NHÌN TỪ NGUYÊN TẮC SUY ĐOÁN TÀI SẢN CHUNG
4. Tháo gỡ vướng mắc, đảm bảo quyền
Để khắc phục bất cập về lý luận và tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn áp dụng nguyên tắc suy đoán tài sản chung, đảm bảo cho vợ chồng thụ hưởng quyền sử dụng đất một cách trọn vẹn, cần tháo gỡ các vướng mắc theo hướng sau:
- Sửa đổi Hiến pháp hiện hành theo hướng xác định rõ quyền của người sử dụng đất nói chung, quyền sử dụng đất của vợ chồng nói riêng để phát huy tối đa quyền con người. Hiện nay, pháp luật HN&GĐ xác định quyền sử dụng đất là tài sản của một bên hoặc cả hai vợ chồng, vợ chồng ngang quyền trong quản lý và định đoạt quyền sử dụng đất là tài sản chung.
Cụ thể hơn, pháp luật đất đai qui định cho người sử dụng đất thực hiện các quyền chuyển nhượng, cho thuê, thế chấp, thừa kế quyền sử dụng đất. Trong lúc đó, Hiến pháp 1992 (sửa đổi năm 2001) xác định đất đai thuộc sở hữu toàn dân và chủ sở hữu toàn dân với tính cách là một cộng đồng thì không chính thức được qui định hưởng các quyền trên. Với nghịch lý này - thiết nghĩ - cần phải qui định rạch ròi quyền của người sở hữu, quyền của người sử dụng và quyền quản lý của Nhà nước4 trong đó xác định rõ 3 quyền của chủ sở hữu và các quyền của người sử dụng đất theo hướng bảo đảm quyền con người về tài sản.
- Hoàn thiện pháp luật về đăng ký quyền sử dụng đất nhằm thúc đẩy việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên vợ và chồng. Hiện nay, pháp luật về đăng ký bất động sản nói chung, đăng ký quyền sử dụng đất nói riêng còn phân tán tại nhiều văn bản như Luật Đất đai, Luật Nhà ở, Nghị định số 88/2009/NĐ-CP ngày 19. 10.2009 của Chính phủ về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác
4 Một trong những phương châm quán triệt của Cương lĩnh xây dựng đất nước năm 1991 là phải xác định quyền của chủ sở hữu, quyền của người sử dụng tư liệu sản xuất và quyền quản lý nhà nước trong lĩnh vực kinh tế (Cương lĩnh, tr. 11, 12).
gắn liền với đất… Với một số qui phạm pháp luật chưa đồng bộ cộng với nhận thức về quyền, nghĩa vụ của cá nhân đối với tài sản chưa đầy đủ nên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nhà ở gắn với đất được cấp chủ yếu đứng tên một bên vợ, chồng5. Nhằm tạo cơ sở để chủ sử dụng đất bảo vệ quyền lợi hợp pháp và giảm gánh nặng cho Thẩm phán trong xem xét và đánh giá chứng cứ khi giải quyết tranh chấp, cần hoàn thiện pháp luật về đăng ký quyền sử dụng đất theo đó quy định Tờ khai yêu cầu cấp chứng nhận quyền sử dụng đất phải có thông tin về tình trạng hôn nhân của người xin cấp chứng nhận và trong trường hợp người người xin cấp chứng nhận đang có vợ hoặc có chồng thì tờ khai cũng phải có chữ ký thể hiện nguyện vọng của cả hai vợ chồng (trừ trường hợp vợ, chồng ủy quyền cho nhau đứng tên trên giấy chứng nhận hoặc trừ khi có căn cứ minh chứng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà là tài sản riêng của bên yêu cầu).
Để thúc đẩy việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên vợ và chồng, pháp luật đất đai cần sửa đổi, bổ sung quy chuẩn dịch vụ công về đăng ký đất đai, tài sản gắn liền với đất theo hướng đảm bảo quy trình, thủ tục đăng ký, cung cấp thông tin công khai, minh bạch, chính xác, gọn nhẹ cũng như dự liệu chế tài xử lý trách nhiệm tổ chức, cá nhân vi phạm trong việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
- Hoàn thiện pháp luật hôn nhân và gia đình theo hướng đảm bảo quyền lợi hợp pháp và chính đáng của một bên hoặc cả hai vợ chồng đối với tài sản là quyền sử dụng đất khi
5 Báo cáo khảo sát về “Quyền tiếp cận đất đai của phụ nữ nhìn từ thực trạng cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại sáu vùng phát triển của ActionAid Viet- nam” công bố ngày 12.10.2008 cho thấy chỉ có 3-5% số hộ gia đình được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có tên cả hai vợ chồng. Kết quả cuộc điều tra năm 2006 của các cơ quan chức năng thực hiện với 9.300 hộ gia đình tại VN cũng khẳng định hơn 80% số nam giới được khảo sát đứng tên quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất trong lúc đó tỷ lệ phụ nữ đứng tên trên giấy chứng nhận đối với hai loại tài sản này là 10% – Xem http://un.org.vn/images/stories/press_centre/press%20 center%202008/family_survey_factsheet_vn.doc.
tranh chấp. Để tạo sự thống nhất trong việc xác định quyền sử dụng đất là tài sản chung, riêng của vợ chồng, pháp luật hôn nhân và gia đình cần xác định rõ về tài sản “có được trước khi kết hôn” theo hướng qui định quyền sử dụng đất mà mỗi bên có trên thực tế trước khi kết hôn là tài sản riêng của mỗi bên. Ngoài ra, cùng với cơ chế xác định quyền sử dụng đất mà vợ và chồng hoặc một bên vợ hoặc chồng được Nhà nước giao, được Nhà nước cho thuê, được thừa kế chung trong thời kỳ hôn nhân là tài sản chung như Điều 24, 25, 26 NĐ 70/2001 đã dự liệu, nhằm tạo cơ sở để giải quyết hợp lý các tranh chấp quyền sử dụng đất do một bên vợ hoặc chồng đứng tên mà nguồn gốc đất
“có” trước thời kỳ hôn nhân nhưng quyền sử dụng đất xác lập trong thời kỳ hôn nhân, bằng công sức, tiền của chung của hai vợ chồng, K1 Điều 26 NĐ 70/2001 cần sửa đổi theo hướng qui định quyền sử dụng đất mà vợ chồng vợ chồng chuyển đổi, chuyển nhượng hoặc nhận thế chấp bằng khoản nợ vay chung hoặc bằng tài sản chung của vợ chồng là tài sản chung của vợ chồng.
- Hoàn thiện pháp luật tố tụng dân sự, xây dựng lộ trình thu thập - cung cấp chứng cứ - chứng minh đầy đủ, kịp thời, tạo thuận lợi cho đương sự và ngành Tòa án trong quá trình giải quyết tranh chấp, đảm bảo quyền của chủ sử dụng đất là vợ chồng. Hiện nay, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLTTDS năm 2011 đã xác định khá rạch ròi trách nhiệm của cá nhân, cơ quan, tổ chức lưu giữ chứng cứ và dự liệu qui phạm xử lý cá nhân, cơ quan tổ chức khi họ không làm tròn chức phận. Tuy nhiên, Luật sửa đổi, bổ sung chỉ đặt ra vấn đề xử lý khicá nhân, cơ quan hữu quan không cung cấp chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án và Viện kiểm sát, còn trường hợp đương sự yêu cầu mà cơ quan chức năng vì lý do nào đó không cung cấp được thì chỉ “phải thông báo bằng văn bản cho đương sự” “và nêu rõ lý do của việc không cung cấp được tài
liệu, chứng cứ”6. Hơn nữa, theo Nghị quyết số 04/2005/NQ-HĐTP ngày 17.09.2005 của Hội đồng thẩm phán TANDTC hướng dẫn về
“Chứng minh và chứng cứ” thì “cá nhân, cơ quan, tổ chức không cung cấp được chứng cứ cho đương sự phải thông báo bằng văn bản có ghi rõ lý do của việc không cung cấp được chứng cứ cho đương sự biết để họ chứng minh với Toà án là họ đã thu thập chứng cứ nhưng không có kết quả và yêu cầu Tòa án thu thập chứng cứ”. Điều này đồng nghĩa với việc nếu cá nhân, tổ chức từ chối cung cấp chứng cứ mà không phản hồi bằng văn bản thì khả năng yêu cầu Tòa án tiếp tục thu thập chứng cứ của vợ chồng và người thứ ba khó có thể được Tòa án chấp thuận vì không có căn cứ minh việc họ
“đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết nhưng vẫn không thu thập được chứng cứ” để làm cơ sở yêu cầu Tòa án tiếp tục thu thập chứng cứ.
Đây thật sự là vướng mắc cần tháo gỡ bằng cơ chế pháp lý mới có thể tạo cơ hội thực thụ cho cho vợ chồng và chủ thể khác trong việc thu thập và cung cấp chứng cứ để bảo vệ quyền sử dụng đất hợp pháp của họ.
- Đẩy mạnh công tác phố biến, giáo dục pháp luật nhằm nâng cao nhận thức của vợ chồng trong việc bảo vệ quyền sử dụng đất.
6Điều 7 BLTTDS sửa đổi năm 2011 xác định: Cá nhân, cơ quan, tổ chức trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm cung cấp đầy đủ và đúng thời hạn cho đương sự, Tòa án, Viện kiểm sát tài liệu, chứng cứ mà mình đang lưu giữ, quản lý khi có yêu cầu và chịu trách nhiệm về việc cung cấp tài liệu, chứng cứ đó; trường hợp không cung cấp được thì phải thông báo bằng văn bản cho cá nhân, cơ quan biết và nêu rõ lý do của việc không cung cấp được tài liệu, chứng cứ. Cũng theo Điều 94 Luật này, nếu đương sự đã áp dụng các biện pháp cần thiết để thu thập chứng cứ mà vẫn không thể tự thu thập được thì có thể yêu cầu Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ để bảo đảm cho việc giải quyết vụ việc đúng đắn. Cá nhân, cơ quan, tổ chức đang quản lý, lưu giữ chứng cứ có trách nhiệm cung cấp đầy đủ, kịp thời chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án, Viện kiểm sát trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu; trường hợp không cung cấp đầy đủ, kịp thời chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án, Viện kiểm sát thì tùy theo mức độ vi phạm có thể bị xử lý theo quy định của pháp luật.
Hiện nay, quyền tiếp cận và sử dụng tư liệu sản xuất là quyền sử dụng đất của vợ chồng, đặc biệt là người vợ chưa đảm bảo. Một trong những giải pháp quan trọng để đảm bảo quyền tiếp cận và sử dụng đất đai trên thực tế của vợ chồng nói chung và đối với người phụ nữ nói riêng là giải pháp tâm lý xã hội trong đó công tác tuyên truyền, phổ biến Luật HN&GĐ, Luật Dân sự, Luật Đất đai và các văn bản có liên quan có ý nghĩa quan trọng.
Phổ biến, tuyên truyền pháp luật là cơ hội để vợ chồng nhận thức về quyền con người trong lĩnh vực đất đai, giúp họ hiểu rõ về lợi ích và tác động tích cực của việc đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để cùng tạo điều kiện cho nhau đứng tên trên giấy chứng nhận. Việc tuyên truyền, phổ biến pháp luật cần theo hướng thiết thực, hiệu quả, đa dạng hóa các hình thức phù hợp với từng đối tượng, địa bàn. Cần chú trọng biên soạn, xuất bản các ấn phẩm tuyên truyền pháp luật về đất đai bằng tiếng Việt và một số tiếng dân tộc để phổ biến, nâng cao kiến thức pháp luật về quyền sử dụng đất cho các cặp vợ chồng người dân tộc thiểu số.
- Vận dụng linh hoạt và hợp lý nguyên tắc suy đoán tài sản chung, nâng cao hiệu quả công tác xét xử, giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất do một bên vợ, chồng đứng tên.
Hiện nay, do nhóm tài sản thuộc loại không phải đăng ký quyền sở hữu trong gia đình Việt Nam vẫn chiếm đa phần cũng như do ảnh hưởng từ đặc thù của các quan hệ hôn nhân và gia đình và sự tồn tại của định kiến giới nên việc ghi tên cả vợ và chồng trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sẽ khó thực hiện triệt để. Nguyên tắc suy đoán tài sản chung vì vậy sẽ còn nguyên giá trị áp dụng để giải quyết các tranh chấp phát sinh. Thực tiễn vận dụng nguyên tắc suy đoán tài sản chung để giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất do một bên vợ, chồng đứng tên nhằm đảm bảo quyền con người - quyền của vợ chồng đối với tài sản là quyền sử dụng đất - kể cả quyền của một bên vợ hoặc chồng hay quyền của người
thứ ba đòi hòi Thẩm phán phải chú trọng việc kiểm định, bảo đảm tính chuẩn xác của nguồn tài liệu chứng cứ. Trong trường hợp chứng cứ được cung cấp không phù hợp với thực địa thì Tòa án nhân dân cần phối hợp với các cơ quan chức năng điều tra, xác minh, thu thập lại chứng cứ để có hướng giải quyết kịp thời, đúng pháp luật. Việc chủ động hỗ trợ, giúp vợ chồng thu thập chứng trong trường hợp vợ chồng không thể tự thu thập được cũng cần được lưu tâm..
Hưởng dụng vì lợi tư ẩn sau sở hữu toàn dân: Điều mô tả ở trên không chỉ đúng với thị trường nhà đất, mà cũng đúng với quyền khai thác và hưởng dụng rừng núi, hầm mỏ, bờ biển và các nguồn tài nguyên thiên nhiên khác. Ẩn sau vỏ bọc sở hữu toàn dân, có thể nhận thấy nhiều tầng nấc quyền tài sản mang tính loại trừ của cá nhân và doanh nghiệp đã hình thành từ các quyết định phân bổ tài nguyên của cơ quan nhà nước. Khi các quyền tài sản có dấu hiệu tư hữu không rõ ràng ấy xuất hiện, ngay lập tức xuất hiện nguy cơ của công được khai thác vì lợi tư. Người có lợi tư liên kết thành bè nhóm, khi mạnh dần lên các nhóm lợi ích này sẽ ảnh hưởng tới chính sách của chính quyền từ địa phương tới trung ương.
Những quan sát mang tính dự báo này cho thấy, nhân dịp nghiên cứu sửa đổi Hiến pháp 1992, cần thảo luận để định nghĩa lại vai trò của Nhà nước đối với các nguồn tài nguyên quốc gia, tái định nghĩa sở hữu toàn dân và nếu cần có thể thay quan niệm ấy bằng những chế độ pháp lý rành mạch, xác định rõ chủ nhân hơn đối với tài sản. Nếu cải cách triệt để, cần chấp nhận đa sở hữu về đất đai. Dè dặt hơn, cần xác lập công bằng đối với các chủ sử dụng đất, nhất là nông dân, bảo hộ tốt hơn các quyền tài sản chính đáng của họ đối với đất nông nghiệp..
tiếp theo trang 11
QUYỀN TÀI SẢN ĐA TẦNG...