Nhà nước Vậy điểm khác nhau khi cung ra ngoài thị trường các sản phẩm căn hộ cao cấp, nhà chung cư, biệt thự, văn phòng của

2 doanh nghiệp trên là gì? Có thể thấy rằng doanh nghiệp A chỉ được phép cho thuê các sản phẩm làm ra mà không được bán như doanh nghiệp B Như vậy, doanh nghiệp

B vừa bán, vừa được quyền cho thuê khi hoàn thành các sản phẩm bất động sản của mình theo quy định của pháp luật đất đai

và pháp luật về kinh doanh bất động sản Các phân biệt xảy ra khi lựa chọn hình thức sử dụng đất là như vậy cho nên khi tiếp cận đất đai, doanh nghiệp có vốn đầu

tư nước ngoài thực hiện dự án tại Việt Nam cần hiểu gốc rễ của hình thức thuê đất

để lựa chọn cho phù hợp

Trang 3

3 Quyền sử dụng đất của doanh nghiệp

có vốn đầu tư nước ngoài

Dưới góc độ quyền của người sử dụng

đất, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

được bảo hộ các quyền chung như mọi tổ

chức, cá nhân Việt Nam đang sử dụng đất

(Điều 105 Luật đất đai năm 2003) Tuy

nhiên, như đã đề cập ở mục 2 về hình thức

thuê đất của nhà đầu tư nước ngoài, các

quyền cụ thể của nhà đầu tư phụ thuộc rất

lớn vào việc trả tiền thuê đất cho Nhà nước

và khu vực mà nhà đầu tư sử dụng đất là tại

khu công nghiệp, khu công nghệ cao, khu

kinh tế hay ngoài các khu vực đó Do vậy,

tại Điều 119, Điều 120 Luật đất đai năm

2003 quy định về các quyền của nhà đầu tư

với các phân biệt hết sức rõ ràng Cụ thể:

3.1 Quyền sử dụng đất của tổ chức, cá

nhân nước ngoài khi thực hiện dự án đầu tư

tại Việt Nam

Lượng quyền và giá trị thực hiện quyền

của nhà đầu tư nước ngoài sẽ được bảo hộ

trên cơ sở lựa chọn việc trả tiền theo hình

thức hàng năm hoặc một lần Do vậy, trong

trường hợp trả tiền thuê hàng năm, các

doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chỉ

được bảo hộ các quyền liên quan đến các tài

sản thuộc sở hữu doanh nghiệp đã được đầu

tư trên đất Giá trị quyền sử dụng đất thuê trả

tiền hàng năm không được tính trong các

giao dịch của nhà đầu tư Vậy nên, họ có

quyền bán các tài sản đầu tư trên đất thuê

cho đối tác Việt Nam hoặc nước ngoài khác,

có quyền thế chấp tài sản để vay vốn của các

tổ chức tín dụng được phép hoạt động tại

Việt Nam, góp vốn bằng tài sản để liên

doanh Trong trường hợp nhà đầu tư nước

ngoài sử dụng đất để đầu tư kinh doanh bất động sản thì chỉ được phép cho thuê nhà ở, văn phòng đã được xây dựng

Đối với trường hợp nhà đầu tư nước ngoài khi thuê đất và trả tiền thuê một lần cho Nhà nước thì giá trị quyền thuê đất được tính vào giá trị các giao dịch của họ Điều đó

có nghĩa là theo quy định tại khoản 3 Điều

119 Luật đất đai năm 2003, các nhà đầu tư

có các quyền sau:

- Chuyển nhượng quyền sử dụng đất thuê

và tài sản đầu tư trên đất thuê trong thời hạn thuê đất;

- Cho thuê lại quyền sử dụng đất thuê và tài sản đã đầu tư trên đất;

- Thế chấp quyền sử dụng đất thuê và tài sản đầu tư trên đất thuê để vay vốn của các

tổ chức tín dụng được phép hoạt động tại Việt Nam;

- Góp vốn bằng quyền sử dụng đất thuê

và tài sản đã đầu tư để hợp tác sản xuất kinh doanh theo quy định của pháp luật Việt Nam;

- Có quyền bán hoặc cho thuê nhà ở trong trường hợp nhà đầu tư nước ngoài được thuê đất để kinh doanh nhà ở

Với các quy định trên có thể thấy rằng khi nhà đầu tư lựa chọn việc trả tiền thuê một lần cho Nhà nước, họ sẽ có một số lợi thế nhất định: 1) Được bảo hộ đầy đủ các quyền quan trọng nhất của người sử dụng đất với 2 lượng giá trị là quyền sử dụng đất thuê và giá trị tài sản thuộc sở hữu của doanh nghiệp đã đầu tư trên đất; 2) Lợi thế

về tiền thuê đất rẻ với giá cả ổn định trong

thời gian dài Ví dụ, nhà đầu tư thuê đất ở

thời điểm năm 2008, đơn giá thuê đất sẽ do

uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quyết định dựa

Trang 4

trên cơ sở Nghị định của Chính phủ số

142/2005/NĐ-CP ngày 14/11/2005 về thu

tiền thuê mặt đất, mặt nước tại thời điểm

năm 2008 Nếu thuê đất tại thời điểm năm

2009 thì áp giá theo khung giá năm 2009

Nên hiểu rằng theo quy định hiện hành,

khung giá thuê đất có sự biến động hàng

năm theo xu hướng tăng lên Do đó, giá đất

thuê cũng tăng lên hàng năm, điều đó không

có lợi cho doanh nghiệp trả tiền thuê hàng

năm nhưng lại có lợi đối với doanh nghiệp

trả tiền thuê một lần

3.2 Quyền sử dụng đất của tổ chức, cá

nhân nước ngoài trong khu công nghiệp, khu

công nghệ cao, khu kinh tế

Tương tự như quyền sử dụng đất của tổ

chức, cá nhân nước ngoài khi thực hiện dự

án đầu tư tại Việt Nam trong khu công

nghiệp, khu công nghệ cao và khu kinh tế,

quyền sử dụng đất của nhà đầu tư nước

ngoài cũng phân biệt theo cơ chế trả tiền

thuê Đó là quyền sử dụng đất theo hình thức

trả tiền thuê hàng năm và quyền sử dụng đất

theo hình thức trả tiền thuê một lần của nhà

đầu tư Tuy nhiên, cần lưu ý rằng không chỉ

có việc tiếp cận đất đai của doanh nghiệp

nước ngoài từ Nhà nước, từ ban quản lí khu

công nghệ cao, khu kinh tế mà còn thuê lại

đất từ các chủ thể đầu tư xây dựng kết cấu hạ

tầng Việt Nam hoặc nhà đầu tư nước ngoài

khác Do đó, quyền sử dụng đất của các chủ

thể thuê lại đất cần được hiểu thật chính xác

Thực chất việc thuê lại đất đã phát triển hạ

tầng của nhà đầu tư Việt Nam hoặc nhà đầu

tư nước ngoài khác với tổ chức, cá nhân

nước ngoài đầu tư vào sản xuất kinh doanh

trong khu công nghiệp, khu công nghệ cao,

khu kinh tế chính là giao dịch dân sự về đất đai Do vậy, nhà đầu tư nước ngoài thuê lại đất được bảo hộ các quyền tương tự như trường hợp thuê đất từ Nhà nước Việt Nam với các quyền như đã trả tiền thuê đất một lần cho Nhà nước Việt Nam

4 Các quy định về sử dụng đất trong khu công nghiệp, khu công nghệ cao và khu kinh tế

Thông thường, Nhà nước Việt Nam tạo điều kiện cho tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu tư kinh doanh trong khu công nghiệp, khu công nghệ cao và khu kinh tế Do đó, cần nắm vững một số quy định về sử dụng đất trong các khu vực kinh tế đặc biệt này

Trước hết, cần thấy được sự khác nhau nhất định trong cơ chế tiếp cận đất đai giữa việc thuê đất trong khu công nghiệp với khu công nghệ cao, khu kinh tế Trong khi tại khu công nghiệp, nhà đầu tư nước ngoài thuê đất trực tiếp từ uỷ ban nhân dân cấp tỉnh hoặc thuê lại đất từ nhà đầu tư phát triển hạ tầng khu công nghiệp thì tại khu công nghệ cao, khu kinh tế, nhà đầu tư nước ngoài thuê đất từ ban quản lí khu công nghệ cao, khu kinh tế hoặc thuê lại đất từ tổ chức phát triển hạ tầng khu công nghệ cao, khu kinh

tế Như vậy, ban quản lí khu công nghệ cao, khu kinh tế là chủ thể được Nhà nước giao một lần cho toàn bộ vốn đất và họ có quyền giao đất, cho thuê lại đất Trong tiếp cận đất đai, nhà đầu tư nước ngoài liên hệ với ban quản lí các khu công nghệ cao, khu kinh tế

để được hướng dẫn thủ tục hành chính về thuê đất, không phải liên hệ với sở tài nguyên và môi trường nơi có khu công nghệ cao, khu kinh tế

Trang 5

Theo quy định tại các điều 90, 91 và 92

Luật đất đai năm 2003 được chi tiết hoá tại

các điều 84, 85 và 86 Nghị định của Chính

phủ số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004

hướng dẫn thi hành Luật đất đai thì nhà đầu

tư nước ngoài khi sử dụng đất tại các khu

công nghiệp, khu công nghệ cao, khu kinh tế

bao gồm: 1) Nhà đầu tư nước ngoài phát

triển hạ tầng, kinh doanh kết cấu hạ tầng khu

công nghiệp, khu công nghệ cao, khu kinh tế

thông qua việc chuyển nhượng, cho thuê,

cho thuê lại đất đã phát triển hạ tầng; 2) Tổ

chức, cá nhân nước ngoài đầu tư sản xuất

kinh doanh trong khu công nghiệp, khu công

nghệ cao, khu kinh tế Nhà nước Việt Nam

đặc biệt khuyến khích và kêu gọi nhà đầu tư

nước ngoài thuê đất của Nhà nước để đầu tư

phát triển hạ tầng tại các khu vực kinh tế đặc

biệt này và có chính sách ưu đãi đầu tư đối

với nhà đầu tư về tiền thuê đất Trong thời

gian qua, các doanh nghiệp Nhật Bản rất

quan tâm đến khu công nghệ cao Hoà Lạc,

Hà Nội với nhu cầu và mong muốn đầu tư

xây dựng kết cấu hạ tầng và các xí nghiệp

có sản phẩm công nghệ cao chính là xuất

phát từ việc khuyến khích của Nhà nước

Việt Nam Điều đó là cần thiết bởi lẽ các

doanh nghiệp nước ngoài có ưu thế lớn về

vốn mà trong đầu tư xây dựng kết cấu hạ

tầng, yếu tố vốn đóng vai trò quyết định

Mặt khác, nhà đầu tư nước ngoài có nhiều

kinh nghiệm về đầu tư phát triển hạ tầng, có

khả năng áp dụng công nghệ cao khi xây

dựng kết cấu hạ tầng khu công nghiệp, khu

công nghệ cao, khu kinh tế

Nhà đầu tư nước ngoài có quyền lựa

chọn hình thức thuê đất trả tiền thuê hàng

năm hoặc trả tiền thuê đất một lần cho Nhà nước Việt Nam, được hưởng các quyền của người sử dụng đất trong khu công nghiệp, khu công nghệ cao, khu kinh tế phù hợp với việc lựa chọn hình thức trả tiền thuê

Ban quản lí khu công nghệ cao, khu kinh

tế có quyền cho thuê đất đối với nhà đầu tư nước ngoài Nhà đầu tư nước ngoài có nhu cầu sử dụng đất hoặc thực hiện dự án tại các khu công nghệ cao, khu kinh tế sẽ phải liên

hệ trực tiếp với ban quản lí và được hướng dẫn đầy đủ các thủ tục có liên quan về thuê đất đến cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Thủ tục hành chính một cửa cũng được

áp dụng triệt để tại các khu công nghiệp, khu công nghệ cao và khu kinh tế

5 Vấn đề nhận chuyển nhượng quyền

sử dụng đất của nhà đầu tư nước ngoài từ

tổ chức kinh tế Việt Nam

Trong bối cảnh khó khăn về kinh tế toàn cầu nói chung và ở Việt Nam nói riêng, các doanh nghiệp của Việt Nam luôn khó khăn

về vốn trong quá trình triển khai thực hiện các dự án đầu tư Đặc biệt trong lĩnh vực kinh doanh bất động sản, nếu không có vốn đầu tư các dự án sẽ rất khó được triển khai đến cùng Nhiều tổ chức kinh tế của Việt Nam được giao các dự án đầu tư, song với nguồn vốn tự có hạn hẹp trong bối cảnh các ngân hàng siết chặt việc cho vay đầu tư kinh doanh thì các doanh nghiệp Việt Nam đứng trước nguy cơ không thể triển khai dự

án Như vậy, hàng loạt dự án đầu tư trong lĩnh vực bất động sản không thể triển khai hoặc không thể thực hiện đến cùng do không có vốn đầu tư, không được phép

Trang 6

phân lô bán nền, không được phép huy

động vốn của khách hàng nếu chưa hoàn

thành đầu tư cơ sở hạ tầng của dự án hoặc

là khu nhà ở phải có nền móng công trình

theo quy định của pháp luật về nhà ở, về

kinh doanh bất động sản Đứng trước khó

khăn đó, vấn đề chuyển nhượng quyền sử

dụng đất từ các dự án đầu tư của doanh

nghiệp Việt Nam cho các doanh nghiệp có

vốn đầu tư nước ngoài chính là khả năng

duy nhất để cứu các doanh nghiệp trong

nước Mặt khác, đây cũng chính là cơ hội

của các nhà đầu tư nước ngoài có được dự

án từ nhà đầu tư Việt Nam Qua khảo sát,

các nhà đầu tư Singapore, Hồng Kông,

Malaysia, Indonesia hiện đang thực hiện

các dự án tại thành phố Hồ Chí Minh, Hà

Nội, Đà Nẵng đều rất tha thiết với các loại

dự án này, bởi lẽ hầu hết những khó khăn

về thủ tục hành chính để được quyền sử

dụng đất, thủ tục về đầu tư xây dựng công

trình đã được nhà đầu tư Việt Nam giải

quyết ổn thoả và không còn vướng mắc về

mặt giấy tờ, thủ tục Điều khó khăn duy

nhất mà họ không thể tiếp tục thực hiện dự

án đó là do không có vốn để làm công trình

Cho nên, với khả năng tiềm tàng về vốn,

các nhà đầu tư nước ngoài hoàn toàn có cơ

hội lớn để đón nhận các dự án đầu tư mà

doanh nghiệp Việt Nam gặp khó khăn Tuy

nhiên, cần phải hiểu rằng không phải bất cứ

dự án nào của doanh nghiệp Việt Nam gặp

khó khăn cũng được phép chuyển nhượng

cho nhà đầu tư nước ngoài Các dự án mà

nhà đầu tư nước ngoài nhận chuyển nhượng

quyền sử dụng đất chỉ có thể là:

- Dự án đầu tư kết cấu hạ tầng khu công nghiệp, khu chế xuất, cụm công nghiệp và khu công nghiệp tập trung khác có cùng chế

độ sử dụng;

- Dự án đầu tư thuộc khu công nghệ cao, khu kinh tế;

- Dự án đầu tư kết cấu hạ tầng khu đô thị, khu dân cư nông thôn;

- Dự án đầu tư sản xuất kinh doanh;

- Dự án đầu tư xây dựng nhà ở đã hoàn thành đầu tư xây dựng đồng bộ hạ tầng dùng chung của dự án

Việc nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của các dự án đầu tư nói trên phải tuân thủ các quy định của pháp luật đất đai

và pháp luật về kinh doanh bất động sản đồng thời lưu ý các trường hợp sau:

Thứ nhất, nếu như các tổ chức kinh tế của Việt Nam được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất hoặc nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất mà tiền trả cho Nhà nước, tiền trả cho việc nhận chuyển nhượng không

có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước thì khi chuyển nhượng dự án, giá trị quyền sử dụng đất được tính chung trong tổng giá trị của hợp đồng chuyển nhượng dự án; nhà đầu tư nước ngoài lập thủ tục thuê đất và không phải trả tiền thuê đất cho Nhà nước Việt Nam Lí do về việc nhà đầu tư nước ngoài không phải nộp tiền thuê đất cho Nhà nước Việt Nam khi lập thủ tục thuê đất có thể hiểu là doanh nghiệp Việt Nam đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước Việt Nam

Thứ hai, trường hợp tổ chức kinh tế Việt Nam được Nhà nước giao đất không thu tiền

Trang 7

sử dụng đất hoặc nhận chuyển nhượng

quyền sử dụng đất mà tiền trả có nguồn gốc

từ ngân sách nhà nước thì giá trị quyền sử

dụng đất không tính chung trong tổng giá trị

của hợp đồng chuyển nhượng dự án, nhà đầu

tư nước ngoài lập thủ tục thuê đất và trả tiền

thuê đất cho Nhà nước Việt Nam với một

trong hai sự lựa chọn là trả tiền thuê hàng

năm hoặc trả tiền thuê một lần

Thứ ba, cần phân biệt vấn đề thời hạn

khi lập thủ tục thuê đất của nhà đầu tư nước

ngoài khi nhận chuyển nhượng dự án có sử

dụng đất của doanh nghiệp Việt Nam Nếu

như việc sử dụng đất của doanh nghiệp Việt

Nam là có thời hạn thì thời hạn sử dụng đất

của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

là thời gian còn lại của thời hạn trước khi

chuyển nhượng Ví dụ, doanh nghiệp Việt

Nam có thời hạn sử dụng đất được giao là 50

năm, họ sử dụng được 10 năm và sau đó

chuyển nhượng dự án cho nhà đầu tư nước

ngoài thì thời hạn thuê đất của nhà đầu tư

nước ngoài là 40 năm kể từ thời điểm kí kết

hợp đồng chuyển nhượng dự án Nếu việc sử

dụng đất của tổ chức kinh tế Việt Nam là ổn

định lâu dài thì khi chuyển nhượng dự án

đầu tư cho nhà đầu tư nước ngoài, thời hạn

thuê đất là 70 năm Nhà đầu tư nước ngoài

được gia hạn thời hạn thuê đất nhiều lần,

mỗi lần không quá 70 năm và nhà đầu tư

nước ngoài không phải nộp tiền thuê đất cho

thời gian được gia hạn

Thứ tư, trong trường hợp nhận chuyển

nhượng dự án của tổ chức kinh tế Việt Nam

đầu tư xây dựng nhà ở để bán hoặc cho thuê

mà tổ chức kinh tế đã trả tiền sử dụng đất

cho Nhà nước không có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước với thời hạn sử dụng đất ổn định lâu dài thì khi nhà đầu tư nước ngoài bán nhà, họ không phải nộp tiền chênh lệnh giữa tiền thuê đất và tiền sử dụng đất Theo quy định tại khoản 1 Điều 32 Nghị định của Chính phủ số 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 quy định bổ sung về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai thì khi nhà đầu tư nước ngoài thực hiện dự án đầu tư xây dựng nhà ở để bán hoặc cho thuê thuộc trường hợp trả tiền thuê một lần hoặc thông qua trúng đấu giá đất do Nhà nước tổ chức, phải nộp tiền thuê đất một lần tương đương với số tiền sử dụng đất phải nộp như doanh nghiệp Việt Nam được giao đất có thu tiền sử dụng đất

Vấn đề nộp tiền thuê đất một lần cho nhiều dự án nhà ở của doanh nghiệp nước ngoài trong thời gian vừa qua có nhiều sai sót từ cách tính toán của phía Việt Nam mà đơn cử liên quan đến công ti liên doanh Ciputra với diện tích thuê trên 322 ha trả tiền thuê đất vào cuối năm 2004 làm thiệt hại cho ngân sách nhà nước trên 3000 tỉ đồng.(1) Do vậy, cần phải hiểu rằng số tiền sử dụng đất nộp một lần và số tiền thuê đất nộp một lần cho 50 năm thuê không bằng nhau trên cùng một diện tích Đã nhiều khi người ta lầm tưởng là bằng nhau Theo quy định tại khoản

1 Điều 4 Nghị định của Chính phủ số 142/2005/NĐ-CP ngày 14/11/2005 về thu tiền thuê mặt đất, mặt nước thì đơn giá thuê

Trang 8

đất một năm được tính bằng 0,5% giá đất

theo mục đích sử dụng đất thuê do uỷ ban

nhân dân cấp tỉnh quy định Như vậy, tại

cùng thời điểm cho cùng một diện tích có

điều kiện tự nhiên xã hội giống nhau thì

người nộp tiền sử dụng đất phải nộp một

khoản tiền cao gấp 200 lần so với người thuê

đất trả tiền thuê hàng năm Từ thực tế đó,

trong các dự án nhà ở, nhà đầu tư nước ngoài

khi trả tiền thuê đất cho Nhà nước Việt Nam

thì số tiền đó tương đương với tiền sử dụng

đất trả tiền một lần cho Nhà nước

6 Quy định về cho phép người nước

ngoài mua nhà ở tại Việt Nam

Từ trước đến nay, người nước ngoài lưu

trú tại Việt Nam dù ngắn hạn hay dài hạn

đều thuê nhà ở tại Việt Nam Họ phải bỏ ra

một khoản tiền khá lớn để thanh toán tiền

thuê nhà tại Việt Nam Tại Hà Nội, nếu nhà

ở do tổ chức nước ngoài đầu tư xây dựng thì

giá cho thuê khoảng 1400 - 2000 USD/căn

hộ/tháng, nhà ở do tổ chức trong nước xây

dựng thì khoảng 700 - 1000 USD/căn hộ/tháng

Với giá cho thuê nhà trung bình trong thời

gian là 5 năm sống ở Việt Nam, người nước

ngoài phải trả một khoản tiền thuê khoảng

50.000 USD Bởi vậy, với một căn hộ tiện

nghi trung bình khoảng 70.000 USD/căn, sau

5 năm sử dụng chỉ cần thu hồi 70% giá trị

ban đầu (khoảng 50.000 USD) cũng thấy

được việc mua nhà tại Việt Nam giảm bớt

một khoản chi phí đáng kể cho người nước

ngoài đến làm việc tại Việt Nam.(2) Do đó,

cùng với việc cho phép người Việt Nam định

cư ở nước ngoài được phép mua nhà, sở hữu

nhà ở và quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam

cách đây 8 năm,(3) việc cho phép người nước ngoài được mua nhà tại Việt Nam là chính sách hấp dẫn của Nhà nước ta

Tuy nhiên, không phải tất cả 81.000 người nước ngoài đang sinh sống, học tập, kinh doanh tại Việt Nam đều có quyền sở hữu nhà ở tại Việt Nam mà người nước ngoài phải đáp ứng các điều kiện nhất định mới được mua nhà Nghị quyết của Quốc hội số 19/2008/QH 12 ngày 3/6/2008 nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam lần đầu tiên chính thức hoá việc cho phép người nước ngoài được mua nhà ở tại Việt Nam Theo đó, có 5 nhóm đối tượng được phép mua nhà như sau:

- Cá nhân người nước ngoài có đầu tư trực tiếp tại Việt Nam;

- Cá nhân người nước ngoài có công đóng góp cho Việt Nam được Nhà nước tặng thưởng huân chương, huy chương, cá nhân nước ngoài có đóng góp đặc biệt cho Việt Nam theo quy định của Chính phủ

- Cá nhân nước ngoài đang làm việc trong các lĩnh vực kinh tế, xã hội có trình độ

từ đại học hoặc tương đương trở lên và người có kiến thức, kĩ năng đặc biệt mà Việt Nam có nhu cầu;

- Cá nhân người nước ngoài kết hôn với công dân Việt Nam;

- Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đang hoạt động tại Việt Nam, không

có chức năng kinh doanh bất động sản, có nhu cầu về nhà ở cho những người đang làm việc tại doanh nghiệp đó

Bên cạnh việc quy định về đối tượng được phép mua nhà ở tại Việt Nam, Nghị

Trang 9

quyết của Quốc hội khẳng định thời gian sở

hữu nhà ở tối đa của người nước ngoài là 50

năm kể từ khi được cấp giấy chứng nhận

quyền sở hữu nhà ở, quyền sử dụng đất ở

Người nước ngoài sở hữu nhà ở tại Việt

Nam chỉ được phép bán, tặng cho nhà ở sau

12 tháng kể từ ngày được cấp các giấy tờ

hợp pháp về nhà ở, đất ở (trừ các cá nhân có

lí do đặc biệt không thể lưu trú tại Việt Nam

thì được bán nhà trước thời hạn) Người

nước ngoài sau khi hết thời hạn sở hữu nhà ở

tại Việt Nam thì sau thời hạn 12 tháng phải

bán hoặc tặng cho nhà ở

Thời điểm người nước ngoài chính thức

được phép mua nhà ở tại Việt Nam là từ

ngày 1/1/2009 và trong cùng một thời điểm,

người nước ngoài chỉ được phép sở hữu một

căn nhà hoặc căn hộ chung cư do tổ chức

kinh tế đầu tư xây dựng

Như vậy, đây là chính sách quan trọng và

hấp dẫn cho người nước ngoài có nhu cầu lưu

trú lâu dài tại Việt Nam để học tập, nghiên

cứu và đầu tư tại Việt Nam Chính sách này

được người nước ngoài sinh sống, làm ăn tại

Việt Nam hoan nghênh, phù hợp với các

chuẩn mực quốc tế và thể hiện mong muốn

của nước ta hội nhập ngày càng sâu rộng

trong đời sống chính trị và kinh tế thế giới./

(1).Xem: “Tuần tới xét lại tiền sử dụng đất của

Ciputra”, Dothi.Net, ngày 31/5/2007

(2).Xem: Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật

đất đai năm 1993 (ngày 29/6/2001) và Nghị định của

Chính phủ số 81/2001/NĐ-CP ngày 5/11/2001 về việc

cho phép người Việt Nam định cư ở nước ngoài mua

nhà ở tại Việt Nam

(3).Xem: Tạp chí phụ nữ Việt Nam cuối tuần, số ra

ngày 16/8/2007, tr 5

BÀN VỀ ĐỊNH NGHĨA KHỦNG BỐ

(tiếp theo trang 9)

Như vậy, đối tượng tác động của hành vi cấu thành tội khủng bố là các mục tiêu dân sự, cộng đồng dân cư hoặc những người không trực tiếp tham gia chiến sự, những người được hưởng bảo hộ quốc tế Trong thực tế có trường hợp sự tấn công nhằm vào mục tiêu hỗn hợp, có cả quân sự và dân sự, ví dụ toà nhà có cả cơ quan quân sự và các tổ chức thương mại hoặc tàu bay có cả các nhân viên quân sự và dân thường thì việc cố ý mở cuộc tấn công mặc dù biết rằng cuộc tấn công đó

có khả năng gây thương vong cho thường dân hoặc gây hư hại cho các mục tiêu dân sự

là hành vi khủng bố Về đối tượng tác động hành vi khủng bố cũng cần phân biệt với tội phạm chiến tranh, ví dụ tại điểm a khoản 3 Điều 8 Quy chế Rome về Toà án hình sự quốc tế quy định đối tượng của các hành vi cấu thành tội phạm chiến tranh là cộng đồng dân cư hoặc những thường dân không trực tiếp tham gia chiến sự, tuy nhiên những hành

vi này phải được thực hiện như một phần trong kế hoạch hoặc chính sách hoặc được thực hiện trên quy mô lớn và áp dụng trong

“xung đột vũ trang có tính quốc tế”

Từ sự phân tích ở trên, theo tác giả bài viết, khủng bố là hành vi gây thiệt hại (hoặc

đe doạ gây thiệt hại) nghiêm trọng đến tính mạng, sức khoẻ, tài sản của người dân và các mục tiêu dân sự khác gây hoảng loạn trong cộng đồng dân cư nhằm đạt được mục đích chính trị (ép buộc chính phủ, tổ chức, cá nhân hành động hoặc không được thực hiện hành động nào đó; vì lí do tôn giáo; tư tưởng…)

do các cá nhân hoặc tổ chức thực hiện./

Ngày đăng: 18/03/2014, 13:21

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w