NHÌN TỪ NGUYÊN TẮC SUY ĐOÁN TÀI SẢN CHUNG
3. Vướng mắc trong việc áp dụng
Hiện nay, khi sự bất bình đẳng giữa vợ và chồng trên thực tế vẫn hiện diện thì nguyên tắc suy đoán tài sản chung được xem là “điểm son pháp lý” có ý nghĩa trong việc bảo vệ quyền con người, quyền của vợ chồng về tài sản. Song với hàm ý chỉ dừng lại ở một “sự suy đoán”, việc vận dụng nguyên tắc này để giải quyết tranh chấp tài sản chung là quyền sử dụng đất do một bên vợ, chồng đứng tên đã, đang gặp trở lực khó khăn.
- Trở lực đầu tiên là hiện nay, pháp luật về bảo vệ quyền con người - quyền của vợ chồng đối với tài sản là quyền sử dụng đất được qui định tại nhiều văn bản pháp luật chuyên ngành, một số qui phạm pháp luật chưa đồng bộ, thiếu khuyết dẫn đến việc xác định chủ sử dụng đất, chủ sở hữu nhà ở gắn liền với đất trên thực tế còn bất nhất, quyền của vợ chồng về tài sản vì vậy chưa được bảo vệ trọn vẹn. Chẳng hạn, theo pháp luật hôn nhân gia đình thì quyền sử dụng đất mà vợ hoặc chồng “có được” trước khi kết hôn là tài sản riêng trừ trường hợp người có tài sản thỏa thuận nhập vào tài sản đó vào tài sản chung.
Theo pháp luật dân sự và pháp luật đất
đai3 thì chỉ xem quyền sử dụng đất, nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (chủ sở hữu nhà ở gắn liền với đất đồng thời là chủ sử dụng đất) là tài sản riêng có trước kết hôn nếu tài sản đó đã được xác lập quyền sở hữu về mặt pháp lý trước thời kỳ hôn nhân. Tuy nhiên, thực tiễn đời sống hôn nhân gia đình đã phát sinh không ít trường hợp nam, nữ thực hiện giao dịch liên quan đến quyền sử dụng đất, nhà ở gắn với đất bằng tài sản riêng trước khi kết hôn nhưng thời điểm chuyển quyền tài sản hoàn tất trong thời kỳ hôn nhân, nếu dựa vào nguyên tắc suy đoán để xác định đây là tài sản chung của vợ chồng thì quyền lợi chính đáng của công dân không đảm bảo.
Ngược lại, trường hợp cá nhân “có được” tài sản là nhà đất trước khi kết hôn nhưng nhà đất được chuyển nhượng bằng tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, nếu căn cứ vào qui định của pháp luật hôn nhân và gia đình để xác định nhà đất là tài sản riêng do có trước kết hôn cũng không thỏa đáng. Ví dụ,
3 Theo khoản 1 Điều 168, Điều 692 BLDS; Điều 46 Luật Đất đai và khoản 4 Điều 146 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29.11.2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai thì việc chuyển quyền sử dụng đất và các hợp đồng về quyền sử dụng đất có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký. Theo Điều 11 Luật Nhà ở năm 2005, nếu nhà ở gắn liền với đất và chủ sở hữu nhà ở đồng thời là chủ sử dụng đất (cấp một giấy chứng nhận quyền sở hữu - nay là giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất) và khi chủ sở hữu nhà, đất thực hiện các giao dịch dân liên quan thì quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở gắn với đất được xác lập cho người nhận chuyển quyền kể từ thời điểm đăng ký.
Tuy nhiên, nếu chủ sở hữu nhà ở không đồng thời là chủ sử dụng đất ở (cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà, trừ trường hợp bên bán nhà ở là tổ chức có chức năng kinh doanh nhà ở hoặc các bên có thỏa thuận khác) thì quyền sở hữu nhà ở được chuyển cho bên mua, bên nhận tặng cho… kể từ thời điểm hợp đồng được công chứng đối với giao dịch về nhà ở giữa cá nhân với cá nhân hoặc đã giao nhận nhà ở theo thỏa thuận trong hợp đồng đối với giao dịch về nhà ở mà một bên là tổ chức kinh doanh nhà ở hoặc từ thời điểm mở thừa kế trong trường hợp nhận thừa kế nhà ở (khoản 5 Điều 93 Luật Nhà ở năm 2005).
Năm 2007, ông Trần H và bà Trịnh Thị K xin ly hôn và các bên tranh chấp nhà đất tại số 16, ngõ 2, Giảng Võ, Cát Linh, Hà Nội. Bản án sơ thẩm số 86/HNGĐ ngày 24.12.2007 của TAND quận ĐĐ, HN và bản án phúc thẩm số 19/2008/HNGĐ ngày 25.3.2008 của TAND thành phố HN đều quyết định chia nhà đất cho ông H, bác yêu cầu của bà K. Sau xét xử phúc thẩm, bà K khiếu nại, Viện kiểm sát NDTC đã kháng nghị bản án vì trên thực tế, nhà đất tranh chấp do cơ quan chức trách chỉ mới duyệt bán cho ông H vào năm 1999 còn toàn bộ quá trình ký hợp đồng, đóng tiền, đăng ký quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất được thực hiện trong thời kỳ hôn nhân của ông H và bà K. Theo nguyên tắc suy đoán tài sản chung, Tòa án phải xác định nhà đất trên là tài sản chung của vợ chồng nếu ông H không chứng minh được đây là tài sản riêng. Ở đây, Tòa án sơ, phúc thẩm chưa làm rõ tiền mua nhà đất là tiền chung hay tiền riêng và đóng góp của các bên ra sao mà chỉ căn cứ vào thời điểm ông H được xét mua nhà trước kết hôn và việc một mình ông đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất để xác định nhà đất trên “có được”
trước thời kỳ hôn nhân và thuộc quyền sở hữu của ông H là chưa đủ cơ sở thuyết phục (Ông H, bà K kết hôn năm 2000. Hồ sơ vụ án cho thấy 613.000.000 đồng tiền mua nhà là do vợ chồng ông H vay và số tiền 800.000.000 đồng sửa chữa nhà sau đó là tài sản chung của vợ chồng). Việc các cấp Tòa án không vận dụng nguyên tắc suy đoán tài sản chung để giải quyết tranh chấp trong trường hợp này đã làm phương hại đến quyền lợi hợp pháp của bà K.
Chính vì vậy, Hội đồng thẩm phán TANDTC với Quyết định giám đốc thẩm số 23/2010/
DS - GĐT ngày 6.5.2010 đã hủy phần chia tài sản chung của bản án sơ thẩm và phúc thẩm, trả hồ sơ để Tòa án có thẩm quyền giải quyết lại là có căn cứ.
- Thử thách khác khá phổ biến mà Tòa án cũng như đương sự phải đối mặt trong quá
trình giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất do một bên vợ, chồng đứng tên là việc cung cấp chứng cứ chứng minh. Trong nguyên tắc suy đoán tài sản chung, chứng cứ là yếu tố quyết định việc xác định chủ sở hữu tài sản.
Cho nên, quyền sử dụng đất có trong thời kỳ hôn nhân mà phát sinh tranh chấp thì vợ chồng mà đặc biệt là bên đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phải có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ chứng minh. Về nguyên tắc, các tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được hoặc hiện vật khác liên có quan đến vụ án do đương sự cung cấp đều được Tòa án xem xét. Song do quan hệ vợ chồng xác lập dựa trên yếu tố tình cảm gắn bó, các bên cùng chung sức tạo dựng tài sản và thực hiện quyền sở hữu tài sản vì lợi ích chung nên ranh giới tài sản chung - riêng khi hôn nhân tồn tại thường rất khó phân định. Mặc khác, do đặc thù của quan hệ hôn nhân gia đình nên việc xác lập các giao dịch liên quan đến quyền sử dụng đất của vợ chồng đa phần mang tính thực tế; việc cung cấp chứng cứ khi có tranh chấp vì vậy được xem là thử thách đầy nan giải. Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 (sửa đổi bổ sung năm 2011) qui định việc cung cấp chứng cứ thuộc trách nhiệm của đương sự, Toà án chỉ tiến hành thu thập chứng cứ khi đương sự đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết để thu thập mà vẫn không thể tự mình thu thập được và có yêu cầu. Thực tế có nhiều trường hợp cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan từ chối yêu cầu cung cấp chứng cứ của vợ chồng mà việc chối từ này không qua văn bản dẫn đến hiện trạng là chồng, vợ khó có thể chứng minh việc họ “đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết” nhưng vẫn không thu thập được chứng cứ để làm cơ sở yêu cầu Tòa án thu thập chứng cứ nhằm bảo vệ quyền tài sản hợp pháp của mình.
- Để bảo vệ quyền của vợ chồng về mặt tài sản, hiện nay, khi giải quyết những vụ án mà quyền sử dụng đất do một bên vợ, chồng đứng tên hộ người thứ ba, một số Tòa án đã áp dụng nguyên tắc suy đoán tài sản chung và
xác định đất tranh chấp là tài sản chung của vợ chồng làm ảnh hưởng đến quyền của chủ sử dụng đất. Đồng thời, đối với các vụ án mà quyền sử dụng đất do một bên vợ, chồng đứng tên hộ người thứ ba trong khi người thứ ba thuộc đối tượng không được sở hữu bất động sản tại Việt Nam, Tòa án dù xác định quyền sử dụng đất tranh chấp là của người thứ ba song lại quyết định giao quyền sử dụng đất đó cho một trong hai bên vợ, chồng theo yêu cầu của người thứ ba khiến quyền của các bên tranh chấp không được đảm bảo. Chẳng hạn, trong thời kỳ hôn nhân, Anh Kh nhận chuyển nhượng diện tích đất 11.656 m2. Tuy anh Kh đứng tên nhận chuyển nhượng, kê khai và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng chị L và bà X, cô ruột chị L đang định cư ở nước ngoài đều cho rằng toàn bộ diện tích đất thuộc quyền sử dụng của bà X vì bà X đã gửi tiền về nhờ chị L và anh Kh chuyển nhượng và đứng tên hộ. Trong quá trình giải quyết vụ án ly hôn với chị L, anh Kh thừa nhận tiền để nhận chuyển nhượng đất trên là của bà X nhưng lại cho rằng bà X đã cho vợ chồng anh số tiền đó nên quyền sử dụng đất là tài sản chung của vợ chồng. Trong trường hợp này, lẽ ra cần định giá giá trị quyền sử dụng đất và giao cho anh Kh hoặc chị L sử dụng nếu họ có nhu cầu (sau khi đã thanh toán cho bà X số tiền bà đã gửi, nếu định giá đất cao hơn giỏ mua thỡ thanh toỏn thờm cho bà X ẵ số tiền dư, ẵ số tiền cũn lại thỡ chia cho anh Kh và chị L) thì TAND địa phương qua hai lần xét xử sơ và phúc thẩm đều xác định đất tranh chấp là của bà X và giải quyết chấp nhận sự ủy quyền của bà X cho chị L đứng tên. Việc Tòa án không thừa nhận quyền sử dụng đất là tài sản chung theo yêu cầu của anh Kh dù quyền sử dụng do anh Kh đang đứng tên trên giấy chứng nhận là có căn cứ bởi theo nguyên tắc suy đoán tài sản chung, anh Kh đã không trình được chứng cứ chứng minh bà X có cho tiền để nhận chuyển nhượng đất. Tuy nhiên, xác định diện tích đất là của bà X và chấp nhận sự
sự ủy quyền của bà X cho chị L đứng tên là không đúng tinh thần pháp luật. Nguyên do là bà X đang định cư ở nước ngoài, không đầu tư kinh doanh tại Việt Nam nên theo qui định, bà không thuộc đối tượng được sở hữu bất động sản tại Việt Nam. Cũng vì hướng xử lý không phù hợp này mà tại Quyết định số 17/2007/
DS - GĐT ngày 6.6.2007, HĐTPTANDTC đã quyết định hủy bản án dân sự phúc thẩm số 13/HNPT ngày 8.4.2004 của Tòa phúc thẩm TANDTC cao tại TP.HCM và bản án dân sự sơ thẩm số 126/HNST ngày 17.12.2003 của TAND thành phố Cần Thơ về phần đất, trả hồ sơ vụ án để cơ quan chức năng xét xử lại.
- Ngoài ra, trong quá trình áp dụng nguyên tắc suy đoán tài sản chung để giải quyết các tranh chấp về quyền sử dụng đất giữa vợ chồng còn tồn tại bất cập đáng quan ngại.
Nhiều trường hợp Tòa án chỉ căn cứ vào lời khai và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do một bên vợ chồng đứng tên trong thời kỳ hôn nhân để phân định quyền sử dụng đất cho các bên mà không xác minh diện tích đất thực tế dẫn đến hậu quả là nhiều bản án không thi hành được (vì diện tích đất được phán quyết không đúng với diện tích đất thực tế tranh chấp), quyền của chủ sử dụng đất xác định theo bản án của Tòa án vì vậy không được hoặc chậm được thực thi. Thực tế cũng cho thấy không ít trường hợp vợ chồng được cha mẹ tặng cho quyền sử dụng đất mà việc cho tặng không theo hình thức qui định của pháp luật, khi vợ chồng ly hôn và có tranh chấp, có Tòa án đã công nhận hợp đồng tặng cho và áp dụng nguyên tắc suy đoán tài sản chung để xác định quyền sử dụng đất là tài sản chung (do được tặng cho chung) của vợ chồng dù một bên đứng tên trên giấy chứng nhận;
nhưng có Tòa án xác định hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất không có giá trị pháp lý và quyết định giao quyền sử dụng đất cho bên đứng tên trên giấy chứng nhận làm ảnh hưởng đến quyền lợi chính đáng của bên vợ, chồng còn lại.