1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nhân vật trữ tình trong thơ tố hữu (qua việt bắc, máu và hoa, ta với ta)

91 4,6K 6

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 91
Dung lượng 615,51 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CẢM ƠN Trong quá trình triển khai đề tài “Nhân vật trữ tình trong thơ Tố Hữu Qua Việt Bắc, Máu và hoa, Ta với ta”, tác giả luận văn đã nhận được sự giúp đỡ của các thầy cô giáo của

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

NGUYỄN THỊ DUYÊN

NHÂN VẬT TRỮ TÌNH TRONG THƠ TỐ HỮU

(Qua Việt Bắc, Máu và hoa, Ta với ta)

Chuyên ngành: Lý luận văn học

Mã số: 60 22 01 20

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM

Ngvười hướng dẫn khoa học: PGS TS Đoàn Đức Phương

HÀ NỘI, 2016

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình triển khai đề tài “Nhân vật trữ tình trong thơ Tố Hữu

(Qua Việt Bắc, Máu và hoa, Ta với ta)”, tác giả luận văn đã nhận được sự

giúp đỡ của các thầy cô giáo của trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 và đặc biệt là PGS.TS Đoàn Đức Phương - người hướng dẫn trực tiếp

Tác giả luận văn xin được bày tỏ lòng biết ơn và gửi lời cảm ơn trân thành nhất đến các thầy cô!

Do năng lực nghiên cứu còn hạn chế, luận văn chắc chắn không tránh khỏi thiếu sót Rất mong được sự chỉ bảo, góp ý của các thầy cô và các bạn

Hà Nội, tháng 7 năm 2016

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Duyên

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan:

Luận văn “Nhân vật trữ tình trong thơ Tố Hữu (Qua Việt Bắc, Máu và hoa, Ta với ta)” là kết quả nghiên cứu của riêng tôi, có tham khảo ý kiến của

những người đi trước, dưới sự giúp đỡ khoa học của PGS.TS Đoàn Đức Phương

Luận văn không sao chép từ một tài liệu, công trình có sẵn nào

Kết quả của luận văn ít nhiều có đóng góp vào việc nghiên cứu, tìm hiểu về tác giả Tố Hữu và các tập thơ của ông

Hà Nội, tháng 7 năm 2016

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Duyên

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 5

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5

5 Phương pháp nghiên cứu 6

6 Đóng góp của đề tài 6

7 Cấu trúc của luận văn 6

Chương 1: KHÁI LUẬN VỀ NHÂN VẬT TRỮ TÌNH TRONG THƠ VÀ SÁNG TÁC THƠ TỐ HỮU 7

1.1 Khái niệm nhân vật, nhân vật trữ tình 7

1.1.1 Khái niệm nhân vật 7

1.1.2 Khái niệm thơ trữ tình và nhân vật trữ tình trong thơ 8

1.2 Sáng tác thơ của Tố Hữu 10

1.2.1 Khái quát tiểu sử nhà thơ Tố Hữu 10

1.2.2 Hành trình sáng tác và vị trí của Tố Hữu trong nền thơ ca cách mạng11 1.2.3 Quan niệm sáng tác của Tố Hữu 12

Chương 2: CÁC LOẠI NHÂN VẬT TRỮ TÌNH TRONG BA TẬP THƠ VIỆT BẮC, MÁU VÀ HOA, TA VỚI TA 17

2.1 Khái lược về ba tập thơ Việt Bắc, Máu và hoa, Ta với ta 17

2.2 Các loại nhân vật trữ tình trong ba tập thơ Việt Bắc, Máu và hoa và Ta với ta 19

2.2.1 Vị lãnh tụ 19

2.2.2 Người chiến sĩ 29

2.2.3 Người phụ nữ 38

Trang 5

2.2.4 Nhân vật thiếu nhi 44

2.2.5 Các nhân vật khác 49

Chương 3: PHƯƠNG THỨC BIỂU HIỆN NHÂN VẬT TRỮ TÌNH TRONG BA TẬP THƠ VIỆT BẮC, MÁU VÀ HOA, TA VỚI TA 55

3.1 Xây dựng biểu tượng 55

3.2 Ngôn ngữ, giọng điệu 61

3.2.1 Ngôn ngữ 61

3.2.1.1 Hệ thống từ địa danh 62

3.2.1.2 Ngôn ngữ gần với khẩu ngữ 64

3.2.1.3 Sử dụng dấu câu 66

3.2.2 Giọng điệu 69

3.3 Không gian, thời gian nghệ thuật 73

3.3.1 Không gian nghệ thuật 73

3.3.2 Thời gian nghệ thuật 78

KẾT LUẬN 83

TÀI LIỆU THAM KHẢO 85

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Tố Hữu (1920 - 2002) là nhà thơ xuất sắc và tiêu biểu cho nền văn học Việt Nam thế kỉ XX Thơ ông gắn bó chặt chẽ với cuộc đấu tranh cách mạng của dân tộc ta suốt bao năm dưới sự lãnh đạo của Đảng, phản ánh những nét lớn trong đời sống tinh thần của dân tộc ở một thời kỳ đã diễn ra nhiều biến

cố trọng đại và đổi thay to lớn của lịch sử Việt Nam trong thế kỉ XX

Thơ ông là tiếng thơ tiêu biểu cho một dân tộc anh hùng, thời đại anh hùng Tiếng thơ khi thì vang lên như “kèn” xung trận, khi lại thủ thỉ tâm tình sâu lắng Chính vì vậy thơ Tố Hữu luôn thu hút giới phê bình, nghiên cứu một cách đông đảo Mỗi tập thơ ra đời là một hiện tượng văn học lớn,nói như Piesre Emanuel là “đó là sự diễn đạt về số phận dân tộc mình” Đời thơ Tố

Hữu từ Từ ấy đến Ta với ta là một chặng đường dài trên sáu thập kỉ của một

nhà thơ cách mạng tiêu biểu nhất Việt Nam, trở thành đối tượng nghiên cứu

của hàng chục công trình phê bình nghiên cứu văn học

Nghiên cứu về thơ Tố Hữu là nghiên cứu về cả một cuộc đời của tâm hồn thơ ông, đi vào khám phá giá trị đặc sắc trong thơ ông không thể không

tìm hiểu vẻ đẹp của hình tượng nhân vật trữ tình trong từng tập thơ

Tuy nhiên khi nghiên cứu họ thường tập trung khai thác hình tượng nhân vật trong sự vận động của thơ Tố Hữu được phân định rạch ròi ở hai chặng trong kháng chiến và thời bình

Dẫu chưa có công trình nghiên cứu chuyên biệt bàn trực tiếp về nhân vật trữ tình trong thơ Tố Hữu ở ba tập thơ có giá trị tổng kết ba chặng đường thơ theo tiến trình lịch sử nhưng các công trình nghiên cứu riêng lẻ là những

ý kiến gợi ý quý báu để tôi thực hiện đề tài này

Việc thực hiện đề tài này giúp cho tôi có cơ hội nghiên cứu khoa học về một tác giả quan trọng trong chương trình nhà trường, được rèn luyện năng

Trang 7

lực phân tích tác phẩm trữ tình, giúp người đọc dễ dàng có cách nhìn, cách đánh giá đầy đủ hơn về đời thơ Tố Hữu

2 Lịch sử vấn đề

Trong suốt hơn năm thập kỷ qua, thơ Tố Hữu đã trở thành một hiện tượng, một đối tượng nghiên cứu lớn của giới học thuật, thu hút hầu hết các nhà nghiên cứu, phê bình tên tuổi trong cả nước: K và T, Trần Minh Tước, Trần Huy Liệu, Đặng Thái Mai, Hoài Thanh, Lê Đình Kỵ, Hà Minh Đức, Vũ Đức Phúc, Phan Cự Đệ, Nguyễn Văn Hạnh, Nguyễn Đăng Mạnh, Trần Đình Sử,…và các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng như Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Nguyễn Đình Thi, Hoàng Trung Thông…Bằng vốn kiến văn sâu rộng và tài năng riêng, mỗi người theo cách thức của mình, đã chỉ ra thế giới nghệ thuật mới mẻ, phong phú, khác biệt cùng các giá trị nhân văn và thẩm mỹ sâu sắc,

lâu bền của thơ Tố Hữu

Ngay từ khi thơ Tố Hữu mới xuất hiện rải rác trên báo chí cách mạng vào những năm cuối của thời kỳ Mặt trận Dân chủ Đông Dương, cùng với sự đón nhận nồng nhiệt của công chúng, giới văn học cách mạng đã đánh giá cao thơ ông, coi đó là một hiện tượng quan trọng và mới mẻ của nền văn học cách mạng Trong bài viết đầu tiên giới thiệu về thơ Tố Hữu (báo Mới, số 1, ngày 1/5/1939) tác giả K và T đã khẳng định: “Thơ Tố Hữu là cả một nguồn sinh lực đem phụng sự cho lý tưởng”, “Với Tố Hữu, chúng ta đã có một nhà thơ cách mạng có tài”, “nhà thơ chiến sĩ”, “nhà thơ của tương lai” Chỉ một tháng sau đó, cũng trên báo Mới, Trần Minh Tước lại một lần nữa hân hoan bày tỏ cảm tình đặc biệt của ông với “Những lời thơ hiên ngang của một thi nhân rất trẻ và sống nhiều là Tố Hữu”, nhà thơ mà ông từng “yêu dấu” và thầm đón đợi, người thi sĩ…từ khốn cùng đứng lên mà ca hát với những tình cảm còn

“nóng” của hàng ngũ mình Quả là hai ông đã tinh tường phát hiện ở Tố Hữu một kiểu nhà thơ mới – “nhà thơ chiến sĩ”

Trang 8

Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, khi tập thơ đầu tiên của Tố Hữu, tập thơ được Hội Văn hóa cứu quốc ấn hành 1946, trong lời giới thiệu , Trần Huy Liệu đặc biệt nhấn mạnh sự gắn bó chặt chẽ giữa “Lịch trình tiến triển về thơ của Tố Hữu và trình độ giác ngộ về sức hoạt động cách mạng của Tố Hữu”, từ đó khẳng định Tố Hữu là “một thi sĩ”, “một chiến sĩ”, và “Thơ Tố Hữu không phải là một trò tiêu khiển mà là một khí cụ đấu tranh” Đó cũng là đặc điểm cơ bản quán xuyến cả đời thơ Tố Hữu

Trên xu hướng này phải trân trọng ghi nhận những đóng góp lớn của Hoài Thanh Hơn ai hết, ông là người bền bỉ, miệt mài dõi theo từng tập thơ của Tố Hữu Những bài viết của ông không chỉ thể hiện tâm huyết của nhà phê bình với thơ Tố Hữu, mà còn hội tụ những ưu thế riêng có của Hoài Thanh: sự tinh nhạy trong cảm thụ, một nghệ thuật bình thơ độc đáo và khả năng đón định phát hiện những cái mới…

Với bài viết giới thiệu tuyển tập thơ đầu tiên của Tố Hữu (1963), Chế Lan Viên là người đầu tiên đã nhìn nhận thơ Tố Hữu một cách tổng thể sâu sắc Không chỉ dừng lại đánh giá ở giá trị tư tưởng, nội dung mà ông còn đặc biệt đi sâu phân tích và phát hiện những nét đặc sắc về giá trị nghệ thuật của thơ Tố Hữu trên các phương diện về phong cách, điệu tâm hồn vừa dân tộc vừa hiện đại, về ngôn ngữ, hình tượng thơ, về nhạc tính, giọng điệu, bút pháp,…

Giáo sư Hà Minh Đức cũng là một người bền bỉ, chuyên tâm nghiên cứu về thơ Tố Hữu Bằng sự am hiểu sâu rộng và một nguồn tư liệu phong phú cần mẫn gom góp được, Hà Minh Đức qua hai Lời giới thiệu công phu cho hai Tuyển tập thơ Tố Hữu vào các năm 1979 (NXB Văn học) và 1995 (NXB Giáo dục) cùng một số bài viết khác đã có một cách nhìn nhận, đánh giá riêng đáng chú ý về thơ Tố Hữu: vừa khái quát, vừa đi sâu vào những khía cạnh cụ thể, để thấy được những nét ổn định và vận động trong phong trào

Trang 9

nghệ thuật của nhà thơ Cũng nhờ nhiều năm kiên tâm theo dõi đường thơ Tố Hữu, Hà Minh Đức đã chỉ ra được cái điều mà chưa mấy ai nói tới, đó là thơ

Tố Hữu không chỉ là bài hát, không chỉ là tiếng ca vui của thời đại, mà về cuối đời, với tập Một Tiếng Đờn, thơ ông còn có thêm một sắc điệu mới, đó là niềm đau, nỗi buồn thấm thía

Ngoài mấy trăm bài nghiên cứu về Tố Hữu ở trong và ngoài nước, còn

có nhiều công trình biên khảo chuyên sâu về thơ ông Trong đó nổi bật nhất là

ba công trình: “Thơ Tố Hữu” của Lê Đình Kỵ (1979), “Thơ Tố Hữu, tiếng nói đồng ý, đồng tình, tiếng nói đồng chí” của Nguyễn Văn Hạnh (1985) và “Thi pháp thơ Tố Hữu” của Trần Đình Sử (1987) Hai công trình đầu tiếp cận thơ

Tố Hữu theo phương pháp truyền thống, kết hợp khảo cứu công phu, khoa học với cảm thụ nghệ thuật tinh tế và có tính chất khai phá

Đến công trình “Thi pháp thơ Tố Hữu” của nhà nghiên cứu Trần Đình

Sử đã có một cách tiếp cận thơ Tố Hữu theo lối khác, hiện đại hơn, đó là thi pháp Nhờ thế, mặc dù đi sau, tác giả Trần Đình Sử với cách nhìn nhận thơ Tố Hữu dưới một ánh sáng khác mới mẻ hơn, đã có được những phát hiện riêng độc đáo và sâu sắc mang tính khoa học

Hàng loạt những luận văn, luận án khoa học nghiên cứu về thơ Tố Hữu

có ý nghĩa sâu sắccó thể kể đến như một số công trình của học viên của trường Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Khoa học xã hội và nhân văn như

Gía trị tập thơ “Từ ấy” của Tố Hữu của Phạm Thu Trang; Những biểu tượng nghệ thuật tiêu biểu trong thơ Tố Hữu của Nguyễn Thị Nguyệt;Cảm hứng thế

sự -dời tư trong thơ Tố Hữu của Nguyễn Anh Tuấn; Thế giới nghệ thuật thơ

Tố Hữu thời kì đổi mới của Phạm Hoàng Lan Luận văn Gía trị và vị trí tập thơ Việt Bắc trong hành trình thơ Tố Hữu của Nguyễn Thị Mỹ, Tính hội thoại trong thơ Tố Hữu của Nguyễn Thị Thúy Hồng của trường Đại học Thái

Nguyên, ĐHSP Tuy nhiên khi nghiên cứu họ thường tập trung khai thác hình

Trang 10

tượng nhân vật trong sự vận động của thơ Tố Hữu được phân định rạch ròi ở hai chặng trong kháng chiến và thời bình

Dẫu chưa có công trình nghiên cứu chuyên biệt bàn trực tiếp về nhân vật trữ tình trong thơ Tố Hữu ở ba tập thơ có giá trị tổng kết ba chặng đường thơ theo tiến trình lịch sử nhưng các công trình nghiên cứu trên là những ý kiến gợi ý quý báu để tôi thực hiện đề tài này

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích của đề tài là góp phần làm rõ hình tượng nhân vật trữ tình

trong thơ Tố Hữu qua ba tập thơ Việt Bắc, Máu và hoa, Ta với ta

Thông qua đề tài này để nhận diện gương mặt tiêu biểu cho thơ trữ tình chính trị và quan niệm nghệ thuật về con người có sự vận động trong thơ Tố Hữu

Đi vào nghiên cứu đề tài này chúng tôi tự đặt cho mình những nhiệm

Sự thay đổi kiểu nhân vật trữ tình được thể hiện như thế nào qua ba tập

Việt Bắc, Máu và hoa và Ta với ta ? Có điểm gì mới lạ so với thơ ca của các

nhà thơ khác cùng thời với Tố Hữu?

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Với đề tài này chúng tôi tiến hành nghiên cứu nhân vật trữ tình trong thơ Tố Hữu đặc biệt trên phương diện quê hương, chiến tranh, tình yêu và sự

trăn trở cuộc sống qua ba tập thơ Việt Bắc, Máu và hoa, Ta với ta

Trang 11

Phạm vi khảo sát ở ba tập thơ Việt Bắc, Máu và hoa, Ta với ta dựa trên

văn bản do chính tác giả sáng tác

5 Phương pháp nghiên cứu

Thực hiện đề tài chúng tôi tiến hành sử dụng một số phương pháp khoa học chính sau:

Là nguồn tài liệu phong phú giúp ích tích cực cho việc học tập và giảng dạy văn học trong nhà trường

7 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, nội dung chính của luận văn được triển

khai trong ba chương:

Chương 1: Khái luận về nhân vật trữ tình trong thơ và sáng tác thơ

Tố Hữu

Chương 2: Các loại nhân vật trữ tình trong ba tập thơ Việt Bắc, Máu

và hoa, Ta với ta

Chương 3: Phương thức biểu hiện nhân vật trữ tình trong ba tập thơ

Việt Bắc, Máu và hoa, Ta với ta

Trang 12

Chương 1 KHÁI LUẬN VỀ NHÂN VẬT TRỮ TÌNH TRONG THƠ

VÀ SÁNG TÁC THƠ TỐ HỮU

1.1 Khái niệm nhân vật, nhân vật trữ tình

1.1.1 Khái niệm nhân vật

Ðối tượng chung của văn học là cuộc đời trong đó con người luôn giữ

vị trí trung tâm Những sự kiện kinh tế, chính trị, xã hội, những bức tranh thiên nhiên, những lời bình luận đều góp phần tạo nên sự phong phú, đa dạng cho tác phẩm nhưng cái quyết định chất lượng tác phẩm văn học chính

là việc xây dựng nhân vật Ðọc một tác phẩm, cái đọng lại sâu sắc nhất trong tâm hồn người đọc thường là số phận, tình cảm, cảm xúc, suy tư của những con người được nhà văn thể hiện Vì vậy, Tô Hoài đã có lí khi cho rằng

"Nhân vật là nơi duy nhất tập trung hết thảy, giải quyết hết thảy trong một

sáng tác" [8; tr127]

Có nhiều quan niệm khác nhau về nhân vật nhưng chung quy lại nhân vật văn học là những con người hay sự vật, hiện tượng mang bản chất con người được thể hiện trong tác phẩm văn học bằng phương tiện văn học

Nhân vật văn học có chức năng khái quát những tính cách, hiện thực cuộc sống và thể hiện quan niệm của nhà văn về cuộc đời Khi xây dựng nhân vật, nhà văn có mục đích gắn liền nó với những vấn đề mà nhà văn muốn đề cập đến trong tác phẩm Vì vậy, tìm hiểu nhân vật trong tác phẩm, bên cạnh việc xác định những nét tính cách của nó, cần nhận ra những vấn đề của hiện thực và quan niệm của nhà văn mà nhân vật muốn thể hiện

Nhân vật văn học là một sáng tạo nghệ thuật độc đáo gắn liền với ý đồ

tư tưởng của nhà văn trong việc nêu lên những vấn đề của hiện thực cuộc

sống Betông Brecht cho rằng: "Các nhân vật của tác phẩm nghệ thuật không

Trang 13

phải giản đơn là những bản dập của những con người sống mà là những hình tượng được khắc họa phù hợp với ý đồ tư tưởng của tác giả"

1.1.2 Khái niệm thơ trữ tình và nhân vật trữ tình trong thơ

Thơ là một thể loại văn học được xây dựng bằng hình thức ngôn ngữ ngắn gọn súc tích, theo những quy luật ngữ âm nhất định, nhằm phản ánh tâm trạng, thái độ, tình cảm, của người nghệ sĩ về đời sống thông qua những hình tượng nghệ thuật

Trữ tình là phương thức phản ánh (hiện thực đời sống; hiện thực tâm trạng) bằng cách bộc lộ trực tiếp tình cảm, ý thức của tác giả thông qua cái tôi trữ tình, mang đậm dấu ấn cá nhân của chủ thể

Thơ trữ tình dùng để chỉ chung các thể thơ thuộc loại trữ tình, trong đó nhà thơ bộc lộ một cách trực tiếp những cảm xúc riêng tư, cá thể về đời sống, thể hiện tư tưởng về con người, cuộc đời và thời đại nói chung Nội dung của thơ trữ tình là biểu hiện tư tưởng, tình cảm làm sống dậy cái thế giới chủ thể của hiện thực khách quan giúp ta đi sâu vào thế giới của những suy tư tâm trạng, nỗi niềm của con người trong thơ hay chính là các hình tượng nhân vật

Trong thơ trữ tình cần phân biệt cái tôi trữ tình và nhân vật trữ tình:

"Cái tôi trữ tình" là một thuật ngữ thuộc Lý luận văn học Đó chính là tâm

trạng, cảm xúc, cảm nhận, là thế giới nội tâm (tâm hồn) của riêng nhà thơ trước hiện thực khách quan (cuộc sống) Qua "cái tôi trữ tình", ta có thể thấy được những suy nghĩ, thái độ, tư tưởng, của nhà thơ trước cuộc đời Và, "cái tôi trữ tình" cũng góp phần hình thành phong cách nghệ thuật của riêng tác giả, giúp ta đi sâu vào thế giới của những suy tư tâm trạng, nỗi niềm

Đã có nhiều định nghĩa về nhân vật trữ tình của các tác giả như Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi, Lê Bá Hán Tuy nhiên khái niệm thể hiện đầy

đủ đặc điểm mang tính bản chất của nhân vật trữ tình và phổ biến là khái

niệm nhân vật trữ tình trong cuốn Từ điển th uật ngữ văn học định nghĩa

Trang 14

“Nhân vật văn học chính là con người cụ thể được miêu tả trong tác phẩm

văn học” [6; tr235] Nhân vật là hình thức cơ bản để văn học miêu tả thế giới

một cách hình tượng Chức năng của nó là khái quát quy luật phong phú của cuộc sống con người, từ đó bộc lộ những hiểu biết, quan niệm và những trăn trở, ước mơ của người nghệ sĩ Nhà văn sáng tạo ra nhân vật để thể hiện những cá nhân và hình tượng xã hội nhất định, bày tỏ quan niệm riêng về các

cá nhân, hình tượng xã hội đó Nhân vật là công cụ khái quát hiện thực là phương tiện để tác giả hiện thực hóa quan niệm nghệ thuật về con người dưới một hình thức biểu hiện tương ứng

Khái niệm nhân vật trữ tình được Phương Lựu minh định trong cuốn Lí luận văn học:

“Nội dung tác phẩm trữ tình được thể hiện gắn liền với hình tượng nhân vật trữ tình Đó là hình tượng người trực tiếp thổ lộ suy nghĩ, cảm xúc, tâm trạng trong tác phẩm Nhân vật trữ tình không có diện mạo, hành động, lời nói, quan

hệ cụ thể như nhân vật tự sự và kịch Nhưng nhân vật trữ tình cụ thể trong giai điệu, cảm xúc, trong cách cảm cách nghĩ, qua những trang thơ ta như gặp tâm hồn người, tấm lòng người Đó chính là nhân vật trữ tình” [16; tr359]

Xem nhân vật trữ tình là “cái tôi” đã được sáng tạo ra, không nên đồng nhất giản đơn nhân vật trữ tình và cái tôi trữ tình bởi trong thơ trữ tình nhà thơ xuất hiện như “ người đại diện cho xã hội, thời đại và nhân loại” (Bê-lin-xki) nhà thơ tự nâng lên trên đời thường cá biệt

Nhân vật trữ tình chính là con người được nhà thơ miêu tả qua một số

sự kiện nhất định, qua những rung cảm và suy tưởng của nhà thơ Tính cách của nhân vật trữ tình trong thơ chủ yếu bộc lộ qua những tâm trạng, những tình cảm mang đặc điểm của lịch sử và thời đại

Trang 15

1.2 Sáng tác thơ của Tố Hữu

1.2.1 Khái quát tiểu sử nhà thơ Tố Hữu

Tố Hữu, tên thật là Nguyễn Kim Thành (1920 – 2002), quê gốc ở làng Phù Lai, nay thuộc xã Quảng Thọ, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên - Huế Trong một gia đình nhà nho nghèo, không đỗ đạt gì nhưng lại rất ham thơ văn

và thích sưu tầm ca dao Tuổi thanh niên của Tố Hữu đúng vào những năm phong trào Cách mạng do Đảng Cộng sản Đông Dương lãnh đạo đoàn thanh niên dân chủ ở Huế Năm 1937, ông bắt đầu có thơ đăng báo Năm 1938, Tố Hữu gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương

Tháng 4/ 1939, Tố Hữu bị thực dân Pháp bắt giam ở nhiều nhà lao ở các tỉnh miền Trung và Tây Nguyên Đó lại là “cơ hội” để Tố Hữu rèn luyện

ý chí làm thật nhiều thơ cách mạng để cổ vũ đấu tranh

8/1945, Tố Hữu là chủ tịch ủy ban khởi nghĩa Thừa Thiên Huế, sau đó làm bí thư xứ ủy Trung Kì

Năm 1947, Tố Hữu được Trung ương Đảng điều động ra Việt Bắc phụ trách công tác văn nghệ và làm trưởng tiểu ban văn nghệ Trung ương Năm

1948 thành lập hội văn nghệ Việt Nam, Tố Hữu tham gia ban chấp hành hội Năm 1955 là ủy viên chính thức của Trung ương Đảng Năm 1960, tại Đại Hội lần III của Đảng ông được bầu vào ban bí thư Trung ương Đảng, là ủy viên ban bí thư Trung ương Đảng từ 1960- 1980

Năm 1976 tại Đại Hội lần thứ VI của Đảng, Tố Hữu được bầu làm ủy viên dự khuyết Bộ Chính trị và bí thư Ban chấp hành Trung ương Đảng Từ năm 1981 được cử giữ chức Phó chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng

Năm 1982, Tại Đại hội lần thứ V của Đảng, Tố Hữu được bầu lại làm

ủy viên Bộ Chính trị Trung ương Đảng, Bí thư BCH Trung ương

Trang 16

Có thể nói dù ở bất cứ vị trí nào, đảm nhiệm trọng trách nào, Tố Hữu luôn hoàn thành, ông luôn hết mình cống hiến cho sự nghiệp giải phóng dân tộc của đất nước

Tâm hồn Tố Hữu luôn có sự thống nhất chặt chẽ giữa nhà cách mạng, nhà chính trị và nhà thơ Thơ và cách mạng – hai trong một ở con người Tố Hữu đó như một “mối tình duyên” đẹp đẽ nhất, trong sáng nhất và cao cả nhất trong cuộc đời, sự nghiệp thơ ca của ông Vì thế mà Tố Hữu được mệnh danh

là người “viết sử Việt Nam hiện đại bằng thơ”

1.2.2 Hành trình sáng tác và vị trí của Tố Hữu trong nền thơ ca cách mạng

Trong lịch sử văn học nước nhà thật hiếm thấy nhà thơ nào lại có nhiều tác phẩm mang đậm dấu ấn đặc trưng của mỗi giai đoạn lịch sử và đi vào lòng người như thơ Tố Hữu trong thế kỉ XX Tình yêu lý tưởng, yêu quê hương, đất nước thiết tha, sâu nặng đã hóa thân vào những vần thơ trữ tình chính trị đạt tới đỉnh cao về nghệ thuật thơ ca cách mạng Nội dung ấy được biểu lộ vừa thầm kín vừa tinh tế, sâu sắc và đậm đà qua 7 tập thơ nổi tiếng: Từ ấy

trước cách mạng,Việt Bắctrong kháng chiến chống Pháp,Gió lộngtrong hòa bình, Ra trận, Máu và hoa trong kháng chiến chống Mỹ, Một tiếng đờn, Ta với ta sáng tác sau 1975

Trong Lời nói đầu, Tuyển tập thơ Tố Hữu, Chế Lan Viên có nhận định:

“Nói đến Tố Hữu về thơ anh phải nói đến vai trò của người mở đường và hiện vẫn là người dẫn đầu trong nền thơ ca Cách mạng của chúng ta, sự thành công của anh trước Cách mạng đã xúc tiến sự hình thành của thơ hiện thực xã hội chủ nghĩa sau Cách mạng” [14; tr11]

Thơ Tố Hữu ra đời phản ánh được khá toàn diện những biến động của lịch sử, của thời đại cũng như lí tưởng, tình cảm của người chiến sĩ cộng sản trong thời chiến cũng như thời bình

Trang 17

Thơ Tố Hữu không chỉ phản ánh lịch sử, phản ánh thời đại mà còn phản ánh tiến trình thơ ca dân tộc thế kỉ XX Cho đến nay ông vẫn được xem

là cây đại thụ trong khu rừng văn học Việt Nam thế kỉ XX Ông được Nhà nước trao giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật (đợt 1- 1996)

1.2.3 Quan niệm sáng tác của Tố Hữu

Tố Hữu bắt đầu sáng tác từ năm 1937, giữa cao trào Mặt trận Dân chủ Đông Dương khi ảnh hưởng của Đảng đi vào quần chúng sâu rộng chưa từng thấy Đây cũng là thời kì còn thịnh hành của thơ Mới So với thơ cũ, thơ Mới là một tiếng nói mới mẻ, nhưng thoát ly thực tế, rõ ràng là xa lạ với tư tưởng của Đảng, không có lợi cho cuộc đấu tranh cách mạng, Tố Hữu đã tỏ rõ thái độ:

Ta nện gót trên đường phố Huế Dửng dưng không một cảm tình chi!

Không gian sặc sụa mùi ô uế

Mà nước dòng Hương mãi cuốn đi

Chạnh lòng tưởng nhớ thân nô lệ

Mà hận cừu chung bỗng réo sôi

(Qua cổ tháp)

Không tô son trát phấn, thi vị hóa những kiếp sống giang hồ, cũng không rên rỉ chán chường mà cảm thông với nỗi khổ nhục ê chề của họ, phải tìm ra và nhổ bật cội rễ xã hội của cái tệ nạn thê thảm

Thời kì Từ ấy nhà thơ trước hết hướng về cái đẹp của lý tưởng cách mạng, cái đẹp về phía tương lai Với Việt Bắc, lý tưởng chan hòa vào hiện

Trang 18

thực của nhân dân đã đứng lên làm Cách mạng tháng Tám và cuộc kháng chiến thần kì, hiện thực ấy vĩ đại, phong phú và đẹp biết bao Không phải

ngẫu nhiên mà tập thơ lấy tên là Việt Bắc - Việt Bắc là căn cứ cách mạng và

kháng chiến, từ Việt Bắc nhà thơ đã thốt lên:

Đẹp vô cùng Tổ quốc ta ơi!

(Ta đi tới)

Cái đẹp của bản thân lý tưởng bao giờ cũng có tên Tổ quốc, là nhân dân, nó là nguồn cảm hứng vô tận cho thơ ca

Nhân dân là bể Văn nghệ là thuyền Thuyền xô sóng dậy Sóng đẩy thuyền lên

(Lời đề từ Việt Bắc)

Trước kia tiếng hát đã cất lên từ niềm say mê lý tưởng, say mê hoạt động bây giờ nó như cất lên từ bản thân cuộc sống ở Việt Bắc, từ bản thân những con người, những sự tích anh hùng ở tiền tuyến cũng như hậu phương

Gió lộng gồm những bài thơ viết từ sau chiến thắng Điện Biên Phủ, từ

Điện Biên Phủ đi lên xây dựng đất nước, xây dựng chủ nghĩa xã hội, con người Việt Nam càng thấy tâm hồn mình lộng gió bốn phương, lộng gió thời đại Như có một sự hồi sinh tái tạo trong đời sống và tâm hồn mọi người:

Ồ thích thật, bài thơ Miền Bắc Rất tự do nên tươi nhạc tươi vần

Cũng giống như Từ ấy trước kia mang cái trẻ trung sôi nổi của tuổi trẻ

và của Cách mạng, tiếng hát tuổi bình minh của Tổ quốc xã hội chủ nghĩa cũng thật là tươi mới và say sưa:

Thơ ta ơi! hãy cất cao tiếng hát

Ca ngợi trăm lần Tổ quốc chúng ta!

Trang 19

Ca ngợi trăm lần vì Tổ quốc và chủ nghĩa xã hội là lẽ sống lớn, là thực hiện ước mơ từ bao đời của loài người, vì sự nghiệp cách mạng vĩ đại đang chờ đợi mọi người:

Gà gáy sáng Thơ ơi mang cánh lửa Hãy bay đi ! con chim kêu trước cửa, Thêm một ngày xuân đến Bình minh

Đó là một sáng mùa xuân 1961, xuân đầu tiên của kế hoạch 5 năm lần thứ nhất Tương lai đầy hứa hẹn, câu thơ phấn chấn nhưng cũng đượm vẻ lo

âu Chiến tranh do Mỹ Ngụy gây ra bắt đầu bùng nổ ở miền Nam nên tập thơ

tiếp theo lấy tên là Ra trận, mở đầu tập thơ có bài Có thể nào yên:

Tôi muốn viết những dòng thơ tươi xanh Vẫn muốn viết những dòng thơ lửa cháy

Với Tố Hữu, thơ ca phải cùng với nhân dân chia sẻ vui buồn, yêu thương, căm giận, làm thơ để phục vụ sự nghiệp cách mạng Cuộc chống Mỹ cứu nước sục sôi, nhà thơ hạ bút:

Dẫu một cây chông trừ giặc Mỹ Hơn nghìn trang giấy luận văn chương

(Tiễn đưa)

Tâm trạng sốt ruột muốn đối mặt với kẻ thù là điều dễ hiểu, nhất là khi tiễn bạn ra tiền tuyến Nhưng giọng thơ bình tĩnh, đâu phải không còn tin ở sức mạnh của thơ ca Cái không đáng tin là thứ văn chương trống rỗng, không

có gì hơn ngoài chữ với chữ, chẳng có ích gì cho ai trong lúc còn bao việc phải làm Văn chương không được là những lời bàn suông, không phải để nằm trên mặt giấy, mà phải đi vào đời sống, phải có tác dụng như những hầm chông chống Mỹ cứu nước, phải từ đời sống mà ra và trở lại phục vụ đời sống nếu không thì nó không còn lý do để tồn tại nữa

Trang 20

Văn học nghệ thuật là một mặt trận, nhà thơ là chiến sĩ trên mặt trận ấy Văn nghệ sĩ phục vụ chính trị, chịu sự lãnh đạo của Đảng, nhận sự lãnh đạo này có ý nghĩa là gắn liền sự nghiệp của mình với sự nghiệp của dân tộc và những lý tưởng cao cả của thời đại Trong lĩnh vực văn nghệ cũng như các lĩnh vực khác, tay lái của Đảng là nhân tố quyết định mọi thắng lợi

Rằng: thơ với Đánh nặng tơ duyên Thuyền bơi có lái, qua mưa gió Không lái thuyền trôi lạc bến bờ

(Chuyện thơ)

Cũng như quần chúng lao động, nhà thơ đã nhận thức sâu sắc rằng sở dĩ mình được “ làm người”và nên người là nhờ có sự dìu dắt của Đảng, nhờ Đảng đã trả lại cho

Trời cao đất rộng bao la Bát cơm, tấm áo, hương hoa, hồn người

(Ba mươi năm đời ta có Đảng)

Nhưng Đảng không phải ở đâu xa, không phải tồn tại nhờ phép lạ nào,

mà từ quần chúng mà ra, là kết tinh của trí tuệ, nghị lực, sức mạnh và lòng nhân ái của quần chúng

Đảng ta đó trăm tay nghìn mắt Đảng ta đây xương sắt da đồng Đảng ta muôn vạn công nông Đảng ta muôn vạn tấm lòng niềm tin

(Ba mươi năm đời ta có Đảng)

Cái tôi trữ tình trong thơ Tố Hữu ngay từ đầu đã là cái “tôi” chiến sỹ, càng về sau càng xác định là cái “tôi” nhân danh Đảng, nhân danh dân tộc, cái

“tôi” hòa trong cái “ta”, nhân danh cái ta Có lẽ đó là nguyên nhân khiến thơ

Trang 21

Tố Hữu ít thể hiện những tâm tư tình cảm riêng tư mà thường hướng tới những tình cảm lớn, lẽ sống lớn của cách mạng và con người cách mạng Chính vì thế nhân vật trữ tình trong thơ Tố Hữu thường là con người đại diện cho sức mạnh, vẻ đẹp, phẩm chất, khát vọng, thường mang tầm vóc của lịch sử và thời đại Đi sâu vào tìm hiểu thế giới nhân vật trong thơ Tố

Hữu đặc biệt qua ba tập thơ Việt Bắc, Máu và hoa, Ta với ta chúng ta sẽ cảm

nhận được sự vận động của nhiều biểu hiện khác nhau cả về ngoại hình lẫn tâm hồn của các nhân vật đó.Tố Hữu đã dành nhiều tâm huyết để khắc họa những con người đại diện cho quần chúng, dân tộc, họ đã đi từ cái riêng ra cuộc đời chung, họ hiện lên như những tượng đài bất tử

Trang 22

Chương 2 CÁC LOẠI NHÂN VẬT TRỮ TÌNH TRONG BA TẬP THƠ

VIỆT BẮC, MÁU VÀ HOA, TA VỚI TA

2.1 Khái lược về ba tập thơ Việt Bắc, Máu và hoa, Ta với ta

Tập thơ Việt Bắc (1946-1954) là khúc hùng ca thiết tha về cuộc kháng

chiến chống Pháp và những con người kháng chiến Có thể nói chủ đề bao

trùm tập thơ Việt Bắc là tinh thần thiết tha yêu nước, chí khí phấn đấu kiên

quyết bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta Hình ảnh tiêu biểu cho tinh thần đó là Chủ tịch Hồ Chí Minh – vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc, linh hồn của cuộc kháng chiến và anh bộ đội anh dũng , thân thương Tố Hữu đã để cả tâm hồn, tất cả tình cảm đằm thắm nhất của mình để diễn tả những hình ảnh yêu kính và quý mến nhất ấy của thời đại chúng ta

Là bản anh hùng ca của cuộc kháng chiến toàn dân chín năm ròng rã

chống bọn xâm lăng, tập thơ Việt Bắc phản ánh đầy đủ con đường chiến đấu

gian lao và sự trưởng thành của dân tộc Việt Nam qua những dấu ấn, hình ảnh

về cuộc kháng chiến Đó là tiếng hát mở đường (Phá đường); tiếng hò kéo pháo lên chiến dịch (Voi); nỗi lòng bà mẹ nhớ con (Bầm ơi); niềm thao thức nơi anh bộ đội nhớ mẹ ở làng quê(Bà Bủ); Chiến thắng Việt Bắc (Cá nước); nguồn sáng nơi căn nhà của cụ Hồ(Sáng tháng Năm); bước chân người chiến

sĩ vào trận tuyến nơi núi rừng Tây Bắc (Lên Tây Bắc); niềm hân hoan trước chiến công lừng lẫy tại Điện Biên Phủ (Hoan hô chiến sĩ Điện Biên); niềm vui chiến thắng và hòa bình trên bước đường đi tới (Ta đi tới); nỗi nhớ nhung

và lời ước hẹn giã từ thủ đô gió ngàn(Việt Bắc)

Tuy vậy tập thơ còn thiếu những con người cá thể, cụ thể , những tình cảm riêng tư của cái “tôi” trữ tình Về mặt nghệ thuật, tuy được đánh giá là bước trưởng thành quan trọng của thơ Tố Hữu, là một thành tựu xuất sắc của

Trang 23

thơ Việt Nam giai đoạn kháng chiến chống Pháp, yếu tố cách tân trong tập thơ chưa được thể hiện rõ

Máu và hoa (1971- 1977) gồm 13 bài, sáng tác trong 6 năm có ý nghĩa

tổng kết quá trình phát triển của dân tộc, của cách mạng Việt Nam - hành trình đầy máu và hoa Đó là một chặng đường cách mạng đầy gian khổ, hi sinh, khẳng định niềm tin sâu sắc vào sức mạnh tiềm tàng của xứ sở quê hương, cũng như của mỗi người Việt Nam mới, biểu hiện niềm tự hào và niềm vui phơi phới khi "toàn thắng về ta" Năm mươi năm đó máu đỏ thành hoa

Máu - biểu tượng của nỗi đau uất hận trong hàng nghìn năm nô lệ và sự

hi sinh xả thân vì nghĩa lớn, xối máu nóng rửa vết nhơ nô lệ Hoa là biểu tượng cho vẻ đẹp của lý tưởng cộng sản, của chủ nghĩa anh hùng và niềm vui ngày chiến thắng xuất hiện nhiều bài thơ trường thiên với cảm xúc tổng hợp, bao quát hơn nửa thế kỉ đấu tranh của những con người anh hùng trên đất

nước anh hùng (Nước non ngàn dặm, Với Đảng, mùa xuân, Việt Nam máu

và hoa) Nhà phê bình Hoài Thanh từng viết: “Chúng ta tin với mỗi chúng

ta, dầu quê ở miền Nam hay miền Bắc, dầu trải qua những năm tháng giống như anh hay không giống như anh, tiếng thơ của anh lần này cũng giống như nhiều lần trước vẫn cứ có khả năng là tiếng nói đúng nhất và thật nhất của lòng ta Bởi vì gọi bằng tiếng lòng cũng ba bảy thứ; chan chứa tình yêu, có;hờ hững nhạt nhẽo cũng có; lại có thứ phân vân ngơ ngác, thậm chí bực dọc, chua cay Vấn đề là phải chọn Chọn và nuôi Chọn và nuôi thứ tiếng nào thành tiếng nói thật nhất, tiến tới thành tiếng nói duy nhất của lòng ta Chọn

và nuôi sai rất nguy hiểm, có thể làm hỏng cả cuộc đời Bài Nước non ngàn dặm quý ở chỗ nó có thể giúp ta tìm ra được đúng tiếng nói thật của lòng ta

trong hoàn cảnh mới” [24; tr730]

Ta với ta (1999) là tập thơ cuối cùng của Tố Hữu là những trải nghiệm,

chiêm nghiệm sâu sắc của nhà thơ mang tính phổ quát về cuộc đời và con

Trang 24

người Ông gửi vào thơ tâm sự của một người sống hết mình với tình yêu thương, với lý tưởng cách mạng và hơn hết đó là mong ước của một con

người biết vượt lên bao biến động thăng trầm, tin vào chữ nhân luôn tỏa sáng

ở mỗi hồn người, luôn sống vì mọi người như một câu thơ ông viết: Thơ gửi bạn đời, tro bón đất - Sống là cho Chết cũng là cho

2.2 Các loại nhân vật trữ tình trong ba tập thơ Việt Bắc, Máu và hoa và

Ta với ta

2.2.1 Vị lãnh tụ

Ca ngợi Chủ tịch Hồ Chí Minh là một trong những chủ đề lớn và thân thiết nhất của Tố Hữu Từ Cách mạng tháng Tám đến nay, nhà thơ đã nhiều lần viết về Bác với tất cả tầm lòng yêu kính, biết ơn và như là để nói hộ hoặc nói cùng chúng ta những tình cảm mãnh liệt không dồn nén nổi của toàn thể dân tộc ta đối với lãnh tụ vĩ đại của mình

Có thể nói, gắn với từng mốc thời gian quan trọng của lịch sử, Tố Hữu luôn dõi theo hình bóng lãnh tụ để ghi lại những nét đẹp của Bác Hình ảnh Hồ

Chí Minh năm 1945 khép lại Từ ấy, Việt Bắc là sự tiếp nối cùng những tập thơ

sau này để có những hình ảnh mới về Bác càng thân thiết và gần gũi hơn

Bài thơ Hồ Chí Minh là viên gạch đầu tiên đặt nền móng xây dựng lâu

đài thi ca Việt Nam ca ngợi lãnh tụ:

Hồ Chí Minh Người lính già

Đã quyết chiến hy sinh Cho Việt Nam độc lập Cho thế giới hòa bình

Tuy nhiên lời thơ chưa đạt đến cái giản dị hàm súc, giọng thơ chưa có được cái thắm thiết, đậm đà rất tiêu biểu đối với Tố Hữu Sau này bài thơ

Sáng tháng Năm là một bài thơ trữ tình hoàn chỉnh ca ngợi Bác, thể hiện một

Trang 25

chuyển biến quan trọng trong nghệ thuật viết về Bác Lúc này Tố Hữu đã là

tác giả của những bài thơ nổi tiếng như Cá nước, Phá đường, Bà mẹ Việt Bắc, và những bài thơ dịch nổi tiếng không kém như Đợi anh về, Bài ca của người lính du kích, Nếu thầy mẹ chết Nhà thơ có nhiều kinh nghiệm

xây dựng tính cách, biểu hiện đặc điểm dân tộc trong thơ Có thể nói đến đây tâm hồn trữ tình của Tố Hữu đã tìm ra được một cách nói độc đáo để miêu tả khuynh hướng sử thi của hiện thực cách mạng rộng lớn

Mở đầu Sáng tháng Năm, Tố Hữu giới thiệu rất tự nhiên cảnh sắc đất

trời và tâm trạng tác giả một lần gặp Bác Lòng người xao xuyến, mong đợi,

mà thanh thản, sáng trong Nhà thơ không đứng từ xa, không dựa vào tưởng tượng, không dựa vào yêu cầu tất yếu của cách mạng và từ góc độ chính trị để dựng lên hình ảnh lãnh tụ Nhà thơ đến thăm Bác Hồ, ngắm nhìn Bác và lắng nghe Bác nói, miêu tả Bác trong sinh hoạt bình thường, mơ ước, suy tưởng gắn liền với những cảm giác, cảm xúc cụ thể Chính vì rất thật, rất sống cho

nên hình ảnh Bác trong Sáng tháng Năm mới mẻ, đa dạng, vừa có chiều sâu

lại vừa bay bổng:

Bàn tay con nắm tay cha Bàn tay Bác ấm vào da vào lòng Bác ngồi đó, lớn mênh mông Trời xanh, biển rộng, ruộng đồng, nước non

Hình ảnh Bác hòa vào đất nước, lớn lao, nhưng đồng thời cũng gần gũi, thân mật ấm áp Sức cảm hóa kì lạ của Bác là đức tính giản dị, tấm lòng hiền

từ, nhân hậu, phong độ thanh thản, ung dung; Bác là một lãnh tụ hiền minh Người là “Hồ Chí Minh vĩ đại”, là “mặt trời cách mạng” nhưng cũng “là Cha,

là Bác, là Anh” Ở Bác, nhà thơ đặc biệt nhấn mạnh đức tính giản dị như tất

cả những người lao động khác Tố Hữu dành tất cả những tình cảm rất chân thật từ đáy lòng Trong đời làm thơ của mình, đây là lần đầu tiên ông viết

Trang 26

được một bài thơ về Bác đạt đến sự giản dị, hồn nhiên của Bác trong phong cách từ quần áo, giọng nói, cử chỉ không một chút gì cao siêu, mà rất gần gũi, bình thường

Với Sáng tháng Năm, Tố Hữu đã viết nên những vần thơ đầy tự hào và

kính yêu Bác vô hạn từ cử chỉ và dáng hình cụ thể:

Bác kêu con đến bên bàn Bác ngồi Bác viết nhà sàn đơn sơ Con bồ câu trắng ngây thơ

Nó đi tìm thóc quanh bồ công văn Đọc mấy câu thơ này ta bỗng nhớ hai câu thơ của Bác: “Xem sách, chim rừng sà bậu cửa/Lệnh phê, nghiên mực bóng hoa lồng” Tặng Bùi Công

(tức cụ Bùi Bằng Đoàn ) Một phong cảnh thiên nhiên như hòa với con người, khi ngồi đọc sách mà lại có chim bay vào đậu cửa, lúc ký công văn (phê), giấy tờ lại có bóng hoa la đà bên cửa sổ thì hẳn là ít nơi có cảnh này

Bác Hồ đó chiếc áo nâu giản dị Màu quê hương bền bỉ đậm đà

Hồ Chí Minh hiện ra thật đơn giản, gần gũi, thật nhân hậu Trong thơ Việt Nam cho đến lúc này và có lẽ đến hiện nay những phát hiện như thế vẫn giữ nguyên sức khám phá mới mẻ

Ôi người cha đôi mắt mẹ hiền sao Giọng của Người, không phải sấm trên cao Thấm từng tiếng, ấm vào lòng mong ước Con nghe Bác, tưởng nghe lời non nước Tiếng ngày xưa và cả tiếng mai sau

Và cái cảm giác choáng ngợp khi đứng bên Bác, cũng không phải là khó hiểu, bởi người ta vẫn có thể cảm thấy gần gũi mà vẫn không thôi kinh

Trang 27

ngạc sửng sốt Nhưng quan trọng là ngay sau đó, nhà thơ đã nói được sự thật này

Ta lớn cao lên, bay bổng diệu kì Trên đường dài, hai cánh đỡ ta đi

Hồn biển lớn đón muôn vàn thủ thỉ Lắng từng câu từng ý chưa thành

Nhà thơ phát hiện và đề cao khả năng kết hợp nhân tâm, thấu hiểu tình người ở lãnh tụ Vì tấm lòng yêu thương chăm chút bao dung ấy sẽ được cảm hóa sâu sắc từng người, khiến cho mỗi con người trong đội quân cách mạng được Người dìu dắt đã làm nên lịch sử vẻ vang cho dân tộc

Sáng tháng Năm là một cái mốc lớn trên quá trình “xây dựng” hình

tượng Bác trong thơ Tố Hữu Nhà thơ đã đến được cách gọi đúng nhất về lãnh

tụ, rất tôn kính, rất gần gũi, rất Việt Nam

Tố Hữu khi viết về Tổ quốc và cách mạng vẫn luôn nghĩ tới Bác, trong

những bài thơ: Hoan hô chiến sỹ Điện Biên, Ta đi tới, Việt Bắc Chúng ta

luôn bắt gặp những đoạn những câu ca ngợi công đức trời biển, chiêm ngưỡng trí tuệ tuyệt vời và tâm hồn rộng lớn của Bác Cùng với chiến thắng Điện Biên, “nước non” “ruộng đồng” “trời xanh” “biển rộng” bỗng dõng dạc cất cao lên thành tiếng Và lần đầu tiên trong thơ Tố Hữu niềm vui vinh quang

đã được khoác vào Tổ quốc và lãnh tụ

Trang 28

Vinh quang Tổ quốc chúng ta

Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa!

Vinh quang Hồ Chí Minh, cha của chúng ta ngàn năm sống mãi

Quyết chiến, quyết thắng, cờ đỏ sao vàng vĩ đại!

(Hoan hô chiến sĩ Điện Biên)

Lời thơ đang sảng khoái, đanh thép ở đoạn miêu tả chiến công của các chiến sĩ Điện Biên và sự thất bại nhục nhã của kẻ thù bỗng chuyển sang thiết

tha quấn quýt khi nói về Bác:

Tiếng reo núi vọng sông rền Đêm nay chắc cũng về bên Bác Hồ Bác đang cúi xuống bản đồ Chắc là nghe tiếng quân hò quân reo

Từ khi vượt núi qua đèo

Ta đi Bác vẫn nhìn theo từng ngày Tin về mừng thọ đêm nay Chắc vui lòng Bác, giờ này đợi trông

(Hoan hô chiến sĩ Điện Biên)

Tám câu thơ làm thành hai đoạn cân đối bổ sung cho nhau nêu bật lên quan hệ mật thiết giữa lãnh tụ và quần chúng Mỗi đoạn gồm hai cặp câu trong đó ý nghĩa, hình ảnh, âm thanh cùng đi về đối đáp như tình nghĩa thủy chung Vẫn là hình ảnh lãnh tụ hiền minh đêm ngày lo toan việc nước, suy nghĩ về chúng ta nhưng sự chăm sóc bây giờ như càng cụ thể, tỉ mỉ hơn: “Ta

đi Bác vẫn nhìn theo từng ngày” Câu thơ mang âm hưởng thời gian, mang tình nghĩa của cuộc kháng chiến kéo dài nhiều năm, có khởi đầu từ niềm tin trước chiến thắng:

Bác bảo đi là đi Bác bảo thắng là thắng

(Sáng tháng Năm)

Trang 29

Đến Ta đi tới lịch sử đã sang trang mới, giọng thơ gấp rút, sôi nổi đã

chuyển sang trầm hùng chững chạc Lần đầu tiên sau chín năm kháng chiến

và cũng là lần đầu tiên trong đời thơ của mình, Tố hữu ngoái nhìn lại cả con đường cách mạng mà dân tộc đã đi qua Tất cả bây giờ đã là của ta Đất nước lại đẹp tuyệt trần, hình ảnh Bác thật lộng lẫy lạ thường:

Cờ đỏ bay quanh tóc bạc Bác Hồ

(Ta đi tới)

Hình ảnh mái tóc bạc của Bác đã để lại ở người đọc ấn tượng mạnh mẽ hơn cả, sau mười năm lại xuất hiện trong thơ Tố Hữu “Phơ phơ tóc bạc trên đài nắng lên” Ở đây ta thấy rõ năng lực tạo hình của nhà thơ cùng với trí tuệ sáng suốt và tình cảm thấm thía

Chân dung Bác trong Việt Bắc là sự kết hợp tuyệt đẹp giữa hình, tình

và nhạc:

Mình về với Bác đường xuôi Thưa dùm Việt Bắc không nguôi nhớ Người Nhớ Ông Cụ mắt sáng ngời

Áo nâu túi vải đẹp tươi lạ thường!

Nhớ Người những sáng tinh sương Ung dung yên ngựa trên đường suối reo Nhớ chân Người bước lên đèo Người đi, rừng núi trông theo bóng Người

Tố Hữu đã dựng lên một bức tranh đầy chất thơ, chất nhạc, rất trữ tình

và giàu sức gợi tả Hình ảnh Bác rất mực giản dị, ung dung, thanh thoát in đậm trong tâm khảm sắt son, trung thành ấy Người dân chiến khu gọi Bác Hồ

bằng cách gọi thành kính và thân mật: Ông Cụ “Nhớ Ông Cụ” trước hết là

nhớ đôi mắt sáng ngời, biểu lộ trí tuệ sắc sảo và lòng nhân ái bao la Những năm tháng sống ở rừng, Bác gần gũi, hòa hợp với đồng bào các dân tộc từ

Trang 30

cách nói, dáng đi đến lối ăn mặc dân dã: Áo nâu, túi vải đẹp tươi lạ thường Nét đẹp tâm hồn và phẩm giá cao quý từ bên trong tỏa sáng ra bên ngoài làm cho hình ảnh Bác càng trở lên rạng ngời trong những tấm lòng thành kính yêu thương

Không chỉ con người thương nhớ Bác mà cả thiên nhiên Việt Bắc cũng khắc ghi hình bóng Bác trên khắp các nẻo đường kháng chiến Đang thời kháng chiến đạn bom mà khung cảnh ở đây vẫn yên tĩnh, thanh bình Sáng sớm tinh sương, không khí trong trẻo, tinh khiết, tiếng vó ngựa như những nốt nhạc vui trên con đường chạy dài ven suối Tiếng suối reo rộn rã như đưa đón bước Người đi Nổi bật trên cái nền chung ấy là hình ảnh Bác ung dung như một ông tiên, một triết gia cao khiết trong huyền thoại Áo nâu, túi vải đơn sơ mà đẹp tươi lạ thường Màu áo nâu in trên nền xanh của rừng, màu biếc của núi, màu bạc của sương, trên con đường mòn quanh co, lẩn khuất Vó ngựa đi có tiếng suối reo làm nhạc đệm Còn Người ung dung trên yên ngựa như triết gia dạo chơi nơi rừng sâu núi thẳm, suy ngẫm lẽ huyền diệu của tạo vật, đất trời… Bác

đi công tác chỉ đạo kháng chiến mà như đi trong khung cảnh cổ tích thuở xưa Núi rừng quấn quýt không rời hình bóng con người ấy, ông tiên ấy

Những bài thơ được Tố Hữu sáng tác ngay sau những ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước không thể thiếu vắng hình ảnh Bác Giữa

“máu và hoa”, những lời thơ cất lên như reo vui trước tin thắng trận:

Ôi, buổi trưa nay, tuyệt trần nắng đẹp Bác Hồ ơi! Toàn thắng về ta

Chúng con đến, xanh ngời ánh thép Thành phố tên Người lộng lẫy cờ hoa

(Toàn thắng về ta)

Những câu thơ phác họa hình ảnh thành phố mang tên Bác sau chiến thắng 30-4, tất cả khung cảnh cứ hiện lên lộng lẫy, lung linh màu cờ hoa, sắc

Trang 31

nắng Điểm xuyết vào không gian ấm nồng sắc đỏ là màu “xanh ngời ánh thép” đầy chất trữ tình cách mạng và tính chiến đấu

Và hơn thế, sự hiện diện của Người dù chỉ là trong ký ức nhưng Bác của chúng ta vẫn như vẫn còn đó, với vầng trán cao, chòm râu bạc, ánh mắt dịu hiền để soi đường, chỉ lối cho cháu con bước đến tầm cao mới, vẫn tiếp thêm sức mạnh cho thế hệ sau đang ngày đêm xây dựng và bảo vệ Tổ quốc:

Chúng con sẽ gấp trăm lần mạnh Đứng gác biển trời tươi mát màu lam Bởi có Bác, từ nơi đây ra đi tìm Đường kách mệnh Cho chúng con nay được trở về, vĩnh viễn Việt Nam!

(Toàn thắng về ta)

Cho đến sau này, khi chiến tranh đã lùi xa, đất nước đã bước vào chặng đường lịch sử mới, trong những vần thơ hòa bình, Tố Hữu vẫn không quên hướng về Bác như một niềm tri ân luôn luôn thổn thức bởisuốt một cuộc đời,

Bác là “người lính già” quyết chiến đấu hy sinh cho một mục đích đất nước được hòa bình, độc lập, đồng bào “ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành” Bác là vị lãnh tụ thiên tài đã chỉ đường dẫn lối cho chúng ta đi đến

thắng lợi huy hoàng!

Nước độc lập, tự do, dân no ấm học hành Một đời Bác, chỉ lòng ham muốn ấy

Có lẽ hôm nay, giữa giấc yên lành Người vẫn nghĩ Như Người hằng sống vậy

(Một khúc ca)

Tám mươi mốt năm Trưa ấy, trưa gì?

Từ thành phố này Người đã ra đi Ôi! Câu hát tự hào, cao vút lương tri mà làm ta rơi lệ

(Trưa tháng Tư, Sài Gòn)

Trang 32

Có lúc, niềm tin ấy được nhà thơ tâm tình, chia sẻ cùng Bác, người cha tinh thần của triệu triệu trái tim đất Việt:

Kính thưa Bác ! Thế kỷ hai mươi mốt tới đây

Có thể là thế kỷ rồng bay Bảy mươi năm triệu con Hồng cháu Lạc Đoàn kết nhau, nhất trí, vững tay

Bác không còn nữa, nhưng nỗi nhớ về Bác, lòng biết ơn sâu sắc

về những gì Bác đã dành cho dân tộc thì mãi vẫn còn, và Tố Hữu đại diện cho dân tộc nói lên tình cảm thương nhớ, kính yêu vô bờ bến với vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc:

Hai mươi sáu năm rồi, vắng Bác Người đi…mà cứ ngỡ bây giờ Bác đang ngồi đọc thầm trên gác Bên ngọn đèn con, nghĩ tứ thơ

(Thăm Bác chiều đông)

Trang 33

Về lại chiến khu xưa, thăm những địa danh mà Bác đã từng dừng chân, từng sống và làm việc, hình ảnh Người vẫn hiện hữu trong dáng vẻ ung dung, giản dị từ nỗi nhớ khôn nguôi về Bác trào dâng trong lòng nhà thơ Nỗi nhớ, lòng biết ơn ấy đã tiếp thêm sức mạnh cho người thanh niên cách mạng thủa nào bước tiếp chặng đường khó khăn, vất vả trước mắt

Ta mãi ngồi đây, dưới bóng đa Tân Trào, hai tiếng tự lòng ta Lặng im, lắng mỗi lời Di chúc…

Nào, đứng lên đi! Đường còn xa!

(Về chiến khu xưa)

Có thể thấy, trên mỗi bước đường của đời mình, Tố Hữu luôn thấy Bác vẫn còn, vẫn là nguồn sống, nguồn sáng cho cả dân tộc:

Bác Hồ vẫn sống giữa nhân gian Năm châu đứng dậy, cùng nhau tiến

Tự hào thay, Tổ quốc Việt Nam!

“Xanh sạch đẹp”

(Chào thế kỷ 21!)

Hồ Chí Minh trở thành biểu tượng của niềm tin chiến thắng, của tinh thần giản dị thanh khiết, của tình yêu thương vô bờ bến đối với quần chúng lao khổ “Quả tim lớn lọc trăm dòng máu nhỏ” Điều ấy được Tố Hữu khắc ghi vĩnh cửu qua những vần thơ giản dị mà đầy cảm xúc:

Trang 34

Vì sao? Trái đất nặng ân tình Nhắc mãi tên người: Hồ Chí Minh Như một niềm tin, như dũng khí Như lòng nhân nghĩa, đức hy sinh

(Theo chân Bác)

Hình ảnh Bác được Tố Hữu viết lên ở những thời kì khác nhau, do đó hình ảnh Bác cũng được biến đổi theo nhiệm vụ cách mạng từng giai đoạn, theo sự nhận thức của nhà thơ về những vấn đề lớn do thời thế đặt ra Nhưng

dù ở bất kỳ giai đoạn nào thì trong thơ Tố Hữu hình ảnh Bác luôn hiện lên như sự kết hợp giữa cái vĩ đại và cái bình thường làm cho hình tượng Bác vừa

đồ sộ và chói lọi, vừa thân thuộc và bình dị lạ thường Qua thơ Tố Hữu ta không chỉ thấy Bác và tâm hồn cao cả, mà còn thấy cả vóc dáng và bước đi của dân tộc

2.2.2 Người chiến sĩ

Giống như các nhà thơ cùng thời, trước khi là nhà thơ, Tố Hữu đã là một người chiến sĩ cách mạng sống hòa đồng vào cuộc chiến đấu chung của dân tộc Hình tượng người chiến sĩ và hiện thực lớn lao sôi động của những năm tháng chiến tranh ác liệt đã trở thành nguồn cảm hứng chủ đạo trong sáng tác của nhà thơ

Là người từng nếm trải mọi khó khăn khốc liệt của chiến tranh Tố Hữu luôn bám sát cuộc sống, thơ phải bắt đầu từ những gì nhỏ bé nhất, thực nhất

về con người mình, đất nước mình Ông nhận thấy rất rõ thơ không chỉ đưa

ra, thơ không phải là những “bó hoa mang tới chúc tụng” mà phải là những rung động của đời

Cũng giống như Hữu Thỉnh đã nhân danh thế hệ mình bộc lộ:

Đừng viết về chúng tôi như cốc chén trên bàn Xin viết như dòng sông chảy xiết

Trang 35

Tố Hữu đã dành những câu thơ chân thật nhất, hay nhất để viết về người lính với tất cả sự trân trọng, yêu mến, đồng cảm, sẻ chia

Rất đẹp hình anh lúc nắng chiều Bóng dài lên đỉnh dốc cheo leo Núi không đè nổi vai vươn tới

Lá ngụy trang reo với gió đèo

(Lên Tây Bắc)

Xuất thân từ người lao động, anh bộ đội cụ Hồ rất giàu nghị lực Anh

dẻo dai bền bỉ hành quân vượt qua “trăm suối ngàn khe”, vượt suốt, trèo đèo trong cảnh “ngày nắng đốt” chói chang, những “đêm mưa dầm dề, gió buốt chân tay” quanh năm suốt tháng Không một khó khăn, trở lực ngăn được

bước tiến của anh, những hình bóng nối dài của những đoàn hành quân tiến ra mặt trận hòa nhập với thiên nhiên Tây Bắc luôn trong tư thế vươn tới

Trong hoàn cảnh chiến tranh gian khổ những cuộc hành quân không còn lãng mạn kiểu:

Trường Sơn mây núi lô xơ Quân đi súng lượn nhấp nhô bụi lòng

Đá tai mèo xô ngang ngực

(Những người đi tới biển)

Tình đồng chí đồng đội chính là mội trong các giá trị văn hóa tinh thần

cơ bản vừa mang tính chất đặc thù của nhân cách người chiến sĩ và vừa phát

Trang 36

triển như một truyền thống bền vững của quân đội Chính nó đã tạo nên sức mạnh nội sinh cho quân đội Việt Nam Đó là sự gắn bó thiêng liêng của những con người cùng lí tưởng ở bất cứ giai đoạn lịch sử nào người chiến sĩ đều sống và chiến đấu trong sự ấm áp của tình đồng đội

Nhà thơ Chính Hữu đã viết rất hay về tình đồng chí và bài thơ cùng tên của anh đã trở thành món ăn tinh thần không thể thiếu trong hành trang của mỗi người lính

Chính Hữu nhớ mãi “đêm rét chung chăn”, Hồng Nguyên nhớ hành động “Quờ chân tìm hơi ấm đêm mưa” cùng đồng đội thời chống Pháp

Với Tố Hữu, tình đồng đội được phát huy và nâng lên một tầm cao mới, ở đó có sự gắn bó giữa lý tưởng vừa thời đại và hiện thực đời thường một cách nhuần nhuyễn:

Nhưng rồi khói từ xa gió thổi Núi kêu anh bộ đội lên đường Lại những ngày đi, vắt với sương Ngô bung xôi nhạt, nước lưng bương Đêm mưa rình giặc, tai thao thức Mùa lại mùa qua, rét nhức xương

(Lên Tây Bắc)

Phải lăn lộn ở núi rừng, vật vã sốt run người từng trận ướt mồ hôi, phải từng trong hoàn cảnh “Cái phút người anh như lửa nóng, núi cũng ngồi cũng đứng khác chi anh” ta mới hiểu được thế nào là sốt rét Họ đã chia nhau cuộc đời, chia nhau cả cái chết, chia nhau cả những điều vô cùng giản dị:

Thương nhau chia củ sắn lùi Bát cơm sẻ nửa chăn sui đắp cùng

(Việt Bắc)

Trang 37

Nói tới người chiến sỹ là nói đến lòng kiên cường, dũng cảm tuyệt vời Anh là hiện thân của chủ nghĩa anh hùng cách mạng thời đại mới Đáp lời kêu

gọi của Hồ Chủ Tịch: “Thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ” Cùng với tình đồng đội trở thành nguồn sáng soi

đường là chỗ dựa cho tâm hồn người lính, tiếp thêm sức mạnh cho họ vượt qua bom đạn khốc liệt của chiến trường mà chúng ta không thể tính được những hy sinh mất mát mà các anh phải trải qua và chịu đựng

Họ đã vào trận với tất cả tấm lòng thành, với lời thề son sắt với Đảng, với Bác Hồ kính yêu Cho nên không khó khăn nào mà họ không vượt qua, chẳng kẻ thù nào mà họ không đánh thắng Họ chẳng phải là ai xa lạ và cao siêu, họ vẫn là những chàng trai chân đất, là anh Bế Văn Đàn lấy thân làm giá súng, là anh Tô Vĩnh Diện lấy thân chèn pháo, là anh Phan Đình Giót lấy thân mình lấp lỗ châu mai, là anh Cù Chính Lan dũng cảm đánh xe tăng địch Nhà thơ Tố Hữu đã kể về các anh với những lời thơ thành kính, yêu thương

và cảm phục:

Chiến sĩ anh hùng

Đầu nung lửa sắt

Năm mươi sáu ngày đêm, khoét núi, ngủ hầm, mưa dầm, cơm vắt

Máu trộn bùn non

Gan không núng

Chí không mòn!

Những đồng chí, thân chôn làm giá súng

Đầu bịt lỗ châu mai

Băng mình qua núi thép gai

Aò ào vũ bão

Những đồng chí chèn lưng cứu pháo

Nát thân, nhắm mắt, còn ôm

Trang 38

Những bàn tay xẻ núi, lăn bom

Nhất định mở đường cho xe ta lên chiến trường tiếp viện

(Hoan hô chiến sĩ Điện Biên)

Nhà thơ cung cấp cho ta nhiều con số và những tư liệu lịch sử: cuộc kháng chiến chống Pháp đã kéo dài “ba ngàn ngày”, chiến dịch Điện Biên toàn thắng sau “56 ngày đêm…” Song, điểm đọng lại ấn tượng, gây nhiều cảm xúc kính phục trong đoạn này là khi tác giả mô tả cuộc chiến đấu ác liệt, sức chịu đựng gian khổ, sự hi sinh cả thân thể của mình cho cuộc chiến, tất cả những người chiến sĩ không chút do dự xông vào nơi hiểm nguy để đương đầu với giặc khiến người đọc thấy cảm phục vô cùng

Các anh tự ý thức được trách nhiệm của mình với lịch sử quê hương đất nước, là làm người lính đi đầu mang lại cho nhân dân ta những ấm no hạnh

phúc Dù gian nan, vất vả, dù phải lấy thân chôn làm gía súng, đầu bịt lỗ châu mai hay chèn lưng cứu pháo thì các anh thấy đó là hành động tràn đầy niềm

tự tôn dân tộc Các anh hiểu được những việc làm của mình là vì ai, cho ai và tại sao Chứ không phải anh chiến đấu một cách vô nghĩa hay bị ép buộc Ta

hiểu vì sao ta chiến đấu / Ta hiểu vì sao ta hiến máu”

Sự đóng góp lớn của Tố Hữu là đưa vào trong thơ những chi tiết ngổn ngang bề bộn phức tạp sống động của cuộc sống đời thường trong chiến tranh

mà vẫn làm tỏa sáng hình ảnh người chiến sĩ

Mấy chàng lính trẻ măng tơ Nghêu ngao gõ bát hát chờ cơm sôi

(Nước non ngàn dặm)

Hình ảnh người lính không chỉ là những người bình tĩnh lạc quan, trẻ trung và rất đỗi yêu đời trong hoàn cảnh gian khổ ác liệt mà còn là những con người có đời sống nội tâm phong phú Đời sống nội tâm ấy được thể hiện qua những tình cảm với quê hương, với người mẹ và những người thân thiết ở hậu

Trang 39

phương, qua đó thể hiện quan niệm về tình yêu và hạnh phúc Có thể nói bằng chính máu thịt của tâm hồn mình, Tố Hữu đã dựng nên một cách cụ thể và sinh động bức chân dung tinh thần của những người chiến sĩ trẻ cầm súng

Giọt giọt mồ hôi rơi Trên má anh vàng nghệ Anh vệ quốc quân ơi Sao mà yêu anh thế

(Cá nước)

Chiến tranh luôn là người bạn đồng hành của những bi kịch, nhưng chiến tranh cũng là sự thử thách của con người Ở nơi ranh giới giữa sự sống và cái chết, người chiến sĩ giải phóng có dịp bộc lộ rõ tính cách của chính mình Như một quy luật của tâm lí, càng trong hoàn cảnh ác liệt nhất, con người càng có nhu cầu được sẻ chia với những người thân yêu trong cuộc đời mình

Chắc có lúc lòng anh Nhớ nhà anh nhớ lắm

Ơi người bạn hiền lành Mắt nhìn xa đăm đắm

(Cá nước)

Tố Hữu cũng cố gắng đi sâu thể hiện những tình cảm riêng tư của người lính Trong tâm hồn các anh luôn có một khoảng trời xanh vời vợi, lung linh gương mặt người thương

Người mẹ là hình ảnh lớn lao nhất, tập trung nhất của quê hương Người lính trong thơ của Lâm Thị Vĩ Dạ luôn nhớ về mẹ, nghĩ về mẹ với lòng biết ơn vô hạn:

Từ buổi ra đi nay con hiểu ra rồi Qua giá buốt mới thấy mùa xuân đẹp

Mẹ đã vẽ cho con thành người lính hôm nay

Trang 40

Thương mẹ tần tảo khuya sớm, người lính mong muốn được một lần trở về thăm mẹ, giúp mẹ đó là ước mơ giản dị của anh lính trẻ trong thơ Nguyễn Đức Mậu:

Mong về phép được ăn bát cơm mẹ xơi Giúp mẹ lợp lại mái cọ tre mưa

Trong thơ Tố Hữu với người lính, mẹ là ngọn nguồn của tất cả, là tình yêu vô biên, là cuộc sống kì diệu dõi theo trong suốt đời

Con ra tiền tuyến xa xôi Yêu bầm yêu nước, cả đôi mẹ hiền Nhớ thương con bầm yên tâm nhé Bầm của con, mẹ Vệ quốc quân

Con đi xa cũng như gần Anh em đồng chí quây quần là con

Những lời thủ thỉ tâm tình và an ủi vỗ về của người con dành cho bầm:

“Thương con, bầm chớ lo nhiều bầm nghe !”; “Nhớ thương con bầm yên tâm nhé”; “Nhớ con, bầm nhé đừng buồn” Đó là những câu thơ thể hiện sự quyết

tâm của những người chiến sỹ sẵn sàng vượt lên phía trước để tiêu diệt kẻ thù Bởi một lẽ, phía sau lưng họ có bà bầm, bà bủ luôn dõi theo để động viên và dành trọn tình yêu thương Người lính đã nhận thức được một điều lớn lao người mẹ đã hi sinh cả cuộc đời mình luôn dành cho con:

Ngày đăng: 16/09/2016, 10:37

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Cừ (1980), Tố Hữu, Nhà thơ cách mạng, Nxb khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tố Hữu, Nhà thơ cách mạng
Tác giả: Nguyễn Cừ
Nhà XB: Nxb khoa học xã hội
Năm: 1980
2. Xuân Diệu(1955), Tập thơ Việt Bắc của Tố Hữu, Báo Văn nghệ (số 28,64) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tập thơ Việt Bắc của Tố Hữu
Tác giả: Xuân Diệu
Nhà XB: Báo Văn nghệ
Năm: 1955
3. Nguyễn Đăng Điệp (2002), Giọng điệu trong thơ trữ tình, Nxb Văn học, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giọng điệu trong thơ trữ tình
Tác giả: Nguyễn Đăng Điệp
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2002
4. Hà Minh Đức (1994), Từ Từ ấy đến Một tiếng đờn,Nxb Văn học, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ Từ ấy đến Một tiếng đờn
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1994
5. Hà Minh Đức, Vui buồn trong thơ Tố Hữu, Tạp chí Văn nghệ quân đội, T8-1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hà Minh Đức, "Vui buồn trong thơ Tố Hữu", Tạp chí "Văn nghệ quân đội
6. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi(2009), Từ điển thuật ngữ văn học, Nhà xuất bản Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Tác giả: Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 2009
7. Nguyễn Văn Hạnh (1970), Phong cách nghệ thuật của Tố Hữu, Nội san nghiên cứu văn học, Trường ĐHSP Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Văn Hạnh (1970), "Phong cách nghệ thuật của Tố Hữu
Tác giả: Nguyễn Văn Hạnh
Năm: 1970
8. Tô Hoài, Sổ tay viết văn, Nxb Tác phẩm mới, H. 1977 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tô Hoài, "Sổ tay viết văn
Nhà XB: Nxb Tác phẩm mới
9. Mai Hương (Tuyển chọn và biên soạn), Thơ Tố Hữu những lời bình, Nxb Văn hóa TT Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ Tố Hữu những lời bình
Tác giả: Mai Hương
Nhà XB: Nxb Văn hóa TT
10. Tố Hữu (1980), Văn học là cuộc đời, Báo Văn nghệ (số 44) 11. Tố Hữu (1998), Tuyển tập thơ, Nxb Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập thơ
Tác giả: Tố Hữu
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1998
13. Phùng Ngọc Kiếm (1987), Những biểu hiện tính dân tộc trong những bài thơ của Thố Hữu viết về Bác Hồ, Thông báo khoa học ĐHSP 1987 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phùng Ngọc Kiếm (1987), "Những biểu hiện tính dân tộc trong những bài thơ của Thố Hữu viết về Bác Hồ
Tác giả: Phùng Ngọc Kiếm
Năm: 1987
15. Nguyễn Văn Long (1996), Thơ Tố Hữu trong đời sống phê bình, nghiên cứu văn học ở Việt Nam 50 năm qua, Nxb Hội nhà văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Văn Long (1996), Thơ "Tố Hữu trong đời sống phê bình, nghiên cứu văn học ở Việt Nam 50 năm qua
Tác giả: Nguyễn Văn Long
Nhà XB: Nxb Hội nhà văn
Năm: 1996
16. Phương Lựu(Chủ biên) (2006), Lí luận văn học, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận văn học
Tác giả: Phương Lựu
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2006
17. Nguyễn Đăng Mạnh (1994), Con đường thơ Tố Hữu, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Con đường thơ Tố Hữu
Tác giả: Nguyễn Đăng Mạnh
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1994
18. Lương Thai Mai(2014), Cái tôi trữ tình trong thơ Tố Hữu qua hai tập thơ Một tiếng đờn và Ta với ta, Luận văn thạc sĩ khoa học, Đại học khoa học xã hội và nhân văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cái tôi trữ tình trong thơ Tố Hữu qua hai tập thơ Một tiếng đờn và Ta với ta
Tác giả: Lương Thai Mai
Nhà XB: Đại học khoa học xã hội và nhân văn
Năm: 2014
19. Nguyễn Đăng Mạnh, Con đường thơ Tố Hữu- chân dung văn học, Nxb Thuận Hóa –Huế- 1990 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Đăng Mạnh, "Con đường thơ Tố Hữu- chân dung văn học
Nhà XB: Nxb Thuận Hóa –Huế- 1990
20. Nhiều tác giả (2011), Tố Hữu - Tác phẩm và lời bình Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tố Hữu - Tác phẩm và lời bình
Tác giả: Nhiều tác giả
Năm: 2011
21. Nhiều tác giả (2005), Tố Hữu - Về tác gia tác phẩm, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tố Hữu - Về tác gia tác phẩm
Tác giả: Nhiều tác giả
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2005
22. Trần Đình Sử (1987), Thi pháp thơ Tố Hữu, Nxb Tác phẩm mới, Hội nhà văn Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi pháp thơ Tố Hữu
Tác giả: Trần Đình Sử
Nhà XB: Nxb Tác phẩm mới
Năm: 1987
23. Trần Đình Sử (1998), Dẫn luận thi pháp học, Nxb Giáo dục 24. Hoài Thanh(1972), Phê bình và tiểu luận, tập 3, Nxb Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dẫn luận thi pháp học
Tác giả: Trần Đình Sử
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w