1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Cái tôi trữ tình trong thơ huy cận

124 48 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 124
Dung lượng 834,05 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Huy Cận có hai mảng sáng tác trước và sau cách mạng, hai mảng sáng tác này thể hiện khá rõ sự vận động của cái tôi trữ tình trong thơ, tuy nhiên sự vận động này không làm mất đi nét độc

Trang 1

PHAN THÁI QUỐC TÂN

CÁI TÔI TRỮ TÌNH TRONG THƠ HUY CẬN

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

Mã số: 60.22.01.21

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Phong Nam

Đà Nẵng – Năm 2015

Trang 2

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi

Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả luận văn

Phan Thái Quốc Tân

Trang 3

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

3 Phương pháp nghiên cứu 3

4 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 3

5 Bố cục luận văn 9

CHƯƠNG 1 HUY CẬN VÀ CON ĐƯỜNG HÌNH THÀNH CÁI TÔI TRỮ TÌNH TRONG THƠ 11

1.1 VÀI NÉT VỀ CÁI TÔI TRỮ TÌNH TRONG THƠ VIỆT NAM HIỆN ĐẠI .11

1.1.1 Khái niệm “hình tượng cái tôi trữ tình” 11

1.1.2 Cái tôi trữ tình trong Thơ Mới và thơ Việt Nam nửa sau thế kỷ XX 14

1.2 QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT VÀ HÀNH TRÌNH SÁNG TÁC THƠ HUY CẬN 20

1.2.1 Quan niệm nghệ thuật về thơ của Huy Cận 20

1.2.2 Hành trình sáng tác thơ Huy Cận 22

1.3 VỊ TRÍ HUY CẬN TRONG DÒNG MẠCH CỦA THƠ CA HIỆN ĐẠI VIỆT NAM 26

1.3.1 Huy Cận trong Thơ Mới 26

1.3.2 Huy Cận và thơ sau Cách mạng 29

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 31

CHƯƠNG 2 NÉT ĐẶC SẮC CỦA CÁI TÔI TRỮ TÌNH THƠ HUY CẬN .32

2.1 CÁI TÔI SẦU MUỘN VÀ ĐẬM CHẤT CỔ ĐIỂN 32

2.1.1 Cái tôi sầu muộn, lạc loài 32

Trang 4

HÀO, NGỢI CA 43

2.2.1 Cái tôi công dân dấn thân, nhập cuộc 43

2.2.2 Cái tôi tự hào, ngợi ca 48

2.3 CÁI TÔI CỦA NIỀM SUY TƯỞNG VƯƠN RA VŨ TRỤ VÀ CÁI TÔI BẮT RỄ TRONG CỘI NGUỒN TRUYỀN THỐNG 53

2.3.1 Cái tôi của niềm suy tưởng vươn ra vũ trụ 53

2.3.2 Cái tôi bắt rễ trong cội nguồn truyền thống 57

2.4 CẢM THỨC KHÔNG-THỜI GIAN TRONG THƠ HUY CẬN 62

2.4.1 Nỗi “khắc khoải không gian” 63

2.4.3 Cảm thức “thời gian bất định” 66

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 71

CHƯƠNG 3 NHỮNG PHƯƠNG THỨC HÌNH THÀNH NÊN CÁI TÔI TRỮ TÌNH THƠ HUY CẬN 72

3.1 CẤU TỨ THƠ HUY CẬN 72

3.1.1 Cách lập ý thơ Huy Cận 72

3.1.2 Đặc điểm cấu trúc thơ Huy Cận 79

3.2 NGÔN TỪ TRONG THƠ HUY CẬN 81

3.2.1 Ngôn từ đậm dấu ấn cổ điển 81

3.2.2 Ngôn từ mới mẻ, hiện đại 86

3.3 GIỌNG ĐIỆU THƠ HUY CẬN 89

3.3.1 Giọng buồn “ảo não” 90

3.3.2 Giọng reo ca 94

3.4 ĐẶC ĐIỂM THỂ LOẠI THƠ HUY CẬN 97

3.4.1 Các thể thơ truyền thống 97

3.4.2 Các thể thơ hiện đại 105

Trang 5

TÀI LIỆU THAM KHẢO 116 QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI (bản sao)

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Lịch sử phát triển của văn học Việt Nam được đánh dấu bằng

nhiều giai đoạn phát triển cùng những sự kiện có ý nghĩa lớn lao Trong tiến trình phát triển ấy, Thơ Mới có một vị trí, một giá trị và vai trò quan trọng đối với nền văn học Việt Nam nói chung và thơ ca Việt Nam nói riêng

Phong trào Thơ Mới là một trào lưu thơ ca hiện đại xuất hiện vào những năm 30 và kéo dài đến năm 45 của thế kỷ XX Những thành quả mà

Thơ Mới đạt được vô cùng to lớn Tuy xuất hiện ngắn ngủi “Như ánh chớp loé lên giữa trời đông”, nhưng nó đã đánh dấu một sự thay đổi rõ rệt của thơ

dân tộc về nhiều phương diện Thơ Mới đã đưa đến những cách tân mới mẻ, đưa cái tôi, đưa tiếng nói cá nhân vào thơ để thơ ca thực sự là tiếng nói tâm tình, tạo ra diện mạo mới cho thơ ca Việt Nam Vì vậy, đi sâu tìm hiểu Thơ Mới nói chung và các nhà Thơ Mới nói riêng là một trong những đòi hỏi cần thiết nhằm nhìn nhận đánh giá những ý nghĩa và giá trị mà Thơ Mới đã tạo ra Việc nghiên cứu tìm hiểu về thơ Huy Cận cũng không nằm ngoài mục đích ấy

1.2 Trong “Thời đại thi ca” đó, có những nhà thơ nổi bật lên như

những ngôi sao sáng chói Huy Cận là một trong những ngôi sao sáng chói của Thơ Mới và cũng là một tác gia lớn Với tập thơ đầu tay Lửa

thiêng (1940), Huy Cận đã góp vào phong trào Thơ Mới một tiếng thơ không

thể thiếu, một hồn thơ luôn hướng tới vẻ đẹp hài hòa và một phong cách đặc sắc đã được định hình rõ rệt Sau cách mạng, Huy Cận vẫn gieo hạt đều tay và cho ra đời nhiều tập thơ có giá trị cả về tư tưởng và nghệ thuật Hơn 60 năm

cầm bút, từ Lửa thiêng đến Lời tâm nguyện cùng hai thế kỷ, ông đã để lại một

gia tài thơ khá đồ sộ: hơn 20 tập thơ Đi cùng với những bước thăng trầm của lịch sử dân tộc, Huy Cận luôn chứng tỏ được một bút lực dồi dào và tiềm năng sáng tạo to lớn của mình

Trang 7

1.3 Tìm hiểu cái tôi trữ tình trong thơ Huy Cận, chúng ta sẽ khám phá

được cái hay, độc đáo, vừa thống nhất, vừa đa dạng của một chủ thể đầy sáng tạo đã được chọn lọc đưa vào nhà trường ở chương trình trung học cơ sở và trung học phổ thông Qua đó, chúng ta được cảm nhận một thế giới thơ độc đáo, một cái tôi trữ tình đa dạng, phong phú, nhiều cung bậc sắc thái khác nhau, sẽ hiểu hơn vai trò, vị trí của thơ ông trong tiến trình phát triển của thơ

ca hiện đại Vì vậy, đề tài cũng góp phần cho việc tìm hiểu thơ Huy Cận trong nhà trường- một việc làm rất cần thiết trước hết là với bản thân tác giả luận văn

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Chúng tôi đi sâu vào nghiên cứu cái tôi trữ tình trong thơ Huy Cận và những phương thức, phương tiện góp phần tạo nên diện mạo cái tôi trữ tình trong thơ ông Huy Cận có hai mảng sáng tác trước và sau cách mạng, hai mảng sáng tác này thể hiện khá rõ sự vận động của cái tôi trữ tình trong thơ, tuy nhiên sự vận động này không làm mất đi nét độc đáo xuyên suốt đời thơ của ông Mong muốn của chúng tôi là nhận diệncái tôi trữ tình trong thơ Huy Cận và nói rõ được tầm ảnh hưởng của thơ Huy Cận đối với Thơ Mới nói riêng và thi ca hiện đại Việt Nam nói chung

Trang 8

Huy Cận cũng như những đóng góp quan trọng của tác giả trong nền thơ Việt Nam

3 Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu đề tài này, chúng tôi kết hợp vận dụng nhiều phương pháp sau:

- Phương pháp phân tích tổng hợp: Phân tích và khái quát được những

nét độc đáo, nổi bật của cái tôi trữ tình thơ Huy Cận để tái hiện chân dung và khẳng định phong cách nghệ thuật thơ của ông

- Phương pháp phân loại, thống kê: Phân loại thống kê là một phương

pháp vô cùng quan trọng trong quá trình nghiên cứu Thông qua phân loại, thống kê cho chúng ta tìm ra được những vẻ đẹp riêng trong mỗi bài thơ của Huy Cận, đồng thời nhằm làm toát lên giá trị tư tưởng nhân văn qua mỗi tác

phẩm thơ của ông

- Phương pháp so sánh: Phương pháp này phục vụ có hiệu quả cho việc

tìm ra những nét riêng, độc đáo của phong cách thơ Huy Cận so với các nhà thơ cùng thời và trước đó, đặc biệt tìm ra sự gặp gỡ giữa Huy Cận với những nhà thơ cùng thời trong khả năng khám phá, thể hiện một số vấn đề của cuộc

sống, con người, của thời đại

4 Lịch sử vấn đề nghiên cứu

Thơ Mới (1932- 1945) gắn liền với sự xuất hiện của những nhà thơ tài hoa tiêu biểu, trong đó có Huy Cận Ông đã góp phần tạo nên một chiến

thắng vẻ vang cho Thơ mới Ngọn “Lửa thiêng” của nhà thơ Huy Cận đọng

lại mãi với thời gian, khẳng định được vị trí trong thơ ca Việt Nam Cho đến hôm nay, chúng ta lại càng thấy được những gì tinh tuý mà Huy Cận đã góp vào vườn hoa Thơ mới

Việc nghiên cứu Huy Cận được tiến hành khá sớm, với nhiều giai đoạn khác nhau và cơ bản có sự thống nhất trong nhận định về Huy Cận cũng như

Trang 9

thơ của ông Đã có không ít các nhà nghiên cứu, các nhà phê bình, các dịch giả trong và ngoài nước đã giành biết bao công sức cũng như thời gian để tìm hiểu, viết về thơ Huy Cận Có thể nói, bàn về thơ Huy Cận có nhiều công trình lớn của nhiều tác giả tên tuổi yêu mến thơ ông đề cập

Trước 1945, các nhà nghiên cứu đã đánh giá cao vai trò của Huy Cận

cũng như “Lửa thiêng” của ông Các bài tựa, giới thiệu chân dung, phê bình,

đọc sách, tổng kết của Xuân Diệu, Hội Thống Vũ Văn Lợi, Lương An, Lương Đức Thiệp, Hoài Thanh - Hoài Chân, Vũ Ngọc Phan, Kiều Thanh Quế… đi sâu phân tích những phương diện cơ bản nhất về hồn thơ, nguồn cảm xúc vũ trụ, giọng điệu, nội dung và hình thức nghệ thuật thơ Huy Cận Người bạn thơ

đàn anh Xuân Diệu đang nổi tiếng trên thi đàn với tập Thơ thơ (1938) và nhiều bài luận sắc sảo về thi ca trên báo Ngày nay (Thơ ngắn, Thơ ái tình, Đôi lời tự thuật về tập Thơ thơ, Thơ của người) và đến năm sau (1939) lại nồng

nhiệt giới thiệu Huy Cận với công chúng yêu thơ Xuân Diệu viết về Huy Cận

và thơ ông với niềm yêu mến và trân trọng nhất:

“Đã giáp một năm nay, Huy Cận đi tới giữa chúng ta với những bài thơ đặc biệt, với một tâm hồn có nhiều hương vị, một kho tàng tuy đương hỗn tạp nhưng thực là giàu Bổn phận của chúng ta đối với văn chương Nam Việt, chẳng phải là rộng thấu hiểu để yêu mến những văn tài mới lớn hay sao?

Thơ Huy Cận cũng thuộc về hạng thơ vừa xem qua thơ dường như khó khăn, nhưng kỳ thực không có gì quá bí hiểm Huy Cận cũng là “một người của đời, một người ở giữa loài người”, ông không đi với lối thơ phù phiếm, mộng mơ Ông chỉ nói lòng người của ông, hồn người của ông, và thơ ông càng đẹp, càng xinh, khi chứa đầy hương vị của đời, của sự sống” [45]

Cũng trong bài viết này, Xuân Diệu tinh tế cảm nhận và đặc biệt đề cao các đặc tính hương vị - màu sắc - cảm giác của hồn thơ Huy Cận:

Trang 10

“Hương vị, đó là một đặc tính của thơ Huy Cận Thơ ông không lộng lẫy, không kiều diễm, không chú nơi thanh sắc, không nở ra như những đoá hoa rực rỡ; thơ ông không khoe tươi Thơ ông như nụ mùa xuân, như trái mùa hè, gói gắm lại, nhưng đầy căng nhựa thơm và mật ngọt Ông không làm

mê ta bằng màu sắc và âm điệu; ông có một sức quyến rũ lạ lùng hơn, khó hiểu hơn: là mùi thơm” [45]

Bên cạnh đó, còn có các bài viết của Lê Tràng Kiều, Nguyễn Nhược Pháp đánh giá cao vai trò của Huy Cận trong việc tạo những bước đi vững vàng của Thơ mới và sự hiện đại hoá thơ ca dân tộc Đặc biệt, với bài viết của

Hoài Thanh năm 1941 trong “Thi nhân Việt Nam”, nhà phê bình này đã có những nhận định ban đầu về thơ Huy Cận: “Người đã gọi dậy cái hồn buồn của Đông Á, người đã khơi dậy cái mạch sầu mấy nghìn năm vẫn ngấm ngầm trong cõi đất này” Có thể nói Huy Cận đã được Hoài Thanh - Hoài Chân

nhận định và đánh giá rất cao

Trong bài viết “Ngọn Lửa thiêng trong đời và trong thơ,nhà nghiên cứuHà Minh Đức đã đánh giá về tập thơ Lửa thiêngvới sự chiếm lĩnh không

gian của một hồn thơ còn rất trẻ nhưng đã nói lên được một bút lực rất “già

dặn”, đầy sự trải nghiệm: “Lửa thiêng là một thi phẩm kết tụ nhiều phẩm chất sáng tạo và được xem là một số ít tác phẩm hay nhất của phong trào Thơ mới Điều kỳ lạ là ở vào tuổi thanh niên nhưng cảm hứng sáng tạo của Huy Cận đó tạo nên một không gian thoáng rộng dài để nói lên cái cô liêu, chơi vơi cả cuộc đời, và để cho tứ thơ đi về quá khứ và hiện tại, giữa cuộc đời thực và chốn vời vợi cao xa Không gian trong thơ Huy Cận gây ấn tượng nghệ thuật đặc biệt là rất chín và đằm thắm ân tình” [10, tr.366]

Bàn về cái tôi trữ tình trong thơ Huy Cận, Trần Khánh Thành trong bài

viết “Những đối cực trong hồn thơ Huy Cận” đã chỉ ra những phương diện tạo nên bản sắc hồn thơ: “Cấu trúc phân cực được thể hiện ở những hồn thơ

Trang 11

có nhiều dáng vẻ, sắc thái, luôn luôn vận động và biến đổi trong hành trình sáng tạo Hình tượng cái tôi trữ tình trong thơ Huy Cận là một trường hợp tiêu biểu cho kiểu cấu trúc phân cực này…” [10, tr.224] Ở bài viết này, tác

giả đã đi sâu vào tìm hiểu hình tượng cái tôi trữ tình thơ Huy Cận trên nhiều phương diện khác nhau, đó là một cái tôi đa dạng, phong phú với nhiều cảm

hứng khác nhau: “Hình tượng cái tôi trữ tình trong thơ Huy Cận luôn luôn vận động giữa nhiều đối cực, có lúc thiên lệch, có lúc đạt tới sự hài hòa nhưng niềm khát vọng của nhà thơ là tìm đến vẻ đẹp hài hòa giữa cuộc đời và

vũ trụ, giữa cuộc đời riêng và cuộc đời chung, giữa cảm hứng lãng mạn và cảm hứng hiện thực, giữa cảm xúc tươi tắn và tầm cao trí tuệ” [10, tr.240]

Tác giả Đỗ Lê Bảo Duyên với bài viết “Cái tôi trữ tình của Huy Cận”đã đi sâu tìm hiểu về hình tượng cái tôi trữ tình trong thơ Huy Cận

những năm trước cách mạng, góp phần quan trọng nhìn nhận thơ Huy Cận

một cách toàn diện: “Nỗi buồn của nơi quán chật đèo cao, của sông dài trời rộng, nỗi buồn của đêm mưa cô đơn, hiu hắt, trong niềm nhớ thương cùng với những hồn thơ hoang mang, nặng trĩu một nỗi sầu cho suốt một thời kỳ rất buồn và cũng rất xôn xao Với Huy Cận, những nỗi buồn ấy như triền miên, day dứt hơn bao giờ hết khi tiếng của điệu hồn thiên cổ cất lên, làm cho mạch sầu ngàn năm chợt da diết, chơi vơi”[46, tr.129]

Ngoài ra, còn phải kể đến nhận định của Trần Mạnh Hảo trong bài

“Huy Cận – lửa vẫn còn thiêng”: “Nếu không có khúc hóa hồ nước Huy Cận giúp Thơ mới có cơ hội lắng xuống, thảnh thơi và điềm tĩnh, chùng chình và mênh mông lại, biết đâu nó đó chẳng chảy tuột vào bể thẳm Tây phương?”[46, tr.142] Có thể nói với sự xuất hiện của Lửa thiêng, Huy Cận

đã góp một tiếng thơ không lẫn vào đâu được Sự có mặt của hồn thơ Huy Cận làm cho bầu không khí Thơ mới như nhận định trên là “lắng xuống”, nhưng là sự sâu lắng của hồn phách Đông Á, níu kéo trở về cái không khí

Trang 12

thâm nghiêm, đường bệ mà không phải lên gân, cao giọng Tiếp tục mảng thơ

trước 1945, sau Lửa thiêng với không gian Đường thi hoài cổ là Vũ trụ ca và Kinh cầu tự pha chút tươi vui của sự siêu thoát hiện thực, của những “lượng

vui” vô bờ bến trong sự hòa điệu cùng nhịp sống hoàn vũ

Nếu như trước cách mạng, thơ Huy Cận trầm buồn, não nề thì sau cách mạng giọng thơ ấy đã chuyển sang một sự đổi mới tươi vui hơn, vẻ đẹp của không gian rợn ngợp nhưng buồn đã dần dần được nhường chỗ cho vẻ đẹp của thiên nhiên, đất trời mới đầy ánh sáng Thể hiện rõ nhất cho các tập thơ

sau cách mạng của Huy Cận phải kể đến “Trời mỗi ngày lại sáng” và “Đất

nở hoa”.Nhà nghiên cứu Lê Đình Kỵ đã đánh giá về tập thơ của Huy Cận với

một sự nhìn nhận rất chân thực về tâm hồn rộng mở yêu cuộc đời tha thiết

như Huy Cận: “Sự hài hòa của cuộc sống hiện nay là nội dung, là linh hồn và

là nguồn thơ phong phú của Đất nở hoa Cuộc sống ấy đang mở ra những viễn cảnh bát ngát…Mạch thơ của Đất nở hoa cũng như của Trời mỗi ngày lại sáng trước đây để lại ở người đọc cái cảm giác của một dòng suối chảy ra không ngừng, vì nó bắt đúng nguồn của cuộc sống dạt dào và thiên hình vạn trạng của nhân dân ta anh dũng đã kháng chiến thắng lợi và đang dồn tất cả sinh lực cho cuộc đấu tranh thống nhất tổ quốc và kiến thiết chủ nghĩa xã hội” [10, tr.412] Và sau hai tập thơ Trời mỗi ngày lại sáng và Đất nở hoa, Huy Cận cũng đã thể hiện niềm vui chung của dân tộc qua Bài thơ cuộc đời

Ở tập thơ này, Lê Đình Kỵ cũng đã có nhận định rất cao về tài năng của Huy Cận trong sự thể hiện tình cảm yêu thương, hòa nhập cùng với cộng đồng,

thiên nhiên: “Nổi bật lên trong Bài thơ cuộc đời là chủ đề lao động kiến thiết đất nước Ưu điểm của Huy Cận là đã thể hiên lao động bình thường của người thợ mộc, của người kéo gỗ, của người xe cát, của những người bạn chài, của người thợ gốm, những người đi khai hoang,…” [10, tr.421]

Trang 13

Về mảng thơ sau cách mạng tháng Tám 1945 của Huy Cận, người bạn

thơ Xuân Diệu với bài “Đất nước và thiên nhiên trong thơ Huy Cận” đã nhấn mạnh: “Thơ viết về thiên nhiên đất nước là một sở trường, một điểm mạnh của Huy Cận; dường như ở đây, nhà thơ đã toát ra một mảng hương sắc sâu

xa, cao đẹp nhất của tâm hồn mình” [46, tr.104]

Trong bài “Huy Cận – một vẻ đẹp trong thơ”, nhà nghiên cứu Vương

Trí Nhàn đã góp một tiếng nói khẳng định vai trò, vị trí rất lớn của thơ Huy

Cận trong sự phát triển của thơ những năm sau cách mạng: “Chế Lan Viên có Ánh sáng và phù sa với cái phần e ấp chờ đợi hồi hộp khát khao ít thấy Tế Hanh có Gửi miền Bắc không dễ dãi như tác giả này vốn có Xuân Diệu có Cầm tay, chùm thơ tình mà chất lượng hoàn toàn có thể đọ với Thơ thơ ngày xưa Và Huy Cận có Trời mỗi ngày lại sáng, Đất nở hoa, Bài thơ cuộc đời… Nếu đối diện với những bài hay nhất rút ra từ ba tập này, chúng ta sẽ thấy lại cái vẻ chín, đầy đặn, chắc chắn của thơ ông” [46, tr 140]

Diện mạo thơ Huy Cận từ sau Cách mạng được Chu Văn Sơn trình bày trên ba mảng lớn: thơ xây dựng cuộc sống mới, thơ đánh giặc và thơ thiếu

nhi “Ba mảng này đan xen nhau trong các chặng đường thơ Huy Cận” [46,

tr 231] Qua đó, tác giả cũng nêu rõ sự vận động của cái tôi bản ngã Huy Cận

từ Lửa thiêng đến Vũ trụ ca rồi đến Kinh cầu tự trước khi chuyển sang cái tôi cộng đồng sau cách mạng Qua đó “sự hòa điệu của người lao động với mạch sống đang lên từng ngày tươi da thắm thịt của đất nước” cũng được tác giả

trình bày khá rõ Đi vào phân tích thế giới nghệ thuật thơ Huy Cận, Chu Văn

Sơn đi bóc tách từng tầng về tư tưởng Từ Tia lửa đầu tiên đến Mối hòa điệu huyễn tưởng, Mối hòa điệu hiện thực và kết thúc là Ngọn nguồn của Lửa thiêng Tác giả đã giúp ta có cái nhìn khách quan và thấu đáo cho sự chuyển

biến trong tư tưởng cũng như nghệ thuật của Huy Cận

Trang 14

Tác giả Trần Khánh Thành viết trong cuốn Huy Cận thơ và đời (Nxb Văn học – 2012): “Huy Cận tha thiết gắn bó với thiên nhiên đất nước Việt Nam, tâm hồn ông vươn lên những khoảng rộng xa vũ trụ nhưng tấm lòng nặng trĩu với đời”

Trong bài viết “Huy Cận và những chặng đường thơ sau Cách mạng”,

Hà Minh Đức đã nhận ra sự chuyển biến trong hồn thơ Huy Cận: “Có lẽ sự chuyển biến lớn nhất trong tâm hồn Huy Cận là niềm vui nhân hậu của cuộc đời mới đó thay thế nỗi buồn cô đơn Một giọt mưa, một tia nắng, một số phận, cảnh đời đó được cảm nhận khác xưa” [10, tr.349]

Trên đây là một số những nhận định, đánh giá về thơ Huy Cận nói chung cũng như cái tôi trữ trình trong thơ Huy Cận nói riêng Ngoài ra, nghiên cứu về thơ Huy Cận còn có rất nhiều công trình, bài viết lớn, nhỏ khác nhau cũng như các luận văn, luận án tiến sĩ, thạc sĩ,…đã đi sâu khai thác Tuy nhiên, không vì thế mà thơ Huy Cận trở nên “cũ” và không còn lôi cuốn, hấp dẫn người đọc đến với những miền đất mới trong thơ ông Kho tàng thơ Huy Cận vẫn còn là một kho báu đồ sộ, phong phú với muôn ngàn giá trị quý hiếm, khơi mạch nguồn để những ai yêu say thơ ông đi vào chiêm ngưỡng, nghiên cứu

Trên cơ sở những công trình nghiên cứu của một số nhà phê bình trên, chúng tôi mong muốn đưa ra cái nhìn đầy đủ, hệ thống hơn về những đóng góp của nhà thơ Huy Cận cho nền thơ ca hiện đại Việt Nam Qua đó, góp thêm một phần khẳng định tầm quan trọng, vị trí của thơ Huy Cận trong nền thơ dân tộc

Trang 15

Đi vào tìm hiểu khái niệm cái tôi trữ tình trong thơ, đồng thời giới thuyết chung về hình tượng cái tôi trữ tình trong thơ Việt Nam hiện đại Theo

đó, khái quát về hành trình sáng tác thơ Huy Cận cũng như vị trí của nhà thơ trong Thơ mới và thơ sau cách mạng tháng Tám

- Chương 2: Đặc điểm cái tôi trữ tình trong thơ Huy Cận

Nổi bật lên trong thơ Huy Cận là cái tôi trữ tình buồn, cô đơn, cái tôi nhuốm màu sắc cổ điển, cái tôi dấn thân, nhập cuộc, ngợi ca, tự hào Bên cạnh

đó, nhà thơ cũng thể hiện cái tôi thống nhất với nét riêng đó là cái tôi của niềm suy tưởng vươn ra vũ trụ và cái tôi bắt rễ tự cội nguồn truyền thống dân tộc và nhân sinh quan, cái tôi luôn “khắc khoải trước không gian” và thời gian bất định

- Chương 3: Những phương thức hình thành nên cái tôi trữ tình thơ Huy Cận

Làm nên cái tôi trữ tình phong phú trong thơ Huy Cận phải kể đếncác phương thức biểu hiện, với cách thể hiện độc đáo ở cấu tứ thơ với cách lập ý, tạo tứ và cấu trúc thơ hấp dẫn lôi cuốn, cùng giọng thơ chủ đạo “ảo não” và

“reo ca; ngôn ngữ thơ thấm hương vị của Đường thi và ngôn ngữ thơ hiện đại; cách lựa chọn các thể thơ tiêu biểu, đó là thể lục bát, thơ năm chữ, bảy chữ, tám chữ và thơ tự do để làm nên nét phong cách thơ riêng

Trang 16

CHƯƠNG 1

HUY CẬN VÀ CON ĐƯỜNG HÌNH THÀNH

CÁI TÔI TRỮ TÌNH TRONG THƠ

1.1 VÀI NÉT VỀ CÁI TÔI TRỮ TÌNH TRONG THƠ VIỆT NAM HIỆN ĐẠI

1.1.1 Khái niệm “hình tượng cái tôi trữ tình”

Xung quanh khái niệm “hình tượng cái tôi trữ tình” đã có rất nhiều quan niệmcũng như những định nghĩa khác nhau Để hiểu cái tôi trữ tình trong thơ, trước hết ta cần hiểu khái niệm về “cái tôi” Cái tôi cũng được các nhà nghiên cứu tìm hiểu, đánh giá với những quan niệm, khái niệm khác nhau

Nhà triết học Phichtê khi bàn về cái tôi đã cho rằng: “Cái tôi là một cá nhân hoạt động, có sức sống và cuộc sống của nó là ở chỗ xây dựng cá tính

và tính cách của mình, ở chỗ biểu hiện mình và khẳng định mình” H

Becxông, từng khẳng định ở trong mỗi con người đều có hai cái tôi, đó là cái

tôi bề mặt và cái tôi bề sâu Theo ông “Cái tôi bề mặt là các quan hệ của con người đối với xã hội Còn cái ttôi bề mặt và cái tôi bề sâu Cái tôi bề mặt là các quan hệ của con người đối với xã hội Còn cái tôi bề sâu là phần sâu thẳm” Còn theo Claude Pichois thì “cái tôi trong mọi thời đại được coi như nguồn gốc của mọi hoạt động thơ ca, như lõi cốt của thể loại trữ tình Cái tôi thể hiện tính cá biệt làm nên nét độc đáo dị biệt của tác giả trữ tình Cái tôi xác định một tư thế (góc độ), một trung tâm ý thức, tiếp nhận cảm xúc, tiếp nhận thế giới” Hồ Thế Hà cũng nhận định về cái tôi rằng: “Cái tôi luôn được

lí luận thi ca – từ thời Aristote đến thời hiện đại – coi như là sản phẩm cụ thể, khách quan của từng nhà thơ, đặt trong tương quan với cuộc sống, thời đại cụ thể” [30, tr.13] Cái tôi luôn vận động, đổi thay để phù hợp với hiện thực và

Trang 17

sự phát triển của lịch sử Qua thực tiễn nghiên cứu rút kinh nghiệm, Hồ Thế

Hà đã khẳng định: “Cái tôi của thơ thời cổ đại dĩ nhiên là khác thời trung đại

và càng khác với thời hiện đại Cái tôi không bao giờ bất biến, tĩnh tại; nó luôn luôn vận động và biến hóa đa dạng để hình thành cái mà các nhà nghiên cứu gọi là thi pháp thời đại” [30, tr.14] Còn theo Đỗ Lai Thúy: “Cái Tôi cá nhân với tư cách vừa là sản phẩm vừa là chủ thể của nền văn hóa mới xuất hiện Một mặt, nó vừa nối tiếp cái Tôi tập đoàn (hay cái Tôi đại diện) của xã hội cổ truyền đã phát triển qua các hình thái như cái Tôi làng xã, cái Tôi vô ngã Lý- Trần, cái Tôi quân tử và cái Tôi tài tử”[51, tr.30] Tác giả Trần Nho Thìn cũng đã có những lí giải về cái tôi, đó là “hình tượng tác giả trong tác phẩm, là sự giải bày thế giới tư tưởng, tình cảm riêng tư thầm kín của tác giả Nhìn từ góc độ phản ánh luận, thì “cái tôi” là đối tượng phản ánh, suy ngẫm của bản thân nhà thơ, là kết quả của sự tự ý thức, tự đánh giá, tự miêu tả” Theo Mã Giang Lân: “Bên cạnh cái tôi – nhà thơ, ta có cái tôi – trữ tình”

[30, tr.10] Với cái tôi trữ tình đã có không ít những nhà nghiên cứu nhận định, khái niệm khác nhau Tác giả Vũ Tuấn Anh quan niệm về cái tôi trữ tình

một cách bao quát đóng vai trò quan trọng: “Cái Tôi trữ tình vừa là một cách thế nhìn và cảm nhận thế giới của chủ thể, lại vừa là một điểm nhìn nghệ thuật của chủ thể Đồng thời, cái Tôi trữ tình cũng đóng vai trò sáng tạo, tổ chức các phương tiện nghệ thuật (thể thơ, hình tượng, vần, nhịp…) để vật chất hóa thế giới tinh thần thành một hình thức văn bản trữ tình” [1] Hồ Thế

Hà cho rằng: “Cái tôi trữ tình là những mạch ngầm, những khoảng lặng để tạo ra nhiều tầng ý nghĩa Chính cái ý nghĩa mới này mới quan trọng, làm nên bản sắc, phong cách và tư tưởng cần gửi gắm của tác giả” [30, tr.11]

Hoài Thanh cũng đã nhận định được tầm quan trọng của cái tôi trong thơ, không trực tiếp gọi tên cái tôi trữ tình trong thơ nhưng qua khái niệm cái tôi, cái ta, ông đã có sự phân biệt rất rõ khái niệm chữ “ta” và chữ “tôi” cũng như

Trang 18

ý thức được bản chất xã hội và bản chất cá nhân của cái tôi trữ tình Tác giả

cho rằng: “Cứ đại thể thì tất cả tinh thần thời xưa – hay thơ cũ và thời nay – hay thơ mới – có thể gồm lại trong hai chữ tôi và ta Ngày trước là thời chữ

ta, bây giờ là thời chữ tôi Nó giống nhau thì vẫn có chỗ giống nhau như chữ tôi vẫn giống chữ ta” [49, tr.58] Hà Minh Đức cũng từng quan niệm: “cái tôi trữ tình chính là cái tôi tác giả đã được nghệ thuật hóa” Tác giả cũng đã đi

vào phân tích để thấy rõ cái tôi trữ tình đã được “nghệ thuật hóa” khi đi vào

tác phẩm, tuy nhiên cái tối ấy vẫn là hiện hữu của cái tôi nhà thơ “Đi vào nghệ thuật, cái tôi được nâng cao hơn, được trình bày với những màu sắc phong phú hơn, nhưng căn bản vẫn là tâm hồn và con người ấy, nếu có những khác biệt ở mức độ này hay khác giữa cái tôi nhà thơ và cái tôi trữ tình trong sáng tác thì điều đó không có nghĩa là nhà thơ đã giả dối với chính mình và với người đọc”

Trong thơ trữ tình, hình tượng cái tôi trữ tình bao giờ cũng đóng vai trò quan trọng, là chủ thể trung tâm Cái tôi trữ tình có một ý nghĩa hết sức lớn lao đối với tác phẩm trữ tình Cái tôi trữ tình là “chủ thể của hành trình sáng tạo thơ ca, qua đó, bộc lộ tầm nhìn, cách cảm nhận về thế giới và con người, thể hiện tư tưởng và cá tính sáng tạo của nhà thơ” Những diễn biến sự kiện, hành động và những sắc thái tình cảm khác nhau thường được thể hiện một

cách khá đậm nét trong thơ Thực tế cũng đã chứng minh nhiều thi sĩ “gắn liền với đời thơ như hình với bóng Nhà thơ là nhân vật chính, là hình bóng trung tâm, là cái tôi bao quát trong toàn bộ sáng tác” [18, tr.295] Cũng có khi nhân vật trữ tình không phải là nhà thơ Cái tôi trữ tình lúc này là “cái tôi của tác giả được nghệ thuật hóa” [18, tr.307] Đi vào nghệ thuật, cái tôi của

nhà thơ đã được nâng lên tầm tư duy cao hơn, được thể hiện dưới những dạng thái, nhiều màu sắc phong phú hơn

Trang 19

Như vậy, bàn về cái tôi và cái tôi trữ tình trong thơ, có rất nhiều những quan niệm, khái niệm khác nhau Theo chúng tôi trong bất kỳ thời đại nào, tác phẩm trữ tình cũng mang trong mình một cái tôi đặc sắc riêng, và đặc điểm của cái tôi trữ tình phụ thuộc vào phong cách của mỗi nhà thơ, của các trào lưu, khuynh hướng thơ Cái tôi ấy, tồn tại và phát triển vĩnh cửu hay không còn tùy thuộc vào nhiều yếu tố Qua mỗi thời đại đều có một kiểu cái tôi trữ tình đóng vai trò chủ đạo Nếu như trong Thơ mới trước cách mạng, cái tôi cá nhân, cá thể là chủ đạo, thì trong thơ ca cách mạng, cái tôi trữ tình hòa vào cái

ta rộng lớn, cái tôi mang tầm vóc sử thi và cảm hứng lãng mạn là chủ yếu

1.1.2 Cái tôi trữ tình trong Thơ Mới và thơ Việt Nam nửa sau thế

Trang 20

hiện khát vọng, khát khao giao hòa, giao cảm với cuộc đời Con người cá nhân luôn muốn tự khẳng định mình, nói lên tiếng nói của lòng mình, nhưng tất cả đều bất lực trước sức cản của xã hội dẫn đến vỡ mộng, buồn tủi và cô đơn, lạc loài Vì thế, con người muốn quay về với quá khứ và thể hiện một thái độ phủ định với cuộc sống hiện tại Cũng như bao nhà thơ trung đại, thiên nhiên luôn được xem là người bạn tri âm, tri kỷ để chia sẻ những vui buồn trong cuộc sống Tầng lớp các nhà thơ lúc bấy giờ, cũng tìm đến với thiên nhiên như một nguồn sống, nguồn an ủi lớn Nhưng cách hòa nhập với thiên nhiên, đất trời ở họ có sự khác nhau trong tâm thế Có thể nói chính quan niệm về con người cá nhân đã làm nên một sự bùng nổ cái tôi trong Thơ Mới đầy phong phú, đa dạng

Bàn về Thơ Mới, nhà nghiên cứu Văn học Vương Trí Nhàn cho rằng

“Ảnh hưởng của Thơ mới diễn ra trên phạm vi toàn xã hội…Phải nói Thơ mới đã in dấu của nó vào cả thế kỷ” Phải rất độc đáo và phát triển nở rộ nhất,

dòng Thơ mới mới có thể làm nên “một thời đại thi ca” lớn như vậy Nhà

nghiên cứu Lê Đình Kỵ cũng từng khẳng định “Thơ mới là cả một bước phát triển quan trọng, xét về một mặt nào đó là cả cuộc cách mạng trong tiến trình của thơ ca Việt Nam, đưa thơ cổ điển Việt Nam đạt đến hiện đại” Và bàn về

sự phát triển của cái tôi trữ tình cũng như sự phát triển vượt bậc của Thơ Mới,

nhà thơ Huy Cận cũng đã có nhận định: “Thơ Mới là nỗi niềm, thái độ, là một cuộc ra trận của cả một thế hệ văn chương, một lực lượng trẻ văn hóa dân tộc quyết đổi mới cả một nền văn thơ, văn chương đã mỏi mòn, khô cứng, bạc màu” Tìm về với Thơ Mới, ta cũng thấy được ở đó là nguồn mạch khơi sâu

và mở ra một miền sáng tạo mới dào dạt, tươi tắn của thơ ca dân tộc Đó là

“kết quả cao của quá trình hiện đại hóa thơ Việt trên cơ sở của sự bùng nổ cái tôi cá nhân, cá thể” Như nhiều nhà nghiên cứu về Thơ Mới cũng nhận ra đặc điểm lớn của dòng thơ này, đó là thơ của cái tôi trữ tình cá nhân, “một cái

Trang 21

tôi chưa bao giờ được biết đến đầy đủ trong thơ cổ điển” Cái tôi trữ tình

trong Thơ Mới đã tạo nên một sự phong phú và đa dạng cho thơ ca nước nhà với sự xuất hiện của rất nhiều nhà thơ tên tuổi Bàn về điều này, Hoài Thanh từng có một lời nhận xét xác đáng, làm câu mở đầu cho cái tôi trong Thơ Mới

mỗi khi ai đó nhắc đến dòng thơ này: “chưa bao giờ người ta thấy xuất hiện cùng một lúc một hồn thơ rộng mở như Thế Lữ, mơ màng như Lưu Trọng Lư, hùng tráng như Huy Thông, trong sáng như Nguyễn Nhược Pháp, ảo não như Huy Cận, quê mùa như Nguyễn Bính, kỳ dị như Chế Lan Viên và thiết tha, rạo rực băn khoăn như Xuân Diệu” [49, tr.37] Với sự xuất hiện của đội ngũ các

nhà Thơ Mới đã góp phần to lớn tạo nên sự phát triển vượt bậc của nền thơ ca Việt Nam Cái tôi cá nhân đã thật sự được phát hiện và thể hiện một cách mạnh mẽ nhất trong thơ giai đoạn này

Bàn về cái tôi trữ tình trong Thơ Mới, ta không thể không nhắc đến thi

sĩ khát khao tình yêu cuộc sống, yêu đời, yêu người đến cháy bỏng - Xuân Diệu Ông được xem là “ông hoàng của thơ tình”, nhà thơ viết về tình yêu một cách say đắm nhất Tình yêu ở thời đại này cũng không còn “Êm đềm

trướng rũ màn che”(Truyện Kiều), hay “khoan khoan ngồi đó chớ ra/ nàng là phận gái ta là phận trai”(Lục Vân Tiên), không e ấp, kín đáo, sợ sệt sự hà khắc

của lễ nghi phong kiến như ở thơ trung đại đã một thời làm ta “ngột ngạt”, mà được bộc lộ với những cảm xúc khát khao mãnh liệt nhất Cái tôi lúc này có

cảm nhận riêng về tình yêu: “Yêu là chết ở trong lòng một ít” Để hiểu một

cách sâu sắc và thấu đáo cái tôi trữ tình trong Thơ Mới, ta đối sánh với thơ cũ, thơ trung đại sẽ thấy rõ nhất Nhà thơ Lưu Trọng Lư – một trong những tác giả Thơ Mới tiêu biểu khi bàn về cái tôi cá nhân riêng trong tình yêu cũng

từng nhận xét rằng: “Các cụ ta ưa những màu đỏ chót, ta lại ưa những màu xanh nhạt Các cụ bâng khuâng vì những tiếng trùng đêm khuya, ta lại nao nao vì tiếng gà gáy đúng Ngọ Nhìn một cô gái xinh xắn, ngây thơ, các cụ coi

Trang 22

như đã làm một điều tội lỗi, ta thì cho là mát mẻ như đứng trước một cánh đồng xanh Cái ái tình của các cụ chỉ là sự hôn nhân, nhưng đối với ta thì trăm hình muôn trạng: cái tình say đắm, cái tình thoảng qua, cái tình gần gũi, cái tình xa xôi, cái tình giây phút, cái tình nghìn thu” Thật đúng vậy khi đến

với “cái tình say đắm” trong thơ Xuân Diệu ta mới thấy cái tôi trữ tình cá nhân được rộng mở vô ngần“Yêu tha thiết thế vẫn còn chưa đủ/ Phải nói yêu trăm bận đến nghìn lần” (Phải nói) Ông hoàng Xuân Diệu cũng đã đặt cái tôi lên cao nhất như một niềm kiêu hãnh, không ai có thể cưỡng lại“Tôi là con chim đến từ núi lạ/ Ngứa cổ hót chơi…” Xuân Diệu “nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới” đã đưa cái tôi trữ tình lên tầm cao nhất với niềm kiêu hãnh

tột cùng, bất chấp những khen chê ở đời, ông vẫn luôn lạc quan rằng: “đã có những thiếu niên, thiếu nữ hoan nghênh tôi” [49, tr.132] Hay một Chế Lan

Viên đầy “điên loạn” cô đơn càng thêm cô đơn khi mà “Đường về thu trước

xa lăm lắm/ Mà kẻ đi về chỉ một tôi” Một đội ngũ những tác giả tên tuổi như Lưu Trọng Lư, Huy Thông, Tế Hanh, Thế Lữ, Huy Cận, Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử, Xuân Diệu,…đã đem đến cho nền Thơ Mới một sức hấp dẫn làm mê đắm bao kẻ yêu thơ Trong từng phong cách riêng ấy đều mang theo những phong cách hết sức “duyên dáng đáng yêu” làm cho người đọc tò mò muốn khám phá Ta không sao quên được những câu thơ có sức hút lạ lùng như

“Anh đi đấy, anh về đâu/ Cánh buồm nâu, cánh buồm nâu, cánh buồm”của một Nguyễn Bính đầy “chân quê” mộc mạc Hay một cái tôi buồn mỗi khi tả

vẻ đẹp của chốn linh thiêng trong câu thơ “Ánh xuân lướt cỏ xuân tươi/ Bên rừng thổi sáo một hai Kim Đồng ”của Thế Lữ Quan niệm thẩm mỹ, quan niệm về con người như cũng thay đổi một cách rõ nét nhất ở giai đoạn Thơ mới Trước kia, ở thơ trung đại các thi nhân thường lấy thiên nhiên làm thước

đo, chuẩn mực của cái đẹp, thì đến với Thơ Mới cái đẹp là ở chủ thể con người, các nhà thơ đi vào đề cao vẻ đẹp của con người Ta tìm thấy những câu

Trang 23

thơ tuyệt đẹp của Nguyễn Du khi miêu tả vẻ đẹp sắc nước hương trời của Thúy Kiều khi so sánh với hình ảnh của thiên nhiên: “Rõ ràng trong ngọc trắng ngà/ Dày dày sẵng đúc một tòa thiên nhiên” Đến với Thơ Mới, ta tìm thấy những hình ảnh so sánh ngược lại vẻ đẹp của thiên nhiên như chính vẻ đẹp của con người Rõ ràng, ở đây quan niệm về cái đẹp đã có một sự khác nhau rất lớn Nhà thơ Hàn Mặc Tử từng miêu tả thiên nhiên như là “hiện thân xác thịt, là người thiếu nữ gợi cảm, là cám dỗ của trái cấm” mà làm bao người phải ngẩn ngơ: “Ô kìa, bóng nguyệt trần truồng tắm/ Lộ cái khuôn vàng dưới

đáy khe ”(Bẽn lẽn) Trong thơ hiện đại, thiên nhiên như cũng mang trong

mình những cảm giác của con người Thiên nhiên trong thơ lúc này là một thứ thiên nhiên rạo rực, có khi lạc quan, tin yêu như một thực thể người, đó là những cảm giác của con người khi Xuân Diệu viết: “Vườn cười bằng bướm hót bằng chim / Dưới nhánh không còn một chút đêm/ Những tiếng tung hô

bằng ánh sáng/ Ca đời hưng phục trẻ trung thêm”(Lạc quan)

Tiếp nối thời đại Thơ Mới, cái tôi trữ tình trong thơ ở giai đoạn nửa sau thế kỷ XX cũng không kém phần đa dạng và phong phú Cái tôi trữ tình trong thơ sau cách mạng cũng dần dần bùng nổ và đổi thay theo sự đổi thay của đất nước, cái tôi lúc này đang thoát ra khỏi cái tôi sầu não của những ngày nô lệ, tăm tối để hòa chung, dấn thân vào cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc và công cuộc kiến thiết đất nước Cái tôi lúc này đây tràn ngập những lời ca ngợi

vẻ đẹp non sông đất nước, ca ngợi quê hương, con người Cái tôi ngợi ca cuộc đấu tranh anh dũng của nhân dân ta trong chiến tranh và ngợi ca lao động, sự khai phá những miền đất mới của Tổ quốc Với sự xuất hiện của một đội ngũ nhà thơ cách mạng như Tố Hữu, Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Khoa Điềm, Phạm Tiến Duật, Nguyễn Mỹ, Ý Nhi, …đã làm nên rất nhiều những phong cách thơ độc đáo Đó là cái tôi trữ tình ngợi ca sức mạnh mãnh liệt, sự anh dũng không sợ gian lao, vất vả trước nhiệm vụ quan trọng, đấu tranh bảo vệ

Trang 24

Tổ quốc của nhân dân ta như Nguyễn Đình Thi từng viết “Nước chúng ta/ Nước những người chưa bao giờ khuất/ Đêm đêm rì rầm trong tiếng đất/

Những buổi ngày xưa vọng nói về”(Đất nước) Hay Chế Lan Viên với giọng

thơ sau cách mạng cũng tràn ngập khí thế hào hùng, quyết tâm đánh giặc: “Ta

xẻ mình ra ngang dọc chiến hào/ Cho Tổ quốc liền sông núi vạn đời sau/ Việt Nam chịu vạn ngày lửa đạn/ Cho nghìn năm nhân loại ngẩng cao đầu” Sau Cách mạng, cái tôi trong thơ cũng chứa chan niềm yêu đời, lạc quan hơn, không còn là những nỗi sầu não, đơn côi như trong Thơ Mới nữa mà thay vào

đó là một cái tôi như Phạm Tiến Duật đầy hóm hỉnh, ngộ nghĩnh, tinh nghịch

dù gian khổ, dù phải đối diện với cái chết vẫn hiên ngang “xẻ dọc Trường Sơn

đi cứu nước”: “Không có kính không phải vì xe không có kính/ Bom giật bom rung kính vỡ đi rồi/ Ung dung buồng lái ta ngồi/ Nhìn đất nhìn trời nhìn

thẳng” (Bài thơ về Tiểu đội xe không kính) Cái tôi lạc quan đến mức như

“kiêu hãnh”, “coi thường” sự sống của một Nguyên Hồng với: “Một vết thương xoàng mà đi viện/ Hàng còn chờ đó tiếng xe reo/ Nằm ngửa nhớ

trăng/ Nằm nghiêng nhớ bến/ Nôn nao ngồi dậy nhớ lưng đèo”(Nhớ).Cái tôi

trữ tình trong thơ nửa sau thế kỷ XX còn được thể hiện qua nhiều dạng thức khác nhau, tuy nhiên cái tôi chủ đạo nhất ở giai đoạn này vẫn là cái tôi hòa nhập, tự hào về cuộc sống mới, về cách mạng, về Tổ quốc, nhân dân

Qua tìm hiểu cái tôi trữ tình trong Thơ Mới cũng như thơ giai đoạn nửa sau thế kỷ XX, chúng ta có thể nói rằng mỗi giai đoạn, mỗi thời kỳ đều có những quan niệm nghệ thuật khác nhau Tùy theo từng thời kỳ mà cái tôi trữ tình trong thơ thay đổi cho phù hợp nhằm tạo nên những phong cách thơ độc đáo, riêng biệt Trong dòng chảy của phong trào Thơ Mới, cùng với sự xuất hiện của một đội ngũ sáng tác lớn tạo ra những phong cách thơ độc đáo, những cái tôi trữ tình trong thơ đa dạng, muôn màu sắc góp phần làm phong phú cho nền thơ ca nước nhà, Huy Cận cũng là một tác giả thơ tiêu biểu nhất

Trang 25

trong rất nhiều tác giả ấy Đến với thơ Huy Cận, chúng ta cũng nhận thấy rất

rõ điều đó Nếu như trước Cách mạng cái tôi trong thơ ông nhuốm màu sắc cổ điển, cô đơn, lạc loài, sầu muộn thì sau Cách mạng cái tôi ấy đầy niềm tự hào, ngợi ca và dấn thân, nhập cuộc vào cuộc sống mới Đồng thời cái tôi trữ tình trong thơ Huy Cận còn có những nét riêng, đó là cái tôi của nỗi niềm khắc khoải không gian và niềm khao khát vươn ra vũ trụ bao la

1.2 QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT VÀ HÀNH TRÌNH SÁNG TÁC THƠ HUY CẬN

1.2.1 Quan niệm nghệ thuật về thơ của Huy Cận

Để hiểu sâu sắc và đánh giá đúng về quan niệm nghệ thuật của Huy Cận, trước tiên ta phải thấy rằng, thơ Huy Cận thay đổi qua từng thời kỳ lịch

sử Chính sự thay đổi đó được xuất phát từ những quan niệm khác nhau về thơ của ông Tuy nhiên, là một nhà thơ của dân tộc, Huy Cận luôn sáng tạo nghệ thuật một cách say mê và đầy nghiêm túc Là một nhà thơ nổi tiếng với rất nhiều tác phẩm để đời, được rất nhiều người khen ngợi, ca tụng nhưng nhà thơ rất khiêm tốn, chưa bao giờ “tự kiêu” về điều đó Ông luôn gắn bó với Tổ quốc, nhân dân Huy Cận luôn biết lắng nghe, cảm thông và thấu hiểu, quan tâm đến con người Và trong nghệ thuật cũng vậy, nhà thơ rất đổi giản dị, chân chất, sống và quan niệm về nghệ thuật như chính cuộc đời, chính con người ông Huy Cận biết ghi nhận những hạn chế trong thơ mình và cảm thấy

“xấu hổ” mỗi khi được nghe ai đó khen một bài thơ mà đối với ông chưa

xứng đáng được ngợi khen như vậy: “Huy Cận là người sáng suốt: những bài thơ tầm thường thì anh biết là tầm thường và rất khổ tâm khi các nhà phê bình mang ra ca ngợi Có lần anh nói với tôi: “thơ dở như thế mà họ khen, làm người đọc thắc mắc: những câu không được khen thì còn dở đến chừng nào” [54] Đó cũng là lời tâm sự tận đáy lòng của nhà thơ trong một lần trò

chuyện với tác giả Đặng Tiến – một nhà nghiên cứu văn học Nghe những lời

Trang 26

tâm sự thật lòng của Huy Cận, chúng ta như ngưỡng mộ và mến phục nhà thơ hơn

Thơ Huy Cận buồn như một khúc nhạc làm não lòng người nghe, nhưng cái cốt lõi, tư tưởng, quan niệm thơ ông rất nhất quán, nhà thơ từng

khẳng định: “Dòng thơ tôi luôn luôn nhất quán, đó là thơ của cuộc đời, của con người, lúc buồn nhất cũng không lạc vào thơ Loạn, thơ Điên” [54] Quan

niệm thơ như thế, nhà thơ đã thể hiện được độ chín của tư duy nghệ thuật cũng như vẻ đẹp của tư tưởng trong từng trang thơ Thật đúng vậy, dù có khi thực tại xã hội khiến cho cuộc sống trở nên đau buồn hơn và các thi nhân cũng bất lực trước điều đó Nhưng Huy Cận vẫn giữ được cho trang thơ mình một nỗi buồn man mác, nỗi buồn đó bao giờ cũng gắn liền với con người, cuộc sống

Thơ Huy Cận, nhất là sau Cách mạng rất gần gũi với con người, bởi

ông quan niệm thơ phải gắn với đời Nhà thơ từng tâm sự: “Tôi sống và lao động ở mỏ với tất cả cái hào hứng của một cán bộ muốn đi sâu vào phong trào quần chúng của một con người vốn ham giao thân với nhiều người khác, ham kết bạn với những con người chân thực, với những tấm lòng bạn bè” [8,

tr.175] Thơ theo ông phải gắn với đời sống, gắn với lao động thì mới làm nên những bài thơ có ý nghĩa, giá trị thực sự để lại cho cuộc đời Thơ chỉ tràn ra khi trong tim ta cuộc sống thật tràn đầy, thơ là cảm xúc dâng trào của tâm hồn, muốn làm thơ hay đòi hỏi người nghệ sĩ phải có cảm xúc Và để có được cảm xúc đó, phải biết gắn bó, dấn thân và hòa nhập vào cuộc sống Thơ sau cách mạng của Huy Cận đã có những thay đổi quan trọng vì vẫn còn có nhiều bài buồn nhưng nỗi buồn ở giai đoạn này cũng đã mang sắc thái khác Huy Cận từng bày tỏ quan niệm nghệ thuật về thơ trước và sau cách mạng Nói về

thơ trước cách mạng, ông từng tự nhận xét rằng: “Trước cách mạng, thơ tôi rất buồn, không phải buồn về số phận cá nhân, mà buồn về cuộc đời; cái

Trang 27

buồn ấy của tôi được các nhà nghiên cứu, bình luận là cái buồn nhân thế, cái sầu đau đời”[8, tr.112] Sau Cách mạng, quan niệm của nhà thơ thay đổi:

“sau này, sống cách mạng và sống bên cạnh Bác Hồ, thấm đẫm tư tưởng, tình cảm dân tộc của Bác, tôi nhớ nhiều đến cha ông, đến cái hào hùng, và cả cái đau xót, đau đời của cha ông” [8, tr.112] Huy Cận là người có tầm hiểu biết

sâu sắc trên nhiều lĩnh vực từ kinh tế, chính trị đến văn hóa, tôn giáo, triết học,… nhưng ở ông vẫn thể hiện được một con người đời thường và không

bao giờ “quên những việc đời thường” Huy Cận có trí nhớ rất tuyệt vời, bởi

ở ông luôn là người luôn biết quan tâm đến mọi người xung quanh, nhất là

với vạn bè, đồng nghiệp Do đó, nhà thơ dù ở tuổi tám mươi “không bao giờ

lỡ hẹn với ai dù chỉ vài phút”

Huy Cận được bạn đọc yêu mến bởi không chỉ trang thơ ông luôn chứa đựng những giá trị nhân văn sâu sắc, mà còn ở quan niệm nghệ thuật của nhà thơ Quan niệm nghệ thuật của Huy Cận thể hiện nhận thức về bản thân, sứ mạng của nghệ thuật đối với cuộc sống, con người,…ở trách nhiệm của người nghệ sỹ đối với dân tộc, nhân dân Quan niệm nghệ thuật của nhà thơ có sự thay đổi, biến chuyển theo thời gian, điều này được thể hiện rõ nét ở giai đoạn trước và sau cách mạng Nhưng dù có biến chuyển thế nào thì quan niệm nghệ thuật của Huy Cận vẫn thể hiện được niềm khát khao về tình yêu cuộc sống, yêu con người, luôn vươn tới thế giới tự do, hạnh phúc Có thể thấy rằng, sáng tác của Huy Cận thể hiện đầy đủ quan niệm của ông về nghệ thuật nói chung cũng như quan niệm về thơ nói riêng Đó là những quan niệm thể hiện tính nhân văn, nhân đạo sâu sắc về cuộc sống, về con người

1.2.2 Hành trình sáng tác thơ Huy Cận

Huy Cận là một trong những nhà thơ nổi tiếng của phong trào Thơ Mới, được đông đảo bạn đọc yêu mến Ông sinh ra và lớn lên trong một gia đình Nho giáo, cả bố và mẹ đều rất yêu thích văn chương Trải qua hành trình

Trang 28

dài sáng tác thơ, Huy Cận đã rất xuất sắc khi mang đến cho cuộc đời những trang thơ có giá trị to lớn.Mở đầu cho sự nghiệp văn chương của Huy Cận là

những bài bình thơ đăng trên các báo như Tràng An, Sông Hương, …Và sau

đó cùng với những bài bình thơ, bài nghiên cứu thơ là các bài thơ của ông lần

lượt có mặt ở các tờ báo, trong đó phổ biến nhất là báo Ngày nay Cũng như

bao nhà thơ lớn khác, Huy Cận dần dần sáng tác thật nhiều những bài thơ được đông đảo bạn đọc yêu thích Để dễ theo dõi và tìm hiểu thơ Huy Cận, ta

đi vào trang thơ của ông ở hai giai đoạn, trước và sau Cách mạng tháng Tám

1945

Thơ Huy Cận những năm trước Cách mạng tháng tám 1945 phải nhắc đến trươc tiên là tập thơ đầu tay Lửa Thiêng (1940) Thời gian này, Huy Cận cùng sống với Xuân Diệu tại số 40 Hàng Than-Hà Nội Đôi bạn thân thiết với nhau như hình với bóng này đã làm nên những vần thơ mãi mãi ghi dấu ấn

trong trái tim bạn đọc Tập thơ gồm có 50 bài,và vừa ra đời Lửa Thiêng đã

nhanh chóng được nhiệt liệt đón nhận từ phía độc giả ở mọi lứa tuổi, thành phần Không phải ai cũng có được một sự cảm nhận tinh tế, một cái nhìn chín chắn, trải nghiệm về tình đời, tình người ở tuổi còn rất trẻ như Huy Cận Nhà

thơ đã sáng tác tập thơ đầu tay Lửa Thiêng khi mới vừa tròn hai mươi mốt tuổi Tiếp nối cho nguồn mạch thơ của ông là tập thơ Vũ trụ ca (1942) Sự ra

đời của tập thơ này đã dần dần khẳng định hơn nữa vị trí của Huy Cận trên thi đàn Giờ đây, nỗi buồn của tác giả tìm về với không gian vũ trụ mênh mông, bất tận, tiếng thơ lúc này đã trở nên hòa nhập vào tạo vật, tìm nguồn vui lớn

từ thiên nhiên vũ trụ bao la như chính nhà thơ tự bạch “Có lẽ tạo vật đau thương, đất trời vắng lạnh vì nỗi lòng ta xa cách tạo vật đó thôi Ta hãy trở về, ta hãy nhập cuộc, có nhịp sống đưa nâng, có dòng đời xô đẩy, cái vui lớn, cái vui trọng đại dâng sóng tràn khắp cõi đời”

Trang 29

Sau Cách mạng tháng Tám, Huy Cận cũng như nhiều nhà thơ Cách mạng khác khi bắt gặp được ánh sáng, được lí tưởng của Cách mạng soi rọi thì bừng sáng như tiếng reo vang của Tố Hữu trong “Từ ấy”: “Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ/ Mặt trời chân lí chói qua tim/ Tâm hồn tôi là một vườn hoa lá/

Rất đậm hương và rộn tiếng chim ca”(Từ ấy) Đó cũng là niềm vui của Huy Cận khi bắt gặp được ánh sáng cách mạng, nhưng để đi từ “thung lung đau thương đến cánh đồng vui” là một điều không dễ trong thời gian ngắn mà

phải qua một quá trình để thay đổi Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, trong suốt thời kỳ chống Pháp khốc liệt để tiến tới ký kết Hiệp định Giơnevơ, nhà thơ Huy Cận dường như không thấy xuất hiện trên thi đàn với những tác phẩm thơ Sau một thời gian khá dài như để mọi nỗi niềm khắc khoải dồn

nén, đến 1958, ông mới cho ra đời tập Trời mỗi ngày lại sáng Tập thơ được viết sau đợt đi thực tế lao động tại Hồng Gai

Liên tiếp những năm sau đó, nhà thơ đã sáng tác các tập thơ: Ðất nở hoa (1960), Bài thơ cuộc đời (1963), Hai bàn tay em (1967), Những năm sáu mươi (1968),Cô gái Mèo (1972), Chiến trường gần đến chiến trường xa (1973), Những người mẹ, những người vợ (1974), Ngày hằng sống, ngày hằng thơ (1975),Hạt lại gieo(1984)

Ngay nhan đề của các tập thơ ở giai đoạn sau Cách mạng, cũng đã cho người đọc một cảm nhận về nội dung Đó là những vần thơ tươi vui hơn, trong sáng hơn khi tác giả hòa nhập vào cuộc sống với niềm tin mới ở đất nước Có thể nói, cuộc Cách mạng tháng Tám thành công đã mở ra cho dân tộc ta một trang sử vẻ vang, và chính vì thế cũng đã đem lại cho cuộc sống của con người những niềm vui mới, niềm vui của con người được sống trong độc lập tự do, thoát khỏi nỗi thống khổ nô lệ Dù rằng để tiến tới thành công rực rỡ, đất nước sạch bóng quân thù, nhân dân ta cũng phải trải qua, nhưng Cách mạng vẫn là động lực, là lí tưởng để mọi người đặt niềm tin vào đó mà

Trang 30

phấn đấu Đây cũng là giai đoạn đánh dấu một bước chuyển biến lớn trong thơ Huy Cận Mỗi tập thơ, trang thơ ông trong thờ kỳ này là một nỗ lực lớn,

tự vượt lên chính mình để dần dần khẳng định sự góp mặt vào cuộc sống mới

Vì thế, thơ Huy Cận giai đoạn này ítnỗi buồn, thay vào đó là cái nhìn tươi vui hơn Đặc biệt, vào những năm kháng chiến chống Mỹ, thơ Huy Cận thể hiện tính thời sự cao và tập trung ngợi ca chủ nghĩa anh hùng cách mạng, ca ngợi sức quật cường, mãnh liệt, sự bền bỉ, bất diệt và phong thái lạc quan của con người Việt Nam

Huy Cận không chỉ được bao thế hệ bạn đọc yêu mến qua những vần thơ chan chứa tình yêu quê hương, đất nước, con người sâu sắc mà còn bởi ở một tâm hồn trong sáng yêu tuổi thơ tha thiết Nhà thơ có trái tim nhân hậu đã trãi lòng mình trước những mầm non bé nhỏ của cuộc đời để kết thành trang thơ thiếu nhi vừa hồn nhiên, trong sáng và dễ thương Ông rất yêu mến và luôn

quan tâm đến những em nhỏ Đọc tập thơ Hai bàn tay em của ông, người đọc

bắt gặp ở đó là những cảnh vật rất đỗi gần gũi với cuộc sống của trẻ em, những con vật ở xung quanh ta vì thế cũng trở nên sinh động hơn dưới ngòi bút của Huy Cận như: con ve, con cóc, con dế, cái chong chóng… Qua những trang thơ viết cho trẻ em, nhà thơ muốn gửi đến cả những người lớn bài học giáo dục sâu sắc về lòng yêu quê hương, đất nước, yêu con người, yêu dân tộc, yêu lao động, Nhẹ nhàng mà sâu lắng, trang thơ viết cho thiếu nhi của Huy Cận không là những lời giáo huấn khô khan, cứng nhắc mà rất đỗi hồn nhiên, ngộ nghĩnh nên dễ đi vào tâm trí trẻ thơ Ai không yêu mến một hồn thơ vừa trong sáng vừa ngộ nghĩnh như câu thơ“Buổi trưa lim dim/ Nghìn con mắt lá/ Bóng cũng nằm im/ Trong vườn êm ả”

Đại thắng mùa xuân năm 1975, đất nước được giải phóng hoàn toàn, bắc nam sum họp một nhà, đất nước trở về với thời bình và bước vào công cuộc kiến thiết, đổi mới, nhà thơ Huy Cận với bút lực dồi dào vẫn sáng tác đều đặn

Trang 31

Những tập thơ tiêu biểu ở giai đoạn này là: Ngôi nhà giữa nắng (1978), Hạt lại gieo (1984), Chim làm ra gió (1989), Lời tâm nguyện cùng hai thế kỷ

(1997) Và tiếp tục những trang thơ đầy suy tưởng, hướng nội, chiêm nghiệm

về ý nghĩa nhân sinh cao cả từ những biểu hiện bình dị, giản đơn của cuộc sống đời thường

Những tập thơ có giá trị to lớn mà Huy Cận để lại, đã khẳng định vị trí cũng như tầm quan trọng của nhà thơ trong văn học nước nhà Không phải ai cũng có thể sáng tạo nghệ thuật một cách bền bỉ và không ngừng như Huy Cận Và để có thể đem lại cho cuộc đời một khối lượngthơ lớn như vậy, cùng với một tài năng hơn người, một trí tuệ uyên bác, một phong cách độc đáo, ở ông còn có một niềm đam mê nghệ thuật cháy bỏng

1.3 VỊ TRÍ HUY CẬN TRONG DÒNG MẠCH CỦA THƠ CA HIỆN ĐẠI VIỆT NAM

1.3.1 Huy Cận trong Thơ Mới

Huy Cận đã tạo niềm yêu thích trong lòng người đọc và đứng vững qua thời gian ngay từ khi mới xuất hiện trên thi đàn như lời nhận định của Hoài

Thanh “Huy Cận vừa bước vào làng thơ đã được người ta dành ngay cho một chỗ ngồi yên ổn” [49, tr.132] Như vậy, từ khi xuất hiện trong phong trào Thơ

Mới, nhà thơ Huy Cận đã có một vị trí nhất định Thơ ông luôn là mạch nguồn dồi dào sinh lực chảy trong phong trào Thơ Mới Đầu tiên, chúng ta biết đến vẻ đẹp trong thơ ông, ở chính nỗi buồn cao cả Ở cái tuổi còn quá trẻ

ấy, lẽ ra ông phải sáng tác những bài thơ tràn ngập niềm vui của sức trẻ, của mùa xuân tươi vui, của cuộc sống mến yêu nhưng nhà thơ đã để lại một nỗi buồn man mác ngay từ những bài thơ đầu Thế nhưng, nỗi buồn trong thơ Huy Cận vẫn được cảm nhận một cách sâu sắc từ chính niềm tin yêu cuộc đời, yêu người tha thiết, mãnh liệt nhất Bởi cái buồn của nhà thơ không xuất phát

từ bi kịch của cá nhân mà cái buồn ấy luôn gắn với ý thức của cả một thế hệ,

Trang 32

cộng đồng về nỗi thống khổ, nô lệ.Và dù cố vươn ra vũ trụ để vơi đi bao nỗi sầu vì hiện thực xã hội, trang thơ ông lúc bấy giờ vẫn còn đượm buồn, một nỗi buồn vô tận từ lòng người, từ tình đời Có thể bao quát thơ Huy Cận trước cách mạng bằng những lời nhận xét của nhà nghiên cứu Trần Khánh Thành,

đó là “Như nhiều nhà thơ lãng mạn khác, Huy Cận giai đoạn này ít thơ vui hơn thơ buồn Luôn có một nỗi sầu thường trực trên từng trang thơ của ông, nhưng đó là biểu hiện sinh động của bi kịch tâm trạng; đáng được cảm thông, trân trọng”

Bấy nhiêu đó cũng đủ cho ta yêu hơn một con người vì dân vì nước, một nhà chính trị nhưng không hề khô khan theo kiểu chính trị mà luôn đằm thắm, nhẹ nhàng và sâu lắng trong từng lời thơ Tuy là một nhà thơ lớn của dân tộc, là cán bộ cao cấp của Chính phủ được bao người tôn kính, và quý mến nhưng ở Huy Cận còn dễ được mọi người cảm mến hơn, bởi ông còn là

một con người của đời thường giản dị Nhà thơ “có tầm nhìn chiến lược và tính cẩn trọng của một nhà lãnh đạo nhưng cũng rất tinh tế, đa cảm, lãng mạn và đam mê của một thi sĩ tài hoa”

Phong trào Thơ Mới là một hiện tượng rất độc đáo trong lịch sử văn học Việt Nam Đặc trưng dễ nhận thấy,là tiếng thơ của cái tôi cá nhân, cá thể được xuất hiện, hiện lên một cách trực tiếp mà không hề giấu diếm Có thể

nói “chưa bao giờ trong thơ ca cái tôi hiện lên ở nhiều cấp độ như vậy” Tuy

cái tôi trong thơ Huy Cận không giống như Xuận Diệu “Ta là một, là riêng, là thứ nhất/ Có khác chi bè bạn nổi cùng ta”hay một Lưu Trọng Lư với cái tôi

“Giật mình ta thấy bồ hôi lạnh/ Mộng đẹp bên chăn đã biến rồi”, một Hàn Mặc Tử với sự mê say tột độ của niềm khao khát cuộc sống “Ta muốn hồn trào ra đầu ngọn bút/ Mỗi lời thơ đều dính não cân ta”.Còn cái tôi trong thơ Huy Cận đượm một nỗi buồn sâu lắng“Một chiếc linh hồn bé nhỏ/ Mang

mang thiên cổ sầu” (Ê chề) Cái tôi trữ tình của nhà thơ lúc này đây cố vươn

Trang 33

lên nhưng đành bất lực trước thời cuộc Thơ Huy Cận cũng không thoát khỏi cõi mơ – một trong những nét đặc trưng lớn của Thơ Mới Đó là cõi của sự tưởng tượng, được nâng lên của đôi cánh cảm xúc Không phải ngẫu nhiên mà các nhà thơ mới lúc bấy giờ tìm vào cõi mơ để thể hiện cái tôi bản thân Xuất phát từ hoàn cảnh của xã hội, một xã hội với những luật lệ hà khắc của chế độ phong kiến, với sự chèn ép dã man của bọn thực dân xâm lược, đã tạo nên trong mỗi con người, nhất là với các nhà thơ một sự bất bình trước thời cuộc, trước cuộc sống Xã hội đã đẩy con người đến “bước đường cùng”, đầy tăm tối và mờ mịt Đó cũng là điều mà các nhà thơ lúc bấy giờ luôn trăn trở, suy

tư để rồi làm nên những bài thơ nghe thấm hương vị não nề Huy Cận là một trong những thi nhân tiêu biểu nhất cho dòng thơ u buồn Có thể nói, mỗi khi gợi nhắc đến Thơ Mới, ta đều nghĩ đến nỗi buồn, như một nét đặc trưng riêng không thể thay đổi được Vì xuất phát từ tính nhân bản của văn chương, và có

lẽ chỉ có con người mới biết buồn Buồn như một nét đẹp “sang trọng” mà tạo hóa đã dành riêng cho loài người trên Trái đất Cũng không nằm ngoài đặc trưng này nên thơ Huy Cận có một vị trí rất lớn trong phong trào Thơ Mới Nỗi buồn trong thơ Huy Cận như trải rộng từ không gian địa lí, thời gian cho đến nỗi buồn “vô cớ” từ trong tâm hồn nhạy cảm của nhà thơ:“Mưa rơi trên

sân/ Mái nhà nghiêng dần/ /Ôi buồn trời mưa!” (Điệu buồn)

Tình yêu là đề tài muôn thuở không bao giờ cạn kiệt trong cuộc sống cũng như trong thơ văn Tình yêu trong Thơ Mới rất đỗi say đắm và lãng mạn, yêu tha thiết và buồn cũng trĩu nặng Trang thơ Huy Cận cũng không thiếu những bài thơ tình đầy lãng mạn, thể hiện tình yêu mãnh liệt nhất:“Hoa nhớ hoa thương hoa đợi chờ/ Hoa hương da thịt nối hồn mơ/ Lòng anh là cả

vùng hoa núi/ Ấp ủ lòng em muôn cánh thơ" (Chùm hoa núi tặng) Trong Thơ

Mới, các nhà thơ thường buồn vì những mối tình không thành, dang dở, yêu

mà không được yêu như kiểu Xuân Diệu “Yêu là chết ở trong lòng một ít/ Vì

Trang 34

mấy khi yêu mà chắc được yêu” Thơ Mới thường “khắc khoải” trước không

– thời gian, mà Huy Cận là một “đại biểu xuất sắc” nhất cho trang thơ viết về

vũ trụ, không – thời gian Ở thơ Huy Cận luôn tràn ngập cảm hứng về vũ trụ

ca, về thiên nhiên, đất trời Đặc biệt, bên cạnh giá trị nội dung, tư tưởng mà nhà thơ đóng góp cho phong trào Thơ Mới, giá trị nghệ thuật với sự sáng tạo ngôn ngữ, thể loại, cấu trúc thơ,…cũng đưa thơ Huy Cận lên đỉnh cao của Thơ Mới

Như vậy, với những giá trị nội dung và nghệ thuật mà nhà thơ đã thể hiện trong thơ trước cách mạng, chúng ta có thể khẳng định được vị trí, tầm quan trọng của thơ ông trong Thơ Mới Hay nói cách khác, Thơ Mới không thể thiếu một gương mặt thơ tiêu biểu như Huy Cận

1.3.2 Huy Cận và thơ sau Cách mạng

Cách mạng tháng Tám đã đưa dân tộc ta thoát khỏi ách nô lệ, mở ra một trang sử mới đầy tươi sáng Cách mạng cũng ảnh hưởng rất lớn đến các văn nghệ sỹ lúc bấy giờ, trong đó có Huy Cận Chuyển từ một lối viết buồn sâu thẳm, não nề, nhà thơ đã đem đến cho bạn đọc những tiếng thơ tràn ngập khí thế, nhiệt huyết của lí tưởng sống, của khát vọng vươn lên thoát khỏi cuộc sống tù đày Giọng điệu thơ dần dần thoát khỏi trầm buồn để thay bằng giọng vui vẻ, lạc quan hơn Cái tôi trữ tình trong giai đoạn này hòa nhập với cuộc đời, với nhân dân Thế nhưng, không phải ngày một ngày hai cái tôi với tâm hồn đa cảm, đa sầu trong thơ Huy Cận nhanh chóng chuyển sang cái tôi vui

vẻ, nhiệt huyết hơn mà phải qua thời gian Phải đến năm1958, ông mới cho ra

đời tập thơ Trời mỗi ngày lại sáng Hòa chung với các tác giả thơ cùng thời,

Huy Cận thể hiện cái tôi trữ tình với tình yêu quê hương, đất nước sâu sắc Giai đoạn này, quá trình hiện đại hóa văn học đang diễn ra đòi hỏi các tác giả thơ phải vượt qua được “từ trường” của Thơ Mới để có một bước phát triển mới Ở giai đoạn này, đất nước ta phải tiến hành hai nhiệm vụ, đó là cuộc đấu

Trang 35

tranh chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ Từ năm 1945 đến 1954 đất nước phải đương đầu với bọn thực dân Pháp xâm lược Các tác giả thơ Việt Nam hiện đại phần lớn là những tác giả đã nổi tiếng trong phong trào Thơ Mới, họ đến với cách mạng bằng tất cả niềm tin Ở giai đoạn này, Huy Cận tạm lắng ngòi bút để chiêm nghiệm và nung nấu tâm hồn để rồi đến giai đoạn kháng chiến chống Mỹ, nhà thơ mới xuất hiện trở lại trên thi đàn Thơ ca giai đoạn này trưởng thành vượt bậc Lớp nhà thơ tiền chiến đã qua giai đoạn “chuyển nhựa lên cành và bắt đầu chín với thực tế mới” Phong cách nghệ thuật của họ không chỉ định hình mà còn phát triển

Trong những xu hướng chủ yếu của giai đoạn này, đó là chất suy tưởng trong thơ Ở xu hướng này, hiếm tác giả nào có thể so với Huy Cận Phải thấy rằng vị trí của nhà thơ trong giai đoạn sau cách mạng luôn được khẳng định ở

tầm cao Với Đất nở hoa, Trời mỗi ngày lại sáng,… Tác giả đã đem đến cho

cuộc đời những bài thơ giàu chất suy tưởng và tư duy sâu sắc Nhà thơ như muốn ôm hết vũ trụ vào cuộc sống để thỏa cơn khát tình yêu với thiên nhiên,

vũ trụ, đất nước Cảm thức vũ trụ luôn chiếm lấy trái tim thi nhân ngay cả khi chết đi rồi vẫn không nguôi khát vọng ấy: “Rồi một ngày kia hết ở đời/ Cho ta theo biển khỏa chân trời/ Điều chi chưa nói xin trao sóng/ Lấp lánh hồn ta

mặn gió khơi” (Ta viết bài thơ gọi biển về)

Nói đến đề tài sáng tác sau Cách mạng của Huy Cận, Ngô Văn Phú

trong bài viết “Huy Cận và vũ trụ ca” đã có sự so sánh với Lửa thiêng trước đó: “Khác với những dòng thơ của Lửa thiêng, những cảm hứng thơ thời kỳ này đã được Huy Cận thêm vào chất trí tuệ, tính lý tưởng đầy thuyết phục… Thơ ông nhấn mạnh đến tính thời đại của cuộc kháng chiến vì độc lập tự do,

vì hòa bình của nhân loại Tiếng thơ ông không những có mặt bên những chiến hào chống Mỹ mà còn được dịch ra nhiều thứ tiếng, hòa đồng với những tiếng thơ của các nhà thơ nổi tiếng khác, trong những năm lịch sử hào

Trang 36

hùng, được các bạn bè năm châu đón nhận” [46, tr.190] Qua hành trình sáng

tác từ những năm sau Cách mạng mà Huy Cận đã để lại cho cuộc đời, một lần nữa ta có thể khẳng định tầm quan trọng, vị trí hết sức to lớn của nhà thơ trong tiến trình sáng tác thơ Cùng với một đội ngũ lớn “hùng dũng” của thơ

ca sau Cách mạng, Huy Cận cũng đã có những đóng góp quan trọng ở cả nội dung, giá trị tư tưởng và cả nghệ thuật đặc sắc, xứng đáng được ngợi ca không chỉ đối với nhân dân ta, mà còn với cả thế giới

Nói về thơ trước cách mạng, ông từng tự nhận xét rằng: “Trước cách mạng, thơ tôi rất buồn, không phải buồn về số phận cá nhân, mà buồn về cuộc đời; cái buồn ấy của tôi được các nhà nghiên cứu, bình luận là cái buồn nhân thế, cái sầu đau đời”[8, tr.112] Sau cách mạng, quan niệm của nhà thơ thay đổi:

“sau này, sống cách mạng và sống bên cạnh Bác Hồ, thấm đẫm tư tưởng, tình cảm dân tộc của Bác, tôi nhớ nhiều đến cha ông, đến cái hào hùng, và cả cái đau xót, đau đời của cha ông” [8, tr.112].Ở cả hai giai đoạn trước và sau cách

mạng, nhà thơ đều thể hiện ngòi bút xuất sắc khi đi vào khám phá hiện thực cuộc sống Trải qua bức tường thời gian, Huy Cận vẫn giữ được vị trí quan trọng trong phong trào Thơ Mới nói chung và thơ Việt Nam nói riêng

Trang 37

CHƯƠNG 2

NÉT ĐẶC SẮC CỦA CÁI TÔI TRỮ TÌNH THƠ HUY CẬN

2.1 CÁI TÔI SẦU MUỘN VÀ ĐẬM CHẤT CỔ ĐIỂN

2.1.1 Cái tôi sầu muộn, lạc loài

Cái tôi trữ tình trong thơ Huy Cận đa dạng, phong phú với muôn cung bậc tình cảm khác nhau Trước cách mạng tháng Tám, đó là cái tôi sầu muộn, lạc loài Cái tôi trữ tình mang đặc điểm “sầu muộn”, “lạc loài” này được Huy

Cận thể hiện nhiều nhất qua tập thơ đầu tay Lửa thiêng (1940) và được các

nhà nghiên cứu nhận định nỗi buồn trong thơ ông xuất xứ từ rất nhiều những

nguyên nhân khác nhau: “Lửa thiêng dằng dặt một nỗi buồn nhân thế, triền miên những nỗi đau đời Nỗi buồn của Huy Cận thời Lửa thiêng là kết quả của quá trình lắng nghe tinh tế nhịp sầu vũ trụ và nỗi buồn nhân gian, là sự ý thức về thân phận con người trong cuộc đời nô lệ ” [10, tr.7]

Đọc thơ Huy Cận, ta thấy nhà thơ dễ xúc động trước một chuyện tình đầy trắc trở, một tình yêu mộng mơ, lãng mạn, một vẻ đẹp bao la của vũ trụ, của quê hương, đất nước, hay một nỗi niềm tâm sự về nhân sinh, về cuộc đời,…và hơn thế, ta dễ bắt gặp tâm hồn mình trong nỗi buồn, cô đơn, lạc loài của thi nhân Nhất là trong mỗi bài thơ của Huy Cận, nỗi sầu muôn thuở như kéo dài, thấm vào lòng người để rồi lan tỏa đến cảnh vật như kiểu “Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”(Nguyễn Du).Cái tôi thi nhân buồn và cảm thấy lạc loài, chơi vơi, không tìm được lối thoát Chính nỗi buồn, nỗi cô đơn trong những tác phẩm của Huy Cận đã làm cho thơ của ông trở nên có hồn hơn, gần gũi hơn Hóa ra cái “buồn buồn”, trong thơ không phải là cái khiến người đọc cảm thấy “chán ngắt” mà lại tạo nên sự cuốn hút “dễ thương”, dễ đi vào lòng người Những vần thơ Huy Cận trước cách mạng tháng Tám mà tiêu biểu nhất

là tập thơ “Lửa Thiêng” man mác những nỗi buồn, nỗi cô đơn, lạc loài Ta

Trang 38

thử đặt ra câu hỏi tại sao cái tôi tác giả lại buồn nhiều đến vậy? Phải chăng

do sự đa cảm, đa sầu trong chính tâm hồn thi nhân? Quay trở lại với dòng

Thơ mới lúc bấy giờ, ta không chỉ tìm thấy một Huy Cận “buồn điệp điệp”mà

rất nhiều tác giả như Xuân Diệu, Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên,…cũng đều rất buồn dù sự thể hiện nỗi buồn khác nhau Đây là nỗi buồn chung của thời đại.Cái tôi trữ tình trong thơ Huy Cận vì thế luôn thao thức buồn trước thực tại xã hộị tăm tối: “Tôi đội tang đen cùng mũ trắng/ Ra đi không hẹn ở trên

đường”(Giấc ngủ chiều)

Trái tim nhân văn của thi nhân “khô khéo” vì đau buồn trước hiện thực phũ phàng của xã hội Nhà thơ không chỉ thốt lên lời than thở mà còn có cả những giọt nước mắt từ trong thẳm sâu “chưa tan”, chưa nguôi ngoai của mình: “Trước Thượng đế hiền từ tôi sẽ đặt/ Trái tim đau khô héo thuở trần gian/ Tôi sẽ nói:“Này đây là nước mắt/ Ngọc đau buồn, nguyên khối vẫn chưa

tan”(Trình bày) Ta chợt nhớ đến nhà thơ Tản Đà cũng có chung nỗi buồn khi than thở “Đêm nay buồn lắm chị Hằng ơi/ Trần thế em nay chán nữa rồi…”

Nỗi niềm trăn trở, buồn đau của nhà thơ Huy Cận – nỗi buồn của một người dân mất nước, mất tự do Cũng như bao nhà thơ lãng mạn cùng thời, Huy Cận cảm thấy như bị tù đầy, ngột ngạt khi bị cướp đi quyền tự do, dân chủ:

“Chàng Huy Cận khi xưa hay sầu lắm/ Gió trăng ơi! nay cònnhớ người chăng?/ Hơn một lần chàng đã gửi cho trăng/ Nỗi hiu quạnh của hồn buồn không có/ Thuở chàng sống thì lòng chàng hay nhớ/ Nỗi nhớ thương không biết đã tan chưa/ Hay lòng chàng vẫn tủi nắng, sầu mưa/Cùng đất nước và

nặng buồn sông núi?”(Mai sau) Khi phải chứng kiến cảnh nhân dân rơi vào

lầm than, nô lệ, tâm hồn thi nhân thương xót, đau đớn thay Bởi vậy cái buồn trong thơ Huy Cận luôn xuất phát từ tình yêu quê hương, đất nước, con người

tha thiết “có cái gốc từ lòng yêu đời, từ tình yêu quê hương, đất nước Nỗi buồn ấy không chán chường, bi lụy mà trong trẻo, dễ cảm thông và được

Trang 39

nhiều người đồng cảm” [50, tr.48] Đồng cảm và chia sẻ với nỗi buồn của tác

giả nên những vần thơ Huy Cận bao giờ cũng dễ đi vào lòng người, bởi ở đó

là những lời tâm sự chân thành, sâu lắng Nỗi sầu da diết, sầu và cảm thấy cô đơn, lạc loài giữa cuộc đời ấy cũng chính là nỗi sầu của hàng vạn người dân ta

thời bấy giờ như lời nhận xét của Trần Đình Việt “Nỗi buồn của Huy Cận mong manh, vương vấn như sương khói mà có sức gợi cảm sâu xa, xuyên thấu những lớp vỏ bọc xơ cứng tâm hồn, giúp lòng người dễ gần gũi nhau hơn, dễ cảm thụ được cái đẹp thường ngày,…” [10, tr.555] Nỗi buồn của một người

dân mất nước không chỉ đeo bám lấy Huy Cận những năm trước cách mạng

với tập “Lửa Thiêng” mà đến với “Bài thơ cuộc đời” cảm hứng thơ đã thay đổi nhưng nỗi buồn vẫn dai dẳng mãi theo ông Chẳng hạn trong bài thơ “Các

vị La Hán chùa Tây Phương” Mỗi một khuôn mặt, một dáng hình của các vị

La Hán đều được thể hiện với những nỗi buồn đau riêng nhưng lại có chung một nỗi đau lớn, đó phải chăng là nỗi đau của cha ông ta khi rơi vào cảnh mất nước, nô lệ: “Mỗi người một vẻ, mặt con người/ Cuồn cuộn đau thương cháy dưới trời/ Cuộc họp lạ lùng trăm vật vã/ Tượng không khóc cũng đổ mồ

hôi”.Với bài thơ này, người đọc vẫn cảm nhận được nỗi buồn của nhà thơ

những năm trước cách mạng “Mặt cúi nghiêng, mặt ngoảnh sau/ Quay theo tám hướng hỏi trời sâu/ Một câu hỏi lớn Không lời đáp/ Cho đến bây giờ mặt vẫn chau”.Tác giảđi tìm câu trả lời cho nỗi đau muôn thuở ấy, nhưng rồi cũng đành bất lực trước cuộc đời đầy nghiệt ngã Trong Thơ mới ta từng bắt gặp một Chế Lan Viên với những nỗi sầu, nỗi cô đơn, trăn trở của một người dân mất nước, đó là một nỗi đau quá lớn của dân tộc, nhà thơ cũng đã từng thốt lên lời thở than “Với tôi tất cả đều vô nghĩa/ Tất cả không ngoài nghĩa khổ

đau!” (Xuân).Còn đối với Huy Cận nỗi buồn đó cũng không kém phần đau

khổ, dù rằng thiên nhiên, đất trời vẫn đang rất đẹp.Buồn đến tang thương, đến nao lòng người và không có một sự hi vọng, một niềm tin le lói Trước nỗi

Trang 40

buồn đó, tác giả như lạc loài, cô đơn giữa cuộc đời Ngay từ những dòng thơ đầu của bài thơ người đọc đã bắt gặp nỗi buồn của cái tôi trữ tình lan cả ra không gian và kéo dài theo thời gian: “Thức dậy, nắng vàng ngang mái nhạt/ Buồn gieo theo bóng lá đung đưa/ Bên thềm - Ai nấn lòng tôi rộng/ Cho trải

mênh mông buồn xế trưa” (Giấc ngủ chiều)

Phải yêu cuộc đời, yêu quê hương, đất nước, con người sâu sắc, nhà thơ mới có thể cảm thông và đau đớn, sầu muộn nhiều đến vậy Tác giả không thể

ơ hờ, thờ ơ trước những mất mát đau thương của người dân ta, nhưng nỗi buồn của nhà thơ như cũng trong vòng lẩn quẩn, không lối thoát Không chỉ

có Huy Cận mà nhiều thi nhân khác lúc bấy giờ cũng bất lực nhìn thời cuộc Tình yêu quê hương, đất nước vẫn mãi âm ỉ từng ngày, từng giờ nhưng tình yêu ấy không sôi nổi, không vô vập, vội vã, ồn ào mà thầm lặng và sâu sắc Nhà thơ buồn vì thực tại đầy ngăn cách, tang thương: “Ai chết đó? Nhạc buồn chi lắm thế!/ Chiều mồ côi, đời rét mướt ngoài đường/ Ảo não quá trời buồn

chiều vĩnh biệt”(Nhạc sầu).Ta bắt gặp một nỗi buồn tương tự ở thơ Chế Lan Viên với Điêu tàn.Đó là sự gặp gỡ trong nỗi cô đơn của các nhà thơ lãng mạn

có chung một nỗi buồn với cuộc đời “Đây, những cảnh ngàn sâu cây lả ngọn/

Muôn ma Hời sờ soạng dắt nhau đi”(Trên đường về)

Xuất phát từ một tình yêu sâu sắc, nặng lòng với quê hương, đất nước nên trong thơ Huy Cận tâm trạng buồn đau luôn hiện hữu Đó là nỗi đau chia

ly, nỗi đau bị chà đạp, dày xéo Nhà thơ buồn trước cái nghèo khổ, cơ cực của nhân dân trong thời buổi loạn lạc khi mà “Đôi guốc năm hiên kéo bốn mùa/

Tiền nhà ít gởi biết chi mua”(Học sinh) Tuy Huy Cận không nói nhiều về nỗi

thống khổ, thiếu thốn của bản thân cũng như cái nghèo túng của bao người dân ta bấy giờ như nhiều nhà thơ khác nhưng thấp thoáng đâu đó, người đọc vẫn cảm nhận được gương mặt người dân qua hình ảnh nhỏ bé, khổ đau: “Bạn tôi nhìn kỹ mới hay rằng/ Họ giống bà con trong xóm làng/ Cũng áo quần nâu

Ngày đăng: 17/05/2021, 13:09

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w