Câu hỏi đặt ra là, các văn bản nhằm hướng dẫn thi hành Pháp lệnh Cán bộ, công chức như Nghị định số: 115/2003/NĐ-CP, Nghị định số: 117/2003/NĐ-CP, Nghị định số: 35/2005/ NĐ-CP… có hết hi
Trang 1HAI SẮC LỆNH ĐẦU TIÊN NĂM 1945 VỀ
TỔ CHỨC CHÍNH QUYỀN NHÂN DÂN ĐỊA PHƯƠNG
VÀ NHỮNG KINH NGHIỆM CẦN KẾ THỪA
KHI SỬA ĐỔI HIẾN PHÁP 1992
TRƯƠNG ĐẮC LINH*
Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành
công, ngày 2 tháng 9 năm 1945, Chủ tịch
Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ lâm thời
đọc bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra Nhà
nước Việt Nam dân chủ cộng hoà đã chấm
dứt chế độ quân chủ phong kiến hàng nghìn
năm, đồng thời xoá bỏ chế độ thuộc địa của
chủ nghĩa thực dân Pháp kéo dài gần 100
năm trên đất nước ta Để thiết lập cơ sở pháp
lý cho tổ chức các cấp chính quyền nhân dân
địa phương, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký ban
về tổ chức Hội đồng nhân dân (HĐND) và
Ủy ban hành chính (UBHC) thành phố và thị
xã (Sắc lệnh số 77/SL) Để kế thừa và phát
triển những kinh nghiệm trong lịch sử, bài
viết này phân tích những quy định pháp luật
độc đáo của Sắc lệnh số 63/SL và Sắc lệnh
số 77/SL về tổ chức các cấp chính quyền địa
phương, cơ sở của các quy định này và bài
học kinh nghiệm khi sửa đổi Hiến pháp năm
Trong tổ chức bộ máy nhà nước, các cơ
quan chính quyền địa phương có vị trí, vai trò rất quan trọng Ở nước ta, chính quyền địa phương của Nhà nước kiểu mới được thành lập bằng cuộc đấu tranh cách mạng của quần chúng vũ trang giành chính quyền
từ tay thực dân đế quốc và tay sai của chúng trong cuộc Cách mạng tháng Tám 1945 Các
Ủy ban giải phóng ra đời trong cuộc đấu tranh cách mạng, khởi nghĩa giành chính quyền ở các huyện, các làng là hình thức chính quyền “tiền Chính phủ” của nhân dân các địa phương khi ta chưa giành được chính quyền trong cả nước Cách mạng tháng Tám
1945 thành công, các Ủy ban giải phóng đã trở thành các Ủy ban nhân dân (UBND) là tổ chức chính quyền tiền thân của các HĐND
và UBHC sau này do Chính phủ quy định
1 Tổ chức chính quyền địa phương ở
xã, huyện, tỉnh, kỳ theo Sắc lệnh số 63/SL
Theo Điều 1 Sắc lệnh số 63/SL, để thực hiện chính quyền nhân dân địa phương sẽ
đặt hai cơ quan: HĐND và UBHC HĐND
do nhân dân địa phương bầu ra theo nguyên
tắc phổ thông và trực tiếp, là cơ quan thay
mặt cho nhân dân địa phương UBHC do
các HĐND bầu ra, là cơ quan hành chính
vừa thay mặt cho nhân dân vừa đại diện cho Chính phủ Ở cấp xã và tỉnh có HĐND và
UBHC, ở cấp huyện và kỳ chỉ có UBHC
a Tổ chức chính quyền cấp xã: sau Cách
mạng tháng Tám năm 1945, chính quyền dân chủ đã vận dụng đơn vị hành chính cũ
là làng, xã Trên làng hay xã có tổng, thống nhất gọi là xã Chính quyền cấp xã được xác định là cấp chính quyền cơ sở có cả HĐND
và UBHC
* PGS-TS Luật học, Tổng Biên tập Tạp chí Khoa
học pháp lý, Trường Đại học Luật Tp Hồ Chí Minh.
Kỷ niệm 67 năm Cách mạng tháng Tám thành công và Quốc khánh 2/9 (1945-2012)
Trang 2HĐND xã do cử tri trong xã bầu có từ 15
đến 25 hội viên và có từ 5 đến 7 hội viên
dự khuyết Nhiệm kỳ HĐND xã là 2 năm
HĐND xã mỗi tháng họp một kỳ thường lệ
HĐND xã có thể triệu tập kỳ họp bất thường
khi có yêu cầu của UBHC huyện, khi UBHC
xã xét thấy cần thiết hoặc khi có quá 1/2
tổng số đại biểu yêu cầu (khi cần phúc quyết
UBHC xã chỉ cần có ít nhất 1/3 số đại biểu
yêu cầu) HĐND xã có quyền quyết định
những vấn đề ở xã, nhưng có những vấn đề
phải được UBHC huyện hoặc UBHC cấp
tỉnh chuẩn y (Điều 70, Điều 96 Sắc lệnh số
63/SL)
UBHC xã do HĐND xã bầu trong số các
đại biểu HĐND xã UBHC xã gồm: 5 Ủy
viên chính thức (1 Chủ tịch, 1 Phó Chủ tịch,
1 Thư ký, 1 Thủ quỹ và 1 Ủy viên) và 2 Ủy
viên dự khuyết Nhiệm vụ của UBHC xã là:
thi hành các mệnh lệnh của cấp trên, thực
hiện nghị quyết của HĐND xã; triệu tập các
kỳ họp HĐND xã; giải quyết các công việc
trong xã (Điều 70 Sắc lệnh số 63/SL)
b Tổ chức chính quyền cấp huyện:
Huyện được xác định là cấp trung gian Ở
huyện chỉ tổ chức UBHC UBHC huyện do
đại biểu của HĐND các xã trong huyện bầu,
gồm: 1 Chủ tịch, 1 Phó Chủ tịch, 1 Thư ký
và 2 Ủy viên dự khuyết Nhiệm kỳ UBHC
huyện là 2 năm
UBHC huyện có nhiệm vụ thi hành và
kiểm soát việc thi hành mệnh lệnh của cấp
trên, kiểm soát HĐND và UBHC xã; giải
quyết các công việc trong phạm vi huyện và
điều khiển đội cảnh binh đặt ở huyện để lo
việc tuần phòng và trị an ở huyện (xem: Điều
78 Sắc lệnh số 63/SL)
c Tổ chức chính quyền cấp tỉnh: tỉnh là
cấp chính quyền hoàn chỉnh, có HĐND và
UBHC
HĐND tỉnh do cử tri trực tiếp bầu, có từ
20 đến 30 đại biểu chính thức và một số đại
biểu dự khuyết tương đương với mỗi đơn vị
bầu cử Nhiệm kỳ đại biểu HĐND tỉnh là 2
năm “HĐND tỉnh có quyền quyết nghị về
tất cả các vấn đề thuộc phạm vi tỉnh mình
nhưng không được trái với chỉ thị của các
cấp trên” (Điều 80 Sắc lệnh số 63/SL) Đối
với một số vấn đề quan trọng, nghị quyết HĐND tỉnh phải được UBHC kỳ phê chuẩn
y trước khi thi hành Còn nghị quyết về những vấn đề: ngân sách tỉnh, vay tiền, cho thầu một công vụ, định các thuế suất các thuế đặc biệt được phép thu trong phạm vi trong tỉnh phải được Hội đồng Chính phủ phê chuẩn mới được thi hành (Điều 85 Sắc lệnh số 63/SL)
HĐND tỉnh 4 tháng họp một kỳ HĐND
tỉnh có thể triệu tập kỳ họp bất thường khi có yêu cầu của UBHC kỳ, khi UBHC tỉnh xét thấy cần thiết hoặc khi có quá 1/2 tổng số đại biểu yêu cầu (khi cần phúc quyết UBHC tỉnh chỉ cần có ít nhất 1/3 số đại biểu yêu cầu) HĐND tỉnh họp công khai (trừ trường hợp đặc biệt phải họp kín), dân chúng có quyền tham dự, nhưng không có quyền phát biểu ý kiến
UBHC tỉnh do HĐND tỉnh bầu trong số
các đại biểu HĐND tỉnh UBHC tỉnh gồm 3
Ủy viên chính thức (1 Chủ tịch, 1 Phó Chủ tịch, 1 Thư ký) và 2 Ủy viên dự khuyết.UBHC tỉnh có trách nhiệm thi hành các mệnh lệnh của cấp trên, thi hành các nghị quyết của HĐND tỉnh, sau khi đã được cấp trên chuẩn y, chỉ huy các công việc hành chính cấp dưới (Điều 88 Sắc lệnh số 63/SL)
d Tổ chức chính quyền cấp kỳ: cấp kỳ
được xem là cấp chính quyền trung gian giữa Chính phủ với các cấp chính quyền địa phương Ở cấp này chỉ có UBHC UBHC
kỳ do HĐND các tỉnh, thành phố trong kỳ
bầu, nhiệm kỳ là 3 năm UBHC kỳ gồm 5
Ủy viên chính thức (1 Chủ tịch, 1 Phó Chủ tịch, 1 Thư ký và 2 Ủy viên) và 2 Ủy viên dự khuyết
UBHC kỳ chủ yếu có nhiệm vụ: Thi hành các mệnh lệnh của Chính phủ; Kiểm soát các UBHC và HĐND cấp dưới; Ra nghị định
để thi hành các luật lệ theo mệnh lệnh của Chính phủ trong phạm vi kỳ; Ra lệnh điều động quân đội trong những trường hợp tối khẩn cấp để bảo vệ đất nước (Điều 90, Điều 84 Sắc lệnh số 63/SL) UBHC kỳ (cũng như UBHC các cấp) hoạt động thường xuyên
Trang 3Nội, Hải Phòng, Nam Định, Vinh - Bến
Thuỷ, Huế, Đà Nẵng, Đà Lạt và Sài Gòn -
Chợ Lớn đều đặt làm thành phố Tổ chức
chính quyền của thành phố là khác với tỉnh
Nếu như tỉnh tổ chức 3 cấp chính quyền thì
HĐND thành phố do cử tri bầu, “là cơ
quan thay mặt cho dân thành phố” (Điều 3
Sắc lệnh số 77/SL), gồm 20 Hội viên chính
thức và 4 Hội viên dự khuyết
Nhiệm kỳ HĐND là 2 năm Điều 13 Sắc
lệnh số 77/SL quy định: «Hội đồng nhân dân
thành phố có quyền quyết định mọi vấn đề
của thành phố», nhưng không được trái với
chỉ thị cấp trên
Sắc lệnh số 77/SL cũng quy định quyết
nghị của HĐND thành phố về một số vấn đề
phải được UBHC kỳ chuẩn y (hoặc Chính phủ
đối với HĐND thành phố Hà Nội), như: bán,
mua hoặc đổi bất động sản của thành phố; quy
định về các công chức thuộc ngạch thành phố;
chia và định địa giới các khu phố Còn những
quyết nghị về: ngân sách thành phố; định các
thuế suất, các thuế đặc biệt được phép thu
trong phạm vi thành phố phải được Chính phủ chuẩn y mới được thi hành (Điều 17 và Điều 18 Sắc lệnh số 77/SL)
HĐND thành phố họp 2 tháng một kỳ
HĐND thành phố họp công khai Dân có quyền dự thính nhưng không có quyền chất vấn
UBHC thành phố là cơ quan do HĐND
thành phố bầu trong số các đại biểu HĐND
thành phố, “vừa thay mặt cho dân thành phố,
vừa thay mặt cho Chính phủ” (Điều 3 Sắc
lệnh số 77/SL) UBHC thành phố gồm 3 Ủy
viên chính thức (1 Chủ tịch, 1 Phó Chủ tịch,
1 Thư ký) và 2 Ủy viên dự khuyết Riêng
UBHC thành phố Hà Nội và thành phố Sài
Gòn – Chợ Lớn có 5 Ủy viên chính thức (1
Chủ tịch, 2 Phó Chủ tịch, 2 Thư ký) và 3 Ủy viên dự khuyết
UBHC thành phố bầu xong phải được UBHC kỳ hay Chính phủ (đối với UBHC thành phố Hà Nội) chuẩn y Uỷ viên nào không được chuẩn y thì phải bầu lại Nhưng nếu bầu lại uỷ viên ấy vẫn được trúng cử thì cấp trên phải công nhận (Điều 29, Điều 33 Sắc lệnh số 77/SL)
Về nhiệm vụ, quyền hạn của UBHC thành phố cũng như UBHC các cấp khác, đều là những cơ quan hành chính nhà nước ở thành phố, có trách nhiệm thi hành mệnh lệnh cấp trên, thi hành nghị quyết HĐND thành phố, giải quyết các công việc trên địa bàn thành phố Nhưng khác UBHC tỉnh, UBHC thành phố được Sắc lệnh số 77/SL quy định những nhiệm vụ, quyền hạn khác nhằm nâng cao vai trò UBHC ở thành phố trong việc quản
lý, điều hành công việc ở đô thị, như: ban
hành nghị định để giữ việc trị an và vệ sinh
trong thành phố; điều khiển đội cảnh binh
để lo việc tuần phòng và trị an; ra lệnh điều động quân đội đóng trong thành phố trong những trường hợp tối khẩn cấp để bảo vệ đất nước nhưng phải báo lên UBHC kỳ hay Chính phủ ngay (đối với UBHC thành phố
Hà Nội) (Điều 39 Sắc lệnh số 77/SL)
b Tổ chức chính quyền khu phố
Khác với tỉnh, thành phố là một chỉnh thể thống nhất nên cả thành phố là một cấp chính
Trang 4quyền cơ bản và thống nhất cho toàn thành
phố Thành phố tuy được chia thành các khu
phố nhưng khu phố chỉ là địa hạt hành chính,
chỉ tổ chức UBHC Việc thành lập UBHC
khu phố do cử tri ở khu phố trực tiếp bầu, là
cơ quan vừa thay mặt cho nhân dân khu phố
vừa thay mặt cho Chính phủ (Điều 3, Điều
44 Sắc lệnh số 77/SL)
UBHC khu phố gồm 3 Ủy viên chính thức
(1 Chủ tịch, 1 Phó Chủ tịch, 1 Thư ký) và 2
Ủy viên dự khuyết Riêng UBHC khu phố ở
Hà Nội có 5 Ủy viên chính thức và 2 ủy viên
dự khuyết
Nhiệm vụ, quyền hạn của UBHC khu
phố chỉ gồm: Đạo đạt nguyện vọng nhân
dân khu phố lên UBHC thành phố; giúp
UBHC thành phố trong việc thi hành
mệnh lệnh cấp trên và quyết nghị HĐND
thành phố trong khu phố; giúp các cơ quan
chuyên môn trong phạm vi khu phố; và thị
thực các giấy tờ trong khu phố theo quy
định của pháp luật
Tổ chức chính quyền thành phố, khu phố
theo Sắc lệnh số 77/SL ngày 21/12/1945
được thể hiện bằng sơ đồ sau:
Ngày 9/11/1946, Quốc hội thông qua bản
Hiến pháp đầu tiên, dành một chương riêng
(chương V) với 6 điều (từ Điều 57 đến Điều
62) để quy định về HĐND và UBHC Các
đơn vị hành chính và tổ chức chính quyền
ở mỗi đơn vị hành chính nói trên về cơ bản
đã kế thừa các quy định của Sắc lệnh số 63/
SL Khi cuộc kháng chiến toàn quốc bùng
nổ, Chính phủ ban hành một loạt sắc lệnh sửa đổi, bổ sung Sắc lệnh số 63/SL và số 77/
SL cho phù hợp với điều kiện kháng chiến Như: Sắc lệnh số 3/SL ngày 28/12/1946
về việc tạm hoãn các cuộc tuyển cử vào HĐND và UBHC; Sắc lệnh số 91/SL ngày 01/10/1947 về việc hợp nhất Ủy ban kháng chiến và Ủy ban hành chính từ cấp tỉnh đến
xã thành Ủy ban kháng chiến kiêm hành chính (UBHCKC), Sắc lệnh số 254/SL ngày 19/11/1948 tổ chức chính quyền nhân dân địa phương trong thời kỳ kháng chiến, Sắc lệnh số 147/SL ngày 10/10/1950 khôi phục lại chế độ HĐND cấp xã và cấp tỉnh bầu UBHCKC cấp mình v.v
HĐND và UBHCKC trong suốt 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp ở cả vùng
tự do cũng như vùng thực dân Pháp tạm chiếm đã giữ vai trò quan trọng trong việc thực hiện các mệnh lệnh, chỉ thị của Chính phủ, tổ chức nhân dân thực hiện nhiệm
vụ kháng chiến chống thực dân Pháp, làm nhiệm vụ hậu phương đối với tiền tuyến, chăm lo đời sống nhân dân, vận động nhân dân đóng góp sức người, sức của cho cuộc
Trang 5kháng chiến đến thắng lợi, mà đỉnh cao là
chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954
Hòa bình lập lại trên miền Bắc, Chính phủ
ban hành Sắc lệnh số 04/SL ngày 20/7/1957
về bầu cử HĐND và UBHC các cấp để tổ
chức bầu cử HĐND các cấp ở miền Bắc
trong điều kiện hòa bình Ngày 31/5/1958
Chủ tịch nước đã ban bố Luật số 110-SL/L về
tổ chức chính quyền địa phương (được Quốc
hội thông qua tại khóa họp thứ VIII)
Nhưng sau khi Quốc hội thông qua Hiến
pháp 1959, năm 1962 Quốc hội thông qua
Luật tổ chức HĐND và UBHC các cấp đã
đánh dấu một bước ngoặt trong tổ chức chính
quyền địa phương ở nước ta nói riêng, bộ máy
nhà nước nói chung là theo mô hình Xô viết1
II Một số nhận xét về Sắc lệnh số 63/SL
và số 77/SL quy định tổ chức các cấp chính
quyền địa phương ở nước ta
Nghiên cứu các quy định của Sắc lệnh
số 63/SL và số 77/SL năm 1945 về tổ chức
các cấp chính quyền địa phương có thể rút ra
những nhận xét sau:
Một là, về phương diện chính trị, một
mặt chúng ta kiên quyết vạch trần âm mưu
thâm độc của thực dân Pháp chia nước ta
thành 3 kỳ với chế độ chính trị - pháp lý
khác nhau để chia rẽ khối đại đoàn kết của
dân tộc Việt Nam nhằm dễ bề cai trị trước
đây, nhưng mặt khác, về phương diện hành
chính, chúng ta duy trì các đơn vị hành
chính có tính chất vùng, miền (3 Kỳ), tổ
chức ở những đơn vị hành chính này cơ
quan hành chính gọn nhẹ (UBHC kỳ) để đại
diện và giúp cho Chính phủ đôn đốc, chỉ
đạo và kiểm soát sâu sát, kịp thời đối với
chính quyền của 70 tỉnh, thành phố trong cả
nước, trải dài từ Bắc đến Nam lúc bấy giờ
một cách chặt chẽ và hiệu quả Hiến pháp
năm 1946 kế thừa Sắc lệnh số 63/SL năm
1945, một mặt khẳng định: “Đất nước Việt
Nam là một khối thống nhất Trung Nam Bắc
không thể phân chia” (Điều 2 Hiến pháp
1 Xem thêm: Trương Đắc Linh, Tổ chức chính
quyền địa phương ở Việt Nam: Quá trình hình thành
phát triển và vấn đề đổi mới Tạp chí Nhà nước và
thành khu, rồi liên khu để tổ chức UBHCKC
đại diện cho Chính phủ
Hai là, để tổ chức chính quyền địa
phương, Đảng và Chính phủ đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặc biệt quan tâm
đến việc xây dựng cơ sở pháp lý cho tổ chức
và hoạt động của chính quyền địa phương
Chỉ vài tháng sau khi giành được chính quyền, Chính phủ đã ban hành 2 Sắc lệnh số
63 và số 77 về tổ chức các cấp chính quyền địa phương Khi toàn quốc kháng chiến, do tình hình và điều kiện thay đổi, để duy trì
và phát huy vai trò chính quyền địa phương trong điều kiện mới (cả ở vùng giải phóng
và cả ở vùng địch tạm chiếm) Chính phủ đã ban hành hàng chục Sắc lệnh để sửa đổi, bổ sung Sắc lệnh số 63/SL và Sắc lệnh số 77/
SL cho phù hợp Khi hòa bình lập lại trên miền Bắc chúng ta đã tổ chức bầu cử đại biểu HĐND các cấp, Quốc hội đã thông qua Luật số 110 (được Chủ tịch nước ban bố
để thi hành ngày 31/5/1958) là cơ sở pháp
lý quan trọng cho tổ chức chính quyền địa phương của nước ta trong điều kiện mới
Ba là, ngay từ những ngày đầu mới giành
được chính quyền, chúng ta đã phân biệt rõ
sự khác nhau rất cơ bản về tính chất và vai trò
của các loại đơn vị hành chính tự nhiên, cơ
bản (xã, tỉnh, thành phố) và đơn vị hành chính nhân tạo có tính chất trung gian (huyện, kỳ)
hay chỉ là địa hạt hành chính (khu phố) của
một chỉnh thể đô thị thống nhất để tổ chức các cấp chính quyền địa phương ở những đơn
vị hành chính này là khác nhau, không “cào
bằng” Vì vậy, chỉ có xã, tỉnh, thành phố là
cấp tổ chức chính quyền hoàn chỉnh, có cả HĐND và UBHC; còn kỳ, huyện, khu phố không tổ chức HĐND, chỉ tổ chức UBHC đại diện cho chính quyền cấp trên Kinh nghiệm này đã được kế thừa khi xây dựng Hiến pháp năm 1946, nhưng tiếc rằng từ Hiến pháp năm
Trang 61959, 1980 và 1992 hiện hành kinh nghiệm
này đã không được kế thừa nên đơn vị hành
chính nào cũng tổ chức cấp chính quyền hoàn
chỉnh, có cả HĐND và UBHC (UBND)
Bốn là, Sắc lệnh số 63/SL và Sắc lệnh số
77/SL phân biệt rõ sự khác nhau trong việc
quản lý và tổ chức bộ máy chính quyền ở
địa bàn nông thôn (tỉnh) với quản lý và tổ
chức bộ máy chính quyền ở địa bàn đô thị
HĐND và UBHC, còn huyện là cấp trung
gian chỉ có UBHC Thành phố được xác
định là một chỉnh thể thống nhất nên chỉ
có một cấp chính quyền hoàn chỉnh là cấp
thành phố, có HĐND và UBHC; còn khu
phố chỉ là địa hạt hành chính của thành phố
nên không tổ chức HĐND, chỉ có UBHC
UBHC khu phố vừa là cơ quan hành chính
đại diện cho chính quyền thành phố, vừa là
cơ quan đại diện trực tiếp của nhân dân khu
phố Kinh nghiệm thực tiễn này rất đáng
tiếc cũng đã không được kế thừa khi thông
qua các bản Hiến pháp và các luật về tổ
chức chính quyền địa phương sau này
(nhưng không được trái với chỉ thị cấp trên)
Vị trí, vai trò và thẩm quyền của UBHC các
cấp được tăng cường, đề cao hơn HĐND
HĐND các cấp đặt dưới sự giám sát tương
đối chặt chẽ và toàn diện cả về tổ chức, cả
về hoạt động của các cơ quan hành chính
nhà nước cấp trên (cơ quan hành chính cấp
trên chuẩn y kết quả bầu UBHC cấp dưới,
chuẩn y các nghị quyết HĐND cấp dưới
về nhiều vấn đề…) Sự giám sát này được
xem như sự “giám hộ hành chính” do các
cơ quan hành chính cấp trên thực hiện với
tư cách người đại diện cho Chính phủ Điều này phản ánh nhu cầu khách quan của tình hình chính trị – xã hội, cũng như trình độ văn hóa của dân cư, kể cả đại biểu HĐND còn rất thấp (thậm chí tiêu chuẩn để được bầu vào UBHC cũng chỉ cần biết đọc, biết viết chữ quốc ngữ)
Sáu là, cơ cấu tổ chức HĐND và UBHC
các cấp rất gọn nhẹ HĐND chỉ từ 15 đến 25 hội viên đối với cấp xã, hoặc 20 đến 30 hội viên đối với cấp tỉnh UBHC các cấp có số thành viên không nhiều, nhiều nhất là 5 thành viên, số Phó Chủ tịch chỉ có 1, trừ UBHC thành phố Hà Nội và UBHC thành phố Sài Gòn - Chợ lớn là 2 Phó Chủ tịch Điều này khác hẳn với pháp luật sau này quy định quá nhiều số Phó Chủ tịch UBND các cấp, nhất là cấp tỉnh (3 đến 5 Phó Chủ tịch UBND).HĐND và UBND các cấp ngoài số thành viên chính thức, cả 2 loại cơ quan này ở tất cả các cấp đều có những thành viên dự khuyết để thay thế khi khuyết thành viên chính thức Quy định này nhằm tránh các cuộc bầu cử bổ sung, nhất là nhiệm kỳ của HĐND và UBHC ở thời kỳ này là rất ngắn (2 đến 3 năm)
Bảy là, Sắc lệnh số 63/SL và Sắc lệnh số 77/
SL quy định rõ HĐND và UBHC của từng cấp, đối với mỗi cấp, mỗi loại cơ quan đều có những mục riêng để quy định về: cách tổ chức, quyền hạn, cách làm việc Những quy định về tổ chức, quyền hạn và cách làm việc nói trên rất rõ ràng, chặt chẽ, cụ thể và dễ hiểu Ví dụ: khi UBHC cấp dưới trình nghị quyết của HĐND cấp mình lên UBHC cấp trên, UBHC cấp trên phải ghi nhận vào sổ và cấp biên lai, sau thời gian nhất định (5 ngày đối với UBHC huyện và 15 ngày đối với UBHC kỳ) phải chuẩn y hoặc thủ tiêu Nếu thủ tiêu hoặc sửa đổi phải nói rõ nguyên nhân cho cấp dưới Nếu quá thời hạn theo quy định không có văn bản trả lời thì cấp dưới có quyền thi hành v.v 2
2 Xem: Trương Đắc Linh, “Mô hình tổ chức chính quyền
địa phương - sự phát triển qua bốn bản Hiếp pháp và vấn đề đổi mới” trong cuốn sách “Phát huy những giá trị lịch sử, chính trị, pháp lý của Hiến pháp 1946 trong sự nghiệp đổi mới hiện nay”, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2009, tr 140-170.
Trang 7III Một số bài học kinh nghiệm từ Sắc
lệnh số 63/SL và Sắc lệnh số 77/SL cần kế
thừa khi nghiên cứu sửa đổi Hiến pháp
1992 về tổ chức chính quyền địa phương
1 Sắc lệnh số 63/SL và Sắc lệnh số 77/SL
đã không phủ nhận sạch trơn tổ chức chính
quyền địa phương người Pháp thiết lập, mà
duy trì và tiếp thu có chọn lọc, có phê phán
lý luận và thực tiễn tổ chức chính quyền địa
phương của người Pháp, phân biệt rõ phương
diện chính trị thì phủ nhận, lên án (chia nước
ta làm 3 kỳ với chế độ chính trị - pháp lý khác
nhau); nhưng về “phương diện hành chính”
thì kế thừa, duy trì các đơn vị hành chính có
tính chất vùng, miền: 3 kỳ (sau đó đổi thành
bộ khi thông qua Hiến pháp năm 1946, rồi
khu, hoặc liên khu trong thời kỳ kháng chiến)
Kinh nghiệm này có thể kế thừa khi sửa đổi
Hiến pháp năm 1992: nghiên cứu khôi phục,
thiết lập loại đơn vị hành chính có tính chất
vùng, miền, có thể theo địa phận các quân khu
tương ứng hiện nay, hoặc theo vùng kinh tế
để tổ chức cơ quan hành chính nhà nước gọn
nhẹ, có thẩm quyền đại diện cho Chính phủ
chỉ đạo, kiểm tra và điều phối hoạt động của
chính quyền các tỉnh, thành phố trong vùng,
miền đó một cách kịp thời và hiệu quả hơn
Kế thừa kinh nghiệm này chính áp dụng
nguyên tắc về tính có giới hạn của tầm quản
lý Tầm quản lý các đơn vị hành chính - lãnh
thổ quá xa, quá rộng, quá nhiều thì tuyến
thông tin quá dài, hiệu quả quản lý thấp Vì
thế, trong cải cách chính quyền địa phương
của nước Pháp năm 1982, lãnh thổ của nước
Pháp được phân chia thành 26 vùng (22 vùng
quốc nội, 4 vùng hải ngoại) để điều phối và
kiểm soát 100 tỉnh của nước Pháp Italia
cũng từ xấp xỉ 100 tỉnh được chia thành 20
vùng Trung Quốc cũng chỉ có 33 đơn vị hành
chính - lãnh thổ trực thuộc trung ương; Nhật
Bản có 47 đơn vị hành chính - lãnh thổ cấp
tỉnh Liên bang Nga theo Hiến pháp 1993 có
89 chủ thể liên bang, sau đó, từ năm 2000 do
nhu cầu của Chính phủ trung ương giám sát
và điều phối các chủ thể liên bang nên bằng
đạo luật hiến pháp đã chia nước Nga thành 7
vùng ( năm 2001 lập thêm một vùng, nay là
8 vùng), ở mỗi vùng có trưởng vùng do Tổng thống bổ nhiệm, là người đại diện toàn quyền của Tổng thống ở vùng đó…3
2 Sắc lệnh số 63/SL và Sắc lệnh số 77/SL
tiếp thu khoa học luật hành chính của Pháp
về phân biệt đơn vị hành chính tự nhiên (xã, tỉnh, thành phố) và đơn vị hành chính nhân
tạo (kỳ, huyện, khu phố) để tổ chức hợp lý
các cấp chính quyền địa phương ở các đơn vị hành chính này Tỉnh, thành phố, xã tổ chức cấp chính quyền hoàn chỉnh, có cả HĐND và UBHC, HĐND là cơ quan do cử tri bầu để đại diện cho cộng đồng dân cư ở địa phương;
kỳ, huyện, khu phố chỉ tổ chức UBHC là
cơ quan đại diện cho Chính phủ, cho chính quyền cấp trên Hiện nay, chúng ta đang thực hiện thí điểm không tổ chức HĐND huyện, quận, phường ở 10 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương cũng chính là kế thừa kinh nghiệm
tổ chức các cấp chính quyền địa phương đã từng được quy định trong Sắc lệnh số 63/SL
và Sắc lệnh số 77/SL năm 1945 do Chủ tịch
Hồ Chí Minh ký ban hành
Nhưng gần 70 năm qua, vị trí, tính chất và vai trò của các đơn vị hành chính huyện ở nước ta đã có nhiều thay đổi, cuối những năm
1970 đến giữa những năm 1980 huyện còn được xác định là cấp “chiến lược”, là “pháo đài” Hoặc các quận (trước đây gọi là khu phố) của các thành phố trực thuộc trung ương
ở nội thành đã được đô thị hóa cũng khác hẳn các quận mới được thành lập từ các huyện ngoại thành đang trong quá trình đô thị hóa,
đã và đang hình thành các khu đô thị mới, có tính độc lập về kết cấu hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội và cộng đồng dân cư nên không thể đồng nhất, cào bằng các đơn vị hành chính này như nhau Vì vậy, cần cân nhắc thận trọng, không thể bỏ HĐND ở tất cả các huyện của các tỉnh, hoặc các quận - khu đô thị mới (các “tiểu thành phố”) của các thành phố trực thuộc trung ương
3 Xem: Nguyễn Cửu Việt và Trương Đắc Linh,
Chương VI “Chính quyền địa phương” trong bản thảo cuốn sách “Những vấn đề cơ bản của Hiến pháp các
nước trên thế giới” của Ban Biên tập sửa đổi Hiến
pháp năm 1992, Hà Nội, 2012.
Trang 83 Sắc lệnh số 63/SL và Sắc lệnh số 77/
SL kết hợp nguyên tắc phân quyền và nguyên
tắc tản quyền trong việc tổ chức các cấp chính
quyền địa phương: HĐND do dân bầu, chỉ đại
diện cho nhân dân ở địa phương, có quyền
quyết định mọi việc ở địa phương nhưng
không trái với chỉ thị cấp trên; nhưng UBHC
đại diện cho Chính phủ, một số quyết định
của HĐND phải được UBHC cấp trên (hoặc
Chính phủ) chuẩn y, thực chất là sự “giám hộ
hành chính” v.v Điều này là do nước ta mới
giành được độc lập, thù trong, giặc ngoài, thế
nước như “chỉ mành treo chuông”, đại biểu
HĐND các cấp trình độ văn hóa còn hạn chế,
cả thành viên UBHC cũng chỉ đòi hỏi biết đọc,
biết viết v.v nên sự giám hộ này là cần thiết
67 năm đã qua kể từ khi Sắc lệnh số 63/
SL và Sắc lệnh số 77/SL được ban hành, hiện
nay tình hình trong nước và trên thế giới
đã có nhiều thay đổi, xu hướng chung của
các nước trên thế giới tổ chức chính quyền
địa phương là theo nguyên tắc tự quản địa
phương để phát huy quyền chủ động, độc
lập, tăng cường trách nhiệm của các cơ quan
chính quyền địa phương trước nhân dân địa
phương trong việc giải quyết các vấn đề của
địa phương theo quy định của Hiến pháp, luật
Vì vậy, sửa đổi Hiến pháp 1992 liên quan đến
tổ chức chính quyền địa phương cũng nên
theo hướng áp dụng nguyên tắc tự quản địa
phương đối với các cấp chính quyền cơ bản,
ở các đơn vị hành chính tự nhiên như: xã,
thành phố, tỉnh, thị xã,…Còn ở những đơn vị
hành chính nhân tạo (như quận nội thành cũ,
phường …) chỉ tổ chức cơ quan hành chính,
đại diện cho chính quyền cấp trên
4 Sắc lệnh số 63/SL và Sắc lệnh số 77/SL
quy định tổ chức các cấp chính quyền địa
phương không theo kiểu cào bằng giữa các
cấp chính quyền địa phương, cấp nào cũng
có HĐND và UBND; nhiệm kỳ, cách thức
thành lập và hoạt động của các cơ quan chính
quyền địa phương ở các cấp, các đơn vị hành
chính không máy móc, cứng nhắc như hiện
nay Ví dụ: Tổ chức chính quyền địa phương
ở tỉnh (2 cấp hoàn chỉnh, một cấp chỉ có
UBHC) khác với thành phố (cả thành phố là
1 cấp hoàn chỉnh, khu phố chỉ có UBHC),
không đánh đồng để “gọi chung là cấp tỉnh”,
“gọi chung là cấp huyện” như Điều 118
Hiến pháp 1992 và Điều 4 Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003 hiện hành quy định Tương tự, ở những nơi không tổ chức HĐND, việc thành lập UBHC ở các đơn vị hành chính này theo Sắc lệnh số 63/SL và Sắc lệnh số 77/SL quy định cũng rất khác nhau: UBHC kỳ, UBHC huyện do các HĐND cấp
dưới bầu ra; nhưng UBHC khu phố thì do cử
tri khu phố trực tiếp bầu Nhiệm kỳ UBHC
kỳ 3 năm, HĐND và UBHC các cấp khác
là 2 năm HĐND xã mỗi tháng họp một kỳ thường lệ, HĐND tỉnh 4 tháng một kỳ, còn HĐND thành phố thì 2 tháng họp một kỳ v.v.Kinh nghiệm này có thể tham khảo để tới đây sửa đổi Hiến pháp 1992 và pháp luật hiện hành liên quan đến nhiệm kỳ của Quốc hội, HĐNĐ các cấp, cũng như các kỳ họp thường
lệ của những cơ quan này Vì hiện nay Hiến pháp và pháp luật quy định nhiệm kỳ của tất
cả các cơ quan dân cử các cấp, từ Quốc hội đến HĐND cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã đều
là 5 năm; kỳ họp thường lệ của Quốc hội và HĐND cả 3 cấp đều là 2 kỳ/năm Điều này
là rất bất hợp lý Hơn nữa, để tiết kiệm ngân sách, đại biểu Quốc hội khóa XIII và đại biểu HĐND cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã nhiệm
kỳ 2011 - 2016 được tổ chức bầu vào cùng một ngày (ngày 22/5/2011) là điều càng bất hợp lý hơn Có lẽ, không có Hiến pháp, pháp luật và thực tiễn tổ chức bầu cử của nước nào trên thế giới lại quy định và tổ chức bầu cử như nước ta hiện nay
Vì vậy, chúng tôi kiến nghị:
- Nhiệm kỳ HĐND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương là 5 năm, nhiệm kỳ HĐND huyện (nếu còn duy trì) và HĐND xã là 2,5 năm;
- Kỳ họp thường lệ của các cơ quan dân cử các cấp phải khác nhau: Quốc hội 6 tháng một kỳ; HĐND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương 4 tháng một kỳ; HĐND huyện (nếu còn duy trì) 3 tháng một kỳ Riêng HĐND
xã phải họp thường xuyên hơn, cụ thể nên 2 tháng một kỳ..
Trang 9SỬA ĐỔI LUẬT BAN HÀNH VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT: CHÚ TRỌNG CÁC NGUYÊN TẮC
ÁP DỤNG PHÁP LUẬT
CAO VŨ MINH*
1 Đặt vấn đề
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần
thứ XI của Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng
định: “Tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật,
cơ chế, chính sách để vận hành có hiệu quả
nền kinh tế và thực hiện tốt các cam kết quốc
tế, bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc”1 Trước
đó, Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005
của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và
hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến
năm 2010, định hướng đến năm 2020 đã xác
định:“Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp
luật đồng bộ, thống nhất (người viết nhấn
mạnh), khả thi, công khai, minh bạch” Yêu
cầu này cũng được thể hiện rất rõ trong Khoản
1, Điều 3 Luật ban hành văn bản quy phạm
pháp luật năm 2008 (Luật năm 2008) “Bảo
đảm tính hợp hiến, hợp pháp và tính thống
nhất (người viết nhấn mạnh) của văn bản quy
phạm pháp luật trong hệ thống pháp luật”
Như vậy, tính thống nhất của văn bản quy
phạm pháp luật (QPPL) đòi hỏi sự không
chồng chéo, mâu thuẫn giữa các văn bản
QPPL Tuy nhiên, trên thực tế, vẫn tồn tại
nhiều văn bản QPPL chồng chéo nên cần phải
có nguyên tắc giải quyết mâu thuẫn giữa các
văn bản QPPL Trong phạm vi bài viết này,
chúng tôi phân tích về một số trường hợp mà
ngay cả các nguyên tắc giải quyết xung đột
pháp luật cũng bị “vô hiệu hóa”
2 Khi những nguyên tắc giải quyết xung
đột pháp luật bị “vô hiệu hóa”
* ThS Luật học, Giảng viên khoa Hành chính – Nhà
nước, Đại học Luật TP Hồ Chí Minh.
1 Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại
hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc
gia, Hà Nội, tr 247.
2.1 Về nguyên tắc áp dụng QPPL tại Khoản 1 Điều 83 Luật ban hành VBQPPL năm 2008
Khoản 1 Điều 83 Luật năm 2008 quy định:
- Văn bản QPPL được áp dụng từ thời điểm bắt đầu có hiệu lực
- Văn bản QPPL được áp dụng đối với hành vi xảy ra tại thời điểm mà văn bản đó đang có hiệu lực Trong trường hợp văn bản
có hiệu lực trở về trước thì áp dụng theo quy định đó
Như vậy, với quy định này thì sẽ áp dụng văn bản pháp luật nào khi có một sự việc xảy vào ngày văn bản pháp luật cũ có hiệu lực nhưng khi giải quyết thì văn bản pháp luật cũ ấy được thay thế bằng văn bản pháp luật mới? Nếu nói là áp dụng văn bản pháp luật mới - văn bản đang có hiệu lực thì mâu thuẫn câu đầu tiên của Khoản 1 Điều
83 Luật năm 2008 Nếu áp dụng văn bản pháp luật cũ đã hết hiệu lực thì lại mâu thuẫn với câu thứ hai của Khoản 1 Điều 83 Luật ban hành VBQPPL năm 2008 Trong trường hợp này, có thể áp dụng quy định tại Điều 79 Luật ban hành VBQPPL năm
2008 về “hiệu lực trở về trước của văn bản pháp luật” hay không nếu như văn bản pháp luật mới quy định trách nhiệm pháp
lý nặng hơn văn bản pháp luật cũ đã hết hiệu lực? Xem xét cả Điều 79, Điều 83 Luật năm 2008 vẫn không cho phép chúng
ta đưa ra kết luận cuối cùng về vấn đề này,
vì Khoản 4 Điều 83 Luật năm 2008 chỉ quy
định: “Trong trường hợp văn bản QPPL
mới quy định trách nhiệm pháp lý nhẹ hơn đối với hành vi xảy ra trước ngày văn bản
có hiệu lực thì áp dụng văn bản mới” Tuy
Trang 10nhiên, nếu trường hợp “văn bản QPPL mới
quy định trách nhiệm pháp lý nặng hơn”
thì áp dụng văn bản pháp luật cũ, trong
khi Điều 79 Luật năm 2008 lại quy định:
“Chỉ trong những trường hợp thật cần thiết,
văn bản quy phạm pháp luật mới được quy
định hiệu lực trở về trước” và câu cuối
Khoản 1 Điều 83 Luật năm 2008 lại quy
định:“Trong trường hợp văn bản có hiệu
lực trở về trước thì áp dụng theo quy định
đó” “Những trường hợp thật cần thiết” là
những trường hợp nào và văn bản nào là
văn bản có quy định hiệu lực trở về trước?
Đây đều là những quy định tùy nghi, khó
có cách hiểu và áp dụng thống nhất nếu
không được giải thích rõ ràng
Nhằm giải quyết mâu thuẫn này, trong một
số văn bản QPPL đã mạnh dạn “mở một lối
đi riêng” về cách áp dụng luật để điều chỉnh
Đơn cử, Mục 4 Nghị quyết số: 35/2000/
QH10 của Quốc hội ngày 9/6/2000 về việc
thi hành Luật hôn nhân và gia đình quy định:
“a) Đối với những vụ, việc mà Tòa án đã
thụ lý trước ngày 01/01/2001 thì áp dụng
Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 để giải
quyết;
b) Đối với những vụ, việc mà Tòa án thụ
lý từ ngày 01/01/2001 thì áp dụng Luật hôn
nhân và gia đình năm 2000 để giải quyết”.
Quy định của Nghị quyết số: 35/2000/
QH10 lại áp dụng thời điểm “thụ lý” chứ
không áp dụng thời điểm “có hiệu lực” như
Luật 2008 Tuy nhiên, vấn đề cần nói ở đây là
Nghị quyết số: 35/2000/QH10 đã có dấu hiệu
“vượt khung” của Luật 2008
Chúng ta xem xét trường hợp cụ thể sau
đây: A và B kết hôn với nhau năm 1995 và
cùng tạo lập được một khoản tiền tiết kiệm
Sau đó, B đã dùng tiền tiết kiệm này mua
một nhẫn vàng trị giá 10 triệu đồng để làm
tư trang cá nhân cho mình Thời gian sau,
nhận thấy hôn nhân không còn hạnh phúc
nên hai người muốn nộp đơn xin ly hôn tại
tòa án Trong trường hợp này nếu Tòa án thụ
lý trước ngày 01/01/2001 thì sẽ áp dụng Luật
hôn nhân và gia đình năm 1986 để giải quyết
và nhẫn vàng trị giá 10 triệu đồng được xem
là tài sản chung2 Nếu Tòa án thụ lý từ ngày 01/01/2001 thì sẽ áp dụng Luật hôn nhân
và gia đình năm 2000 để giải quyết và nhẫn vàng trị giá 10 triệu đồng được xem là tài sản riêng3 Vấn đề đặt ra là nếu tòa án cứ thụ
lý sau ngày 1/1/2001 thì phải áp dụng Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 cho tất cả các quan hệ xác lập trên cơ sở Luật hôn nhân
và gia đình năm 1986 là không ổn Điều này hoàn toàn ngược lại với nguyên tắc áp dụng pháp luật được quy định tại Khoản 1 Điều
83 Luật ban hành VBQPPL năm 2008 Trong trường hợp này liệu có thể áp dụng Khoản 2 Điều 83 Luật 2008 để giải quyết hay không?
2.2 Về nguyên tắc áp dụng QPPL tại Khoản 2 Điều 83 Luật ban hành văn bản QPPL năm 2008
Khác với Luật ban hành VBQPPL năm
1996 (sửa đổi, bổ sung năm 2001)4, Luật ban hành VBQPPL năm 2008 không quy định các cơ quan khi ban hành văn bản quy phạm thuộc thẩm quyền của mình phải căn cứ vào những văn bản quy phạm nào nữa, tuy nhiên, với quy định tại Điều 2 Luật năm 2008 về
“Hệ thống văn bản QPPL” thì tính thống nhất
và thứ bậc hiệu lực của các văn bản đã được thể hiện rất rõ Không phải ngẫu nhiên mà tên Điều 2 của Luật 2008 không phải là “các văn bản QPPL” mà là “Hệ thống văn bản
2 Điều 14 Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 quy
định: Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ hoặc chồng tạo ra, thu nhập về nghề nghiệp và những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung
hoặc được cho chung Như vậy, “đồ dùng, tư trang
cá nhân” nếu được tạo lập trong thời kỳ hôn nhân thì
được xem là tài sản chung của vợ chồng.
3 Theo Điều 32 Luật hôn nhân và gia đình năm
2000 quy định: “đồ dùng, tư trang cá nhân” cho dù
được tạo lập trong thời kỳ hôn nhân vẫn được xem là tài sản riêng của vợ, chồng.
luật năm 1996 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) quy định:
- Văn bản quy phạm pháp luật được ban hành phải phù hợp với Hiến pháp, bảo đảm tính thống nhất, thứ bậc hiệu lực pháp lý của văn bản trong hệ thống pháp luật.
- Văn bản quy phạm pháp luật do các cơ quan nhà nước cấp dưới ban hành phải phù hợp với văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên.
Trang 11QPPL”5 Điều này không đơn thuần chỉ là việc
kể tên các văn bản QPPL do các cơ quan nhà
nước ban hành mà còn ngụ ý thể hiện mối quan
hệ về hiệu lực pháp lý của các văn bản đó trong
một chỉnh thể thống nhất Theo đó, công thức
chung được xác định là “văn bản pháp luật của
Ủy ban thường vụ Quốc hội không được trái
với văn bản pháp luật do Quốc hội ban hành”
và với tư duy đó thì “văn bản pháp luật của Thủ
tướng Chính phủ không được trái với văn bản
pháp luật do Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc
hội, Chủ tịch nước, Chính phủ ban hành” Cụ
thể hơn, để đảm bảo tính thống nhất và hiệu
lực pháp lý của các văn bản QPPL, Khoản 2
Điều 83 Luật năm 2008 đã xác định: “Trong
trường hợp các văn bản QPPL có quy định
khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng văn
bản có hiệu lực pháp lý cao hơn” Như vậy,
khi luật và nghị định có những quy định khác
nhau về cùng một vấn đề thì ưu tiên áp dụng
luật (do địa vị pháp lý của Quốc hội cao hơn
Chính phủ) Tương tự như thế, khi thông tư có
những quy định mâu thuẫn với nghị định về
cùng một vấn đề thì ưu tiên áp dụng nghị định
(do địa vị pháp lý của Chính phủ cao hơn Bộ)
Tuy nhiên, pháp luật hiện hành lại không có
quy định về hiệu lực pháp lý cao thấp của các
hình thức văn bản quy phạm pháp luật do cùng
một cơ quan ban hành Theo Luật năm 2008,
Quốc hội có quyền ban hành ba loại văn bản
QPPL là: Hiến pháp, luật (bộ luật), nghị quyết
Như vậy, một câu hỏi đặt ra là so với luật thì
nghị quyết của Quốc hội có giá trị pháp lý cao
hơn hay thấp hơn
Thực sự, với quy định của pháp luật hiện
hành và trong thực tiễn thì câu hỏi này không
dễ trả lời Nếu căn cứ vào vị trí sắp xếp trong
Luật năm 2008, có thể cho rằng trong các văn
bản QPPL do Quốc hội ban hành thì Hiến pháp
có giá trị pháp lý cao nhất, tiếp đến là luật và
sau cùng là nghị quyết6 Nhưng nếu quan niệm
như vậy thì sẽ không giải thích được một thực
5 Bùi Thị Đào, “Những vấn đề mang tính nguyên
tắc trong luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật”,
Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 8, năm 2011.
6 Khoản 1, Điều 2 Luật 2008 sắp xếp theo thứ tự:
“Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội”.
tế đã từng xảy ra đó là Nghị quyết số: 51/2001/
QH của Quốc hội ngày 25/12/2001 sửa đổi,
bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 1992 Hơn nữa, trong quá trình nghiên cứu các văn bản hiện hành, chúng tôi chưa tìm thấy văn bản nào khẳng định giá trị pháp lý của luật cao hơn nghị quyết của Quốc hội Có lẽ vì vậy mà nhiều chuyên gia pháp lý cho rằng nghị quyết của Quốc hội là văn bản mang tính chất luật7.Trở lại với vấn đề nêu trên, nguyên tắc áp dụng pháp luật trong Nghị quyết số: 35/2000/QH10 đã trái với nguyên tắc áp dụng pháp luật được quy định tại Khoản 1 Điều 83 Luật năm 2008 thì áp dụng theo Luật năm 2008 hay theo Nghị quyết số: 35/2000/QH10 Do không thể khẳng định chắc chắn rằng luật hay nghị quyết của Quốc hội có hiệu lực pháp
lý cao hơn nên trong trường hợp này không thể áp dụng Khoản 2 Điều 83 Luật năm
2008 để giải quyết Về nguyên tắc, Luật văn bản chính là “luật gốc”, “luật của luật”8 nên những nguyên tắc về áp dụng pháp luật trong luật này rất cần được ưu tiên áp dụng Tuy nhiên, trên thực tế, các Tòa án lại áp dụng cách giải quyết theo Nghị quyết số: 35/2000/QH10 và như vậy thì cả Khoản 1 và Khoản 2 của Điều 83 Luật năm 2008 đều bị “vô hiệu hóa”
2.3 Về nguyên tắc áp dụng QPPL tại Khoản 3 Điều 83 Luật năm 2008
Trong hoạt động ban hành văn bản QPPL,
có nhiều văn bản do cùng một cơ quan ban hành nhưng lại mâu thuẫn nhau Cùng do Chính phủ ban hành nhưng Nghị định số: 139/2007/NĐ-CP lại mâu thuẫn với Nghị định số: 108/2006/NĐ-CP Nghị định số:
139/2007/NĐ-CP quy định: “cấm kinh
doanh dịch vụ đánh bạc, gá bạc dưới mọi hình thức” Trong khi đó, Nghị định số:
108/2006/NĐ-CP lại “cho phép kinh doanh
7Nguyễn Cửu Việt (2008), Giáo trình luật Hành
chính Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,
tr.25; Trường đại học Luật TP Hồ Chí Minh (2010),
Giáo trình Luật Hành chính Việt Nam, Nxb Đại học
quốc gia TP Hồ Chí Minh, tr 57.
8 Nguyễn Cửu Việt, “Một luật hay hai luật?”, Tạp
chí Nghiên cứu lập pháp (số chủ đề Hiến kế lập pháp)
số 24, năm 2007.
Trang 12casino với tư cách là lĩnh vực đầu tư có điều
kiện” Cùng một hành vi đổ rác, xả nước thải
không đúng nơi quy định nhưng theo Khoản
tình huống này nên Khoản 3 Điều 83 Luật
năm 2008 quy định: “Trong trường hợp các
văn bản quy phạm pháp luật do cùng một cơ
quan ban hành mà có quy định khác nhau về
cùng một vấn đề thì áp dụng quy định của
văn bản được ban hành sau” Sở dĩ Luật năm
2008 quy định như vậy là nhằm đảm bảo cho
quy phạm pháp luật được lựa chọn áp dụng
phù hợp nhất với các điều kiện thực tế Tuy
nhiên, khi quy định như thế, nhà làm luật
cũng không đưa ra nguyên tắc giải quyết mâu
thuẫn khi hai văn bản pháp luật do cùng một
cơ quan ban hành vào cùng một thời điểm có
những quy định khác nhau
Khoản 2 Điều 422 Bộ luật Dân sự năm
2005 quy định: “Mức phạt vi phạm do các
bên thỏa thuận” và không giới hạn mức phạt
vi phạm tối đa Trong khi đó, Điều 301 Luật
Thương mại năm 2005 lại quy định rằng:
“Mức phạt đối với vi phạm nghĩa vụ hợp
đồng hoặc tổng mức phạt đối với nhiều vi
phạm do các bên thỏa thuận trong hợp đồng,
nhưng không quá 8% giá trị phần nghĩa vụ
hợp đồng bị vi phạm” Sự khác biệt về mức
phạt vi phạm dẫn đến sự khác biệt trong việc
quy định mối quan hệ giữa phạt vi phạm
và bồi thường thiệt hại Khoản 3 Điều 422
Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định:“Trong
trường hợp các bên không có thỏa thuận về
bồi thường thiệt hại thì bên vi phạm nghĩa vụ
chỉ phải nộp tiền phạt vi phạm” Theo quy
định tại Khoản 2 Điều 307 Luật Thương mại
năm 2005, “Trong trường hợp các bên có
thỏa thuận phạt vi phạm mà không có thỏa
thuận bồi thường thiệt hại thì bên bị vi phạm
có quyền áp dụng cả chế tài phạt vi phạm
và bồi thường thiệt hại” Rõ ràng, trong hai
văn bản này đã có những quy định khác nhau
xoay quanh chế tài phạt vi phạm, bồi thường
thiệt hại và việc giải quyết mâu thuẫn này không hề dễ dàng Cả Bộ luật Dân sự năm
2005 lẫn Luật Thương mại năm 2005 đều do Quốc hội khoá XI thông qua tại kỳ họp thứ
7 (ngày 14/6/2005) Hai văn bản này được ban hành cùng thời điểm nên không thể áp dụng Khoản 3 Điều 83 Luật ban hành văn bản QPPL 2008 để giải quyết
Như đã trình bày, theo pháp luật hiện hành, Quốc hội được quyền ban hành ba loại văn bản quy phạm pháp luật là: Hiến pháp, luật, nghị quyết Ngoài luật, hiện nay, Quốc hội còn ban hành bộ luật Khái niệm bộ luật không được đề cập trong Hiến pháp và Luật
2008 với tư cách là một hình thức văn bản QPPL Vậy bộ luật là gì, luật và bộ luật có mối quan hệ với nhau như thế nào?
Theo Từ điển Hành chính, bộ luật là “văn
bản quy phạm pháp luật do Quốc hội ban hành, tổng hợp có hệ thống theo chương, mục những quy phạm pháp luật điều chỉnh quan
hệ xã hội quan trọng của từng lĩnh vực trong đời sống xã hội”9 Từ điển giải thích thuật
ngữ Hành chính định nghĩa: “bộ luật là văn
bản luật do Quốc hội thông qua, có giá trị pháp lý cao chỉ sau Hiến pháp, tập hợp đầy
đủ và có hệ thống theo chương, mục những quy phạm pháp luật điều chỉnh những quan
hệ xã hội quan trọng của từng lĩnh vực lớn trong đời sống xã hội”10 Trong khoa học pháp
lý, bộ luật và luật đều được gọi là đạo luật; sự khác nhau giữa bộ luật và luật thường không nhiều Bộ luật thường điều chỉnh các nhóm quan hệ xã hội rộng lớn, có tính bao quát và là
“xương sống” của một ngành luật Trong khi
đó, luật có phạm vi điều chỉnh không rộng lắm Một văn bản luật không nhất thiết tạo
ra một ngành luật vì một ngành luật có thể
sử dụng nhiều văn bản luật làm cơ sở11 Do
đó, có thể thấy rằng, giữa bộ luật và luật đều
9 Tô Tử Hạ (chủ biên), Từ điển Hành chính, Nxb Lao Động – Xã Hội, Hà Nội, 2003, tr 39
10 Mai Hữu Khuê, Bùi Văn Nhơn (chủ biên), Từ điển giải thích thuật ngữ hành chính, Nxb Lao Động,
Hà Nội, 2002, tr 49.
11 Phan Trung Hiền, Nghị quyết của Quốc hội là văn
bản luật hay văn bản dưới luật, Tạp chí Nghiên cứu lập
pháp số 18, năm 2011.
Trang 13có nguồn gốc từ các quy định của Hiến pháp,
đều do Quốc hội ban hành, do đó, đều có vai trò
quan trọng và hiệu lực như nhau trong hệ thống
văn bản quy phạm pháp luật12 Như vậy, Bộ
luật Dân sự năm 2005 và Luật Thương mại
năm 2005 có giá trị pháp lý ngang nhau và
như thế cũng không thể áp dụng Khoản 2
Điều 83 Luật 2008 để giải quyết Trên thực
tế, chúng tôi cũng chưa tìm thấy cơ sở pháp
lý vững chắc nào cho phép kết luận giữa luật
và bộ luật, văn bản nào có giá trị pháp lý cao
hơn13
2.4 Về những nguyên tắc áp dụng pháp
luật chưa được quy định trong Luật ban
hành văn bản QPPL năm 2008
Trong hệ thống pháp luật của nước ta hiện
nay, có những trường hợp hai văn bản QPPL
cùng điều chỉnh một vấn đề cụ thể, trong đó
có một văn bản QPPL điều chỉnh chung nhất
và một văn bản điều chỉnh chuyên sâu (thường
được gọi là văn bản chuyên ngành) Văn bản
12 Hoàng Văn Tú, Vị trí, vai trò của luật, pháp lệnh
trong hệ thống pháp luật Việt Nam, Tạp chí Nhà nước
và pháp luật số 3, năm 2005.
13 Để phục vụ cho hoạt động điều tra thì Cơ quan điều
tra có quyền “yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp
tài liệu, đồ vật, trình bày những tình tiết làm sáng tỏ vụ
án” (Điều 65 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003) Trong
khi đó, Khoản 3 Điều 54 Luật Công chứng năm 2006 lại
quy định: “Trong trường hợp cơ quan nhà nước có thẩm
quyền yêu cầu bằng văn bản về việc cung cấp hồ sơ công
chứng phục vụ cho việc giám sát, kiểm tra, thanh tra,
điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án liên quan đến việc đã
công chứng thì tổ chức hành nghề công chứng có trách
nhiệm cung cấp bản sao văn bản công chứng và các giấy
tờ khác có liên quan Việc đối chiếu bản sao văn bản công
chứng với bản chính chỉ được thực hiện tại tổ chức hành
nghề công chứng nơi đang lưu trữ hồ sơ công chứng”
Một câu hỏi đặt ra là nếu Cơ quan điều tra đề nghị cung
cấp bản chính văn bản công chứng để mang đi giám định
thì tổ chức hành nghề công chứng có đáp ứng yêu cầu
này hay không Nếu căn cứ vào Bộ luật Tố tụng hình sự
năm 2003 thì câu trả lời sẽ là “Có” vì đó là quyền của Cơ
quan điều tra và là nghĩa vụ của tổ chức hành nghề công
chứng Tuy nhiên, nếu căn cứ vào Luật Công chứng thì
câu trả lời sẽ là “Không” Trên thực tế, các tổ chức hành
nghề công chứng đã vận dụng Khoản 3 Điều 83 Luật
2008 để từ chối cung cấp bản chính văn bản công chứng
vì Bộ luật Tố tụng hình sự và Luật Công chứng đều do
Quốc hội ban hành nhưng Luật Công chứng ban hành
sau nên sẽ ưu tiên áp dụng Luật Công chứng.
chuyên ngành phù hợp với đặc điểm, tính chất của từng vấn đề cụ thể nên thường được ưu tiên
áp dụng so với văn bản điều chỉnh chung Vấn
đề đặt ra là nếu văn bản chuyên ngành ban hành sau văn bản quy định chung thì việc lựa chọn văn bản chuyên ngành để áp dụng sẽ đúng với các quy định tại Khoản 3 Điều 83 Luật năm
2008, nhưng nếu văn bản chuyên ngành ban hành trước văn bản quy định chung thì việc việc lựa chọn văn bản chuyên ngành để điều chỉnh liệu có trái với Khoản 3 Điều 83 Luật năm 2008 hay không Cụ thể, thời hiệu khiếu
nại quy định trong Luật Đất đai là 30 ngày, kể
từ ngày nhận được quyết định hành chính hoặc biết hành vi hành chính (Điểm c Khoản 2 Điều
138 Luật Đất đai năm 2003), trong khi đó, theo quy định của Luật Khiếu nại thì thời hiệu khiếu
nại là 90 ngày kể từ ngày nhận quyết định hành
chính, hoặc biết được quyết định hành chính, hành vi hành chính (Điều 9 Luật Khiếu nại năm 2011) Thời hiệu khiếu nại trong hai văn bản này quy định khác nhau, theo Khoản 3 Điều 83 Luật 2008 thì Luật Khiếu nại ban hành sau nên phải áp dụng Luật Khiếu nại Tuy nhiên, trên thực tế, có thể khẳng định rằng, việc giải quyết khiếu nại về đất đai được áp dụng theo Luật Đất đai Trường hợp này có được xem là trái với nguyên tắc áp dụng pháp luật được quy định tại Khoản 3 Điều 83 Luật 2008 không?
Bên cạnh đó, ở nước ta hiện nay, xu hướng
“luật khung” là phổ biến và điều rất dễ nhận
thấy là thay vì những quy phạm cụ thể, rõ ràng để điều chỉnh hành vi thì chỉ được quy định dưới dạng “tuyên ngôn” như “phải chịu trách nhiệm, phải bồi thường theo quy định” v.v Điều này dẫn đến sự không rõ ràng
và hậu quả là trong rất nhiều trường hợp, Chính phủ và các bộ ban hành các văn bản dưới luật “quy định chi tiết”, “hướng dẫn thi hành” Những văn bản cụ thể hóa, chi tiết hóa được xem là “văn bản phái sinh”
từ “văn bản gốc” Dưới góc độ lý luận, khi
“văn bản gốc” hết hiệu lực thì “văn bản phái sinh” nhằm hướng dẫn thi hành cũng chấm dứt hiệu lực Cụ thể, khi Luật Cán bộ, công chức có hiệu lực ngày 01/01/2010, thay thế Pháp lệnh Cán bộ, công chức thì Pháp lệnh
Trang 14Cán bộ, công chức đã hết hiệu lực Câu hỏi
đặt ra là, các văn bản nhằm hướng dẫn thi
hành Pháp lệnh Cán bộ, công chức như Nghị
định số: 115/2003/NĐ-CP, Nghị định số:
117/2003/NĐ-CP, Nghị định số: 35/2005/
NĐ-CP… có hết hiệu lực hay không, vì căn
cứ cho việc ban hành các nghị định này là
Tuy nhiên, nhiều vấn đề khác như trách
nhiệm kỷ luật của cán bộ, công chức vẫn
chưa có nghị định hướng dẫn thi hành và
như vậy các cơ quan chức năng vẫn tiếp tục
Theo Khoản 4 Điều 78 Luật ban hành
văn bản QPPL năm 1996 (sửa đổi, bổ sung
năm 2002) quy định:“Văn bản quy định
chi tiết, hướng dẫn thi hành của văn bản
hết hiệu lực cũng đồng thời hết hiệu lực
cùng với văn bản đó, trừ trường hợp được
giữ lại toàn bộ hoặc một phần vì còn phù
hợp với các quy định của văn bản quy
phạm pháp luật mới” Quy định này đảm
bảo cho việc điều chỉnh các quan hệ xã hội
khi hoạt động xây dựng pháp luật chưa có
những thay đổi đồng bộ từ văn bản có hiệu
lực cao đến các văn bản quy định chi tiết
Tuy nhiên, Luật 2008 đã bỏ quy định này,
từ đó, hình thành những quan điểm khác
nhau liên quan vấn đề hiệu lực pháp lý của
văn bản hướng dẫn thi hành
Quan điểm thứ nhất cho rằng: một khi văn
bản được hướng dẫn thi hành hết hiệu lực thì
mặc nhiên các văn bản cụ thể hóa, chi tiết
hóa văn bản đó cũng hết hiệu lực theo14 Quan
điểm này khá thuyết phục khi cho rằng, văn
bản cụ thể hóa, chi tiết hóa được ban hành
14 Bùi Thị Đào, “Những vấn đề mang tính nguyên
tắc trong luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật”,
Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 8, năm 2011.
trên cơ sở văn bản được hướng dẫn thi hành, nay văn bản được hướng dẫn thi hành hết hiệu lực thì văn bản cụ thể hóa, chi tiết hóa cũng đương nhiên hết hiệu lực
Quan điểm thứ hai cho rằng: khi văn bản được hướng dẫn thi hành hết hiệu lực thì các văn bản cụ thể hóa, chi tiết hóa vẫn còn hiệu lực Quan điểm này viện dẫn Điều 81 Luật năm 2008 về những trường hợp văn bản quy phạm pháp luật hết hiệu lực như:
- Hết thời hạn có hiệu lực đã được quy định trong văn bản;
- Được sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế bằng văn bản mới của chính cơ quan nhà nước đã ban hành văn bản đó;
- Bị hủy bỏ hoặc bãi bỏ bằng một văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Văn bản hướng dẫn thi hành không rơi vào các trường hợp như đã liệt kê tại Điều 81 Luật năm 2008, do đó, nó vẫn còn hiệu lực Chúng tôi đồng ý với quan điểm thứ hai và cho rằng khi “văn bản gốc” hết hiệu lực thì văn bản cụ thể hóa, chi tiết hóa không đồng thời hết hiệu lực Có lẽ vì vậy mà ngay cả Khoản 4 Điều 78 Luật năm 1996 cũng đưa
ra quy định tùy nghi: “trừ trường hợp được
giữ lại toàn bộ hoặc một phần vì còn phù hợp với các quy định của văn bản quy phạm pháp luật mới” Theo chúng tôi, văn bản cụ thể
hóa, chi tiết hóa chỉ kết thúc hiệu lực khi rơi vào ba trường hợp quy định tại Điều 81 Luật năm 2008 Tuy nhiên, vấn đề ở đây là thiếu các quy định cụ thể về nguyên tắc áp dụng văn bản pháp luật trong những trường hợp xảy ra lúc giao thời, chuyển tiếp giữa các văn bản QPPL mới và cũ Sự thiếu hụt này sẽ dẫn đến những tranh cãi vô tận về hiệu lực của văn bản cụ thể hóa, chi tiết hóa và tiềm ẩn nguy cơ phá vỡ tính thống nhất của hệ thống pháp luật
3 Giải pháp đề xuất
Trên cơ sở những phân tích nêu trên, chúng tôi đề xuất:
Thứ nhất, trong Luật ban hành văn bản
QPPL cần phải quy định rõ ràng về hiệu lực pháp lý cao thấp của các hình thức văn bản do cùng một cơ quan ban hành Cụ thể, cần làm
Trang 15rõ hiệu lực pháp lý cao thấp trong mối quan
hệ giữa luật và nghị quyết của Quốc hội; giữa
Pháp lệnh và nghị quyết của Ủy ban thường
vụ Quốc hội Nếu thực hiện tốt yêu cầu này
sẽ loại trừ được hai bất cập lớn Một là, loại
trừ trường hợp các cơ quan nhà nước dùng
các hình thức văn bản khác nhau để sửa đổi,
bổ sung cho nhau như dùng nghị quyết sửa
luật, dùng nghị quyết sửa Hiến pháp15 Hai là,
loại trừ khả năng không biết áp dụng văn bản
nào khi hai văn bản mâu thuẫn nhau Thiết
nghĩ, đây là yêu cầu cấp thiết cần làm ngay
vì việc xây dựng cơ chế phán quyết về những
vi phạm Hiến pháp trong hoạt động lập pháp,
hành pháp, tư pháp16 sẽ không thể thực hiện
được nếu không xác định được thang bậc
pháp lý của từng loại văn bản do cùng một cơ
quan ban hành
Thứ hai, hiện nay, trong nhiều văn bản
QPPL “tự tiện” đặt ra nguyên tắc áp dụng
pháp luật riêng17 Tuy nhiên, nếu bất kỳ một
văn bản pháp luật nào cũng đặt ra một “lối
đi riêng” và chỉ xem Luật ban hành văn bản
QPPL đóng vai trò “dự bị” thì liệu Luật ban
hành văn bản QPPL có còn là “luật của luật”?
Do đó, theo chúng tôi, nên bổ sung nguyên
tắc ưu tiên áp dụng luật chuyên ngành so với
luật chung Theo đó, Khoản 3 Điều 83 Luật
ban hành văn bản QPPL năm 2008 có thể sửa
đổi như sau: “Trong trường hợp các văn bản
quy phạm pháp luật do cùng một cơ quan
ban hành mà có quy định khác nhau về cùng
15 Trưởng ban Dân nguyện Trần Thế Vượng (Uỷ
viên Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khoá XII) phát biểu:
“Về mặt hình thức không nên dùng luật để sửa Nghị
quyết Còn nếu sau này lại quan niệm luật cũng là văn
bản quy phạm pháp luật, nghị quyết cũng là văn bản
quy phạm pháp luật và đều của Quốc hội cả nghĩa là
Quốc hội muốn dùng luật sửa nghị quyết cũng được,
nghị quyết sửa luật cũng được thì cũng không được
Nó phải có nguyên tắc của nó”, xem thêm báo Đại
biểu nhân dân (điện tử), ngày 17/4/2009
16 Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại
hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc
gia Hà Nội, tr 127.
17 Điều 5 Luật Cạnh tranh năm 2004, Điều 5 Luật
Sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009),
Điều 3 Luật Doanh nghiệp năm 2005 đều quy định về
nguyên tắc áp dụng pháp luật riêng.
một vấn đề thì áp dụng quy định của văn bản được ban hành sau, trừ trường hợp văn bản chuyên ngành có quy định khác thì áp dụng văn bản chuyên ngành”
Thứ ba, quy định cụ thể về nguyên tắc áp
dụng văn bản QPPL trong trường hợp giao thời, chuyển tiếp giữa các văn bản QPPL mới
và cũ Trên thực tế, “điều khoản chuyển tiếp”
là vấn đề có ý nghĩa thực tiễn quan trọng
Nếu không có “điều khoản chuyển tiếp” sẽ
dẫn đến tình trạng “luật của quốc gia” để trống, tạo cơ hội cho “luật địa phương”, thậm chí là “lệ” phát huy tác dụng và như thế thì
“luật địa phương” sẽ như “trăm hoa đua nở”, gây rối loạn pháp chế Luật ban hành văn bản QPPL được xem là “cỗ máy cái trong cơ chế xây dựng pháp luật” nhưng hiện nay trong Luật năm 2008 lại không có quy định gì về vấn đề này18 Do đó, cần phải bổ sung nội dung này thành một điều luật riêng, hoặc chí
ít có một khoản trong Điều 83 “Áp dụng văn bản QPPL” của Luật ban hành văn bản QPPL năm 2008
Thứ tư, cần quan niệm Luật ban hành
văn bản QPPL là “luật gốc”, là cơ sở pháp
lý quan trọng nhất cho hoạt động xây dựng
và áp dụng QPPL Chính vì vậy, các vấn đề mang tính chất nguyên tắc trong việc áp dụng QPPL phải được quy định và áp dụng thống nhất từ luật này Đây cũng là điều kiện quan trọng bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật trong Nhà nước pháp quyền XHCN
ở nước ta hiện nay .
18 Điều 83 “Áp dụng văn bản quy phạm pháp luật”
của Luật ban hành văn bản QPPL năm 2008 không có điều khoản nào quy định về “điều khoản chuyển tiếp”.
Trang 16BẢO HỘ QUYỀN TÁC GIẢ ĐỐI VỚI
TÁC PHẨM PHÁI SINH
TRẦN VĂN HẢI*
1 Dẫn nhập
Việc kế thừa các tác phẩm đã tồn tại, các
nghiên cứu đi trước trong lĩnh vực văn học,
nghệ thuật và khoa học là một trong các yếu
tố thúc đẩy sự phát triển của tài sản trí tuệ
Tác phẩm phái sinh là một trong các dạng tác
phẩm thực hiện việc kế thừa vừa nêu và là
đối tượng được bảo hộ quyền tác giả Khoản
3 Điều 2 Công ước Berne về bảo hộ các tác
phẩm văn học và nghệ thuật (sau đây viết tắt là
Công ước Berne) đã quy định: “Các tác phẩm
dịch, mô phỏng, chuyển nhạc và các chuyển
thể khác từ một tác phẩm văn học hoặc nghệ
thuật đều được bảo hộ như các tác phẩm gốc,
miễn không phương hại đến quyền tác giả của
tác phẩm gốc”
Việc bảo hộ tác phẩm phái sinh có liên quan
đến việc bảo hộ tác phẩm gốc, để một tác
phẩm phái sinh được bảo hộ quyền tác giả thì
điều kiện tiên quyết là không phương hại đến
quyền tác giả của tác phẩm gốc Nhưng như
thế nào là không phương hại đến quyền tác
giả của tác phẩm gốc? Đây là một vấn đề phức
tạp vì ranh giới giữa việc sáng tạo ra tác phẩm
phái sinh với việc xâm phạm quyền tác giả của
tác phẩm gốc, ranh giới giữa việc sử dụng tự
do tác phẩm với việc xâm phạm quyền tác giả
của tác phẩm gốc… trong nhiều trường hợp
là khó xác định Sau nữa, do sự phát triển của
trình độ khoa học và công nghệ, mối quan hệ
giữa tác phẩm phái sinh với một số loại hình
tác phẩm khác, ví dụ chương trình máy tính
đã không được Công ước Berne điều chỉnh,
đồng thời pháp luật về quyền tác giả của một
số quốc gia (trong đó có Việt Nam) cũng chưa
đề cập
Việc bảo hộ tác phẩm phái sinh có ý nghĩa
khoa học và thực tiễn cao, nhưng việc nghiên cứu các quy định về bảo hộ tác phẩm phái sinh chưa được chú trọng đúng mức ở Việt Nam1
Do đó, việc nghiên cứu cơ sở khoa học và thực tiễn để bảo hộ tác phẩm phái sinh, góp phần
đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật
về quyền tác giả đối với việc bảo hộ tác phẩm phái sinh là cần thiết
2 Khái niệm, đặc điểm của tác phẩm phái sinh
2.1 Đặc điểm của tác phẩm phái sinh
Tác phẩm phái sinh có những đặc điểm sau:
Thứ nhất, tác phẩm phái sinh chỉ được hình
thành trên cơ sở một/những tác phẩm đã tồn tại Tác phẩm đã tồn tại có thể còn thời hạn hoặc hết thời hạn bảo hộ quyền công bố tác phẩm và quyền tài sản2 Quyền cho làm tác phẩm phái sinh thuộc nhóm quyền tài sản đối với tác phẩm, quyền này được quy định tại điểm a khoản 1 điều 20 Luật SHTT Do đó, có
* TS, Chủ nhiệm bộ môn Sở hữu trí tuệ, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học quốc gia
Hà Nội.
1 Ví dụ, trong 6 năm gần đây trên Tạp chí Nhà nước
và Pháp luật không có một công trình nào nghiên cứu
về tác phẩm phái sinh Trong tổng số 234 bài viết (tính đến 21.3.2012) có liên quan đến sở hữu trí tuệ được trang mạng internet http://thongtinphapluatdansu wordpress.com/ tuyển chọn không có bất kỳ bài nào nghiên cứu về tác phẩm phái sinh Khoa Khoa học quản lý, Trường Đại học KHXH&NV, Đại học Quốc gia Hà Nội bắt đầu đào tạo cử nhân chuyên ngành sở hữu trí tuệ (SHTT) từ năm 2004, nhưng cho đến nay chỉ có duy nhất một khóa luận tốt nghiệp Bảo hộ tác phẩm phái sinh theo pháp luật về quyền tác giả ở Việt Nam là bàn đến tác phẩm phái sinh.
2 Trong bài viết này, tác giả không dùng thuật ngữ hết thời hạn bảo hộ quyền tác giả, vì xét thấy các quyền trong nhóm quyền nhân thân bao gồm quyền đặt tên cho tác phẩm, quyền đứng tên đối với tác phẩm, quyền bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm được bảo hộ vĩnh viễn theo quy định tại khoản 1, 2, 4 Điều
19 Luật SHTT.
Trang 17thể tồn tại hai tình huống :
- Tình huống 1: sáng tạo tác phẩm phái sinh
mà không cần sự cho phép của chủ sở hữu tác
phẩm3 gốc;
- Tình huống 2: sáng tạo tác phẩm phái sinh,
nhưng nhất thiết phải được sự cho phép của
chủ sở hữu tác phẩm gốc
Trong cả hai tình huống trên thì các quyền
nhân thân được quy định tại khoản 1, 2, 4
Điều 19 Luật SHTT (sau đây gọi tắt là quyền
nhân thân không thể chuyển giao) luôn luôn
tồn tại, do đó ngay cả trong tình huống 1
thì người sáng tạo tác phẩm phái sinh vẫn
phải tôn trọng quyền nhân thân không thể
chuyển giao của tác giả tác phẩm gốc Thuật
ngữ tác phẩm gốc vừa nêu là tác phẩm mà
người sáng tạo tác phẩm phái sinh dựa trên
nền của nó để sáng tạo tác phẩm (phái sinh)
của mình
Thứ hai, về hình thức thể hiện của tác phẩm
phái sinh, pháp luật quyền tác giả không bảo
hộ nội dung ý tưởng mà chỉ bảo hộ hình thức
thể hiện của ý tưởng Mặt khác, tác phẩm phái
sinh không phải là bản sao của tác phẩm gốc
Do đó, trong nhiều trường hợp hình thức thể
hiện của tác phẩm phái sinh phải khác biệt
hoàn toàn hoặc khác biệt từng phần với hình
thức thể hiện của tác phẩm gốc
Thứ ba, về tính nguyên gốc, tác phẩm
phái sinh phải do tác giả tự mình sáng tạo
nên mà không sao chép từ tác phẩm/những
tác phẩm khác Thuật ngữ “tác phẩm khác”
được hiểu là kể cả tác phẩm của chính tác
giả đó Để một tác phẩm phái sinh được
bảo hộ thì nó phải mang dấu ấn sáng tạo
của tác giả Tuy nhiên, nếu ranh giới giữa
sáng tạo từng phần và sáng tạo hoàn toàn
là dễ nhận biết, ranh giới giữa sáng tạo tác
phẩm phái sinh và xâm phạm quyền tác
giả của tác phẩm gốc là khó nhận biết Sự
xâm phạm này thường thể hiện ở việc xâm
phạm quyền nhân thân không thể chuyển
3 Tác giả không sử dụng thuật ngữ chủ sở hữu quyền
tác giả, mà dùng thuật ngữ chủ sở hữu tác phẩm, xin
tham khảo thêm: Trần Văn Hải, “Những bất cập trong
quy định của pháp luật SHTT Việt Nam hiện hành về
quyền tác giả, quyền liên quan”, Tạp chí Luật học số
7.2010.
giao trong quyền tác giả4
Thứ tư, về dấu ấn của tác phẩm gốc trong
tác phẩm phái sinh, mặc dù tác phẩm phái sinh phải đảm bảo tính nguyên gốc như vừa phân tích, nhưng dấu ấn của tác phẩm gốc phải được thể hiện trong tác phẩm phái sinh, có nghĩa
là khi nhận biết tác phẩm phái sinh thì công chúng phải liên tưởng đến tác phẩm gốc, sự liên tưởng này được thể hiện qua nội dung của tác phẩm gốc
Cũng cần nhắc lại là pháp luật quyền tác giả không bảo hộ nội dung của tác phẩm, do đó
sự liên tưởng về nội dung giữa tác phẩm phái sinh với tác phẩm gốc không làm mất đi tính nguyên gốc của tác phẩm phái sinh
2.2 Phân loại tác phẩm phái sinh
Khoản 8 Điều 4 Luật SHTT liệt kê tác phẩm phái sinh bao gồm: tác phẩm dịch, tác phẩm phóng tác, cải biên, chuyển thể, biên soạn, chú giải, tuyển chọn Các loại hình tác phẩm phái sinh vừa nêu có thể chia thành các nhóm:
4 Rõ rệt nhất trong nhận định vừa nêu được thể hiện qua vụ Kiến nghị xử phạt tác giả và nhà sản xuất Al- bum Chat với Mozart về hành vi xâm phạm quyền tác giả vào đầu năm 2007, theo đó công văn số 91/BQTG-
BQ ngày 24.4.2007 của Cục Bản quyền tác giả Văn
học – Nghệ thuật đã xác định: “ Căn cứ vào các quy
định pháp luật, thực tiễn tại nước ngoài và Việt Nam,
đã có các trường hợp sử dụng tương tự đối với tác phẩm âm nhạc không lời đã hết thời hạn bảo hộ, vì vậy việc đặt tên và đặt lời Việt cho các tác phẩm mới được sáng tạo từ các tác phẩm đã hết thời hạn bảo hộ của nhạc sỹ Dương Thụ không vi phạm pháp luật Nhạc
sĩ Dương Thụ đã sử dụng các trích đoạn từ các tác phẩm của các nhạc sĩ trên, không sửa đổi để sáng tạo tác phẩm mới Việc sáng tạo tác phẩm mới này được coi là sáng tạo tác phẩm phái sinh.”.
Cần phải lưu ý rằng cụm từ “đã hết thời hạn bảo hộ” trong công văn trên là chưa chính xác, vì thời hạn bảo
hộ quyền nhân thân không thể chuyển giao là vĩnh viễn Bởi vậy, khi cho rằng việc viết thêm lời vào bản nhạc không lời là việc sáng tạo nên tác phẩm phái sinh là chưa chính xác Bài viết sẽ bàn về việc này tại Mục 4.
Trang 18từ tác phẩm phái sinh”, nghĩa là tác phẩm
phái sinh không được hình thành trên cơ sở
tác phẩm gốc, mà lại được hình thành từ tác
phẩm phái sinh khác5 Việc xâm phạm quyền
tác giả đối với tác phẩm gốc trong trường hợp
tác phẩm dịch ít xảy ra đối với quyền nhân
thân không thể chuyển giao
Tác phẩm phóng tác, cải biên, chuyển thể:
là tác phẩm ra đời dựa trên sự biến đổi tác
phẩm gốc nhằm làm cho tác phẩm phù hợp với
những điều kiện khai thác khác nhau Thuật
ngữ “phóng tác, cải biên chuyển thể” trong
quy định của pháp luật Việt Nam về quyền tác
giả được sử dụng tương đương với thuật ngữ
“adaptation” trong tiếng Anh, có nghĩa là sự
phỏng theo, việc sửa lại cho phù hợp; sự biến
đổi làm cho thích hợp…
Tác phẩm chuyển thể là tác phẩm được hình
thành từ tác phẩm văn học sang một loại hình
khác ví dụ chuyển thể từ tác phẩm văn học
thành kịch bản (tiếng Anh là “dramatization”,
tiếng Pháp là “dramatisation”) sân khấu hoặc
điện ảnh Tác phẩm gốc có thể là tiểu thuyết,
trường ca, truyện dài hoặc cũng có thể là tác
phẩm kịch (sân khấu) được chuyển thành kịch
bản điện ảnh, nhạc kịch 6
2.2.2 Không tác động đến tác phẩm gốc
Việc phải phân loại tác phẩm phái sinh được
hình thành trên cơ sở không tác động đến cấu
trúc của tác phẩm gốc có ý nghĩa quan trọng
trong việc xác định quyền tài sản đối với tác
phẩm phái sinh khi tác phẩm gốc đã hết thời
hạn bảo hộ quyền tài sản
Tác phẩm phái sinh thuộc dạng này bao
gồm: tác phẩm tuyển chọn: là tác phẩm dựa
trên sự tập hợp, chọn lọc, sắp xếp những tác
5 Ví dụ: Colleen McCulough viết The Thorn Birds
bằng tiếng Anh, Phạm Mạnh Hùng dịch từ bản tiếng
Nga sang tiếng Việt thành Tiếng chim hót trong bụi
mận gai Jacqueline Lagrange và Jacques Hall dịch
sang tiếng Pháp thành Les oiseaux se cachent pour
mourir Trung Dũng lại dịch từ bản tiếng Pháp sang
tiếng Việt thành Những con chim ẩn mình chờ chết
Trường hợp này không xuất hiện mối quan hệ pháp lý
trực tiếp giữa Trung Dũng với Colleen McCulough,
mà chỉ xuất hiện mối quan hệ pháp lý trực tiếp giữa
Trung Dũng với Jacqueline Lagrange và Jacques Hall
6 Ví dụ: Nguyễn Khắc Trường viết tiểu thuyết Mảnh
đất lắm người nhiều ma, Khuất Quang Thụy chuyển
thể thành kịch bản điện ảnh Đất và người.
phẩm đã tồn tại theo những yêu cầu nhất định7; tác phẩm biên soạn: là tác phẩm biên soạn được Luật SHTT liệt kê vào dạng tác phẩm phái sinh Tuy nhiên tác giả cho rằng quy định này là chưa chính xác và vấn đề này sẽ được phân tích trong Mục 4 của bài viết này
2.3 Định nghĩa tác phẩm phái sinh
Qua các đặc điểm của tác phẩm phái sinh vừa được phân tích ở trên, tác giả bài viết đưa
ra định nghĩa về tác phẩm phái sinh: Tác phẩm phái sinh là tác phẩm do cá nhân/những cá nhân trực tiếp sáng tạo, được hình thành trên
cơ sở một/những tác phẩm đã tồn tại (tác phẩm gốc) trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật và khoa học, được thể hiện bằng bất kỳ phương thức hay hình thức nào khác biệt với phương thức hay hình thức thể hiện của tác phẩm gốc, thông qua một dạng vật chất nhất định
3 Các quy định của pháp luật về tác phẩm phái sinh
3.1 Các quy định của pháp luật quốc tế về tác phẩm phái sinh
Như trên đã viết, việc bảo hộ tác phẩm phái sinh được Công ước Berne điều chỉnh tại khoản 3 Điều 2, trong đó có nhấn mạnh đến bảo hộ tác phẩm phái sinh không được làm phương hại đến quyền tác giả của tác phẩm gốc
Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền SHTT (Hiệp định TRIPS) quy định các nước thành viên phải tuân thủ theo quy định tại Điều 1 đến Điều
21 Công ước Berne (trong đó có khoản 3 Điều 2) Hiệp định TRIPS cũng quy định bảo
hộ chương trình máy tính, bảo hộ tác phẩm phái sinh được sáng tạo từ việc tuyển chọn,
sắp xếp Điều 10 Hiệp định TRIPS nêu: “Các
chương trình máy tính, dù dưới dạng mã nguồn hay mã máy, đều phải được bảo hộ như tác phẩm văn học theo Công ước Berne (1971) Các bộ sưu tập dữ liệu hoặc tư liệu khác (Compilations of data or other aterial),
dù dưới dạng đọc được bằng máy hay dưới
7 Ví dụ: Tuyển tập những bài hát Nga đã được dịch
ra tiếng Việt, Nhà xuất bản Văn hóa, Hà Nội 1983 Tuyển tập những truyện ngắn hay của các tác giả nữ, Nhà xuất bản Phụ nữ, Hà Nội 2000.
Trang 19dạng khác, mà việc tuyển chọn hoặc sắp xếp
nội dung chính là thành quả của hoạt động trí
tuệ đều phải được bảo hộ Việc bảo hộ nói trên,
với phạm vi không bao hàmchính các dữ liệu
hoặc tư liệu đó, không được làm ảnh hưởng
tới bản quyền đang tồn tại đối với chính dữ
liệu hoặc tư liệu đó” Thuật ngữ “bộ sưu tập
dữ liệu hoặc tư liệu khác” (Compilations of
data or other material) trong Điều 10 của Hiệp
định TRIPS đã là chủ đề tranh luận trong giới
nghiên cứu, để xác định nó có thuộc phạm vi
tác phẩm phái sinh hay không, đồng thời nó có
thuộc đối tượng điều chỉnh của khoản 3 Điều
2 Công ước Berne hay không Vấn đề này sẽ
được phân tích trong Mục 4 của bài viết
3.2 Các quy định của pháp luật một số
quốc gia về tác phẩm phái sinh
Luật quyền tác giả của Hoa Kỳ8 quy định:
“Tác phẩm phái sinh” là tác phẩm được hình
thành trên cơ sở một hoặc nhiều tác phẩm đã có
như là các tác phẩm dịch, các tác phẩm được
phổ hạc, được chuyển thể thành kịch, được
tiểu thuyết hóa, được điện ảnh hoá, âm nhạc
hóa, mỹ nghệ hóa, tóm tắt, tóm lược, hoặc bất
kỳ hình thức nào khác mà trong đó tác phẩm
có thể được cải biên, chuyển thể hoặc bổ sung
Một tác phẩm bao hàm các bản thảo đã được
biên tập lại, các lời bình chú, phân tích hoặc
các sửa chữa khác một về tổng thể là một tác
phẩm nguyên thuỷ độc đáo hoàn chỉnh của
tác giả là “tác phẩm phái sinh” Như vậy, điều
kiện để có một tác phẩm phái sinh là trước hết
phải tồn tại “một hoặc nhiều tác phẩm”, thuật
ngữ “một hoặc nhiều tác phẩm” vừa nêu có
thể thuộc một loại hình hay nhiều loại hình tác
phẩm, bởi vậy không loại trừ trường hợp, một
tác phẩm phái sinh được hình thành từ một tác
phẩm văn học và một tác phẩm kịch
8 101 (D3) Title 17 of the US Code: “A derivative
work is a work based upon one or more preexisting
works, such as a translation, musical arrangement,
dramatization, fictionalization, motion picture version,
sound recording, art reproduction, abridgment,
condensation, or any other form in which a work may
be recast, transformed, or adapted A work consisting of
editorial revisions, annotations, elaborations, or other
modifications, which, as a whole, represent an original
work of authorship, is a derivative work.”
Luật Quyền tác giả, Kiểu dáng và Sáng chế Anh Quốc 1988 (bản sửa đổi năm 2009)9
không dùng thuật ngữ tác phẩm phái sinh, nhưng có quy định chi tiết về tác phẩm phóng tác, cải biên chuyển thể (adaptation), cơ sở
dữ liệu (databases) và tuyển tập (collections), điều kiện bảo hộ quyền tác giả đối với các loại tác phẩm này
Pháp luật của Pháp có dùng thuật ngữ tác phẩm phái sinh (œuvre dérivée) So với pháp luật của Hoa Kỳ và Anh quốc, thì pháp luật của Pháp quy định về tác phẩm phái sinh có phần chi tiết và cụ thể hơn Điều L.112-3 Bộ luật SHTT10 của Pháp quy định: “Tác giả của tác
phẩm dịch, tác phẩm phóng tác, chuyển thể hoặc cải biên sẽ được hưởng sự bảo hộ theo Luật này, miễn là không phương hại đến quyền tác giả của các tác phẩm gốc Điều này cũng
áp dụng tương tự đối với tác giả của tác phẩm hợp tuyển, tuyển tập hay sưu tập dữ liệu mà sự lựa chọn hay sắp xếp nội dung của chúng tạo thành những tác phẩm có tính sáng tạo” Điều
L.113-2 Bộ luật SHTT của Pháp quy định về tác phẩm tuyển chọn (œuvre collective), tác phẩm hợp tuyển (œuvre composite) và tác phẩm hợp tác (œuvre de collaboration) Pháp luật về SHTT của Pháp cũng không định nghĩa
cụ thể thế nào là tác phẩm phái sinh mà chỉ liệt
kê các loại hình tác phẩm thuộc tác phẩm phái sinh Pháp luật về quyền tác giả của Pháp tôn trọng quyền nhân thân của cá nhân tác giả, do
đó không coi pháp nhân là tác giả, đồng thời cũng không coi bên giao nhiệm vụ (dù là cá nhân hay pháp nhân) cho người khác sáng tạo nên tác phẩm là tác giả
Luật quyền tác giả của Nhật Bản có sử dụng
9 The UK Copyright, Designs and Patents Act 1988, Last amended: 27th November 2009.
10 Code de la propriété intellectuelle (Version
consolidée au 3 mars 2012) quy định : “Les auteurs
de traductions, d’adaptations, transformations ou arrangements des oeuvres de l’esprit jouissent de la protection instituée par le présent code sans préjudice des droits de l’auteur de l’oeuvre originale Il en est
de même des auteurs d’anthologies ou de recueils d’oeuvres ou de données diverses, tels que les bases
de données, qui, par le choix ou la disposition des matières, constituent des créations intellectuelles”.
Trang 20thuật ngữ tác phẩm phái sinh, trong đó có quy
định rõ việc bảo hộ tác phẩm phái sinh không
làm phương hại đến quyền tác giả của tác phẩm
đã tồn tại.11 Luật quyền này có quy định về tác
phẩm sưu tập (compilations) và phân biệt tác
phẩm sưu tập (quy định tại Điều 12) với dữ liệu
(databases, được quy định tại Điều 12bis)
Luật quyền tác giả của Trung Quốc12 không
dùng thuật ngữ tác phẩm phái sinh, nhưng
tại Điều 12 có quy định trường hợp tác phẩm
được tạo ra bằng cách chú thích, dịch, sắp xếp,
chuyển thể… thì được bảo hộ quyền tác giả,
miễn là không làm phương hại đến quyền tác
giả của tác phẩm đã tồn tại
3.3 Các quy định của pháp luật Việt Nam
về tác phẩm phái sinh
Khoản 2 Điều 736 Bộ luật dân sự 2005
quy định: “Người sáng tạo ra tác phẩm phái
sinh từ tác phẩm của người khác, bao gồm
tác phẩm được dịch từ ngôn ngữ này sang
ngôn ngữ khác, tác phẩm phóng tác, cải
biên, chuyển thể, biên soạn, chú giải, tuyển
chọn là tác giả của tác phẩm phái sinh đó”
Đây là lần đầu tiên thuật ngữ tác phẩm phái
sinh được đưa vào văn bản quy phạm pháp
luật
Khoản 8 Điều 4 Luật SHTT 2005 định nghĩa
“Tác phẩm phái sinh là tác phẩm dịch từ ngôn
ngữ này sang ngôn ngữ khác, tác phẩm phóng
tác, cải biên, chuyển thể, biên soạn, chú giải,
tuyển chọn”
3.4 Nhận xét
Từ việc phân tích các quy định của pháp
luật quốc tế và một số quốc gia (trong đó có
Việt Nam) về bảo hộ tác phẩm phái sinh, có
thể rút ra các kết luận sau :
11 Điều 11 Luật quyền tác giả Nhật Bản quy định :
“The protection granted by this Law to derivative
works shall not prejudice the rights of authors of
pre-existing works”
12 Copyright Law of the People’s Republic of China
ban hành ngày 26.02.2010 quy định tại Điều 12:
“Where a work is created by adaptation, translation,
annotation or arrangement of a preexisting work, the
copyright in the work thus created shall be enjoyed
by the adapter, translator, annotator or arranger,
provided that the exercise of such copyright does not
prejudice the copyright in the preexisting work”.
- Điểm chung của các quy định này, đó là chúng chỉ liệt kê các dạng tác phẩm thuộc tác phẩm phái sinh mà không định nghĩa cụ thể
về tác phẩm phái sinh Việc liệt kê có thể chỉ đúng, đủ tại thời điểm ban hành pháp luật, mà
sẽ thiếu tại thời điểm sau khi ban hành pháp luật Do đó, xây dựng khái niệm tác phẩm phái sinh là rất cần thiết Ngoài ra, các quy định trên không chỉ rõ chương trình máy tính
có thuộc tác phẩm phái sinh hay không, khi
nó được hình thành từ một/những mã nguồn
mở (tác phẩm gốc) Đây là vấn đề đang gây nhiều tranh luận13 Chúng tôi sẽ bàn về việc này trong Mục 4 của bài viết
- Sự khác biệt của các quy định này, đó là pháp luật một số quốc gia có sử dụng thuật ngữ “tác phẩm phái sinh” (luật Hoa Kỳ, Pháp, Nhật Bản, Việt Nam); trong khi đó pháp luật của một số quốc gia khác không
sử dụng thuật ngữ tác phẩm phái sinh (Anh quốc, Trung Quốc) Sự khác biệt này không làm nên sự khác biệt giữa pháp luật các quốc gia trong việc bảo hộ các dạng cụ thể của tác phẩm phái sinh
4 Một số kiến nghị đối với việc bảo hộ tác phẩm phái sinh
4.1 Tác phẩm biên soạn
Khó có thể phân biệt được sự khác biệt giữa tác phẩm biên soạn (là tác phẩm phái sinh theo khoản 8 Điều 4 Luật SHTT) với tác phẩm gốc, bởi vì tác phẩm biên soạn có thể là tác phẩm gốc Đại từ điển tiếng Việt giải thích biên soạn: viết thành công trình, thành sách dựa trên các tài liệu đã thu thập được, đã có14 Như vậy biên soạn là việc sáng tạo nên tác phẩm, tác phẩm
đó là hoàn toàn mới, không phải là việc sáng tạo một tác phẩm dựa trên tác phẩm đã có vì các tài liệu đã được thu thập được không phải
là các tác phẩm được quy định tại Điều 14 Luật SHTT
Giải pháp đối với vấn đề này là không quy định tác phẩm biên soạn là tác phẩm phái sinh,
mà tác phẩm biên soạn phải là tác phẩm (gốc)
13 Trần Văn Hải, Chương trình máy tính nên được
bảo hộ là đối tượng nào của quyền sở hữu trí tuệ? Tạp
chí Hoạt động khoa học số 597 (3.2009)
14 Nguyễn Như Ý (chủ biên), Đại từ điển tiếng Việt,
NXB Văn hóa - Thông tin, Hà Nội, 1998, tr 158.
Trang 214.2 Mối quan hệ về quyền nhân thân giữa
tác giả tác phẩm gốc và tác giả tác phẩm
phái sinh
Quyền bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm gốc
là một trong những quyền nhân thân không thể
chuyển giao, nó tồn tại vĩnh viễn và luôn luôn
thuộc về tác giả tác phẩm gốc Trong khi đó,
quyền cho làm tác phẩm phái sinh lại thuộc
nhóm quyền tài sản và có thể không thuộc về
tác giả nếu tác giả không đồng thời là chủ sở
hữu quyền tác giả Như vậy, trong trường hợp
tác giả không đồng thời là chủ sở hữu tác phẩm
thì quyền cho làm tác phẩm phái sinh độc lập
với quyền bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm gốc
Thực tiễn, có thể xảy ra tình trạng xâm phạm
quyền “bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm gốc”
trong quá trình hình thành tác phẩm phái sinh
(như đã nêu ở trên về vụ Kiến nghị xử phạt tác
giả và nhà sản xuất Album “Chat với Mozart”
về hành vi xâm phạm quyền tác giả), mà cơ
quan quản lý nhà nước về quyền tác giả đã giải
quyết nhưng giải pháp được đưa ra còn thiếu
tính thuyết phục Tình trạng này diễn ra nhiều
nhất trong quá trình hình thành tác phẩm phái
sinh thuộc lĩnh vực âm nhạc, nhất là âm nhạc
truyền thống là loại hình tác phẩm khó xác
định tác giả, bởi vậy cũng khó xác định người
có quyền bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm âm
nhạc truyền thống - tác phẩm gốc
Giải pháp đối với vấn đề này là: không
coi việc viết thêm lời vào bản nhạc không
lời (khi không có sự đồng ý của tác giả tác
phẩm gốc) là sáng tạo nên tác phẩm phái
sinh, còn trong trường hợp có sự đồng ý của
tác giả tác phẩm gốc thì tác phẩm mới là
tác phẩm đồng tác giả chứ không phải là tác
phẩm phái sinh Việc này được coi là tương
đương với trường hợp phổ nhạc cho một
bài thơ thì bài hát (bao gồm phần nhạc và
lời thơ) là tác phẩm đồng tác giả chứ không
phải là tác phẩm phái sinh
4.3 Chương trình máy tính
Tháng 2/1985, WIPO và UNESCO đã triệu
tập tại Geneva một nhóm chuyên gia để bàn
về các khía cạnh của việc bảo hộ quyền tác giả
đối với chương trình máy tính (CTMT) Kết
quả của các cuộc thảo luận là khoản 1 Điều
10 Hiệp định TRIPS15 và Điều 4 Hiệp ước của WIPO về quyền tác giả (WCT)16 đã nêu
rõ CTMT được bảo hộ như một tác phẩm văn học theo điều 2 của Công ước Berne Điều 22 Luật SHTT cũng quy định CTMT được bảo
hộ như một tác phẩm văn học
Quy định trên đây là chưa hợp lý khi CTMT được hình thành từ một/những mã nguồn mở (mã nguồn mở là tác phẩm gốc), như vậy việc bảo hộ quyền tác giả đối với CTMT đã vi phạm nguyên tắc tính nguyên gốc của tác phẩm.Điều kiện tiên quyết để bảo hộ quyền tác giả đối với một tác phẩm là tính nguyên gốc của tác phẩm đó, có nghĩa là tác phẩm phải thể hiện là
sự sáng tạo của tác giả, hay nói cách khác tác giả phải tự mình sáng tạo nên tác phẩm mà không sao chép từ tác phẩm/những tác phẩm khác Nhưng trong thực tế thì nhiều CTMT được phát triển trên cơ sở chương trình phần mềm nguồn
mở Mà, chương trình phần mềm nguồn mở cho phép người khác quyền tự do sử dụng, quyền nghiên cứu và sửa đổi chương trình, quyền sao chép và tái phát hành phần mềm gốc hoặc phần mềm đã sửa đổi mà không phải trả phí bản quyền cho những người lập trình trước Như vậy, CTMT được phát triển trên cơ sở chương trình phần mềm nguồn mở không đảm bảo tính nguyên gốc của tác phẩm
Trong thực tiễn những phần mềm nguồn mở
và ứng dụng thay thế hiện có tại Việt Nam, như: Hệ điều hành nguồn mở có Vietkey Linux, CMC Linux, Hacao Linux (thay thế
hệ điều hành Windows); Bộ ứng dụng văn phòng mở có Open Office (thay thế Microsoft Office); Ứng dụng thay thế khác có Unikey (thay Vietkey), 7-zip (thay Winzip), Mozilla FireFox và Mozilla FireFox ThunderBird (thay thế Internet Explorer và Outlook Express), Gimpshop (thay thế Photoshop), Gaim (thay
15 Khoản 1 Điều 10 Hiệp định TRIPS quy định:
“Computer programs, whether in source or object code, shall be protected as literary works under the Berne Convention (1971)”.
16 Điều 4 WCT quy định: “Computer Programs are
protected as literary works within the meaning of cle 2 of the Berne Convention Such protection applies
Arti-to computer programs, whatever may be the mode or form of their expression”.
Xem tiếp trang 27
Trang 221 Nhận xét ban đầu
Thông tư hướng dẫn: giải pháp trong ngắn
hạn Xử lý tài sản dùng để bảo đảm thực hiện
nghĩa vụ là biện pháp thu hồi nợ trong trường
hợp người mắc nợ vì lý do gì đó mà không thể
trả nợ bằng tiền Đây cũng thường là biện pháp
cuối cùng mà chủ nợ có thể sử dụng để thực hiện
quyền đòi nợ của mình, trong điều kiện những
biện pháp khác đều không thể thực hiện được
Một cách hợp lý, vấn đề xử lý tài sản dùng
để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ chỉ được đặt ra
như một biện pháp thu hồi nợ trong các trường
hợp bảo đảm đối vật, nghĩa là các giao dịch bảo
đảm trong đó, chủ nợ được thừa nhận có quyền
ưu tiên nhận tiền thanh toán bằng giá trị của tài
sản bảo đảm1 Trên phương diện thực tiễn, vấn
đề được đặt ra trong phạm vi còn hẹp hơn, hầu
như chỉ liên quan đến các tài sản thế chấp Tài
sản cầm cố, theo giả thiết, đã và đang nằm trong
tay chủ nợ ở thời điểm cần xử lý; bên cạnh quyền
ưu tiên của chủ nợ có bảo đảm, chủ nợ nhận cầm
cố còn có các quyền và nhất là lợi thế tự nhiên
của một người cầm giữ tài sản bằng con đường
hợp pháp Như vậy, trong khuôn khổ của pháp
luật hiện hành, chủ nợ được xem đã có thể yên
tâm đòi nợ mà không lo lắng về những bất trắc,
rủi ro có thể đến, nhất là từ phía các chủ nợ khác
* PGS-TS Luật học, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học
Kinh tế - Luật.
1 Bảo đảm đối vật là biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa
vụ (trả nợ) đặc trưng bằng việc chỉ định một hoặc nhiều tài
sản mà giá trị của các tài sản đó được ưu tiên dùng để hoàn
trả nợ cho chủ nợ có bảo đảm, đặc biệt trong trường hợp
người mắc nợ không thể tự mình trả nợ bằng cách khác Có
thể xem, cùng tác giả, “Sự cần thiết của việc xây dựng các
chế định vật quyền và trái quyền trong luật dân sự”, Tạp chí
Nghiên cứu lập pháp, số 23 (184), 2010
của người cầm cố
Việc xử lý tài sản dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ được ghi nhận trong Bộ luật dân sự năm 2005 (BLDS) bằng những quy định mang tính nguyên tắc tại Điều 336 và 338, áp dụng chung cho cả hai trường hợp cầm cố và thế chấp Các quy định ấy được cụ thể hóa trong Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 về giao dịch bảo đảm (Nghị định số 163) được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 11/2012/NĐ-CP
ngày 22/02/2012 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 163 (Nghị định số 11) Nhưng
dường như cả hai nghị định này vẫn chưa làm
rõ được lộ trình phải tuân thủ trên thực tế để xử
lý tài sản bảo đảm trong các trường hợp cụ thể
Do đó, các cơ quan có thẩm quyền (Bộ Tư pháp,
Bộ Tài nguyên và Môi trường, Ngân hàng Nhà nước) đang xây dựng một thông tư hướng dẫn
để chi tiết hóa hơn nữa các quy định liên quan Thực ra, toàn bộ chế độ pháp lý hiện hành về bảo đảm nghĩa vụ có những khiếm khuyết kỹ thuật cơ bản, nếu được đánh giá theo các tiêu chí được thiết lập trong các hệ thống pháp luật tiên tiến Chính do những khiếm khuyết đó mà việc triển khai chế định này trong thực tiễn gặp khó khăn, dù đã có đến hai nghị định hướng dẫn Việc hoàn thiện pháp luật về bảo đảm nghĩa vụ, bởi vậy, đòi hỏi những nỗ lực cải cách sâu rộng ngay từ gốc, từ BLDS
Tuy nhiên, việc sửa đổi BLDS không thể được thực hiện trong ngày một ngày hai Trong hoàn cảnh bức bách giữa một khung pháp lý bất cập, chủ nợ và cả người mắc nợ vẫn cần phải biết mình có quyền và có nghĩa vụ làm gì để giải quyết triệt để việc thu hồi nợ Việc ban hành một thông tư, nhằm chỉ rõ những việc phải làm và
QUY ĐỊNH VỀ XỬ LÝ TÀI SẢN BẢO ĐẢM TRONG
NGHỊ ĐỊNH SỐ 163/2006/NĐ-CP VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ
CẦN GIẢI QUYẾT TẠI THÔNG TƯ LIÊN TỊCH
HƯỚNG DẪN XỬ LÝ TÀI SẢN BẢO ĐẢM
NGUYỄN NGỌC ĐIỆN*
Trang 23được phép làm nhằm đạt mục tiêu đó, là nhiệm
vụ cần thiết trước mắt
2 Về nguyên tắc xử lý tài sản bảo đảm
Đặt tài sản bảo đảm dưới thẩm quyền xử lý
của chủ nợ Bảo đảm nghĩa vụ về bản chất là
biện pháp cho phép chủ nợ có thể thu hồi được
nợ mà không cần sự hợp tác của người mắc nợ
Tác dụng tích cực của biện pháp bảo đảm nghĩa
vụ được ghi nhận trong tình huống xấu nhất
đặc trưng bởi sự bế tắc trong việc tìm kiếm các
phương sách thu hồi nợ dựa vào vai trò chủ động
của người mắc nợ
Ở các nước, một khi người mắc nợ vì lý do gì
đó mà không tự mình trả được món nợ đến hạn,
dù đã bị đốc thúc, thì không phải làm gì cả,
trong khi đó chủ nợ có bảo đảm có quyền cho
tiến hành kê biên, bán đấu giá, nói chung làm
mọi việc cần thiết để làm bật ra giá trị kinh tế
của tài sản bảo đảm, rồi trích giá trị đó để thanh
toán nợ2 Trong quá trình xử lý tài sản, vai trò của
người mắc nợ không được đặt ra Trong chừng
mực nào đó, có thể nói rằng một khi nợ không
được trả một cách tự nguyện, bình thường, thì tài
sản bảo đảm phải được xử lý như thể người mắc
nợ không phải là chủ sở hữu và không có quyền
hạn gì nữa đối với tài sản ấy
Trong các quy định hiện hành của luật thực
định Việt Nam, chủ nợ có bảo đảm vẫn phải lệ
thuộc vào sự hợp tác của người mắc nợ để thực
hiện các quyền được gọi là của chủ nợ có bảo
đảm mà luật dành cho mình Chẳng hạn, trong
trường hợp tài sản bảo đảm cần xử lý còn nằm
trong tay người mắc nợ, thì chủ nợ phải yêu cầu
người này giao tài sản cho mình để xử lý (khoản
5 Điều 351 BLDS) Nếu người này không chịu
giao tài sản, thì trên nguyên tắc, chủ nợ chỉ còn
mỗi cách là kiện ra tòa án và chờ vụ việc được
giải quyết theo thủ tục chung về tố tụng dân sự
Nhận thấy được từ rất sớm điểm bất hợp lý đó
2 Ở Pháp, hợp đồng thế chấp tài sản phải được công
chứng mới có giá trị và bản thân chứng thư công chứng
về thế chấp tài sản có đầy đủ hiệu lực ràng buộc như một
bản án Bởi vậy, trong trường hợp nợ không được trả một
cách tự nguyện, chủ nợ có quyền yêu cầu các cơ quan có
chức năng thi hành phán quyết của toà án cưỡng chế việc
trả nợ chiếu theo chứng thư công chứng, mà không cần
đưa vụ việc ra tòa Có thể xem: Ph Malaurie và L Aynès,
Droit civil - Les sûretés La publicité foncière, Defrènois,
Paris, 2008 tr 308 và kế tiếp
của BLDS, nhà làm luật đã đề ra một biện pháp gọi là thu giữ tài sản bảo đảm, được quy định tại Điều 63 Nghị định số 163 Theo nội dung của điều luật này, chủ nợ có quyền làm tất cả những gì mà pháp luật không cấm để đặt tài sản dưới quyền xử lý của mình mà không lo lắng
về việc người mắc nợ có thể gây trở ngại cho việc xử lý đó Có thể từ đó nhận ra những khó khăn của người làm luật trong việc vạch đường
đi cho chủ nợ thực hiện quyền của mình trong một khung pháp lý lỏng lẻo Trên thực tế, chủ
nợ không thể làm được gì để thu hồi nợ trong trường hợp người mắc nợ từ chối giao tài sản
và thậm chí có thái độ phản kháng, ngoài việc dùng vũ lực để trấn áp mà điều này không được pháp luật cho phép Có lẽ cũng nhận thấy bất cập này, nhóm phụ trách soạn thảo thông tư hướng dẫn đã khẳng định rằng chủ nợ có quyền đề nghị UBND cấp cơ sở ở địa phương sở tại hỗ trợ việc thu giữ tài sản Thực ra, nói như vậy không hẳn
có nghĩa là chủ nợ chỉ có quyền đó: người ta có thể hiểu rằng chủ nợ có quyền này như một trong nhiều phương án khả dĩ mà pháp luật cho phép hoặc, ít nhất, không cấm Tuy nhiên, một quy định như thế mang ít nhiều ý nghĩa ràng buộc đối với UBND, khiến cơ quan này cảm thấy thực sự
có trách nhiệm về mặt pháp lý trong việc hỗ trợ chủ nợ để thu hồi nợ bằng cách sử dụng quyền lực công trong tay mình
Vấn đề còn lại là làm thế nào ràng buộc UBND một cách hữu hiệu vào trách nhiệm hỗ trợ? Nếu từ chối hỗ trợ, thì liệu UBND có bị chế tài? Trong khung cảnh pháp luật hiện hành, UBND địa phương, nói chung nhà chức trách công không có bổn phận và suy cho cùng cũng không có quyền huy động lực lượng trấn áp công cộng theo yêu cầu của một số cá nhân để thoả mãn lợi ích riêng tư của họ, dù đó là để phục
vụ lợi ích chính đáng3 Lực lượng này được nuôi dưỡng bằng tiền của người đóng thuế và, trên nguyên tắc, chỉ phục vụ miễn phí cho lợi ích của
cả cộng đồng, cả địa phương
3 Riêng trong trường hợp lợi ích tư nhân bị xâm hại bởi hành vi phạm pháp quả tang, đặc biệt là xâm hại bằng vũ lực, thì công lực phải can thiệp mà thậm chí không cần được yêu cầu, bởi việc đó thuộc chức năng gìn giữ, bảo vệ trật tự công của nhà chức trách
Trang 24Bởi vậy, chủ nợ muốn thu giữ tài sản bảo
đảm để thanh toán nợ, thì chỉ có mỗi một cách
là ràng buộc UBND vào một hợp đồng dịch vụ,
với những điều khoản ghi rõ trách nhiệm thực
hiện nghĩa vụ hỗ trợ Tất nhiên, đã gọi là dịch vụ
thì phải có thu phí Cần ghi rõ tất cả những điều
này trong thông tư hướng dẫn Ngoài ra, nên cân
nhắc việc xây dựng một biểu thu chi tiết để tránh
việc cơ quan công lạm dụng vị thế người nắm
ưu thế trong quan hệ kết ước mà đưa ra mức phí
dịch vụ không hợp lý
Bảo vệ các quyền lợi chính đáng của người
mắc nợ Cần nói ngay rằng vi phạm nghĩa vụ
không nhất thiết đồng nghĩa với vi phạm pháp
luật Trong rất nhiều trường hợp, người mắc nợ
vi phạm nghĩa vụ trả nợ không phải do cố ý bội
ước, mà do những khó khăn riêng không tự tháo
gỡ được Việc thu hồi nợ trong hoàn cảnh ấy cần
phải được thực hiện một cách có lý, có tình để
không đẩy người mắc nợ vào hoàn cảnh bế tắc
Ngay cả trong trường hợp người mắc nợ thiếu
thiện chí hợp tác, thì việc cưỡng chế trả nợ cũng
phải được thực hiện một cách có tổ chức theo
đúng trình tự, thủ tục do pháp luật quy định, chứ
không phải để thoả mãn yêu cầu thu hồi nợ của
chủ nợ bằng mọi giá Nói chung, việc xử lý nợ
nần trong cuộc sống dân sự phải được thực hiện
như thế nào để một mặt, chủ nợ có thể thu hồi đủ
số nợ, nhưng mặt khác, người mắc nợ không bị
đẩy vào cảnh hoàn toàn kiệt quệ và không còn
khả năng hồi phục Quan trọng hơn hết, phải bảo
đảm việc đòi nợ nhằm đạt mục tiêu bảo vệ công
bằng xã hội chứ không phải chủ yếu để phục vụ
lợi ích của bên mạnh hơn trong quan hệ nghĩa
vụ
Riêng người không trả khoản nợ có bảo đảm
vẫn còn đó tài sản bảo đảm Tài sản này có thể
được xử lý để thanh toán nghĩa vụ, bởi trên lý
thuyết, tài sản chỉ được chủ nợ chấp nhận dùng
làm vật bảo đảm một khi có giá trị cao hơn giá trị
của khoản nợ được bảo đảm Nếu rõ ràng giá trị
tài sản bảo đảm lớn hơn nhiều so với giá trị của
khoản nợ được bảo đảm, thì phải làm thế nào
không để người mắc nợ chịu thiệt thòi: người
này phải nhận được phần còn lại, sau khi đã
thanh toán xong tất cả những món nợ đến hạn
là chủ nợ có quyền làm gì để bảo vệ quyền và lợi ích của mình trong trường hợp này
Theo Điều 20 Nghị định số 163, chủ nợ trong trường hợp này có quyền thu hồi tài sản thế chấp Cụm từ “thu hồi” không xuất hiện trong BLDS, cũng không được giải thích tại Nghị định đã dẫn nên không có nội hàm pháp lý cụ thể và do đó, không thể được diễn dịch thành ứng xử cụ thể trong thực tiễn Thông tư hướng dẫn dự định ghi nhận nội dung của quyền thu hồi gồm hai yếu tố: quyền thu giữ tài sản theo Điều 63 Nghị định số
163 và quyền kiện đòi lại tài sản theo pháp luật dân sự
Kiện đòi lại tài sản là quyền khởi kiện của riêng chủ sở hữu, trong khi chủ nợ, theo giả thiết, chưa bao giờ là chủ sở hữu đối với tài sản mà chỉ là chủ nợ có bảo đảm bằng giá trị kinh tế của tài sản đó Bởi vậy, thừa nhận cho chủ nợ quyền kiện đòi lại tài sản là vô lý
Còn lại quyền thu giữ có thể được thực hiện theo Điều 63 Nghị định nói trên và hướng dẫn
có thể có tại Thông tư dự kiến ban hành Có một điều chưa được chú ý là việc xử lý giao dịch chuyển nhượng về phương diện pháp lý: nếu không bị tuyên bố vô hiệu thì giao dịch vẫn có
4 Ở các nước, chủ nợ có bảo đảm chỉ có một quyền đối vật cho phép trực tiếp tác động vào tài sản để làm bật
ra giá trị của tài sản và dùng giá trị đó để thanh toán nợ Quyền này được thực hiện bất kể chủ sở hữu tài sản là
ai, người mắc nợ hay người nào khác Với quan niệm đó, thì chủ sở hữu tài sản bảo đảm không bị hạn chế quyền định đoạt của chủ sở hữu trong thời gian biện pháp bảo đảm có hiệu lực Nếu chủ sở hữu muốn bán tài sản và người mua biết rõ tài sản đang được dùng để bảo đảm nghĩa vụ mà vẫn chấp nhận mua, nghĩa là chấp nhận rủi
ro khi chủ nợ có bảo đảm xuất hiện, thì cứ để việc mua bán được xúc tiến bình thường Có thể xem: Ph Simler
và Ph Delebecque, Droit civil - Les sûretés La publicité
foncière, Dalloz, Paris, 2009, tr 433 và 434
Trang 25giá trị và điều đó có nghĩa là người nhận chuyển
nhượng là chủ sở hữu hợp pháp đối với tài sản
Trong điều kiện thiếu vắng lý thuyết vật quyền,
chủ nợ lấy tư cách gì để thu giữ tài sản trong
tay chủ sở hữu trong khi bản thân chủ sở hữu
không phải là người có nghĩa vụ trả nợ? Đáng
lý ra, chủ nợ phải kiện yêu cầu vô hiệu hóa giao
dịch chuyển nhượng Một khi giao dịch vô hiệu,
người nhận chuyển nhượng trở thành người thứ
ba Khi đó, chủ nợ mới có thể tiến hành thu giữ
tài sản
Định giá tài sản bảo đảm Liên quan đến việc
định giá tài sản bảo đảm trong quá trình xử lý
nợ, Nghị định số 163 và cả Nghị định số 11 đã
dẫn phân biệt các trường hợp bán tài sản không
qua đấu giá và thay thế việc thực hiện nghĩa vụ
bằng cách nhận lấy chính tài sản bảo đảm Tuy
nhiên, sự phân biệt này không cần thiết Điều
quan trọng là mỗi khi cần định giá, cần phải bảo
đảm việc định giá được tiến hành một cách sòng
phẳng, công bằng đối với tất cả các bên có quyền
và lợi ích liên quan
Nói rõ hơn, trong mọi trường hợp, việc định
giá có thể được thực hiện theo thỏa thuận giữa
hai bên; nếu hai bên không thể tự mình thoả
thuận được về giá, thì có thể thoả thuận về việc
chỉ định một bên thứ ba trung lập giúp định giá
Nếu không đạt được thỏa thuận định giá theo các
cách đó, thì người nhận bảo đảm có thể yêu cầu
toà án quyết định cho đấu giá và chỉ định người
định giá khởi điểm
Riêng trong trường hợp định giá theo thoả
thuận của hai bên, không loại trừ khả năng người
mắc nợ, đồng thời là chủ sở hữu tài sản chấp
nhận định giá thấp một cách dễ dãi và rốt cuộc,
gây thiệt hại cho các chủ nợ khác của chính
mình Bởi vì khi giá được xác định cao hơn, phù
hợp với giá trị thật của tài sản, ngoài số tiền cần
thiết để trả nợ cho chủ nợ có bảo đảm, sẽ còn lại
một ít để trả cho các chủ nợ khác Việc định giá
thấp theo thỏa thuận có thể gây thiệt hại cho các
chủ nợ khác của chủ sở hữu Bởi vậy, cần quy
định rằng, trong trường hợp giá được ấn định
theo thoả thuận, chủ nợ nào của chủ sở hữu tài
sản mà nhận thấy giá thấp một cách bất thường,
gây thiệt hại cho mình, thì có quyền yêu cầu các
bên hoặc tòa án cho định giá lại..
Tiếp theo trang 23
BẢO HỘ QUYỀN TÁC GIẢ
thế Yahoo Massenger) Các hệ điều hành nguồn mở, bộ ứng dụng văn phòng, ứng dụng thay thế vừa nêu được dựa trên hệ điều hành gốc, bởi vậy chúng không đảm bảo tính nguyên gốc, nhưng pháp luật quyền tác giả vẫn bảo hộ chúng như những tác phẩm văn học là điểm không hợp
lý17 Mặt khác, bảo hộ CTMT như một tác phẩm văn học đồng nghĩa với việc công nhận việc vi phạm pháp luật quyền tác giả là tất yếu, vì việc sửa đổi chương trình phần mềm nguồn mở (mà không cần sự cho phép của những người lập trình trước) đã vi phạm quyền nhân thân được quy định tại khoản 4 Điều 19 Luật SHTT vì xâm phạm quyền bảo vệ sự toàn vẹn tác phẩm của người khác
Giải pháp đối với trường hợp vừa phân tích
là nếu CTMT được hình thành từ phần mềm
mã nguồn mở (tác phẩm gốc) thì nó phải là tác phẩm phái sinh, khi đó xuất hiện mối quan
hệ pháp lý giữa tác giả/chủ sở hữu tác phẩm CTMT với tác giả/chủ sở hữu tác phẩm phần mềm mã nguồn mở với nội dung như quy định tại Điều 18 và Điều 19 Luật SHTT
4.4 Các vấn đề khác
Còn khá nhiều vấn đề phải bàn thêm trong việc bảo hộ tác phẩm phái sinh, trong khuôn khổ có hạn của một bài báo, tác giả chỉ xin nêu
mà chưa đi sâu phân tích, như: bảo hộ tri thức truyền thống trong trường hợp tác phẩm về tri thức truyền thống được định hình trên cơ sở tri thức truyền thống đã tồn tại trong dân gian (mà chưa được định hình), trong đó vấn đề cần đặt ra là bảo hộ tri thức truyền thống hay bảo hộ tác phẩm về tri thức truyền thống18; có hay không sự xung đột giữa các đối tượng của quyền SHTT như sáng chế, bí mật kinh doanh, tác phẩm khoa học (phái sinh) khi được hình thành trên cơ sở một/những tác phẩm khoa học khác 17 Xin tham khảo thêm: Donald R Robertson, An .
Open Definition Derivative Works of Software and the free and Open Source Movement, New England School of Law (2008).
18 Xin tham khảo thêm: Trần Văn Hải, Khai thác thương mại đối với tri thức truyền thống - tiếp cận từ quyền SHTT,
Tạp chí Hoạt động khoa học, số 632 (02.2012).
Trang 261 Giới thiệu chung
Trong nền kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ
hay quyền sở hữu trí tuệ (SHTT) đóng vai
trò hết sức quan trọng trong hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp (DN) cũng như sự
phát triển kinh tế của mỗi quốc gia Khi tài
sản (nhất là tài nguyên) hữu hình đang có
xu hướng ngày càng giảm và cạn kiệt, giá
trị cũng như khả năng cạnh tranh của DN
ngày càng phụ thuộc vào tài sản trí tuệ được
DN khai thác Khai thác thương mại (hay
thương mại hóa) tài sản trí tuệ có thể hiểu là
việc DN đưa “tài sản trí tuệ vào áp dụng, sử
dụng, quản lý trong thực tế nhằm tạo ra các
lợi ích, ưu thế cho chủ sở hữu, người tham
gia vào việc áp dụng, sử dụng tài sản trí tuệ
đó và cho xã hội”1 Việc khai thác này có thể
diễn ra dưới một hay nhiều hình thức khác
nhau, như: (i) trực tiếp sử dụng tài sản trí tuệ
trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, đặc
biệt là qua việc đưa các tài sản trí tuệ đó vào
các sản phẩm, dịch vụ mà DN sản xuất hay
cung cấp; (ii) chuyển giao tài sản trí tuệ cho
DN khác qua hoạt động chuyển giao quyền
sở hữu, chuyển giao quyền sử dụng (bao
gồm cả chuyển giao công nghệ và nhượng
quyền thương mại); và (iii) sử dụng tài sản
trí tuệ để thương lượng, đàm phán với DN
khác cũng như làm tài sản góp vốn, tài sản
* TS Luật học, Vụ Pháp luật quốc tế, Bộ Tư pháp Bài
viết chỉ phản ánh quan điểm cá nhân của tác giả.
1 Xem khoản 2 Điều 3 Thông tư liên tịch số
112/2011/TTLT/BTC-BKHCN ngày 02/8/2011 của
Bộ Tài chính và Bộ Khoa học và Công nghệ h ướng
dẫn quản lý tài chính đối với Ch ương trình hỗ trợ phát
triển tài sản trí tuệ giai đoạn 2011-2015.
bảo đảm trong vay vốn ngân hàng…2
Ở Việt Nam, Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định quyền SHTT là một dạng của quyền tài sản, trong khi đó khẳng định tài
sản bao gồm “vật, tiền, giấy tờ có giá và
các quyền tài sản”3 Điều đó có nghĩa quyền SHTT được coi là một dạng tài sản đặc biệt: tài sản trí tuệ Về nguyên tắc, chủ sở hữu tài sản trí tuệ có các quyền pháp lý tương tự như chủ sở hữu tài sản hữu hình khác; các quyền này được bảo hộ theo pháp luật SHTT nói riêng và pháp luật dân sự nói chung4 Xuất phát từ tầm quan trọng của việc khai thác tài sản trí tuệ đối với DN Việt Nam, Chiến lược Phát triển kinh tế-xã hội 2011-2020
xác định yêu cầu “thực hiện nghiêm túc các
quy định về quyền sở hữu trí tuệ, tập trung phát triển và khai thác tài sản trí tuệ” và
“phát triển lực lượng doanh nghiệp trong
nước với nhiều thương hiệu mạnh, có sức
cạnh tranh cao”5
2 Dưới góc độ mục đích, việc khai thác tài sản trí tuệ
có thể chia thành 5 nhóm: (i) phòng vệ (defence), (ii) đảm bảo lợi thế (securing superiority), (iii) chiến lược kinh doanh (business strategy), (iv) chiến lược quản lý (management strategy), và (v) tài sản tài chính (finan-
cial assets) Xem OECD, Valuation and Exploitation
of Intellectual Property, STI Working Paper 2006/5,
DSTI/DOC(2006)5, 2006, tr 8.
2005 Xem thêm Nguyễn Thanh Tú, “Bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ: Chế độ tài sản và chế độ trách nhiệm dưới
góc độ pháp luật cạnh tranh”, Tạp chí Nhà nước và
Pháp luật, số 5(265), 2010, tr 45-53.
4 Xem khoản 1 Điều 4 Luật SHTT 2005/2009, Điều
164 BLDS 2005.
5 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn
quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, 2011, tr 135 và 102.
MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHÁP LÝ VỀ KHAI THÁC
THƯƠNG MẠI TÀI SẢN TRÍ TUỆ TRONG CÁC
DOANH NGHIỆP VIỆT NAM
NGUYỄN THANH TÚ*
Trang 27Tuy nhiên, việc khai thác thương mại tài
sản trí tuệ phụ thuộc trước hết và chủ yếu
vào chính DN Nhà nước chỉ có thể khuyến
khích và bảo hộ việc khai thác tài sản trí tuệ
hợp pháp của DN thông qua các quy định
pháp luật, bao gồm pháp luật SHTT và pháp
luật chuyên ngành liên quan đến hoạt động
khai thác thương mại tài sản trí tuệ đó cũng
như các chính sách hỗ trợ khác6
Cần lưu ý rằng tài sản trí tuệ (hay thông
tin hàm chứa trong tài sản trí tuệ) là tài sản
vô hình Tài sản này có các đặc tính tương
tự như các đặc tính của hàng hóa công cộng
Đó là: (i) tính không cạnh tranh và (ii) tính
không loại trừ (mất đi) trong sử dụng Tính
không cạnh tranh được thể hiện ở việc một
DN khai thác tài sản trí tuệ không hạn chế
khả năng của DN khác khai thác chính tài
sản trí tuệ đó Tính không loại trừ thể hiện ở
việc một bên thứ ba (dù không được phép)
không bị ngăn cấm khai thác tài sản trí tuệ
nếu thông tin về tài sản trí tuệ đó đã được
công bố Chính vì vậy, tài sản trí tuệ được
bảo hộ qua việc nhà nước thông qua pháp
luật SHTT trao cho người nắm giữ tài sản đó
các quyền SHTT7 Tuy nhiên, quyền SHTT
gắn liền với tài sản trí tuệ chỉ là quyền ngăn
cấm người khác khai thác tài sản trí tuệ, tức
là quyền phủ định (negative right) Ví dụ đối
với sáng chế, DN hay người sở hữu (nắm
giữ) bằng độc quyền sáng chế có quyền
ngăn chặn bên thứ ba, nếu không được phép
của chủ sở hữu, thực hiện các hành vi như
sản xuất, sử dụng, chào bán, bán hay nhập
khẩu sản phẩm chứa đựng sáng chế đó8
06/12/2010 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê
duyệt Ch ương trình hỗ trợ phát triển tài sản trí tuệ giai
đoạn 2011-2015; Thông tư số
112/2011/TTLT/BTC-BKHCN.
7 Xem Nguyễn Thanh Tú, Pháp luật cạnh tranh,
chuyển giao công nghệ và Hiệp định TRIPS: Kinh
nghiệm cho Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,
2010, tr 45-54.
8 Lưu ý là quyền SHTT mà chủ sở hữu nắm giữ là
các quyền độc quyền pháp lý mà pháp luật quốc gia
trao cho chủ sở hữu đó; nó đang và sẽ là quyền mang
tính lãnh thổ (territorial right) Xem Điều 28.1(a)
Hiệp định TRIPS, Điều 124 Luật SHTT 2005/2009.
Như vậy, tiền đề cho thành công trong khai thác thương mại tài sản trí tuệ của DN
là việc bảo hộ quyền SHTT gắn với loại tài sản vô hình này Nhưng pháp luật SHTT chỉ
là điều kiện cần, chứ không phải là điều kiện
đủ cho thành công này Việc bảo hộ tài sản trí tuệ theo pháp luật SHTT không đảm bảo cho DN nắm quyền sở hữu hay sử dụng tài sản trí tuệ khai thác thương mại có hiệu quả tài sản và có được lợi nhuận từ việc khai thác đó9
Vì vậy, việc tồn tại (công nhận) tài sản trí tuệ thông qua việc cấp và bảo hộ quyền SHTT và việc khai thác thương mại tài sản này là hai vấn đề khác nhau nhưng có liên quan với nhau10 Việc khai thác thương mại tài sản trí tuệ của DN phải tuân thủ các quy định của pháp luật liên quan đến việc khai thác đó Mặc dù việc khai thác thương mại tài sản trí tuệ không thể tách rời các quy định pháp luật SHTT về nghiên cứu, phát triển và đăng ký tài sản trí tuệ cũng như pháp luật
về chống các hành vi xâm phạm tài sản trí tuệ, bài viết này chỉ tập trung vào một số vấn đề pháp lý trực tiếp liên quan đến việc khai thác thương mại tài sản trí tuệ trong các
DN Việt Nam Cụ thể, bài viết chỉ nghiên cứu việc khai thác thương mại tài sản trí tuệ của DN dưới góc độ các quy định pháp luật thương mại liên quan (nhưng đặt trong mối quan hệ với pháp luật SHTT)
2 Khai thác thương mại tài sản trí tuệ
và pháp luật về quyền kinh doanh
Việc sở hữu hay được chuyển giao quyền
sử dụng quyền SHTT không đồng nghĩa với việc được tự do khai thác thương mại tài sản trí tuệ gắn với quyền SHTT đó Điều này đã được gián tiếp thừa nhận trong Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền SHTT (TRIPS) của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) Khoản 2 Điều 27 Hiệp định TRIPS quy định một thành viên WTO
9 Theo một khảo sát của cơ quan sáng chế Nhật Bản (JPO), chỉ khoảng 30% sáng chế được DN sở hữu sáng chế trực tiếp sử dụng, khoảng 10% được chuyển giao cho DN khác, và khoảng 60% không hề được khai thác OECD, chú thích số 2, tr 9
10 Xem Nguyễn Thanh Tú, chú thích số 7, tr 123.
Trang 28có thể không cấp bằng sáng chế cho những
phát minh (invention) cần phải bị cấm khai
thác thương mại trong lãnh thổ của mình để
bảo vệ trật tự công cộng hoặc đạo đức xã
hội mặc dù phát minh đó có thể thỏa mãn
các điều kiện của việc cấp bằng sáng chế11;
nhưng ngoại lệ này không thể được xác lập
chỉ vì lý do duy nhất là việc khai thác phát
minh như vậy bị pháp luật của thành viên
WTO đó ngăn cấm Nói cách khác, một
phát minh có thể được bảo hộ dưới hình
thức sáng chế theo pháp luật SHTT; nhưng
việc khai thác thương mại sáng chế đó có
thể bị pháp luật chuyên ngành ngăn cấm Ví
dụ phát minh về kỹ thuật sinh sản vô tính
(clone) vẫn có thể được cấp bằng sáng chế,
nhưng việc khai thác thương mại phát minh
này để sinh sản vô tính người đã bị nhiều
quốc gia cấm12
Pháp luật SHTT Việt Nam cũng quy định
rõ về vấn đề này, theo đó việc khai thác (thực
hiện) “quyền SHTT không được xâm phạm
lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng,
quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá
nhân khác và không được vi phạm các quy
định khác của pháp luật có liên quan”13 Vụ
việc liên quan đến hành vi khai thác nhãn
hiệu (và tên thương mại) của một DN nước
ngoài của Công ty cổ phần hàng không
Jetstar Pacific Airlines cùng các quan điểm
trái ngược nhau giữa các bên liên quan là
một ví dụ điển hình để phân tích mối quan
hệ giữa việc khai thác thương mại tài sản trí
tuệ trong lĩnh vực kinh doanh có điều kiện
Công ty cổ phần hàng không Pacific
Airlines là DN vận chuyển hàng không hoạt
động theo Luật Hàng không dân dụng Việt
Nam14 Tập đoàn Quatas của Australia –
DN sở hữu hãng hàng không giá rẻ Jetstar
Airways (mang quốc tịch Australia) – sau
khi mua cổ phần của Pacific Airlines đã ký
11 Gồm: có tính mới, có trình độ sáng tạo và có khả
năng áp dụng công nghiệp.
12 Xem “Fertility expert: I can clone a human being”,
và chính thức sử dụng thương hiệu và mô hình hàng không giá rẻ của Jetstar Airways
từ ngày 23/5/2008 Cụ thể JPA đã sử dụng nhãn hiệu Jetstar, Jet và ngôi sao màu vàng cam trên máy bay, phòng vé và trong các hoạt động quảng cáo, tiếp thị, bán sản phẩm dịch vụ khác15
Tuy nhiên, Bộ Giao thông vận tải (Cục Hàng không dân dụng) đã yêu cầu JPA phải
sử dụng nhãn hiệu riêng phân biệt với các nhãn hiệu của Jetstar Airways trong các hoạt động liên quan đến việc cung cấp dịch vụ vận chuyển hàng không của JPA Bộ Giao thông vận tải cho rằng JPA là hãng hàng không Việt Nam, kinh doanh vận chuyển hàng không theo giấy phép (thương quyền) được cấp theo quy định của Luật Hàng không dân dụng Việt Nam; do đó JPA phải
sử dụng nhãn hiệu (và tên thương mại) riêng mình Việc JPA sử dụng các nhãn hiệu của Jetstar Airways có thể gây nhầm lẫn là Jetstar Airways được phép cung cấp dịch vụ vận chuyển hàng không nội địa ở Việt Nam16 Nhưng JPA, với quan điểm ngược lại, cho rằng họ có quyền tiến hành kinh doanh vận chuyển hàng không với các nhãn hiệu của Jetstar Airways vì JPA là doanh nghiệp được
sử dụng hợp pháp các nhãn hiệu này thông
15 Xem pany; www.sggp.org.vn/thitruongkt/2009/9/203387/.
www.jetstar.com/vn/vi/about-us/our-com-16 Việt Nam hiện nay không có bất kỳ cam kết nào
về việc mở cửa thị trường vận chuyển hàng không nội địa trong WTO; Hiệp định hàng không song phương giữa Việt Nam và Australia cũng chưa quy định về việc một hãng hàng không Australia được cấp quyền vận chuyển hàng không nội địa Việt Nam.
Trang 29qua hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng
nhãn hiệu và nhượng quyền thương mại
đã được hoàn tất thủ tục đăng ký với Cục
Sở hữu trí tuệ (về nhãn hiệu) và Bộ Công
Thương (về nhượng quyền thương mại)17
Điểm mấu chốt của tranh chấp nêu trên
là việc khai thác thương mại quyền SHTT
trong lĩnh vực kinh doanh có điều kiện Mặc
dù hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng
nhãn hiệu và nhượng quyền thương mại
giữa JPA và Jetstar Airways/Quantas là hoàn
toàn hợp pháp theo pháp luật SHTT và pháp
luật thương mại của Việt Nam, việc JPA sử
dụng các nhãn hiệu thuộc quyền sở hữu của
Jetstar Airways là không phù hợp với giấy
phép vận chuyển hàng không theo quy định
của Luật Hàng không dân dụng Việt Nam
Nói cách khác quyền sử dụng các nhãn hiệu
(và tên thương mại) của JPA nêu trên không
đồng nhất với quyền cung cấp dịch vụ theo
sự cấp phép của Bộ Giao thông vận tải18 Ở
góc độ pháp luật về nhượng quyền thương
mại, chính khoản 2 Điều 7 Nghị định số
35/2006/NĐ-CP của Chính phủ quy định
chi tiết Luật Thương mại về hoạt động này
cũng đã khẳng định nếu hàng hóa, dịch vụ
kinh doanh theo nhượng quyền thương mại
thuộc danh mục hàng hóa, dịch vụ hạn chế
kinh doanh hay kinh doanh có điều kiện,
DN nhận nhượng quyền thương mại chỉ
được kinh doanh sau khi được cơ quan quản
lý ngành cấp giấy phép kinh doanh, giấy tờ
có giá trị tương đương hoặc có đủ điều kiện
kinh doanh Chính vì vậy, JPA cuối cùng
đã phải sử dụng nhãn hiệu riêng trong hoạt
động cung cấp dịch vụ vận chuyển hàng
không của mình trên thị trường Việt Nam
Tóm lại, DN và cơ quan nhà nước có thẩm
quyền không được nhầm lẫn giữa quyền
SHTT theo quy định của pháp luật SHTT và
việc khai thác thương mại tài sản trí tuệ phát
sinh từ quyền này với quyền kinh doanh
theo quy định của pháp luật chuyên ngành
17 Xem www.nhandan.com.vn/tinbai/?top=38&sub
=131&article=159780.
18 Xem Điều 110 Luật Hàng không dân dụng Việt
Nam 2006.
về quản lý hoạt động kinh doanh
3 Khai thác thương mại tài sản trí tuệ
và pháp luật cạnh tranh
Việc trực tiếp sử dụng hay chuyển giao tài sản trí tuệ thông qua hợp đồng, bao gồm cả chuyển giao quyền sở hữu và quyền sử dụng (gọi chung là hợp đồng chuyển giao công nghệ), có mối liên hệ mật thiết với pháp luật cạnh tranh (PLCT)19
3.1 Tổng quan
Việc DN khai thác thương mại tài sản trí tuệ trong phạm vi cho phép của pháp luật SHTT là quyền của DN, nhưng nếu vượt phạm vi cho phép này, việc khai thác đó có thể bị coi là lạm quyền và vi phạm PLCT Vấn đề này cũng được quy định một cách chung nhất trong Hiệp định TRIPS Khoản
2 Điều 8 Hiệp định này thừa nhận quyền của các thành viên WTO trong việc ban hành, sửa đổi quy định pháp luật trong nước nhằm thiết lập khung pháp lý phù hợp để ngăn chặn hành vi đơn phương lạm dụng quyền SHTT của một DN hay là thỏa thuận thông đồng giữa các DN liên quan đến quyền SHTT
Về hành vi đơn phương lạm dụng quyền SHTT, điểm k Điều 31 Hiệp định TRIPS thừa nhận việc bắt buộc chuyển giao quyền
sử dụng đối tượng SHTT (sáng chế) là biện pháp có thể áp dụng nhằm khắc phục hành
vi hạn chế cạnh tranh (lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường) liên quan đến quyền SHTT
Nó cho phép bỏ qua các điều kiện cần để ban hành quyết định bắt buộc chuyển giao quyền sử dụng khi người nắm giữ quyền SHTT vi phạm PLCT Đối với các hành
vi hạn chế cạnh tranh trong các hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng tài sản trí tuệ, Điều 40 Hiệp định TRIPS thừa nhận rằng một số hành vi hay điều kiện trong hợp đồng này có tính chất hạn chế cạnh tranh và có thể có ảnh hưởng xấu đến thương mại, cản trở việc chuyển giao và phổ biến tài sản trí tuệ; vì vậy Điều này cho phép thành viên
có thể áp dụng các biện pháp thích hợp để ngăn chặn hoặc kiểm soát các hành vi đó,
19 Mục 3 được phát triển dựa trên Nguyễn Thanh
Tú, chú thích số 7.
Trang 30như: (i) yêu cầu chuyển giao (cấp) ngược
quyền sử dụng độc quyền tài sản trí tuệ
(exclusive grantback), (ii) yêu cầu nhằm
ngăn cấm việc không thừa nhận hiệu lực
quyền SHTT, và (iii) bắt buộc chuyển giao
quyền sử dụng tài sản trí tuệ cả gói (coercive
package licensing)20
Pháp luật Việt Nam trong chừng mực nhất
định cũng có những quy định kiểm soát hành
vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường (độc
quyền) và thỏa thuận hạn chế hạn chế cạnh
tranh trong quá trình khai thác thương mại
tài sản trí tuệ Luật SHTT năm 2005, sửa đổi
năm 2009 và Luật Chuyển giao công nghệ
năm 2006 trao quyền cho bên giao và bên
nhận trong hợp đồng chuyển giao tài sản trí
tuệ tự thỏa thuận và quyết định nội dung của
hợp đồng với điều kiện việc thực thi quyền
SHTT gắn với chuyển giao đó “không được
vi phạm các quy định khác của pháp luật
có liên quan”, trong đó có PLCT21 Cụ thể,
Luật Chuyển giao công nghệ quy định rõ
rằng các bên (đặc biệt là bên giao) không
được thỏa thuận về điều khoản hạn chế cạnh
tranh bị cấm theo quy định của PLCT trong
hợp đồng chuyển giao công nghệ22 ; trong
khi đó, Luật SHTT thừa nhận hành vi hạn
chế cạnh tranh bị cấm (theo PLCT) của chủ
sở hữu sáng chế và giống cây trồng là một
trong các căn cứ bắt buộc chuyển giao23
Nhìn chung, việc khai thác tài sản trí tuệ
của DN dưới góc độ PLCT từ lâu đã là tâm
điểm của nhiều tranh luận Tuy nhiên cần
phải thấy rằng khái niệm quyền độc quyền
mà người nắm giữ tài sản trí tuệ có được
theo pháp luật SHTT thực chất chỉ là quyền
ngăn cấm người khác sử dụng tài sản trí tuệ
Nó đơn thuần chỉ là quyền độc quyền dưới
góc độ pháp lý, không tương đương với (hay
không tự động dẫn đến) quyền độc quyền
kinh tế hay thống lĩnh thị trường dưới góc
20 Xem thêm Điều 6, điểm c Điều 31 và khoản 2
Điều 37 Hiệp định TRIPS.
21 Xem khoản 2 Điều 7 Luật SHTT 2005/2009;
Điều 5 Luật Chuyển giao công nghệ (CGCN) 2006.
22 Điều 20 Luật CGCN 2006.
23 Điểm d khoản 1 Điều 145 và điểm c khoản 1 Điều
195 Luật SHTT 2005/2009.
độ PLCT Về bản chất quyền độc quyền kinh tế hay thống lĩnh thị trường chính là quyền liên quan đến việc định giá (định giá cao hơn mức giá cạnh tranh) và khả năng duy trì giá đó trong một thời gian tương đối dài bất chấp phản ứng của thị trường.Vì vậy, quan điểm chung ngày nay là pháp luật SHTT và PLCT bổ sung cho nhau Quyền SHTT được xem là có tác dụng thúc đẩy cạnh tranh trừ phi các hành vi đơn phương hay hành vi thông đồng của DN nắm giữ quyền SHTT trên thị trường biến quyền đó trở thành công cụ hạn chế cạnh tranh Vì quyền SHTT là một dạng tài sản nên nó có thể bị lạm dụng dưới góc độ PLCT Pháp luật SHTT và PLCT - đóng vai trò là màng lọc thứ nhất và thứ hai - cần được vận hành đồng bộ nhằm kiểm soát và ngăn chặn các hành vi lạm dụng quyền SHTT nhằm hạn chế cạnh tranh Hai nhánh pháp luật này là các bộ phận cấu thành của chính sách cạnh tranh nói chung; trong đó pháp luật SHTT đóng vai trò xây dựng thị trường cho phát minh-sáng tạo và khai thác thương mại tài sản trí tuệ có được từ những phát minh-sáng tạo đó, còn PLCT kiểm soát và điều chỉnh các hoạt động không bình thường, hạn chế cạnh tranh trên thị trường đó24
Như vậy, một trong những vấn đề quan trọng đối với DN trong khai thác thương mại tài sản trí tuệ là không để việc khai thác
đó vi phạm PLCT Ngược lại, đối với DN cần tiếp cận tài sản trí tuệ của DN khác, DN mong muốn tiếp cận tài sản trí tuệ có thể vận dụng PLCT để phục vụ cho mục đích tiếp cận tài sản trí tuệ của mình (nếu khả thi)
3.2 Trực tiếp khai thác tài sản trí tuệ và vấn đề lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường (độc quyền)
Như đã giới thiệu, một trong những hình thức khai thác thương mại tài sản trí tuệ là trực tiếp sử dụng tài sản trí tuệ trong hoạt động sản xuất, kinh doanh Đây là quyền của DN nắm giữ quyền sở hữu tài sản trí tuệ, và tất nhiên phụ thuộc vào pháp luật về quyền kinh doanh như đã trình bày trong
24 Nguyễn Thanh Tú, chú thích số 7, tr 84-86.
Trang 31Mục 2 Khi trực tiếp sử dụng tài sản trí
tuệ như vậy, DN nắm giữ tài sản trí tuệ có
thể (và thường có xu hướng) không muốn
chuyển giao quyền sử dụng tài sản trí tuệ đó
cho DN khác nhằm dành riêng cho mình lợi
thế độc quyền cung cấp hàng hóa, dịch vụ
chứa đựng tài sản trí tuệ đó trên thị trường
(hoặc ấn định giá chuyển giao quá cao một
cách bất hợp lý - excessive pricing – nhằm
ngăn chặn DN khác sử dụng tài sản trí tuệ
của mình, hoặc thậm chí là không khai thác
thương mại tài sản trí tuệ thuộc sở hữu của
mình nhằm bảo vệ ngành sản xuất của mình
và loại bỏ đối thủ cạnh tranh) Trong một số
trường hợp nhất định, việc từ chối chuyển
giao để độc quyền khai thác tài sản trí tuệ
như vậy (hay ấn định giá chuyển giao quá
cao một cách bất hợp lý) có thể cấu thành
hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường
(độc quyền) theo quy định của PLCT Nhưng
hiện nay vẫn có nhiều quan điểm khác nhau
về hành vi này
Ở Hoa Kỳ, các tòa án có xu hướng ủng hộ
việc DN sở hữu tài sản trí tuệ trực tiếp sử
dụng tài sản đó để sản xuất hàng hóa, cung
ứng dịch vụ và từ chối chuyển giao quyền
sử dụng tài sản trí tuệ cho DN khác Nhưng
trong một số trường hợp đặc biệt, việc từ
chối chuyển giao vẫn có thể vi phạm PLCT
Hoa Kỳ25 Ở Liên minh châu Âu (EU), hành
vi của một DN sở hữu tài sản trí tuệ trực tiếp
sử dụng tài sản đó và từ chối chuyển giao
quyền sử dụng tài sản đó cho DN khác có
thể vi phạm PLCT trong một số trường hợp
đặc biệt Ủy ban châu Âu khẳng định sẽ xem
xét hành vi từ chối chuyển giao theo bốn
tiêu chí Đó là: (i) tính cần thiết khách quan
của quyền sử dụng tài sản trí tuệ với tư cách
là yếu tố đầu vào không thể thiếu, (ii) việc
loại bỏ cạnh tranh hiệu quả, (iii) thiệt hại
cho người tiêu dùng, và (iv) tính hiệu quả
của hành vi từ chối26 Tuy nhiên, các tiêu chí
25 Xem Nguyễn Thanh Tú, chú thích số 7, tr 229-231.
26 Hướng dẫn của Ủy ban châu Âu về các ưu tiên
trong việc áp dụng Điều 82 TEC (nay là Điều 102
TFEU) đối với hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị
trường nhằm loại bỏ cạnh tranh của doanh nghiệp có
có hành vi hạn chế cạnh tranh cũng như khi các bên liên quan không đạt được thỏa thuận chuyển giao với các điều kiện, điều khoản thương mại hợp lý trong một khoảng thời gian hợp lý27 Như vậy, dưới góc độ pháp luật SHTT, hành vi từ chối chuyển giao quyền sử dụng tài sản trí tuệ có thể dẫn đến bắt buộc chuyển giao
Hiện nay, Thông tư số BKHCN là văn bản pháp lý duy nhất hướng dẫn chi tiết vấn đề bắt buộc chuyển giao trên
01/2007/TT-cơ sở hành vi hạn chế cạnh tranh bị cấm của chủ sở hữu sáng chế28 Theo Thông tư này,
DN bị cản trở cạnh tranh do hành vi hạn chế cạnh tranh bị cấm của chủ sở hữu sáng chế có quyền nộp hồ sơ yêu cầu Bộ trưởng
Bộ Khoa học và Công nghệ ra quyết định bắt buộc chuyển giao Tuy nhiên, DN đó có nghĩa vụ nộp tài liệu chứng minh rằng chủ
sở hữu sáng chế đã thực hiện hành vi bị coi
là hạn chế cạnh tranh bị cấm theo quy định của PLCT29 Điều đó có nghĩa DN phải trình quyết định có hiệu lực của Hội đồng Cạnh tranh (Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh) theo quy định của Luật Cạnh tranh (và của tòa án có thẩm quyền công nhận quyết định này theo thủ tục giải quyết vụ án hành chính, nếu có) Giá đền bù đối với quyền sử dụng sáng chế bị chuyển giao theo quyết định bắt buộc trong trường hợp này không quá 5% giá bán tịnh của sản phẩm được sản xuất theo sáng chế30
Phải thấy rằng pháp luật SHTT chỉ quy định khung pháp lý chung để kiểm soát các hành vi hạn chế cạnh tranh liên quan đến
27 Khoản 1 Điều 145 và Khoản 1 Điều 195 Luật SHTT 2005/2009.
28 Thông tư số 01/2007/TT-BKHCN ngày 14/2/2007 của Bộ Khoa học và Công nghệ Bộ Y tế hiện nay cũng đang soạn thảo thông tư về bắt buộc chuyển giao sáng chế về dược phẩm.
30 Khoản 2 Điều 24 Nghị định số 103/2006/NĐ-CP.
Trang 32việc khai thác thương mại tài sản trí tuệ
Việc kiểm soát và điều chỉnh cụ thể các hành
vi này thuộc phạm vi điều chỉnh của PLCT
với tư cách là pháp luật chuyên ngành Tuy
nhiên, PLCT hiện hành của Việt Nam còn
có một số bất hợp lý, chưa thể điều chỉnh
hợp lý hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị
trường (độc quyền) của DN sở hữu tài sản
trí tuệ và trực tiếp khai thác tài sản này
Thứ nhất, việc DN nắm giữ tài sản trí
tuệ dễ bị đồng nhất với việc nắm giữ vị trí
thống lĩnh thị trường Luật Cạnh tranh quy
định vị trí thống lĩnh thị trường được xác
định thông qua thị phần (từ 30% trở lên)
hoặc “khả năng gây hạn chế cạnh tranh
một cách đáng kể” trên thị trường liên quan
Nghị định số 116/2005/NĐ-CP hướng dẫn
Luật Cạnh tranh lại khẳng định quyền sở
hữu, sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp
là một trong những căn cứ chủ yếu để xác
định “khả năng gây hạn chế cạnh tranh
như thực tiễn áp dụng PLCT trong lĩnh vực
SHTT ở Hoa Kỳ, EU và nhiều nước đang
phát triển khác Nếu quy định đó của Nghị
định số 116/2005/NĐ-CP không được sửa
đổi, nó sẽ ít nhiều cản trở người nắm giữ
tài sản trí tuệ khai thác tài sản đặc biệt này
ở Việt Nam
Thứ hai, hành vi từ chối giao dịch, cụ thể
là từ chối chuyển giao quyền sử dụng tài sản
trí tuệ, chưa được quy định trong PLCT Điều
13 Luật Cạnh tranh liệt kê sáu loại hành vi
lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường bị cấm
Về lý thuyết, hành vi từ chối giao dịch hay
từ chối chuyển giao có thể thuộc hai trong
số sáu loại hành vi bị cấm theo Luật Cạnh
tranh - đó là các hành vi hạn chế phân phối và
ngăn cản việc tham gia (và có thể là mở rộng)
thị trường của những đối thủ cạnh tranh31
Nhưng Nghị định số 116/2005/NĐ-CP khi
31 Xem khoản 4 và 6 Điều 13 Luật Cạnh tranh
(LCT) 2004.
quy định chi tiết sáu loại hành vi lạm dụng
vị trí thống lĩnh thị trường bị cấm lại không
đề cập gì đến hành vi từ chối chuyển giao32
Trong khi đó, Nghị định này quy định “cản
trở sự phát triển kỹ thuật, công nghệ làm thiệt hại cho khách hàng” chỉ là một trong
hai hành vi sau: (i) “mua sáng chế, giải pháp
hữu ích, kiểu dáng công nghiệp để tiêu hủy hoặc không sử dụng”; và “đe dọa hoặc ép buộc người đang nghiên cứu phát triển kỹ thuật, công nghệ phải ngừng hoặc hủy bỏ việc nghiên cứu đó”33 Vì vậy trên thực tế, hành vi từ chối giao dịch hay từ chối chuyển giao, nhất là đối với tài sản trí tuệ do chính
DN có được qua quá trình tự nghiên cứu và phát triển có thể không bị coi là hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thi trường và bị cấm theo PLCT Việt Nam
Thứ ba, việc định giá bán sản phẩm chứa
đựng quyền SHTT quá cao một cách bất
hợp lý (excessive) của DN có vị trí thống
lĩnh thị trường có thể không vi phạm Luật Cạnh tranh Khoản 2 Điều 13 Luật này cấm
DN có vị trí thống lĩnh thị trường thực hiện hành vi áp đặt giá bán bất hợp lý gây thiệt hại cho khách hàng; nhưng theo Nghị định
số 116/2005/NĐ-CP, hành vi này chỉ là việc thay đổi giá bán vượt một giới hạn nhất định trong một khoảng thời gian xác định34 Như vậy, việc định giá bán ngay từ đầu (khi tung sản phẩm ra thị trường Việt Nam) dù cao đến đâu cũng dường như không chịu sự điều chỉnh của PLCT hiện hành
Việc quy định không chặt chẽ, không rõ ràng của PLCT hiện nay khiến cho DN nắm giữ quyền SHTT theo pháp luật Việt Nam
có thể lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường
để khai thác tài sản trí tuệ vượt quá giới hạn cho phép Nhưng trong một chừng mực nhất định, việc không chặt chẽ, không rõ ràng đó cũng có thể khiến DN nắm giữ quyền SHTT hạn chế khai thác thương mại tài sản trí tuệ trên thị trường Việt Nam
32 Xem khoản 3 và 6 Điều 13 LCT 2004; Điều 28 và
31 Nghị định số 116/2005/NĐ-CP.
33 Khoản 3 Điều 28 số Nghị định 116/2005/NĐ-CP.
34 Điều 27 Nghị định số 116/2005/NĐ-CP.
Trang 333.3 Chuyển giao quyền sử dụng tài sản
trí tuệ và các điều khoản hạn chế cạnh
tranh
Các DN thường có xu hướng đưa một số
điều khoản hạn chế cạnh tranh vào trong
hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng tài sản
trí tuệ, kể cả trong hợp đồng nhượng quyền
thương mại, nhằm bảo vệ lợi ích của DN
chuyển giao hay nhận chuyển giao35 Như
đã giới thiệu, vấn đề này đã được thừa nhận
tại Điều 40 Hiệp định TRIPS Tuy nhiên,
các hạn chế cạnh tranh như vậy rất đa dạng,
được thỏa thuận dưới nhiều hình thức và
mức độ khác nhau Vấn đề đặt ra đối với các
DN tham gia quá trình này là xác định được
đâu là giới hạn hợp lý của những thỏa thuận
đó để vẫn đảm bảo khai thác có hiệu quả tài
sản trí tuệ nhưng lại không vi phạm PLCT
Ở Việt Nam trước khi có Bộ luật Dân sự
1995, các vấn đề liên quan đến chuyển giao
tài sản trí tuệ được điều chỉnh bởi Pháp lệnh
Chuyển giao công nghệ nước ngoài vào Việt
Nam năm 198836 Cho dù Pháp lệnh này có
mục đích khuyến khích chuyển giao tài sản
trí tuệ và đầu tư trực tiếp nước ngoài vào
Việt Nam, nó thiết lập một cơ chế quản lý
nghiêm ngặt đối với các hợp đồng chuyển
giao với nhiều biện pháp can thiệp hành
chính Theo đó, một hợp đồng chuyển giao
phải được chuẩn y bởi cơ quan nhà nước có
thẩm quyền; thời hạn của hợp đồng không
quá bảy năm kể từ ngày hợp đồng có hiệu
lực, trừ một số ngoại lệ37 Pháp lệnh còn cấm
bên chuyển giao đưa vào hợp đồng các điều
khoản có tính chất hạn chế cạnh tranh hay
hạn chế quyền tự do của DN nhận chuyển
35 Việc xem xét các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh
liên quan đến chuyển giao quyền sử dụng tài sản trí
tuệ trong các hợp đồng nhượng quyền thương mại
cũng tương tự như trong hợp đồng chuyển giao quyền
sử dụng tài sản trí tuệ nói chung Xem thêm Nguyễn
Thanh Tú, “Nhượng quyền thương mại dưới góc độ
pháp luật cạnh tranh”, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp,
số 3, 2007, tr 41-50.
36 Pháp lệnh Chuyển giao công nghệ nước ngoài
vào Việt Nam năm 1988 (Pháp lệnh CGCN 1988).
37 Xem Điều 13-18 (chuẩn y), Điều 10 (thời hạn)
Pháp lệnh CGCN 1988.
giao (bên Việt Nam), gồm: (i) ràng buộc bên nhận mua nguyên vật liệu hoặc sử dụng nhân lực từ nguồn do bên giao chỉ định; (ii) khống chế quy mô sản xuất, giá cả và phạm vi tiêu thụ sản phẩm của bên nhận; (iii) hạn chế thị trường xuất khẩu của bên nhận; và (iv) hạn chế bên nhận nghiên cứu và phát triển tài sản trí tuệ được chuyển giao hoặc tiếp nhận tài sản trí tuệ tương tự từ các DN khác38
Có vẻ như thông qua các biện pháp kiểm soát đó, Nhà nước Việt Nam muốn bảo vệ các DN trong nước tránh bị bên chuyển giao nước ngoài khai thác, lợi dụng Điều này cũng phản ánh một thực tế là các DN Việt Nam lúc bấy giờ thiếu các kỹ năng đàm phán và quản lý so với đối tác nước ngoài.Sau khi Bộ luật Dân sự 1995 có hiệu lực, hoạt động chuyển giao tài sản trí tuệ tiếp tục được giám sát chặt chẽ nhằm thực hiện quản
lý nhà nước về phát triển công nghệ39 Bộ luật Dân sự 1995 và Nghị định số 45/1998/NĐ-CP quy định chi tiết về chuyển giao công nghệ40 yêu cầu hợp đồng chuyển giao phải được đăng ký hoặc xin phép cơ quan nhà nước có thẩm quyền; thời hạn của hợp đồng
bị giới hạn trong khoảng 7-10 năm41 Đối với giá thanh toán, Nghị định số 45/1998/NĐ-CP quy định giá tài sản trí tuệ không được vượt quá 5% giá bán tịnh của sản phẩm sử dụng tài sản trí tuệ được chuyển giao hoặc không quá 25% lợi nhuận sau thuế trong thời hạn hiệu lực của hợp đồng; nếu việc chuyển giao đó gắn liền với dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài thì giá trị tài sản trí tuệ không vượt quá 8% tổng vốn đầu tư
và 20% vốn pháp định (vốn đăng ký)42.Đối với các điều khoản hạn chế cạnh tranh hay giới hạn quyền tự do của bên nhận,
38 Điều 7 Pháp lệnh CGCN 1988 Các quy định này tương tự như các quy định về CGCN ở các nước đang phát triển khác trong giai đoạn những năm 1970-1980.
40 Nghị định số 45/1998/NĐ-CP ngày 01/7/1998 quy định chi tiết về CGCN.
41 Điều 809 và 810 BLDS 1995; Điều 32 và 15 Nghị định số 45/1998/NĐ-CP.
42 Điều 813 BLDS 1995; Điều 23 Nghị định số 45/1998/NĐ-CP.
Trang 34Nghị định số 45/1998/NĐ-CP đã liệt kê bảy
nhóm hạn chế không được đưa vào hợp đồng
chuyển giao Đó là: (i) buộc bên nhận phải
mua hoặc phải tiếp nhận từ bên giao nguyên
vật liệu, máy móc, thiết bị… (trừ trường hợp
cần thiết); (ii) buộc bên nhận phải chấp nhận
một số hạn mức nhất định về quy mô sản xuất,
số lượng, giá bán, chỉ định đại lý tiêu thụ sản
phẩm cho bên nhận; (iii) hạn chế thị trường
tiêu thụ sản phẩm, thị trường xuất khẩu, khối
lượng và cơ cấu các nhóm sản phẩm được
xuất khẩu của bên nhận; (iv) quy định bên
nhận không được tiếp tục nghiên cứu và phát
triển công nghệ chuyển giao hoặc không
được tiếp nhận những công nghệ tương tự từ
các nguồn khác; (v) buộc bên nhận chuyển
giao vô điều kiện cho bên giao quyền sử dụng
các kết quả cải tiến, đổi mới công nghệ; (vi)
miễn trừ trách nhiệm của bên giao đối với sai
sót của bên giao; và (vii) ngăn cấm bên nhận
tiếp tục sử dụng công nghệ đã được chuyển
giao sau khi hết hạn hợp đồng 43
Các hạn chế bị cấm này này rộng hơn
nhiều so với các hạn chế được quy định
trong Pháp lệnh năm 1988 Tuy nhiên chúng
vẫn không bao hàm hết các hành vi hạn chế
cạnh tranh trong chuyển giao tài sản trí tuệ
nói chung; trong khi nhiều hạn chế bị cấm
đó không thật sự là lạm dụng quyền SHTT
gắn với tài sản trí tuệ Hầu hết các hạn chế
này bị cấm một cách cứng nhắc để bảo vệ lợi
ích của bên nhận, mà không tính đến quyền
và lợi ích hợp pháp của bên giao với tư cách
là người nắm giữ tài sản trí tuệ cũng như lợi
ích khuyến khích cạnh tranh của hoạt động
chuyển giao loại tài sản đặc biệt này Về cơ
bản, đây thực chất là sự áp dụng máy móc
nguyên tắc vi phạm mặc nhiên đối với hầu
hết các điều khoản hạn chế cạnh tranh hay
giới hạn quyền tự do của bên nhận chuyển
giao Vì vậy trong quá trình Việt Nam đàm
phán gia nhập WTO, nhiều thành viên WTO
đã lưu ý rằng Nghị định số 45/1998/NĐ-CP
không phù hợp với Hiệp định TRIPS44
43 Điều 13 Nghị định số 45/1998/NĐ-CP.
44 WTO, “Report of the Working Party on the
Acces-sion of Vietnam”, WT/ACC/VNM/48, 2006, đoạn 441.
Ngày 2/2/2005, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 11/2005/NĐ-CP để thay thế Nghị định số 48/1998/NĐ-CP Nghị định mới này đã hoàn toàn bỏ các hạn chế bị cấm đưa vào hợp đồng chuyển giao cũng như việc kiểm soát hoạt động chuyển giao tài sản trí tuệ Trong chừng mực nhất định, đây
có thể là thiếu sót, vì tại thời điểm ban hành Nghị định này, Luật Cạnh tranh năm 2004, Luật SHTT năm 2005 và Luật Chuyển giao công nghệ năm 2006 chưa có hiệu lực hay chưa được ban hành Vì vậy, các ảnh hưởng hạn chế cạnh tranh của hoạt động chuyển giao tài sản trí tuệ không được điều chỉnh hợp lý
Sau khi có hiệu lực thi hành, Luật SHTT
và Luật Chuyển giao công nghệ là cơ sở pháp lý chính được sử dụng để điều chỉnh các vấn đề liên quan đến hoạt động chuyển giao tài sản trí tuệ Nhìn chung, hai Luật này về nguyên tắc trao quyền cho bên giao
và bên nhận trong hợp đồng chuyển giao tự thỏa thuận và quyết định45 Các quy định về chế độ đăng ký/cấp phép hợp đồng chuyển giao về nguyên tắc (trừ công nghệ bị hạn chế chuyển giao46) hay giới hạn đối với tiền thanh toán đã không còn tồn tại Tuy nhiên, các bên trong hợp đồng chuyển giao
có quyền đăng ký hợp đồng nhằm làm cơ
sở để được hưởng các ưu đãi theo quy định của pháp luật (nếu có)47 Luật Chuyển giao công nghệ không liệt kê các điều khoản bị cấm đưa vào hợp đồng chuyển giao, nhưng lại quy định rõ rằng các bên (đặc biệt là bên giao) không được thoả thuận về điều khoản hạn chế cạnh tranh bị cấm theo quy định của PLCT48
Như vậy, các hạn chế cạnh tranh trong hợp đồng chuyển giao tài sản trí tuệ hiện nay được điều chỉnh theo PLCT Tuy nhiên, PLCT Việt Nam áp dụng trong lĩnh vực
45 Xem khoản 2 Điều 7 Luật SHTT 2005/2009; Điều 5 Luật CGCN 2006.
Trang 35chuyển giao tài sản trí tuệ hiện nay có hai
bất cập cơ bản sau đây:
Thứ nhất, các điều khoản độc quyền hay
không cạnh tranh trong hợp đồng chuyển
giao có thể bị cấm một cách mặc nhiên Về
nguyên tắc, các điều khoản độc quyền hay
không cạnh tranh trong hợp đồng chuyển
giao tài sản trí tuệ thường thúc đẩy hoạt
động chuyển giao và đem lại nhiều lợi ích
khuyến khích cạnh tranh Tuy nhiên trong
chừng mực nhất định, chúng cũng tạo ra
các ảnh hưởng ngăn cản gia nhập hay mở
rộng thị trường, loại bỏ đối thủ cạnh tranh;
chúng về lý thuyết sẽ bị cấm một cách mặc
nhiên theo quy định tại khoản 6 và 7 Điều
8 Luật Cạnh tranh Ngược lại, Luật Chuyển
giao công nghệ lại cho phép các bên trong
hợp đồng được tự thỏa thuận về vấn đề độc
quyền sử dụng công nghệ, giới hạn lãnh thổ
bán sản phẩm chứa đựng công nghệ49 Như
vậy, việc sử dụng độc quyền công nghệ là
hợp pháp theo Luật Chuyển giao công nghệ
nhưng lại có thể bất hợp pháp theo Luật Cạnh
tranh Luật Cạnh tranh là luật chuyên ngành
về cạnh tranh nên được ưu tiên áp dụng;
tức các hành vi độc quyền nói chung trong
hợp đồng chuyển giao tài sản trí tuệ thường
bị cấm và không được miễn trừ theo Luật
Cạnh tranh (ít nhất dưới góc độ lý thuyết)
Điều này sẽ không khuyến khích hoạt động
chuyển giao tài sản trí tuệ ở Việt Nam
Thứ hai, các điều khoản hạn chế cạnh
tranh khác trong hợp đồng chuyển giao tài
sản trí tuệ có thể dễ dàng được miễn trừ
Các bên trong hợp đồng dễ dàng lập luận
rằng hoạt động chuyển giao đem lại lợi ích
khuyến khích cạnh tranh như: thúc đẩy tiến
bộ kỹ thuật, công nghệ; nâng cao chất lượng
hàng hóa, dịch vụ; cho phép người tiêu dùng
được tiếp cận các sản phẩm mới có chất
lượng cao… Nói cách khác, bên giao hay
bên nhận dễ dàng chứng minh được hiệu quả
và lợi ích kinh tế cũng như việc chia sẻ lợi
ích đó cho người tiêu dùng thông qua việc
chuyển giao tài sản trí tuệ Trong khi đó, yêu
cầu về tính cần thiết của hành vi hạn chế
49 Khoản 2 Điều 17 Luật CGCN 2006.
cạnh tranh nhằm đạt được các lợi ích trên và yêu cầu không được triệt tiêu cạnh tranh lại không được đề cập đến trong khoản 1 Điều
10 Luật Cạnh tranh Vì vậy, các điều khoản hạn chế cạnh tranh, trừ các điều khoản về độc quyền, dễ dàng được miễn trừ theo quy định tại khoản 1 Điều 10 Luật này
4 Sử dụng tài sản trí tuệ làm tài sản góp vốn, tài sản bảo đảm
Việc sử dụng tài sản trí tuệ để thương lượng, đàm phán với DN khác cũng như làm tài sản góp vốn trong kinh doanh, tài sản bảo đảm trong vay vốn ngân hàng (tổ chức tín dụng) ngày càng phổ biến trên thế giới Ở Việt Nam, việc Unilever mua lại nhãn hiệu kem đánh răng “P/S” với giá 5 triệu USD và Colgate mua “Dạ Lan” với giá 3 triệu USD
là ví dụ minh họa cho hình thức khai thác thương mại tài sản trí tuệ này50 Tuy nhiên, trong hình thức khai thác thương mại này, việc sử dụng tài sản trí tuệ làm tài sản bảo đảm (thế chấp) để vay vốn ngân hàng, đặc biệt là việc định giá tài sản trí tuệ, là vấn
đề khó khăn nhất và gặp nhiều bất cập nhất hiện nay51
Theo quy định của pháp luật hiện hành,
“tài sản bảo đảm là tài sản hiện có hoặc tài
sản hình thành trong tương lai mà pháp luật không cấm giao dịch” và tài sản bảo đảm
có thể bao gồm cả tài sản trí tuệ vì tài sản trí tuệ là một dạng tài sản theo quy định của
Bộ luật Dân sự 200552 Như vậy, pháp luật cho phép các bên có thể thỏa thuận sử dụng tài sản trí tuệ làm tài sản bảo đảm (cũng như góp vốn) Tuy nhiên, việc sử dụng tài sản
50 Xem http://vneconomy.vn/20101027114 233210P0C5/cau-chuyen-dinh-gia-thuong-hieu.htm.
51 Trong một khảo sát đối với các DN vừa và nhỏ
ở bang New England, Hoa Kỳ năm 2007 cho thấy chỉ
có 18% DN cho biết họ có sử dụng tài sản trí tuệ để làm tài sản bảo đảm vay vốn ngân hàng Xem A.H Raymond, “The Use of Intellectual Property as Collat- eral in Secured Financing: Practical Concerns”, trong
Comparative Law Yearbook of International Business,
Vol 32, Wolters Kluwer Law & Business, 2010.
52 Xem khoản 1 Điều 4 Nghị định số 163/2006/ NĐ/CP ngày 29/12/2006 về giao dịch bảo đảm, được sửa đổi theo Nghị định số 11/2012/NĐ-CP ngày 22/2/2012.
Trang 36trí tuệ để bảo đảm các khoản vay tại ngân
hàng thường gặp nhiều khó khăn và bất cập
không chỉ ở Việt Nam mà cả ở nước ngoài,
trong đó nổi bật là các khó khăn trong định
giá tài sản trí tuệ
Định giá tài sản trí tuệ là một công việc
khó khăn, mang tính chuyên môn rất cao
Dưới góc độ kinh tế, một tài sản trí tuệ có
thể được định giá thương mại theo một
trong (hoặc kết hợp cả) ba phương pháp chủ
yếu sau: theo chi phí (cost approach), theo
thị trường (market approach), và theo thu
nhập (income approach)53 Việc xác định
tổng chi phí đầu tư nghiên cứu và phát triển
tài sản trí tuệ để từ đó định giá tài sản này
thường không chính xác vì các chi phí như
vậy rất khó có thể thống kê đầy đủ, và giá trị
thương mại của tài sản trí tuệ có thể lớn hơn
rất nhiều so với tổng chi phí đầu tư thực tế54
Định giá tài sản trí tuệ thông qua thị trường
thường khó khăn vì thị trường tài sản trí tuệ
có giới hạn, khó có thể xác định tài sản trí
tuệ tương tự (nhất là trường hợp Việt Nam),
và các hợp đồng chuyển giao quyền sở hữu
và quyền sử dụng tài sản trí tuệ trên thực
tế thường được bảo mật cao Theo phương
pháp tiếp cận theo thu nhập, người định giá
xác định giá trị hiện tại của các dòng tiền
liên quan đến tài sản trí tuệ để từ đó ước
tính dòng tiền (và lợi nhuận) trong tương lai,
và từ đó xác định được giá trị của tài sản
trí tuệ này Mặc dù phương pháp thứ ba có
tính chính xác cao hơn hai phương pháp đầu
nhưng phải sử dụng nhiều thông số để phân
tích và rất phức tạp Ngoài ra, cần lưu ý là
tài sản trí tuệ có thể mất giá trị thương mại
trong một khoảng thời gian ngắn hơn thời
gian bảo hộ theo pháp luật SHTT
Trước năm 2010, nhãn hiệu (tên thương
mại) “Vinashin” của Tập đoàn Công nghiệp
Tàu thủy Việt Nam (Vinashin) từng được
53 Xem các phương pháp thẩm định giá quy định tại
Thông tư số 17/2006/TT-BTC ngày 13/3/2006 hướng
dẫn thực hiện Nghị định số 101/2005/NĐ-CP về thẩm
định giá Xem thêm A.H Raymond, chú thích số 51.
54 Xem Hệ thống chuẩn mực kế toán Việt Nam – Chuẩn
mực số 04: Tài sản cố định vô hình được ban hành kèm theo
Quyết định số 149/2001/QĐ-BTC (đoạn 36-52).
định giá cao nhờ sự phát triển theo chiều rộng
và bề nổi của Tập đoàn Vì vậy Tập đoàn này đã góp vốn bằng nhãn hiệu “Vinashin” với nhiều DN trong và ngoài nước nhằm thành lập các DN liên doanh; theo đó giá trị nhãn hiệu này đã được định giá (giá trị góp vốn) khoảng 30% giá trị của DN mới Tuy nhiên, từ khi những bất cập trong quản lý
và thực trạng thua lỗ của Tập đoàn bị công khai, những sự kỳ vọng trước đây về nhãn hiệu “Vinashin” đã sụp đổ, nhãn hiệu này hầu như mất hết giá trị, thậm chí còn là trở ngại đối với DN liên quan khi vay vốn ngân hàng55 Chính vì khó khăn trong định giá nhãn hiệu khiến cho Bộ Tài chính mặc dù đã soạn thảo dự thảo Thông tư hướng dẫn thực hiện góp vốn và nhận góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng nhãn hiệu từ cuối năm 2009 nhưng đến thời điểm này vẫn chưa thể ban hành Tuy nhiên cần lưu ý rằng một thông
tư như vậy chỉ nhằm hướng dẫn về mặt kế toán mà thôi
Mặc dù có thể định giá chính xác trong hoạt động bảo đảm vay vốn ngân hàng bằng tài sản trí tuệ, bên cho vay có nhiều quan ngại đối với loại hình tài sản bảo đảm đặc biệt này vì giá trị tài sản trí tuệ có thể mất
đi nếu chủ sở hữu đích thực của tài sản này không còn trực tiếp sử dụng nó Ví dụ một sáng chế có thể không được khai thác thương mại bởi một DN thứ ba nếu DN đó không được chủ sở hữu sáng chế chuyển
giao các bí quyết kỹ thuật (know-how) trong
việc sử dụng sáng chế; một nhãn hiệu có thể
sẽ mất giá trị nếu nó được khai thác bởi một
DN thứ ba hoàn toàn không liên quan gì đến
DN từng là chủ sở hữu đích thực nhãn hiệu
55 Tính đến 31/12/2007, Vinashin đã sử dụng thương hiệu để góp vốn vào 103 công ty cổ phần, liên doanh với giá trị quy ra tiền tới 2.067 tỷ đồng, tính bằng 30% tổng vốn điều lệ doanh nghiệp nhận góp vốn Xem Công văn số 15576/BTC-TCDN ngày 22/12/2008 của Bộ Tài chính về việc xin ý kiến dự thảo Thông tư liên tịch hướng dẫn thực hiện góp vốn bằng giá trị quyền sở hữu công nghiệp; “Góp vốn bằng thương hiệu: DN “bơi” cách nào cũng đúng”, http:// dddn.com.vn/20110512042243279cat177/gop-von- bang-thuong-hieu dn-boi-cach-nao-cung-dung.htm
Trang 37đó trong quá khứ; việc khai thác quyền tác
giả sẽ gặp khó khăn vì có thể vướng quyền
nhân thân của tác giả…
Như vậy, việc định giá tài sản trí tuệ là
một vấn đề rất phức tạp và khó khăn, nhất
là ở một nước nơi mà thị trường tài sản trí
tuệ chưa được phát triển như Việt Nam hiện
nay Trong giao dịch bảo đảm, việc định giá
tài sản trí tuệ có thể phải tiến hành hai lần:
lần thứ nhất là khi chuẩn bị giao kết hợp
đồng bảo đảm và hợp đồng tín dụng; và lần
thứ hai là khi xử lý tài sản bảo đảm trong
trường hợp DN đi vay không hoàn trả đúng
và đủ theo quy định của hợp đồng tín dụng
Trong lần định giá thứ hai, thông thường giá
trị tài sản trí tuệ sẽ bị giảm mạnh Điều này
càng cản trở ngân hàng chấp nhận tài sản trí
tuệ là tài sản bảo đảm
5 Một số nhận xét
Chiến lược của các DN hiện nay là không
chỉ dừng lại ở việc sử dụng các công cụ tố
tụng để bảo vệ tài sản trí tuệ mà phải tập
trung vào việc quản lý và khai thác thương
mại có hiệu quả tài sản trí tuệ Do đó, mỗi
DN cần xây dựng và triển khai một chiến
lược quản lý và khai thác tài sản trí tuệ phù
hợp nhằm tăng cường vị thế và khả năng
cạnh tranh DN nói riêng và cả nền kinh tế
quốc gia nói chung Trong thời gian qua,
Việt Nam đang từng bước hoàn thiện hệ
thống pháp luật SHTT cũng như pháp luật
liên quan đến khai thác thương mại tài sản
trí tuệ Bên cạnh đó, Chính phủ cũng đã thực
hiện nhiều biện pháp nhằm tuyên truyền,
phổ biến kiến thức cho các DN về việc quản
lý và khai thác thương mại tài sản trí tuệ,
nhất là các DN vừa và nhỏ56 Tuy nhiên như
đã trình bày, việc khai thác thương mại tài
sản trí tuệ phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong
đó nỗ lực và đầu tư của DN đóng vai trò hết
sức quan trọng Để khai thác thương mại tài
sản trí tuệ thành công, DN và cơ quan nhà
56 Xem Mục II.3(đ) Chương trình hành động của
Chính phủ thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 BCH
Trung ương Đảng khóa X về một số chủ trương, chính
sách lớn đển nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững
khi Việt Nam là thành viên của WTO (ban hành kèm theo
Nghị quyết số 16/2007/NQ-CP ngày 27/2/2007).
nước có thẩm quyền cần lưu ý một số vấn
đề sau:
Thứ nhất, việc khai thác thương mại tài
sản trí tuệ phải tuân thủ các quy định của pháp luật quản lý chuyên ngành;
Thứ hai, DN khi trực tiếp khai thác tài sản
trí tuệ cũng như khi chuyển giao và nhận chuyển giao tài sản trí tuệ để khai thác cần phải quan tâm đến PLCT để việc khai thác như vậy không vi phạm PLCT Có thể thấy các hành vi hạn chế cạnh tranh liên quan đến khai thác thương mại tài sản trí tuệ diễn ra
ở Việt Nam về nguyên tắc sẽ chịu sự điều chỉnh của PLCT; nhưng các quy định này hiện nay vừa rất nghiêm khắc và cứng nhắc trong một số trường hợp, đồng thời lại lỏng lẻo, tự do trong nhiều trường hợp khác
Vì vậy PLCT của Việt Nam cần phải hoàn thiện để một mặt thực sự hỗ trợ việc khai thác thương mại tài sản trí tuệ của DN và mặt khác kiểm soát, ngăn chặn hợp lý, có hiệu quả các hành vi hạn chế cạnh tranh, ảnh hưởng đến quyền lợi người tiêu dùng
và phúc lợi chung trong quá trình khai thác
đó Khi áp dụng PLCT, các cơ quan có thẩm quyền về cạnh tranh của Việt Nam cần phải xem xét các đặc tính đặc biệt của tài sản trí tuệ và các lợi ích khuyến khích cạnh tranh của việc khai thác tài sản trí tuệ đó mang lại Bên cạnh đó, DN cũng cần vận dụng PLCT
để có thể tiếp cận tài sản trí tuệ của DN khác;
Thứ ba, định giá tài sản trí tuệ đóng vai
trò quyết định đối với việc sử dụng tài sản trí tuệ làm tài sản góp vốn hay tài sản bảo đảm; các bên liên quan phải hết sức chú trọng vấn
đề định giá này Nhà nước cần có chính sách tài chính và pháp lý thích hợp nhằm hỗ trợ hoạt động định giá tài sản trí tuệ
Trong mọi kịch bản, vấn đề quan trọng nhất hiện nay là phải xây dựng và vận hành tốt thị trường tài sản trí tuệ ở Việt Nam..
Trang 381 Giới thiệu
Làm thế nào để giải quyết vấn đề bảo vệ
môi trường trong cơ chế của Tổ chức Thương
mại Thế giới (WTO) là một nội dung quan
trọng trong mảng những vấn đề phi thương
mại (non-trade issues) của tổ chức này Tổ
chức thương mại thế giới (WTO) hoạt động
trên cơ sở nguyên tắc không phân biệt đối xử
(principle of non-discrimination)1 và nguyên
tắc tự do hóa hoạt động thương mại (principle
of free trade) Các nguyên tắc này không cho
phép các thành viên của WTO áp dụng các
biện pháp hạn chế xuất khẩu, nhập khẩu (Điều
XI Hiệp định GATT),2 cấm sự phân biệt đối xử
giữa các hàng hóa nhập khẩu tương tự (Điều I
Hiệp định GATT) và cấm sự phân biệt đối xử
đối với hàng hóa nhập khẩu từ các quốc gia
thành viên khác theo hướng ưu đãi hơn đối với
các sản phẩm nội địa tương tự (Điều III Hiệp
định GATT) Trên thực tế, các biện pháp hoặc
chính sách có mục tiêu bảo vệ môi trường của
các quốc gia thành viên đôi khi có thể dẫn đến
các hạn chế thương mại vốn đi ngược lại mục
tiêu của tổ chức này Ví dụ như, một thành viên
của tổ chức này có thể hạn chế nhập khẩu các
chất có thể gây hại cho môi trường như amiant
chẳng hạn Những biện pháp như thế có thể
xung đột với nguyên tắc tự do hóa thương mại
được ghi nhận trong Hiệp định GATT Câu hỏi
* ThS Luật học, Giảng viên khoa Luật Quốc tế,
Trường ĐH Luật Tp Hồ Chí Minh.
1 Bao gồm chế độ đãi ngộ tối huệ quốc (Most
Fa-vourited Nations) và chế đội đãi ngộ quốc gia
(Na-tional Treatment).
2 Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại của
tổ chức Thương mại Thế giới (General Agreement on
Tariffs and Trade).
đặt ra là: có cách nào giúp cân bằng giữa một bên là nguyên tắc tự do hóa thương mại và một bên là sự cần thiết phải bảo vệ môi trường?
Uỷ ban về Thương mại và Môi trường của WTO (The Committee on Trade and Environment) đã được thiết lập khi WTO ra đời vào năm 1995, tuy nhiên, do những khó khăn về chính trị, ủy ban này đã thất bại trong việc xây dựng một kết nối hợp lý giữa hai mảng thương mại và môi trường Trong khi đó, các tranh chấp liên quan đến mối quan hệ giữa hai mảng này vẫn tăng lên Trong bối cảnh ấy, những phán quyết của Ban hội thẩm hay Cơ quan phúc thẩm có thể trở thành những cơ sở pháp lý hữu ích không chỉ trong việc giúp giải quyết những tranh chấp xảy ra sau này trong phạm vi WTO mà còn trong việc hoạch định các chính sách liên quan đến vấn đề bảo vệ môi trường trong tương lai
2 Các quy định của Tổ chức Thương mại Thế giới về vấn đề môi trường
Như đã đề cập đến ở trên, Hiệp định GATT
1994 trong lĩnh vực thương mại hàng hóa của WTO không cho phép các quốc gia thành viên
sử dụng các biện pháp hạn chế định lượng trong điều tiết thương mại như hạn ngạch nhập khẩu hoặc dưới bất kỳ hình thức nào khác Quy định
về “mức thuế trần” cũng không cho phép các quốc gia thành viên áp thuế đối với sản phẩm nhập khẩu cao hơn mức đã ghi nhận trong biểu cam kết của họ Ngoài ra, thành viên tổ chức này cũng không được áp dụng các biện pháp dành ưu đãi cho một sản phẩm của một nước thành viên khác trong khi một sản phẩm tương
tự của một nước thứ ba khác lại không nhận được sự đối xử ưu đãi như vậy Tuy nhiên,
MỘT SỐ TRANH CHẤP TRONG KHUÔN KHỔ WTO
LIÊN QUAN ĐẾN MÔI TRƯỜNG
NGUYỄN THỊ LAN HƯƠNG*
Trang 39Điều XX của Hiệp định GATT 1994 đưa ra
một số trường hợp ngoại lệ đối với các quy
định kể trên
Điều XX Hiệp định GATT 1994 bao gồm
phần giới thiệu hay còn gọi là phần quy định
chung (“chapeau”) và mười trường hợp ngoại
lệ từ mục (a) đến mục (j) Nếu một biện pháp
của một quốc gia thành viên thuộc một trong
các trường hợp quy định trong mục (a) đến
mục (j) thì biện pháp đó được loại trừ khỏi các
quy định cấm của Hiệp định GATT về hạn chế
thương mại Tuy nhiên, phần quy định chung
của Điều XX quy định các điều kiện cần thiết
mà một biện pháp cần phải đáp ứng để được
hưởng sự loại trừ đó Trong số các trường hợp
quy định tại Điều XX của Hiệp định GATT,
mục (b) liên quan đến cả vấn đề môi trường và
an toàn thực phẩm Mục này quy định ngoại lệ
đối với các quy định cấm của GATT nếu điều
đó là cần thiết thể bảo vệ sức khoẻ và sự sống
của con người và động thực vật Điều XX (g)
của GATT quy định rằng các biện pháp liên
quan đến việc bảo tồn các nguồn tài nguyên
thiên nhiên đang cạn kiệt sẽ được loại trừ khỏi
các nguyên tắc của GATT nếu các biện pháp
đó không phải là những biện pháp được quy
định tùy tiện hoặc phi lý hoặc là những hạn chế
trá hình đối với thương mại quốc tế
3 Các tranh chấp liên quan đến vấn đề
môi trường trong khuôn khổ WTO
Vấn đề bảo vệ môi trường có một vị trí
riêng biệt trong thể chế của WTO Lời nói
đầu của Hiệp định Marrakesh thành lập Tổ
chức Thương mại Thế giới tuyên bố rằng các
bên của hiệp định tham gia vào quá trình tự
do hóa thương mại nhằm nâng cao tiêu chuẩn
sống và đảm bảo đầy đủ việc làm “trong khi
vẫn theo đuổi mục tiêu bảo vệ và bảo tồn môi
trường ” Tuy nhiên, trên thực tế, sự hòa hợp
giữa thương mại tự do và việc bảo vệ môi
trường không dễ dàng Có thể xảy ra sự căng
thẳng giữa nguyên tắc tự do hóa thương mại
hình thành nên thể chế của WTO và các biện
pháp được ban hành bởi các quốc gia thành
viên WTO nhằm bảo vệ môi trường Các vụ
tranh chấp được đề cập đến trong phần dưới
đây thể hiện rõ điều đó
a Vụ Hoa Kỳ - Xăng dầu3 Đây là một trong những vụ tranh chấp đầu tiên được đưa ra WTO sau khi tổ chức này được thành lập Hoa Kỳ đã quyết định kiểm soát các chất thải vào không khí xuất phát từ nhiên liệu dùng cho xe ôtô với mục đích kiểm soát mức
độ ô nhiễm không khí ở các thành phố lớn
Thông qua Đạo luật không khí sạch (Clean Air
Act), chính phủ Hoa Kỳ đã xây dựng quy tắc
theo đó từ năm 1998, tất cả các nhà máy lọc dầu trên lãnh thổ Hoa Kỳ phải sản xuất xăng theo tiêu chuẩn chất lượng được thiết lập bởi chính phủ Giai đoạn từ năm 1993 đến 1998 được coi là giai đoạn chuyển đổi mà các nhà máy lọc dầu được phép sản xuất xăng theo chất lượng mà các nhà máy này đạt được tại mốc năm 1990, giai đoạn này được coi là để chuẩn
bị cho việc nâng cấp chất lượng xăng sẽ bắt đầu vào năm 1998 Do đó, nếu một nhà máy lọc dầu trên lãnh thổ Hoa Kỳ đã sản xuất xăng vào năm 1990 với chất lượng thấp, họ có thể duy trì mức chất lượng đó đến năm 1998 trong khi một nhà máy lọc dầu đã sản xuất xăng với chất lượng cao vào năm 1990 vẫn duy trì mức chất lượng đó
Đối với xăng nhập khẩu, các tiêu chuẩn hơi khác một chút Trong giai đoạn chuyển đổi này, mỗi đơn vị xăng nhập khẩu phải đáp ứng tiêu chuẩn chất lượng ở mức trung bình trên cơ
sở tất cả xăng được sản xuất trong giai đoạn này ở Hoa Kỳ Brazil và Venezuela, hai quốc gia xuất khẩu xăng vào Hoa Kỳ đã cho rằng đây là sự đối xử khác biệt đối với xăng nhập khẩu và do đó vi phạm khoản 4 Điều III Hiệp định GATT vì các doanh nghiệp lọc dầu nước ngoài không thể đảm bảo việc giữ chất lượng xăng mà họ đạt được vào năm 1990 tương tự như các doanh nghiệp lọc dầu Hoa Kỳ Ban hội thẩm đã cho rằng biện pháp mà Hoa Kỳ
sử dụng vi phạm khoản 4 Điều III GATT; phía Hoa Kỳ đã kháng cáo kết luận này
Cơ quan phúc thẩm đã áp dụng quy định tại Điều XX(g) và cho rằng biện pháp của Hoa Kỳ đáp ứng được những yêu cầu thuộc trường hợp
3 Hoa Kỳ- Tiêu chuẩn đối với xăng dầu thường và xăng dầu tái chế, WT/DS2/R/DSR, 1996 WT/DS2/ AB/R/DSR, 1996.