1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Cái tôi trữ tình trong thơ Dư Thị Hoàn, Đoàn Thị Lam Luyến, Hoàng Việt Hằng

134 1K 7

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 134
Dung lượng 1,55 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Điều đó dẫn tới sự thay đổi sâu sắc về tư duy nghệ thuật thơ giai đoạn này qua ba điểm đáng chú ý sau đây: Ý thức nhìn cuộc đời bằng cái nhìn tỉnh táo và thơ ca hiện ra như một hình thức

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

HÀ NỘI, NĂM 2013

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

MÃ SỐ: 60.22.34

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS LƯU KHÁNH THƠ

HÀ NỘI, NĂM 2013

Trang 3

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 4

1.Lý do chọn đề tài 4

2 Lịch sử vấn đề 5

2.1 Tác giả Dư Thị Hoàn 5

2.1.2 Tác giả Đoàn Thị Lam Luyến 8

2.1.3 Tác giả Hoàng Việt Hằng 10

3.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 12

3.1 Đối tượng nghiên cứu 12

3.1.2 Tác giả Đoàn Thị Lam Luyến luận văn khảo sát tập trung ở ba tập thơ: 12

3.1.3 Tác giả Hoàng Việt Hằng chúng tôi tập trung khảo sát qua hai tập thơ: 12

3.2 Phạm vi nghiên cứu 12

4.Mục đích nghiên cứu 12

5.Phương pháp nghiên cứu 13

6.Bố cục của luận văn 13

PHẦN NỘI DUNG 14

CHƯƠNG 1: NHẬN THỨC CHUNG VỀ CÁI TÔI TRỮ TÌNH – SỰ HÌNH THÀNH CÁ TÍNH SÁNG TẠO TRONG THƠ DƯ THỊ HOÀN, ĐOÀN THỊ LAM LUYẾN, HOÀNG VIỆT HẰNG 14

1.1.Khái niệm về “cái tôi”, “cái tôi trữ tình” và biểu hiện của cái tôi trữ tình trong thơ ca truyền thống 14

1.1.1.Cái tôi 14

1.1.2.Cái tôi trữ tình 16

Trang 4

1.1.3.Các hình thức biểu hiện của cái tôi trữ tình trong văn học 18

1.1.3.1.Cái tôi trữ tình trong văn học dân gian 19

1.1.3.2.Cái tôi trữ tình trong văn học cổ điển 19

1.1.3.3.Cái tôi trữ tình trong thơ lãng mạn 20

1.1.3.4.Cái tôi trữ tình trong thơ cách mạng 21

1.2.Sự hình thành cá tính sáng tạo trong thơ Dư Thị Hoàn, Đoàn Thị Lam Luyến, Hoàng Việt Hằng 21

1.2.1.Đặc điểm chung của thơ nữ Việt Nam sau năm 1986 21

1.2.2.Cá tính sáng tạo trong thơ Dư Thị Hoàn, Đoàn Thị Lam Luyến, Hoàng Việt Hằng 26

1.2.2.1.Đoàn Thị Lam Luyến – người đàn bà “dại yêu” và khát vọng sống mãnh liệt 26

1.2.2.2.Dư Thị Hoàn – một “lối nhỏ” độc đáo trên hành trình sáng tạo thi ca 27

1.2.2.3.Hoàng Việt Hằng – “một mình khâu những lặng im” và âm thầm tỏa sáng 33

CHƯƠNG 2: CÁI TÔI TRỮ TÌNH TRONG THƠ DƯ THỊ HOÀN, ĐOÀN THỊ LAM LUYẾN, HOÀNG VIỆT HẰNG NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN NỘI DUNG 36

2.1 Cái tôi trữ tình trong thơ Dư Thị Hoàn 36

2.1.1 Cái tôi trữ tình băn khoăn day dứt trước hiện thực đời sống 36

2.2.2 Cái tôi trữ tình triết lý, chiêm cảm 47

2.2 Cái tôi trữ tình trong thơ Đoàn Thị Lam Luyến 54

2.2.1 Cái tôi – người tình đam mê, mãnh liệt 55

2.2.2 Cái tôi cô đơn, khắc khoải 67

2.2.3 Cái tôi trữ tình trong thơ Hoàng Việt Hằng 72

2.2.3.1 Cái tôi – cô đơn, đau khổ của một kiếp thi nhân – đàn bà 72

2.2.3.2 Cái tôi tìm đến thiên nhiên để đồng cảm, chia sẻ 83

Trang 5

2.4 Tiểu kết 89

CHƯƠNG 3: CÁI TÔI TRỮ TÌNH TRONG THƠ DƯ THỊ HOÀN, ĐOÀN THỊ LAM LUYẾN, HOÀNG VIỆT HẰNG NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN NGHỆ THUẬT 90

3.1 Thể thơ 90

3.1.1 Thể thơ tự do 90

3.1.2 Thể thơ lục bát 97

3.1.3 Thể thơ 5 chữ 101

3.1.3.1.Thể thơ 5 chữ Error! Bookmark not defined 3.1.3.2 Thơ ngắn Error! Bookmark not defined 3.2 Ngôn ngữ 103

3.2.1.Ngôn ngữ giàu sắc thái biểu cảm 104

3.2.2 Ngôn ngữ giản dị đời thường 106

3.3 Giọng điệu 111

3.3.1 Giọng điệu lo âu, hoài niệm, trăn trở 111

3.3.2 Giọng điệu trữ tình suy tư, trầm lắng 118

3.3.3 Giọng điệu nồng nàn, ấm áp 123

PHẦN KẾT LUẬN 127

TÀI LIỆU THAM KHẢO 130

Trang 6

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Cùng với dòng chảy của thời gian, những gì của ngày hôm nay rồi sẽ dần trở thành quá khứ của ngày sau Cuộc sống vĩnh hằng vẫn lưu chuyển trong từng khoảnh khắc của không gian và thời gian Còn con người luôn mong ước được sống hết mình cho từng giây, từng phút của đời người Trọn vẹn với những ước mơ, những yêu thương nồng nhiệt và cả những hờn tủi, đau đớn hay hạnh phúc đời mình,Dư Thị Hoàn, Đoàn Thị Lam Luyến, Hoàng Việt Hằng đã trải lòng qua các trang thơ và lưu dấu ấn trong nền văn học Việt Nam thời kỳ đổi mới

Cái tôi trữ tình là một trong những khái niệm triết học cổ nhất, đánh dấu ý thức đầu tiên của con người về bản thể tồn tại của mình, từ đó nhận ra mình là một con người khác với tự nhiên, một cá thể độc lập khác với người khác Cái tôi trữ tình thể hiện một cách nhận thức, cảm xúc đối với thế giới, con người thông qua lăng kính cá nhân của chủ thể và thông qua việc tổ chức các phương tiện của thơ trữ tình, tạo ra một thế giới tinh thần riêng biệt, độc đáo mang tính thẩm mỹ, nhằm truyền đạt đến người đọc Cái tôi trữ tình chính là trung tâm sáng tạo và tổ chức văn bản trữ tình Chính vì vậy, nghiên cứu cái tôi trữ tình là để thấy cái tôi nhà thơ đã được nghệ thuật hóa trở thành một yếu tố nghệ thuật phổ quát trong thơ, một thành

tố trong thế giới nghệ thuật của tác phẩm

Công cuộc đổi mới được khởi xướng vào năm 1986 là một sự kiện trọng đại làm thay đổi cuộc sống nước ta vốn đã có lúc rơi vào khủng hoảng sâu sắc Văn nghệ, trong tình hình mới đã dám “nói thẳng”, “nói thật” về nhiều vấn đề khúc mắc, nhiều

sự thật đau lòng Theo đó, cá tính sáng tạo của nhà thơ cũng được giải phóng triệt để hơn Trong bối cảnh lịch sử và văn hóa mới, cả mặt phải và mặt trái của nó khiến cho nhà thơ không thể nhìn cuộc sống như trước đây mà buộc họ phải thích ứng với những thay đổi nhiều khi chóng mặt của cuộc sống Điều đó dẫn tới sự thay đổi sâu sắc về tư duy nghệ thuật thơ giai đoạn này qua ba điểm đáng chú ý sau đây: Ý thức nhìn cuộc đời bằng cái nhìn tỉnh táo và thơ ca hiện ra như một hình thức tra vấn không ngừng về đời sống; Nỗ lực khám phá sự phong phú trong “cái tôi ẩn giấu”, dám phơi bày những bi kịch nhân sinh, hoài nghi những giá trị vốn đã quá ổn định để

Trang 7

đi tìm những giá trị mới; Thơ như một ngôn ngữ” Có thể nói tinh thần của Đại hội

VI đã làm chuyển hướng văn học, văn học đang trở về với đời thường, với số phận riêng Cùng với điều kiện đổi mới trên, thơ ca còn chịu tác động mạnh mẽ của cơ chế thị trường Trong nền thơ hiện đại đã xuất hiện nhiều khuynh hướng, nhiều thể nghiệm, tìm tòi với những hình thức mới lạ, có màu sắc hiện đại Nội dung thơ cũng muôn màu, muôn vẻ, với những cách khai thác, tiếp cận khác nhau Có thể nói, bước chuyển quan trọng nhất của thời kỳ này là thơ đã đến với con người trong mọi biểu hiện phong phú của nó Đối với thơ, giờ đây không còn có vùng cấm, vùng trắng mà

“Ở đâu có sự sống ở đó có thơ ca” Thơ đã trở về với hiện thực của nhân tình thế thái, trở về với cái tôi cá nhân, bên cạnh dòng thơ trữ tình công dân

Hòa vào dòng chảy chung của thi ca thời kỳ đổi mới, Dư Thị Hoàn, Đoàn Thị Lam Luyến, Hoàng Việt Hằng là những cây bút được sống và sáng tác trong môi trường ấy Chính nó đã tạo điều kiện cho ba nhà thơ nữ được phát huy khả năng sáng tạo, cất lên những tiếng thơ tràn ngập cảm xúc

Chọn đề tài nghiên cứu, Cái tôi trữ tình trong thơ Dư Thị Hoàn, Đoàn Thị

Lam Luyến, Hoàng Việt Hằng chúng tôi muốn vận dụng những lý thuyết truyền

thống kết hợp với lý thuyết hiện đại để đi sâu vào thế giới nội tâm phức tạp trong thơ của các chị, mong tìm ra những mạch ngầm nội tại làm nên sức sống bền vững của nó

2 Lịch sử vấn đề

Trong nền văn học dân tộc thơ nữ luôn có bước tiến song hành , nó không tách rời xu hướng phát triển của thơ ca dân tộc Sự đóng góp của các nhà thơ nữ thời kỳ đổi mới đã tạo nên những tiếng nói mới mẻ cho nền thơ ca hiện đại của dân tộc Nó trở thành đối tượng nghiên cứu của giới phê bình văn học Qua khảo sát , thống kế chúng tôi đã tìm thấy nhiều bài viết liên quan tới đề tài Nhìn vào những bài viết này chúng tôi có thể khẳng định là cho đến nay những công trình, nghiên cứu, tìm hiểu về các nhà thơ Dư Thị Hoàn, Đoàn Thị Lam Luyến, Hoàng Việt Hằng… đều thống nhất, đánh giá, thơ các chị là tiếng nói chân thành tha thiết của trái tim phụ nữ, những trăn trở suy tư của một kiếp người

2.1 Tác giả Dư Thị Hoàn

Trang 8

Dư Thị Hoàn là một trong những cây bút nữ tiêu biểu trong giai đoạn đổi mới của văn học Người ta viết khá nhiều về chị, nhưng chủ yếu dưới dạng những nhận xét khái quát những đặc điểm cơ bản hoặc có tính giới thiệu, bình phẩm chứ chưa nghiên cứu một cách có hệ thổng Vẫn chưa có một công trình nghiên cứu nào đề cập đến cái tôi trữ tình đầy triết lý, chiêm cảm cùng đời tư thế sự phức tạp của thơ chị Tuy nhiên phải kế đến phải kể đến những công trình, những bài nghiên cứu có tính chất khái lược về thơ chị Tiêu biểu là các tác giả:Bùi Công Hùng, Hồ Thế Hà, Lưu Khánh Thơ, Nguyễn Thụy Kha, Lê Lưu Oanh, Phong Lê, Bích Thu, Nguyễn Đằng Điệp…

Nhìn chung, các tác giả đều thống nhất ở quan điểm thơ thời kỳ đổi mới hướng vào cái tôi cá nhân, khẳng định con người cá nhân, cá tính thể hiện rõ trong thơ Dư Thị Hoàn Nhiều tác giả có những nhận xét, đánh giá chung về vị trí và đặc

điểm thơ Dư Thị Hoàn Theo Bùi Công Hùng, “Dư Thị Hoàn thể hiện tâm tình của

một người phụ nữ người Việt gốc Hoa trong Lối nhỏ” [11, tr.294] Với Lưu Khánh

Thơ, “Bài Tan vỡ của Dư Thị Hoàn cũng đã hơn một lần bị lên án nhắc nhở Đến

nay, khía cạnh này được nhìn nhận đúng mức hơn Có lẽ một phần do cách biểu hiện của từng nhà thơ, phần nữa là do tâm lý và thị hiếu của người đọc ngày càng đa dạng và hiện đại hơn” [29, tr.20] Còn Hồ Thế Hà cho rằng, “Với tấm lòng bao dung, nhân ái, Dư Thị Hoàn đã gây được thiện cảm ở người đọc Thơ chị không cầu kỳ, kênh kiệu hoặc làm dáng trong câu chữ một cách trống rỗng mà đó là sự lựa chọn nghệ thuật xuất phát từ thực tế, suy tư của chính mình và những người thân một cách chân tình Và vì vậy, nó giản dị, gần gũi với đời thường Chính sức mạnh của ý tứ, của vẻ đẹp tâm hồn đã giúp cho thơ chị bỏ qua một số quan hệ: vần điệu, tiết tấu để đến thẳng với độc giả bằng một chiều sâu suy nghĩ, liên tưởng mới mẻ” [11, tr.78] Lê

Lưu Oanh, Bích Thu, Nguyễn Đăng Điệp, Đỗ Bạch Mai,… đều cho rằng ý thức giải phóng cái tôi cá nhân, giải phóng cá tính đã tạo cho các nhà thơ nữ một giọng điệu riêng, mỗi người mỗi kiểu không ai giống ai, đặc biệt là giọng điệu thơ của Dư Thị Hoàn

Trang 9

Đánh giá về tập thơ Lối nhỏ của Dư Thị Hoàn, Văn Tâm đã nhận định: “Với nội

dung khá đặc thù, thơ Lối nhỏ va đập mạnh tâm thức độc giả chủ yếu do chữ chứ

không phải vì từ Nhiều lúc tác giả cũng đã hy sinh từ (kể cả vần và nhạc tính)” [37]

Cũng bàn về vấn đề này, nhà phê bình Chu Văn Sơn đã nói cụ thể hơn: “Đọc

thơ Dư Thị Hoàn ai cũng thấy một hình thức là lạ, toàn những bài ngắn, câu ngắn Khước từ thể cách và rất nhiều vần điệu Không nệ cả những tiết điệu của nhạc tính thông thường Y như những lời – nói – thơ, hiểu theo nghĩa: những lời nói thường có chất thơ, thế thôi” [27]

Mặt khác, ở những công trình, bài viết nghiên cứu, các tác giả cũng đã có những cảm nhận đánh giá về thơ Dư Thị Hoàn

Công trình khoa học Chân dung nữ văn nghệ sĩ do Lê Minh chủ biên, tác giả

đã nêu lên những đóng góp của nữ văn nghệ sĩ trong các lĩnh vực nghệ thuật Đồng thời, tác giả cũng điểm qua một vài nét về những đóng góp và phong cách sáng tác của họ, trong đó có nữ sĩ Dư Thị Hoàn

Hồ Thế Hà trong bài viết Sức quyến rũ từLối nhỏ có nhận xét: “Đọc thơ Dư

Thị Hoàn một vài lần quả là không có gì đáng chú ý, bởi nó không có vẻ đẹp rực rỡ của câu chữ, không có sự độc đáo của nhạc điệu, tiết tấu Nhưng đọc nhiều lần, những vấn đề hấp dẫn bề sâu của chất thơ chị lại hiện ra: hiền dịu mà không dễ dãi, lặng lẽ mà dữ dội ngầm, đau buồn mà đầy tin yêu, hy vọng… Giữa những đối lập ấy

là tấm lòng nhân ái, một ước mơ hướng thiện, sống có văn hóa Chị không chạy theo những cảm xúc dễ dãi vay mượn ở người khác một cách giả tạo Thơ chị là tiếng lòng của chị được thể hiện một cách nghệ thuật” [11, tr.74]

Luận văn thạc sĩ Tình yêu trong thơ nữ Việt Nam từ 1986 đến nay nhìn từ cá

tính sáng tạo mang đặc điểm giới của tác giả Trần Thị Thu Hằng (năm 2006) có nhận

xét: “Dư Thị Hoàn đến với tình yêu bằng một giọng thơ mạnh mẽ, đầy cá tính Xuất

hiện trên thi đàn chưa nhiều nhưng chị đã sớm khẳng định được chỗ đứng trong lòng độc giả bằng những khám phá sáng tạo của mình Chị đã tạo cho mình một lối đi riêng dẫu không mấy bằng phẳng, dễ dàng Thơ chị viết về tình yêu và những biến thái thăng trầm của cuộc đời Trong trang viết của chị có rất ít niềm vui mà thấm đẫm những nỗi buồn trước nhân tình thế thái Đó là nỗi đau mà chỉ trái tim nhạy cảm mới cảm nhận

Trang 10

được Thơ chị là tiếng nói sẻ chia trước những nghịch lý, những bi kịch tình yêu của người phụ nữ Vẻ đẹp tâm hồn, lòng nhân ái của chị đã thổi vào những vần thơ rất gần gũi, rất đời thường nhưng dễ được độc giả tiếp nhận” [13, tr.57]

Luận văn thạc sĩ Đặc trưng nghệ thuật thơ tự do của Lê Thị Mây, Dư Thị

Hoàn, Phạm Thị Ngọc Liên của tác giả Văn Thị Kiều Vương (năm 2010) cũng khẳng

định: “Thơ Dư Thị Hoàn là nỗi ám ảnh không nguôi về thận phận của những kiếp

người trong cõi nhân sinh Đó là thân phận long đong của chính mình, của người phụ

nữ bạc mệnh, số phận bất hạnh, hẩm hiu, thiệt thòi của những kiếp người nhỏ bé trong

xã hội thông qua một loạt những hình ảnh thơ có tính biểu tượng cao” [31, tr.83]

Qua việc tìm hiểu và nghiên cứu các tài liệu liên quan đến nhà thơ Dư Thị Hoàn, chúng tôi thấy rằng các tài liệu này đã chỉ ra nhiều điều lý thú và mới mẻ về Dư Thị Hoàn, đặc biệt là về mảng thơ tình yêu Các ý kiến tuy diễn đạt khác nhau nhưng không đối lập nhau mà khá thống nhất trong xu hướng khẳng định vẻ đẹp và tài năng của thơ Dư Thị Hoàn Đó là những ý kiến vô cùng quý giá mà người viết có được để làm tiền đề và mở đường trong việc triển khai các nội dung của đề tài luận văn này

2.2 Tác giả Đoàn Thị Lam Luyến

Với Đoàn Thị Lam Luyến - chị đã khẳng định được một thế đứng trên thi đàn văn học hiện đại Với hàng loạt các tập thơ được xuất bản và đạt giải thưởng uy tín của hội nhà văn Thơ chị được độc giả đón nhận một cách khá nồng nhiệt, thế nên,

không hề quá lời khi ta nói rằng người đàn bà “dại yêu” là một hình tượng nổi bật

trong thơ Đoàn Thị Lam Luyến – đó là một cách để nhà thơ tự ý thức về chính cuộc đời mình, và rộng ra là về cuộc đời và số phận của người phụ nữ hiện đại Đã có khoảng hơn 30 bài viết in trên các tạp chí, báo và mạng internet về thơ của Đoàn Thị Lam Luyến Nhìn chung các bài viết mới chỉ dừng lại ở việc đánh giá, nhận xét về một vài bài thơ tiêu biểu trong các tập thơ, hoặc bàn bạc về một tập thơ cụ thể mà chưa có cái nhìn bao quát về toàn bộ thế giới nghệ thuật trong thơ Đoàn Thị Lam Luyến cũng như cái tôi trữ tình được biểu hiện xuyên suốt và đặc sắc trong toàn bộ các sáng tác của chị

Đoàn Thị Lam Luyến là một tác giả nữ có bản bản sắc thơ khá rõ nét Thơ chị trăn trở sới lật câu chuyện muôn thuở của thân phận đàn bà (Xuân Cang)

Trang 11

“Trong thơ chị người ta thấy nó không cao sang, không lên giọng, không làm điệu

Nó bật lên từ ngôn ngữ đời thường, có thế nào nói thế”(Ánh Xuân) Chính chị đã

tâm sự trong phần Mấy lời tự bạch ở cuốn Nhà văn Việt Nam hiện đại (nxb Hội nhà văn Việt Nam - 1997) : Làm thơ với tôi như là một nhu cầu tự thân Cuộc sống vất

vả từ nhỏ, vào đời không mấy suôn sẻ và đời tư lại éo le, trắc trở, vì vậy có nhiều điều muốn nói, muốn được giãi bày Ngoài thơ ra không biết lấy ai để bộc bạch gửi gắm lòng mình Thơ tôi “Thật” và “đời thường” là vì thế

Tác giả Lê Thị Mây, trong bài viết “Nhen lại lửa lòng” in trên báo Văn nghệ

(Số tháng 12 - 1996) nhìn thơ Lam Luyến dưới góc độ giọng điệu Lê Thị Mây thấy giọng thơ Lam Luyến mạnh tiết tấu, nhạc điệu các thể thơ truyền thống Không chỉ

có thế, tác giả còn nhận thấy trong thơ Lam Luyến có một người đàn bà yêu không mệt mỏi và yêu như một bản tính hồn nhiên, nhẹ dạ như bất kỳ ai trong phái đẹp Cái trữ tình nồng hậu ở trong thơ Lam Luyến ẩn chứa một cái “Tâm: cho, tặng và dâng hiến” của chị Trong bài viết này chúng tôi thấy Lê Thị Mây khá ưu ái và cảm nhận rất sâu sắc thơ Lam Luyến như có sự đồng cảm tri âm, tri kỷ vậy Tác giả đã

có một cái nhìn khá bao quát và thấy một Lam Luyến khác hơn ở Châm khói so với Lỡ một thì con gái và Chồng chị chồng em

Cũng nhân đọc Châm khói, tác giả Ánh Xuân lại có cảm nhận khác trong bài

viết ngắn “Hương nồng đắng một hồn thơ” Ở đó Ánh Xuân nhận định Chất hương

của Đoàn Thị Lam Luyến không chỉ đắng đót, nó còn có vị ấm nóng nồng nàn của một trái tim thương yêu trong một đời sống pha tạp còn đầy những bất trắc Tác giả

Ánh Xuân cũng giống như Lê Thị Mây nhận thấy rằng : Nếu như ở “Chồng chị

chồng em” là tâm trạng muôn thuở của thân phận người đàn bà, nhưng là một người

đàn bà hiện đại thản nhiên nhặt bã trầu về têm thì ở “Châm khói” là tâm trạng và

nỗi niềm của thân phận người đàn bà dở dang, nhỡ nhàng với những cung bậc khác nhau: Cô đơn đến tận cùng, nuối tiếc, một cái cười diễu cợt… Và ở đó là lời ca của một trái tim cháy bỏng yêu thương

Đọc những dòng thơ tình yêu của Đoàn Thị Lam Luyến, tác giả Vũ Nho trên

báo Văn nghệ số tháng 5 – 2003 ở bài viết ngắn với tiêu đề “Đoàn Thị Lam Luyến -

Người yêu đến nát cuộc đời cho thơ” lại cảm nhận về thơ Lam Luyến: Với Lam

Trang 12

Luyến tình yêu như là cội nguồn, lại cũng là động lực nuôi dưỡng thúc đẩy cảm hứng sáng tạo, và cũng là sông lớn, là biển cả, là ốc đảo, là miền đất hứa cho trái tim hạn hán của Lam Luyến hướng về Theo Vũ Nho thì dường như thơ của Lam luyến trào dâng từ một tình yêu mãnh liệt của một trái tim cuồng nhiệt hiếm thấy ở những cây bút nữ vốn thiên về ngọt ngào, duyên dáng và dịu dàng e ấp Cô gái họ Đoàn đòi hỏi yêu là cuồng nhiệt, yêu là phải cháy bùng ngọn lửa mê say, yêu là phải hết mình

Lam Luyến đã góp một tiếng nói quan trọng vào khát vọng yêu, khát vọng hạnh phúc muôn đời của phụ nữ Cùng bàn về vấn đề này, Phan Thị Thanh Nhàn

trong bài viết “Lam Luyến càng yêu càng gặp tình hờ” (Vnexpress – ngày

26/11/2008) khẳng định: Lam Luyến dám bộc bạch mọi nỗi niềm riêng tư của chị Những dòng thơ của chị làm người đọc nao lòng Theo tác giả Thái Doãn Hiểu (Tạp chí Sông Hương số 205 tháng 3 /2006) Lam Luyến là nhân vật độc đáo nổi lọan tình yêu trong thơ Lam Luyến lận đận nên khát yêu, vồ vập yêu, dại yêu, xây hạnh

phúc như “làm nhà trên lưng cá voi”, nàng dữ dằn châm khói, tuyên chiến với tình

yêu Đúng là đọc thơ Lam Luyến chúng tôi thấy thơ chị luôn hướng về một thế giới hoàn mỹ Và chất thơ của chị lặng lẽ nhả hương trong bóng tối đời mình

Tuy các bài viết chưa bao quát hết sự nghiệp thơ Đoàn Thị Lam Luyến, nhưng ý kiến của những người đi trước đã là những gợi ý quý báu và định hướng cho chúng tôi trong khi thực hiện bản luận văn của mình

2.3 Tác giả Hoàng Việt Hằng

Hoàng Việt Hằng xuất hiện trên văn đàn cách đây vài chục năm , trước hết là văn xuôi (chủ yếu là truyện ngắn), nhưng hình như thơ mới là dòng chảy tâm hồn tha

thiết của chị Chị từng tâm sự : “Tôi trở thành một người làm thơ, viết báo, thế chấp

một đời cho văn chương Tôi như người chạy chợ thức khuya dậy sớm trên ruộng chữ nghĩa của mình” Bởi vậy có thể nói, Hoàng Việt Hằng có một năng lực sáng tạo khá

dồi dào, cùng một cá tính không mấy ồn ào – tạo nên một vẻ đẹp riêng của thơ chị Người ta ít biết thơ chị và hầu như không viết về chị, đó có lẽ là một mảnh đất mầu

mỡ cho người viết tự do khám phá một kiếp thi nhân – đàn bà Một số bài viết của các tác giả tiểu biểu như: Phạm Hồ Thu, Vũ Nho, Lê Thiếu Nhơn, Việt Quỳnh…

Trang 13

Cũng như người, thơ Hoàng Việt Hằng ít khi vui, luôn mang sự cô đơn quạnh quẽ lạnh vắng của người quen sống một mình, và bao nhiêu chuyến đi xa, lang thang khắp các vùng miền đất nước cũng lại một mình Tác giả Việt Quỳnh nhân đọc tập

thơ “Xóa đi và không xóa” đã chia sẻ “Lời thơ của Hoàng Việt Hằng đơn giản như

thủ thỉ, thấy gì, cảm gì thì ghi chép lại Câu thơ không phức tạp chữ nghĩa, không hoa

lệ ngôn từ, cứ như một khoảnh tự mình trò chuyện với mình, dọc đường những lúc nghỉ chân đỡ phần mỏi mệt” Có lẽ những trải nghiệm trong từng chuyến đi đã khiến

chị thấu hiểu tâm sự của mọi kiếp người trong cuộc mưu sinh đầy cơ cực Đúng như

Vũ Nho đã nhận định trong cuốn 33 gương mặt thơ nữ: “ Thơ Hoàng Việt Hằng

khiến người đọc nhìn vào cuộc mưu sinh đầy khó khăn gian khổ, thấy những phận người lầm lũi, những gắng gỏi, an nhiên của họ để biết rằng cuộc sống của mình là hạnh phúc, cần phải quý trọng, nâng niu…” Phải chăng vì hướng đến những người

lam lũ mà thơ Hoàng Việt Hằng thường nhạy bén chạm vào những góc khuất, những bất thường của cảnh vật làm bật ra những trăn trở, băn khăn, day dứt

Đồng quan điểm trên Lê Thiếu Nhơn trong bài viết “Hoàng Việt Hằng cầu

cạnh bút nghiên run rẩy viết” đã nhận định “Thơ Hoàng Việt Hằng không thuộc diện tài hoa, nhưng nhiều câu lấp lánh nước mắt khiến người đọc nao dạ!” Hoàng Việt

Hằng là người Hà Nội chính gốc nhưng chị lại chọn cho mình lối sống và cách viết

hướng về nhà quê Nói như Lê Thiếu Nhơn quả không quá “ Hoàng Việt Hằng đã

nếm trải nhiều lao đao để những sóng gió bất trắc lặn vào trang giấy trắng thành những câu thơ vỗ về kiếp người nổi nênh”

Hoàng Việt Hằng xuất hiện trên văn đàn cách đây vài chục năm, trước hết bằng văn xuôi (chủ yếu là truyện ngắn) Tuy Hòa sau đọc tản văn của Hoàng Việt

Hằng đã viết “ Văn xuôi của Hoàng Việt Hằng có gì lạ? Thứ nhất, chị có bề dày hoạt

động văn học để tạm đủ tư liệu viết về chân dung nghệ sĩ Thứ hai, lối cảm lối nghĩ của một nhà thơ mang lại vẻ đẹp riêng cho thể loại tùy bút hoặc tản mạn” Chị đã có

4 tập văn xuôi xuất bản, nhưng hình như thơ mới là dòng chảy da diết nhất từ tâm

hồn chị Đặc biệt với tập “Vệt trăng và cánh cửa” của chị đã đạt giải thưởng Hội nhà văn Hà Nội Phạm Hồ Thu đã chia sẻ sau khi tập thơ đạt giải thưởng “Vệt trăng và

cánh cửa là tập thơ thứ 5 của chị, cho biết một năng lực sáng tạo khá dồi dào, dẫu

Trang 14

bạn bè biết Hoàng Việt Hằng là một cá tính, không mấy ồn ào Và điều này cũng làm nên nét đẹp riêng của thơ chị” Đó quả là một thành công đối với một người đàn bà mang nghiệp cầm bút

Những ý kiến trên tuy chưa trực tiếp đi sâu tìm hiểu, phân tích đánh giá về nghệ thuật của thơ Hoàng Việt Hằng nhưng phần nào đã chỉ ra được tầm quan trọng và ý nghĩa của thế giới nghệ thuật trong thơ của chị Nhạy cảm với những vất vả,lam lũ, nghèo khó của những phận người, nên Hoàng Việt Hằng đã có những vệt thơ riêng

3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Do luận văn nghiên cứu về ba tác giả nên chúng tôi chỉ tập trung khảo sát một vài tập thơ tiêu biểu thể hiện rõ cái tôi trữ tình của từng tác giả Cụ thể như sau:

3.1.1.Tác giả Dư Thị Hoàn luận văn khảo sát ở hai tập thơ tiêu biểu:

1 Lối nhỏ (Hội Văn học nghệ thuật Hải Phòng xuất bản, 1988)

2 Du nữ ngâm (Tập thơ đăng mạng Internet)

3.1.2 Tác giả Đoàn Thị Lam Luyến luận văn khảo sát tập trung ở ba tập thơ:

Phạm vi nghiên cứu của luận văn là Cái tôi trữ tình trong thơ Dƣ Thị

Hoàn, Đoàn Thị Lam Luyến, Hoàng Việt Hằng được triển khai theo các phương

diện nội dung và hình thức nghệ thuật như ngôn ngữ, giọng điệu, thể thơ…Điều quan trọng là muốn đi vào thế giới nghệ thuật của các nhà thơ, chúng tôi luôn phải đối sánh với nội dung thơ, đời sống và tư tưởng của từng nhà thơ

4 Mục đích nghiên cứu

Luận văn nhằm làm sáng tỏ vấn đề sau:

Trang 15

- Tìm hiểu về cái tôi trữ tình trong thơ Dư Thị Hoàn, Đoàn Thị Lam Luyến, Hoàng Việt Hằng qua những nguồn cảm hứng tiêu biểu và nghệ thuật thể hiện

nó để thấy được sự đóng góp của các nhà thơ nữ trong nền thơ ca Việt Nam hiện đại

- Góp phần làm sáng tỏ phong cách thơ của Dư Thị Hoàn, Đoàn Thị Lam Luyến, Hoàng Việt Hằng

5 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài này, chúng tôi đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau đây:

Phương pháp phân tích – tổng hợp

Phương pháp thống kê, phân loại

Phương pháp so sánh – đối chiếu

Phương pháp cấu trúc – hệ thống

Phương pháp tiểu sử

6 Bố cục của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, phần Nội dung chính của luận văn được triển khai gồm ba chương:

Chương 1: Nhận thức chung về cái tôi trữ tình – Sự hình thành cá tính sáng tạo trong thơ Dư Thị Hoàn, Đoàn Thị Lam Luyến, Hoàng Việt Hằng

Chương 2: Cái tôi trữ tình trong thơ Dư Thị Hoàn, Đoàn Thị Lam Luyến, Hoàng Việt Hằng nhìn từ phương diện nội dung

Chương 3: Cái tôi trữ tình trong thơ Dư Thị Hoàn, Đoàn Thị Lam Luyến, Hoàng Việt Hằng nhìn từ phương diện nghệ thuật

Trang 16

PHẦN NỘI DUNG

CHƯƠNG 1: NHẬN THỨC CHUNG VỀ CÁI TÔI TRỮ TÌNH – SỰ HÌNH THÀNH CÁ TÍNH SÁNG TẠO TRONG THƠ DƯ THỊ HOÀN, ĐOÀN THỊ

LAM LUYẾN, HOÀNG VIỆT HẰNG

trong thơ ca truyền thống

1.1.1 Cái tôi

Chúng ta thường có xu hướng tự nhiên muốn tìm hiểu, khám phá bản chất của các sự vật, hiện tượng trong thế giới bên ngoài, thuộc về tự nhiên và xã hội Tuy

Trang 17

nhiên, chúng ta cũng thường quên mất rằng, ngay chính mỗi con người chúng ta mới là một cái gì đó không thể lý giải, thậm chí là một thế giới hoàn toàn bí hiểm Tôi là gì, là thể xác hay linh hồn, là phần cảm tính, phần lý tính, hay phần ý chí? Câu hỏi về bản chất, về cấu trúc của cái tôi đã và đang là nỗi trăn trở của mỗi con người khát khao tìm hiểu và tìm kiếm sự tồn tại đích thực của mình, thoát khỏi sự trần tục, thế tục của cuộc sống hàng ngày

Cái tôi hay bản ngã là một trong những khái niệm triết học cổ đại nhất đánh dấu ý thức đầu tiên của con người về bản thể tồn tại của mình, từ đó nhận ra mình là một con người khác với tự nhiên, là một cá thể độc lập khác với người khác

Khái niệm cái tôi là một khái niệm có nội hàm rộng, có rất nhiều các khái niệm khác nhau như trong triết học, trong phân tâm học, trong triết lý Phật Giáo…nhưng ở đây chúng tôi chỉ xin dừng lại ở một số quan niệm của triết học về cái tôi vì nó có liên quan trực tiếp và gần gũi với việc tìm hiểu cái tôi trữ tình

Nhiều nhà triết học đã cố gắng làm sáng tỏ vấn đề này và đưa ra các cách lý giải rất khác nhau từ cách tiếp cận của mình qua việc tiếp thu và phát triển các quan niệm của các nhà tư tưởng trước đó

Theo Đề Các (1596 – 1650), cái tôi thể hiện ra như một cái thuộc về thực thể biết tư duy, như căn nguyên của nhận thức duy lí và do đó, cái tôi thể hiện tính độc lập của mình với định nghĩa nổi tiếng: “tôi tư duy tức là tôi tồn tại”

Theo Kant (1724 – 1804), cái tôi bao gồm hai phương diện: cái tôi với tư cách chủ thể tư duy, chủ thể nhận thức thế giới và cái tôi với tư cách là khách thể của chính nhận thức Đồng thời Kant cũng nhấn mạnh tuyệt đối khả năng nhận thức của cái tôi: “Tính thống nhất của tự nhiên không phải ở trong tính vật chất của nó

mà ở trong tính thống nhất của chủ thể nhận thức, của cái tôi”

Heghen (1770 – 1831) một mặt xem cái tôi như là sự tha hóa của “ý thức tuyết đối”, một mặt nhấn mạnh vai trò tuyệt đối của cái tôi: cái tôi như là trung tâm tồn tại, cái tôi có khả năng, khát vọng và sức mạnh để thể hiện mình trong hiện thực

Becxong (1858 – 1941) đã chú ý đến cái tôi thuần túy trong ý thức khi nhấn mạnh đến đời sống bên trong cá nhân Theo ông, trong con người có hai cái tôi: đó

Trang 18

là cái tôi bề mặt và cái tôi bề sâu Trong đó, cái tôi bề mặt là các quan hệ của con người đối với xã hội Cái tôi bề sâu là phần sâu thẳm của ý thức Đó mới chính là đối tượng của nghệ thuật

Các quan điểm duy tâm về cái tôi khẳng định: cái tôi là phương diện trung tâm tinh thần con người, là cốt lõi của ý thức có khả năng chi phối hoạt động và là

sự khẳng định nhân cách con người trong thế giới Tuy nhiên, các quan điểm trên đã tách cái tôi khỏi con người xã hội sinh động, chưa nhìn thấy cơ sở lịch sử cụ thể và tính tích cực của cái tôi

Đối lập với quan điểm trên, triết học Mác đã xác định giá trị con người cá nhân từ bản thân con người với tư cách là chủ thể và khách thể của các mối quan hệ

xã hội Theo Mác, mỗi cá nhân có ý nghĩa như là một bộ mặt xã hội của con người, như là kết quả của việc xã hội hóa cá thể con người và cá nhân cũng tìm thấy mình trong xã hội Lý tưởng giải phóng cá nhân của triết học Mác là tự do cho mỗi cái tôi

cá nhân trong tự do của tất cả mọi người Đồng thời vai trò của cái tôi cũng được khẳng định: “cái tôi là trung tâm tinh thần của con người, của cá tính con người có quan hệ tích cực đối với thế giới và với chính bản thân mình”

Như vậy, quan niệm cái tôi trong triết học đã đóng một vai trò rất quan trọng trong việc nhận thức bản thể của con người, đồng thời nó cũng có mối liên hệ chi phối, quen thuộc với cái tôi trữ tình trong thơ ca các thời đại

1.1.2 Cái tôi trữ tình

Lermôntôp có lần nói về tác phẩm của mình, một bài thơ trữ tình rằng:

“Chuyện của tôi chỉ toàn là những tuyệt vọng Tôi đã lục lọi lại toàn bộ tâm hồn và dốc lộn xộn ra giấy” Còn L.Tônstôi thì nói “Nhà văn chỉ quý giá và cần thiết đối với chúng ta trong chừng mực nhà văn thổ lộ với chúng ta cái hoạt động bên trong của tâm hồn mình…, và trong tác phẩm của nhà văn, điều quý giá đối với chúng ta chỉ là cái hoạt động bên trong của tâm hồn nhà văn” Có lẽ vì thế mà ClôtBeena đã phân biệt rõ ràng: “Nghệ thuật là tôi, còn khoa học là chúng ta” Mọi người vẫn thường nói thơ trữ tình là “những bản tốc ký nội tâm” nghĩa là sự tuôn trào của hình ảnh và từ ngữ trong một trạng thái cảm xúc mạnh mẽ của người sáng tạo Chính vì

Trang 19

vậy, về bản chất, mọi nhân vật trữ tình trong thơ chỉ là những biểu hiện đa dạng của cái tôi trữ tình Vậy cái tôi trữ tình là gì?

Cái tôi trữ tình là sự thể hiện một cách nhận thức và cảm xúc đối với thế giới

và con người thông qua lăng kính cá nhân của chủ thể và thông qua việc tổ chức các phương tiện của thơ trữ tình, tạo ra một thế giới tinh thần riêng biệt độc đáo mang tính thẩm mỹ, nhằm truyền đạt tinh thần đến người đọc

Bản chất của cái tôi trữ tình là một khái niệm tổng hòa nhiều yếu tố hội tụ theo quy luật nghệ thuật, bao gồm cả ba phương diện cụ thể: bản chất chủ quan cá nhân (đây là mối quan hệ giữa tác giả và cái tôi trữ tình được thể hiện trong tác phẩm); bản chất xã hội của cái tôi trữ tình (đó là mối quan hệ giữa cái tôi trữ tình và cái ta cộng đồng); bản chất thẩm mỹ của cái tôi trữ tình (nó là trung tâm sáng tạo và

tổ chức văn bản) Cả ba phương diện biểu hiện của cái tôi trữ tình đều nằm trong hình thức của thể loại trữ tình

Cái tôi trữ tình không chỉ là cái tôi nhà thơ, nó còn là cái tôi thứ hai hoặc cái tôi được khách thể hóa, được thăng hoa trong nghệ thuật và bằng nghệ thuật Cái tôi trữ tình chính là trung tâm sáng tạo và tổ chức văn bản trữ tình Nếu quan niệm một tác phẩm trữ tình là một hệ thống với các cấp độ, các yếu tó thì có thể nói mọi thành

tố tạo nên bài thơ, từ các biện pháp tu từ cho đến thể thơ, nhịp và vần điệu…đều nằm trong ảnh hưởng của một trung tâm quy chiếu là cái tôi trữ tình

Văn chương không chỉ là bức tranh đời sống mà còn là bức chân dung tinh thần của chủ thể sáng tạo Chủ thể không chỉ là người sáng tạo ra những giá trị tinh thần mà còn là đối tượng miêu tả biểu hiện, chủ thể không chỉ được xem như là một yếu tố tạo nên nội dung tác phẩm mà còn được xem như là một phương tiện bộc lộ nội dung của tác phẩm,là một yếu tố của thế giới nghệ thuật do tác phẩm tạo ra Ở những nhà thơ có cá tính sáng tạo độc đáo, dấu ấn của chủ thể còn in đậm trong từng từ, từng hình ảnh, từng dòng thơ, bài thơ…

Mối quan hệ giữa chủ thể với hình tượng nhân vật trữ tình, là những hình thức biểu hiện của chủ thể với tư cách là hình tượng trung tâm của tác phẩm thơ trữ tình Mối quan hệ này được biểu hiện thông qua các yếu tố: chủ thể và cái tôi, cá tôi của nhà thơ và cái tôi trữ tình trong tác phẩm Chủ thể là một phạm trù được xem

Trang 20

xét trong mối quan hệ với khách thể, là phạm trù đối lập với khách thể ở tính tích cực, thể hiện ở ý thức, ý chí và khả năng nhận thức, chiếm lĩnh hiện thực khách quan Cái tôi là yếu tố của chủ thể làm cho chủ thể ý thức được chính mình, là chức năng tự nhận thức của chủ thế

Cái tôi của nhà thơ có mối quan hệ trực tiếp và thống nhất với cái tôi trữ tình trong thơ Nhà thơ là nhân vật chính, là hình bóng trung tâm, là cái tôi bao quát trong toàn bộ sáng tác Những sự kiện, hành động, tâm tình và ký ức trong cuộc đời riêng cũng in đậm nét trong thơ Cái tôi của nhà thơ có lúc thể hiện trực tiếp qua những cảnh ngộ riêng, trực tiếp giãi bày những nỗi niềm thầm kín Cái tôi của nhà thơ còn hiện diện qua các cách nhìn, cách nghĩ, qua tình cảm thái độ trước thế giới Tuy nhiên, cái tôi trữ tình trong thơ và cái tôi của nhà thơ không hề đồng nhất Cái tôi của nhà thơ ngoài đời thuộc phạm trù xã hội học, còn cái tôi trữ tình trong thơ thuộc phạm trù nghệ thuật Cái tôi trữ tình là cái cái tôi nhà thơ đã được nghệ thuật hóa và trở thành một yếu tố nghệ thuật phổ quát trong thơ trữ tình, là một thành tố trong thế giới nghệ thuật của tác phẩm

Như vậy, trong mối quan hệ với nội dung và hình thức trữ tình thì cái tôi trữ tình được quan niệm như hệ quy chiếu chủ quan, góp phần quy định các yếu tố trong cấu trúc thể loại Vì vậy cần xác định: cơ sở chủ quan của nội dung và hình thức trữ tình với những biểu hiện của nó để từ đó khái quát được chức năng của cái

tôi trữ tình như một yếu tố trung tâm của thể loại Theo Lê Lưu Oanh thì “cái tôi trữ

tình có thể được nghiên cứu ở ba cấp độ: tác phẩm, tác giả, thời đại Mỗi cấp độ là một giới hạn về lượng và chất của cái tôi trữ tình”

1.1.3 Các hình thức biểu hiện của cái tôi trữ tình trong văn học

Như ta đã biết đặc điểm quan trọng nhất của tư duy thơ là sự biểu hiện của cái tôi trữ tình, cái tôi cảm xúc, cái tôi đang tư duy Và cái tôi trữ tình trong thơ được biểu hiện dưới hai dạng thức chủ yếu là cái tôi trữ tình trực tiếp và cái tôi trữ tình gián tiếp Thơ trữ tình coi trọng sự biểu hiện cái chủ thể đến mức như là nhân vật số một trong mọi bài thơ Tuy nhiên do sự chi phối của quan niệm thơ và phương pháp tư duy của từng thời đại mà vị trí của cái tôi trữ tình có những thay đổi

Trang 21

nhất định Nói như Nguyễn Bá Thành: “Lịch sử phát triển của thơ ca Việt Nam là

lịch sử phát triển của thơ trữ tình” Và lịch sử đó được biểu hiện như sau:

1.1.3.1 Cái tôi trữ tình trong văn học dân gian

Trong văn loại hình văn học sơ khai thì cái tôi trữ tình biểu hiện cụ thể và rõ ràng nhất là thể loại ca dao – dân ca Cái tôi được tìm thấy trong tiếng nói chung của tập thể, nó không bộc lộ như một cá nhân riêng biệt mà có thể chìm lằng và biểu hiện qua cái tôi xã hội, cộng đồng Cảm hứng của các tác giả dân gian bắt nguồn từ nhu cầu được chia sẻ, giao hưởng và đồng vọng trong những cảnh ngộ tương đồng Nhân vật trữ tình trong văn học dân gian chủ yếu là người lao động, họ

có thể là những người giãi nắng dầm mưa, quanh năm “bán mặt cho đất bán lưng

cho trời”, “trên đồng cạn dưới đồng sâu”, là kẻ đang nhọc nhằn lên đồng xuống

truông…và không gian xuất hiện của họ cũng gắn liền với không gian lao động sản xuất như: bến nước con đò, bãi dâu đồng cỏ, vườn chè áo cá…

Cái tôi trữ tình trong văn học dân gian là cái tôi phi cá thể hóa, bởi hình thức của loại hình văn học dân gian là diễn xướng và truyền miệng Thời gian và không gian mang tính ước lệ, làm cho thời gian cá thể hóa của cái tôi tác giả mờ nhạt hẳn

đi Không gian có thể thay đổi, chẳng hạn từ địa danh này sang địa danh khác vì thế làm mất đi cá tính cụ thể của một hoàn cảnh cụ thể Và diện mạo duy nhất của cái tôi dân gian là cái chung, cái cá thể bị xòa nhòa

1.1.3.2 Cái tôi trữ tình trong văn học cổ điển

Trong văn học cổ nói chung, bản chất con người bắt nguồn từ quan hệ cộng đồng, giá trị cá nhân nằm trong giá trị tập thể, vì thế văn học chủ yếu phát ngôn trên

tư cách siêu cá nhân, với những vấn đề của gia đình, dòng họ, giai cấp và của dân

tộc Chính yếu tố đó đã hình thành nên kiểu nhà thơ cổ điển “phi ngã”

Trong văn học Trung đại ý thức về cá nhân cá tính có xuất hiện nhưng tồn tại trong những quy tắc luật lệ khuôn mẫu mà ta gọi đó là tính quy phạm Cái tôi trữ tình chủ yếu là cái tôi vũ trụ, cái tôi cá tính đã khách thể hóa vũ trụ Mỗi sự việc, mỗi khung cảnh đều mang một ý nghĩa triết lý về quan hệ giữa con người và vũ trụ

Do không tách mình khỏi vũ trụ, để từ những bí ẩn của vũ trụ gián tiếp bộc lộ những bí ẩn của tâm hồn, vì thế biểu hiện tình cảm xã hội là gián tiếp, kín đáo Cái

Trang 22

nhà thơ luôn đi tìm là sự hài hòa giữa cái hữu hạn và cái vô cùng, giữa nhất thời và vĩnh cửu, giữa quá khứ và thực tại, giữa cái thực và cái hư, giữa cái động và cái tĩnh

Nhưng đã là thơ trữ tình thì không thể gọi là hoàn toàn “phi ngã”, cho dù trong thơ chỉ có “mây, gió, trăng, hoa” Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Tú Xương,

Tản Đà …đều đã tự xưng tên mình trong một số bài thơ Nhưng do quan niệm về cái cá nhân và ý thức về cái bản ngã chưa mạnh mẽ nên cái tôi trữ tình còn ẩn khuất sau những nhân vật trữ tình khác Các nhà thơ thời kỳ phong kiến không trực tiếp viết về cái tôi như thời kỳ thơ lãng mạn

1.1.3.3 Cái tôi trữ tình trong thơ lãng mạn

Thơ Mới ra đời, cái tôi trữ tình giành lấy vị trí trung tâm trong mọi bài thơ, bản chất của thơ lãng mạn là tiếng nói cá nhân Kiểu nhà thơ lãng mạn song hành với sự tự ý thức của cá nhân như là một cá thể độc đáo, riêng biệt, nó không chống lại cái nhìn duy lý của chủ nghĩ cổ điển Cái tôi cũng có khi là cái tôi cá nhân tự biểu hiện, khép kín và cô đơn Cách cảm, cách nghĩ, sự biểu hiện của thế giới và con người đều là những yếu tố đặc thù tạo nên chất thơ của văn chương lãng mạn Các tác giả đã lấy cái tôi làm vị trí trung tâm để cảm nhận, và làm nguyên tắc cho thế giới quan

Thơ lãng mạn là thơ của tâm hồn, đưa nó thoát ra khỏi tính quy phạm và để

nó bộc lộ hết mình, “tâm hồn tiếp xúc trực tiếp với ngoại giới” Tâm hồn đã trở thành trung tâm phản ánh và có lẽ thế nên nó không ưa cõi thực tầm thường mà thích những cái gì cá biệt khác thường, cái phi thường Cái tôi trữ tình vượt lên trên hoàn cảnh bằng những tưởng tượng khác thường, bằng mộng ảo, hoài niệm, tôn giáo, lịch sử… chỉ với mục đích duy nhất là khẳng định mình, khẳng định tự do của mình

Tuy nhiên cả thơ bác học thời phong kiến và thời kỳ thơ Mới, tư duy thơ đều thiên về hướng nội, nghĩa là mục đích nhận thức và phản ảnh của thơ không phải cái khách thể, cái hoàn cảnh tự nhiên và xã hội có tính lịch sử cụ thể mà nhà thơ đang sống Và cái tôi trữ tình luôn luôn được biểu hiện dưới dạng trực tiếp Nghĩa là đối tượng thẩm mĩ là những trạng thái tình cảm khác nhau của chủ thể Tôi vui, tôi

Trang 23

buồn, tôi cô đơn, tôi yêu, tôi nhớ…Cái tôi ấy giãi bày, đối thoại trực tiếp với độc giả

1.1.3.4 Cái tôi trữ tình trong thơ cách mạng

Gắn liền với hoàn cảnh và yêu cầu của lịch sử, văn học lúc này đặt vấn đề dân tộc lên trên tất cả Vì thế trong thơ cách mạng, cái tôi bộc lộ chủ yếu trên các vấn đề dân tộc, lịch sử

Các nhà thơ cách mạng luôn đứng trong những sự kiện lớn của đất nước, với

tư thế dân tộc, thời đại, giai cấp Họ hiện hữu với trách nhiệm trước cuộc đời hiện tại khẳng định niềm tin và tương lai của dân tộc Cái tôi lúc này mang một sinh khí mới rất mạnh mẽ và kiêu hãnh Đây là giai đoạn các nhà thơ từ bỏ cái tôi cá nhân,

để cái riêng tư hòa vào cái chung dân tộc

Thơ cách mạng là thơ của cái tôi mới, cái tôi cộng đồng Chủ thể không còn

là cái tôi riêng mà là một phạm trù đa thức Đó là một cá nhân không lặp lại hoặc là một nhóm người cùng chung ý chí, nguyện vọng có thể là toàn bộ xã hội nói chung Trong cái tôi mỗi người có cả một hệ thống cái tôi khác nhau, trong quá trình tự nhận thức trước cuộc sống, cái tôi nào đó được lựa chọn, vượt lên tự khẳng định Cái tôi lúc này là cái tôi công dân xã hội, hướng về tình cảm chung của cộng đồng, cái tôi hòa hợp với cái ta trong cộng đồng mà khi giao tiếp thường được xưng là ta, chúng ta Nó khác với cái tôi cá nhân phân biệt người này với người khác Cái tôi khẳng định sự chung sức chung lòng cho sự nghiệp đánh giặc cứu nước

1.2 Sự hình thành cá tính sáng tạo trong thơ Dƣ Thị Hoàn, Đoàn Thị Lam Luyến, Hoàng Việt Hằng

1.2.1 Đặc điểm chung của thơ nữ Việt Nam sau năm 1986

Tiếp nối dòng chảy của lịch sử văn học, văn học Việt Nam sau thời kỳ Đổi mới (1986) đến nay có những đổi thay đáng kể Có thể thấy rất rõ là sự thay đổi trong quan niệm nghệ thuật, thay đổi trong quan niệm về chức năng, nhiệm vụ và phương pháp sáng tác văn học Đó là sự thay đổi từ chức năng phản ánh tuyên truyền trong văn học Cách mạng giai đoạn trước đó chuyển sang phản ánh con người đời thường, con người cá nhân Cái tôi cá nhân được tôn trọng và có vị trí bình đẳng với cái ta Bên cạnh đó, sự thay đổi trong tư duy sáng tác cũng là điều

Trang 24

đáng lưu ý, tư duy sáng tác từ hướng ngoại bắt đầu chú ý đến hướng nội Văn học thời kỳ này đề cập mạnh mẽ đến quan niệm về sự cách tân, hiện đại hóa Lúc này, văn học nói chung và thơ nói riêng được thể hiện dưới nhiều hình thức biểu hiện

Có thể thấy rằng, chưa bao giờ thơ được “cởi trói” và có dịp thể hiện con người cá

nhân rầm rộ như bây giờ Vì vậy, để hiểu hơn về quan niệm của các nhà thơ nữ nói chung và Dư Thị Hoàn, Đoàn Thị Lam Luyến, Hoàng Việt Hằng nói riêng, chúng ta phải đi sâu vào tìm hiểu những đặc điểm của thơ họ

Thơ là tiếng nói tâm hồn, tình cảm Thơ là tiếng lòng và cùng với văn hóa của nhà thơ làm nên giọng hay phong cách riêng Đặc biệt với người phụ nữ, trái tim của họ luôn nhạy cảm trước những vấn đề của cuộc sống, nên những nỗi buồn vui, trăn trở, suy tư của họ đều được thể hiện qua thơ Thời kỳ đổi mới, quan điểm

“cởi trói” trong văn học nghệ thuật đã tác động đến tư duy, ý thức sáng tạo của các nhà thơ, trong đó có các nhà thơ nữ

Trong bầu không khí dân chủ của đời sống văn học từ sau 1986, thơ nhanh chóng nhập cuộc với cuộc sống đa diện, đa chiều và phong phú của thời đại mới Để phù hợp với yêu cầu của đời sống, cảm hứng thơ không bị bó hẹp trong một phạm vi

đề tài nào mà ngược lại biên độ phản ánh của thơ ngày càng được mở ra theo nhiều chiều kích mới, đa dạng và phong phú hơn Thơ đi vào ngõ ngách của đời sống, cả những vấn đề trước đây chưa được thơ quan tâm hoặc cấm kỵ, nay đã được khai thác Như vậy, có thể từ sau 1975, đề tài thơ đã được mở rộng trên nhiều bình diện, đặc biệt từ sau 1986 khi vấn đề con người đã được quan tâm một cách chính đáng thì thơ càng đi sâu vào khai thác đề tài đời tư, thế sự, trong đó có thơ của các nhà thơ nữ

Nhận xét về các cây bút nữ, Bích Thu cho rằng: “Văn chương của phái đẹp hôm nay

đã không thi vị hóa những chuyến đi, không tỏ ra đài các hoặc đa cảm trong giọt lệ khóc chống hay giấc mộng phù dung mà sắc sảo và sâu sắc khi tiếp cận và khai thác

đề tài thế sự, đời tư với nỗi đau nhân tình thế thái bằng lối viết dịu dàng mà bén ngọt, riết róng mà đồng cảm, sẻ chia với những thân phận, những kiếp người quanh mình”

Ở lĩnh vực thơ nữ, với sự tinh tế và nhạy cảm của tâm hồn phụ nữ, các chị đã trở về với đề tài đời tư , thế sự để thông cảm, sẻ chia với những con người và cuộc sống quanh mình Trong thơ nữ hôm nay ta bắt gặp một thế giới thật bình thường

Trang 25

Đó là những hình ảnh của một cụ già bán thuốc, một người đạp xích lô ế khách

trong Ánh sáng nhờ nhờ của Nguyễn Thị Hồng; là nỗi cô đơn tội nghiệp của bà lão

ăn xin trong Mẹ của Lê Hồ Lan; bà lão bán trầu trong Bà lão bán trầu cau của

Hoàng Kim Dung; nỗi đau của những em bé phải chịu thiệt thòi bởi cảnh ly hôn của

cha mẹ chúng trong Đồ chơi của Đoàn Ngọc Thu; tình cảnh của những con người tội nghiệp, kém may mắn qua Người ăn mày, Hòn vọng phu sau mùa bão của

Phạm Thu Yến… Tất cả đều thể hiện qua cái nhìn cảm thông, yêu thương, trìu mến của các nhà thơ nữ Trong thơ nữ ta cũng bắt gặp những nỗi niềm, tình cảm, những

lo âu, khắc khoải, đau đáu yêu thương người thân, gia đình trong Những vần thơ về

mẹ, Nước mắt một đời, Thay cho lời ru, Cho ngày cuối, Cỏ trắng của Bùi Anh

Kim; trong Chỉ còn ảnh cha, Ngày của bà ngoại của Hoàng Kim Dung; trong Thời

tuổi trẻ bà đâu của Lâm Thị Mỹ Dạ…Nguyễn Thị Mai cũng có những câu thơ xót

xa về người mẹ đã quá cố của mình: “Mẹ ơi/ Thơm cay một miếng trầu xưa/ Mà con

phải bớt tiền mua vì nghèo/ Bây giờ đã bớt gieo neo/ Lại không còn mẹ mà chiều

Khổ không?” (Qua hàng trầu nhớ mẹ)

Thơ của các nhà thơ nữ đôi lúc là tiếng nói đối thoại, điều trần với xã hội, báo động sự xuống cấp của đạo đức, thói thờ ơ vô trách nhiệm của người đời:

“Những con lừa đã giấu đi bản chất/ Râu xanh/ Khoác trên vai mùi thơm những

vòng nguyệt quế”(Ốc đảo – Đoàn Thị Lam Luyến) Thơ bộc lộ nỗi đau thế thái nhân

tình trước sự thay đổi của lòng người, những tiêu cực trong xã hội (Nghịch lý – Nguyễn Thị Hồng Ngát, Bài ca thời gian – Lê Thị Mây, Kết thúc một tác quyền –

Phạm Thị Ngọc Liên) Các chị đau đớn vì linh cảm được sự đổi thay của lòng người trong thời buổi kinh tế thị trường, những điều cao quý thiêng liêng như tình yêu

cũng được đem bán mua, đổi chác, trái tim cũng trở nên cằn khô, cạn kiệt: “Thật

khủng khiếp khi lời yêu thương cạn kiệt/ Khi người ta cứ vô cảm sự đời/ Trước vẻ

đẹp của ánh trăng, ngọn cỏ/ Trước nỗi buồn da diết cũng dửng dưng” (Khoảng

cách – Hoàng Kim Dung)

Tình yêu luôn đồng hành với đau khổ và “những vết thương do tình yêu gây ra

dù không làm cho người ta chết, cũng không bao giờ chữa khỏi được” (Bairon) Vì thế, thơ tình của các nhà thơ nữ hôm nay còn là nơi để họ giãi bày những nỗi đau của

Trang 26

mình Đó là nỗi đau về cuộc đời, thân phận bị phụ bạc (Nhiều khi, Dalida của Lâm Thị Mỹ Dạ); đau vì dang dở trong tình yêu (Vết xước, Vết thương của Nguyễn Thị Hồng); đau khi đánh mất tình yêu (Chơi vơi, Tự mình của Bùi Kim Anh);…Dù là bị

người tình phụ bạc hay do lầm lỡ đánh mất tình yêu, trái tim phụ nữ đều rung lên

những nhịp đập xót xa đến tê dại, và đó là lúc: “Lặng im ngạt trái tim em/Tê dại đợi

chờ/ Khiến cảm xúc trở nên băng giá/ Thêm một giọt lặng im/ Để chịu đựng vỡ òa/

Con người đi nhanh hơn đến bờ bên kia cuộc sống” (Giọt lặng im – Bùi Kim Anh)

Khi phải chia tay, trong tình yêu người phụ nữ luôn nhận về mình những sự

thua thiệt, mất mát: “Khi chia tay/ Ta đã mất nhau rồi/ Đâu có nghĩ lại còn lần mất

nữa/ Lần mất sau nỗi đau hơn dao cứa/ Em đánh mất mình/ Anh vĩnh viễn mất em”

(Đánh mất – Nguyễn Thị Kim Quy) Và dù có cố gắng vùng vẫy thoát khỏi nỗi

đau, nhưng như một hệ lụy tất yếu của cuộc đời, của tình yêu, họ vẫn rơi vào thất

vọng ê chề Tình yêu lúc ấy chỉ còn là “con đường hun hút” của những bi kịch “Em

gọi mãi vừng ơi/ Câu thần chú đã không còn linh ứng/ Trước cánh cửa là em/ Sau

cánh cửa là con đường hun hút” (Không là cổ tích – Đinh Thị Như Thúy)

Cuối cùng, họ đành ngậm ngùi chấp nhận “sự dối lừa” như một liệu pháp tự

kỷ của tâm hồn “Thuốc đắng bao ngày dã tật thành quen” (Trước mùa đông –

Đoàn Thị Lam Luyến) Khi tình yêu qua đi, trái tim người phụ nữ hằn lên bao tiếc

nuối Đoàn Ngọc Thu trước sự tan vỡ của tình yêu, đã nghẹn ngào “tìm trong ký ức” của ngôi nhà tình yêu: “Giã biệt những giấc mơ dang dở, “Giã biệt niềm khao khát

vẹn nguyên” để đi về “Nơi biển không có dã tràng”, để phải “đau từng bước chân

xa” khi đi qua ngôi nhà ký ức, nơi “có một phần tình yêu ở lại sau bậc cửa” (Ký ức

nhà cũ – Đoàn Ngọc Thu) Còn Bùi Kim Anh lại nuối tiếc vì dại dột “Cái thuở ban

đầu bối rối/ Dại dột tin màu hoa thủy chung”(Tím lỡ làng) Riêng Lâm Thị Mỹ Dạ

thì xót xa vô ý đánh mất những gì quý giá nhất của đời người con gái: “Làm sao xin

lại được/ Xin lại một lần hoa” (Hoa quỳnh)

Đặc biệt là Ý Nhi, người đàn bà có trái tim luôn “khắc khoải về những miền

ký ức”, thơ của chị là sự trăn trở, day dứt, hoài niệm về kỷ niệm của cuộc tình đau

khổ Và khi đi qua những năm tháng đắng cay, hạnh phúc, cảm xúc của chị như

được dồn nén, ngưng kết lại trong tập thờ Vườn Những câu thơ sau đây là tiêu biểu

Trang 27

cho mạch thơ ấy: “Em lặng lẽ nói cười/ lặng lẽ nát tan/ em thành lá, thành sương,

thành lửa/ em lặng lẽ kêu gọi, lặng lẽ cầu xin/ lặng lẽ chờ mong/ lặng lẽ vỡ òa

thành lệ/ ôi thời khắc huy hoàng” (Năm lời cho bài hát)

Còn bao nhiêu hoài vọng nuối tiếc, xót xa trở đi trờ lại trong thơ của các cây

bút nữ như Giấc mơ giữa những tầng ký ức, Lượm từ cổ tích…(Đoàn Ngọc Thu);

Giọt cuối (Bảo Chân); Giấc mơ xanh, Gọi thu (Nguyễn Thị Hồng), Tình tự ca (Vi

Thùy Linh), Ngày anh trở lại (Đinh Thị Thu Vân)… Yêu thương, nhớ nhung, đau

khổ, nuối tiếc…tất cả đã làm nên phẩm chất thơ tình yêu của họ Đi sâu tìm hiểu các sắc thái, cung bậc trong thơ tình của các cây bút nữ, ta càng hiểu,trân trọng và nâng niu những giai điệu tình yêu của họ mang đến cho đời Mỗi chị đều có một cách nói rất riêng về tình yêu, đồng thời cũng bày tỏ những quan niệm, nhận thức của mình

về tình yêu vừa có tính kế thừa truyền thống nhưng cũng có những điều rất mới mẻ, khác lạ mang màu sắc tiến bộ, nhân bản

Nhìn chung, mọi biến động của cuộc đời đều được các nhà thơ nữ để ý và phản ánh Họ nói bằng những cảm xúc của “trái tim đàn bà”, bằng sự thành thực,không né tránh những mặt trái đầy đau xót của xã hội Họ luôn ý thức về trách nhiệm công dân của mình, đồng thời khẳng định cái tôi đầy cá tính Song các nhà thơ nữ luôn chú ý đến những nỗi đau của đồng loại, đến thân phận con người, đặc biệt là người phụ nữ với những khát vọng bản năng rất người Đó là khát vọng hạnh phúc, đươc làm mẹ, làm vợ, được sống bình yên trong mái ấm gia đình, được yêu hết mình với cõi lòng rộng mở, vị tha, bao dung nhưng cũng đòi hỏi sự đáp lại bằng tình yêu chân thành, tuyệt đích Các nhà thơ nữ có đóng góp rất lớn trong việc thể hiện đề tài muôn thuở của nhân loại, đó là đề tài tình yêu Thơ tình của các chị là tiếng nói của những người trong cuộc, không phải là những lời lẽ than vãn buồn đau của người “chinh phụ” hay của người “cung phi” bất hạnh; không phải là nỗi bi lụy, sướt mướt, úa tàn của người phụ nữ trong “Thơ Mới”, mà ở các chị, tình yêu luôn là tiếng nói sòng phẳng, tư thế của con người là tư thế chủ động đáng trân trọng Thơ

họ còn là một bức thông điệp gửi đến mọi người nhằm giải minh cho những cái nhìn định kiến, những quan điểm không đúng về người phụ nữ, mong muốn thay đổi về quan niệm “mẹ chồng nàng dâu”, “dì ghẻ con chồng”, sự lỡ thì, sự có con ngoài giá thú, sự kết hợp muộn màng với tư cách là kẻ đến sau…Với những đóng góp ấy, các nhà thơ nữ đã tạo nên một hương sắc riêng trong vườn thơ của dân tộc

Trang 28

1.2.2 Cá tính sáng tạo trong thơ Dư Thị Hoàn, Đoàn Thị Lam Luyến, Hoàng Việt Hằng

1.2.2.1 Đoàn Thị Lam Luyến – người đàn bà “dại yêu” và khát vọng sống

mãnh liệt

“Lam Luyến yêu ghét không bao giờ lưng chừng, mạnh bạo, cả quyết đến

liều lĩnh bản năng Với nàng, chưa yêu là chưa sống “Con tim em hạn hán – Tình

anh là mưa bay” Cứ thế Lam Luyến lặng lẽ nhả hương trong bóng tối đời mình

(Thái Doãn Hiểu- Rút trong bộ Thi Nhân Việt Nam Hiện Đại) Và có hẳn một tập

thơ của Đoàn Thị Lam Luyến có tên là… “Dại yêu”, có cả một tập hợp chân dung

những người đàn bà “dại yêu” trong thơ chị: xưa là Mỵ Châu, Xúy Vân, Thị Mầu, Thúy Kiều, Hồ Xuân Hương…nay là người đàn bà “lỡ chồng” với đứa con mang họ

mẹ, một người bạn thơ “càng say càng gặp tình vờ”, một người em gái với đời riêng lấy “cái thất tình làm vui”…Bởi thế mà trong thơ chị nhắc đến rất nhiều những cả

tin, dại khờ, nông nổi… của chủ thể trữ tình, một người đàn bà vốn “đa tình liền với

đa đoan/ Tơ duyên đã nối lại càng nối thêm”… Thế nên, không hề quá lời khi người

ta nói rằng người đàn bà dại yêu là một hình tượng nổi bật trong thơ Đoàn Thị Lam Luyến Đấy là một cách khái quát mộc mạc, dân giã, pha chút trào lộng nhưng xác đáng về những người phụ nữ có bản năng yêu đương sôi nổi, bất chấp mọi ràng buộc cũng như thói tục thông thường, và như một tất yếu, thường có số phận lỡ làng, bi đát…Vô tình hay cố ý, những nét “đặc tả” hình tượng này khiến những ai từng biết Đoàn Thị Lam Luyến không khỏi liên tưởng tới tiểu sử của chính tác giả

Xuất thân trong một gia đình nông dân nghèo, cuộc sống của Đoàn Thị Lam Luyến vất vả từ nhỏ, khi bước vào đời lại gặp nhiều éo le ngang trái Đoàn Thị Lam Luyến sinh ngày 14 – 06 – 1951 (Tân Mão), quê quán tại xã Anh Dũng, Phù Tiên, Hưng Yên Hiện sống tại Nghĩa Đô, Từ Liêm, Hà Nội Tốt nghiệp Đại học (Văn học

và Mỹ thuật) là Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam (1996) Chị theo học khoa Mỹ thuật nhưng lại có đam mê với thơ Thơ với chị không phải nghề mà là nghiệp!

1976 - 1982: Học Đại học Mỹ thuật Công nghiệp Từ 1983 đến 2003: biên tập viên

mỹ thuật tại Nhà xuất bản Thanh niên Hiện chị làm giám đốc Trung tâm Quyền tác giả văn học Việt Nam

Trang 29

Nhà thơ đã được nhận: Giải thưởng cuộc thi thơ báo Văn nghệ 1989 - 1990

Tặng thưởng thơ của Nhà xuất bản Hội Nhà văn 1995 (tập thơ Châm khói) và 2005 (tập thơ Sao dẫn lối)

1.2.2.2 Dư Thị Hoàn – một “lối nhỏ” độc đáo trên hành trình sáng tạo thi ca

Bốn mươi mốt tuổi mới bước vào làng thơ bằng “Lối nhỏ”, Dư Thị Hoàn

dường như không có ý định làm thơ như một sự lựa chọn sinh tồn, mà thơ đến với chị như sự bù đắp những nghiêng ngả mệnh kiếp long đong Chính chị từng tâm sự rằng “Chính là thơ, cái mà chị căm giận nhất, lại đến và cứu vớt chị” Qua thơ chị, người đọc nhận ra chân dung một người phụ nữ đầy tình thương, bao dung và độ lượng Có lẽ đấy còn là chân dung về người phụ nữ của một thời, của hôm qua và hôm nay mà chị ghi lại cho cuộc đời này

Dư Thị Hoàn tên thật là Vương Oanh Nhi, sinh ngày 01 – 08 – 1947, quê quán Quảng Tây – Trung Quốc Chị sống ở Hải Phòng, làm thơ, dịch Hán học và viết phê bình văn học Bố và mẹ chị đều là người Hoa Kiều, bố chị làm chủ bút cho một tờ báo lớn của cộng đồng người Hoa tại Hà Nội Cuộc sống của chị trải qua những bước thăng trầm cùng lịch sử

Dư Thị Hoàn là người Trung Quốc thuần chủng, nhưng mang gia phả bảy đời sống ở đất Việt Chị học hết phổ thông chính quy và tương đối hệ thống trong các trường Trung văn có tiếng cả thời Tây lẫn thời Ta Tám tuổi chị mới học đánh vần Việt ngữ, chị say mê môn tiếng Việt bắt đầu từ một lần nghe thầy giáo Việt

Nam giảng Truyện Kiều hồi lớp bảy Từ đó, chị đắm chìm trong một thế giới tiếng

Việt dung dị và diệu kỳ Rồi sau này không chút do dự, chị trao thân gửi phận cho

Trang 30

người thầy giáo dạy Việt văn Chị là người Hoa nhưng lại lấy chồng Việt, chị yêu

và kết hôn với thầy giáo dạy văn trong trường của người Hoa lúc chị 21 tuổi Chồng chị là anh giáo Trọng hơn chị 9 tuổi, người đen gầy, tướng mạo xấu xí, anh mắc

bệnh ho lao nhưng giảng Truyện Kiều thì hút hồn, nhờ anh mà Dư Thị Hoàn biết có

một nền văn học Việt Nam

Vào thời chiến, hiểm nguy kèm theo những khó khăn, anh giáo Trọng đổi nghề thành nhà thơ Trịnh Hoài Giang, làm việc ở Hội văn nghệ thành phố cảng Hải Phòng Bao nhiêu khó khăn dồn dập đến với chị Chị làm đủ nghề sau khi giấc mộng đại học không thành như: công nhân lọc dầu nhà máy cá hộp, thợ tiện nhà máy đóng tàu, chị còn là đội phó đội văn nghệ nhà máy, hay ca hát, dựng tiết mục phục vụ công nhân, tự vệ, bộ đội ở các trận địa, ụ pháo, ụ súng trong thành phố Sau khi bị tai nạn lao động, chị phải nghỉ việc, ra buôn hàng ở chợ Sắt để nuôi sống gia đình Chị bán từ đồ sắt, đồ kim loại cho đến hoa quả, thuốc tây, vải vóc, quần áo…

Có một thời gian chị phải vào bệnh viện để điều trị tâm thần

Công việc sinh nhai của chị cũng được hồi sinh nhờ thời đổi mới Chị lao vào làm kinh tế Sẵn có vốn tiếng Trung chị làm phiên dịch, làm chức phó văn phòng, đại diện cho Công ty Mee Wah Hồng Kông tại Hải Phòng Sau đó vào năm

1995 chị thành lập Công ty trách nhiệm hữu hạn Huệ Hoa tại Hải Phòng và giữ chức giám đốc cho đến năm 1999 thì từ giã thương trường

Dư Thị Hoàn nghẹn ngào khi bày tỏ nỗi lòng của mình “tôi có một gia đình

êm ấm, hạnh phúc như thế đấy…Giá như không có cuộc chiến 1979, giá như không xảy ra biến cố người Hoa” Dẫu chị có một gia đình êm ấm, hạnh phúc nhưng chị không bao giờ quên được những biến cố, mất mát về người thân của chị Chị đã viết

những bài thơ đầu tay trong đau đớn, mất mát đó (Mười năm tiếng khóc, Bức thư

người Hoa, Tổ quốc – trong tập “Lối nhỏ”) và bất đắc dĩ trở thành nhà thơ

Cuộc đời chị đã trải qua bao nhiêu biến cố thăng trầm, bao lênh đênh chìm nổi Chị tìm đến thơ như là một niềm an ủi để giải tỏa mọi bức xúc của mình Hiện tại chị là nhà văn người Hoa duy nhất trong Hội nhà văn Việt Nam

Ngay từ tập thơ đầu tay Lối nhỏ (Hội Văn học nghệ thuật Hải Phòng xuất

bản, năm 1988), Dư Thị Hoàn đã khẳng định được tài năng của mình Một trái tim

Trang 31

nhạy cảm và thâm thúy đã giúp chị cảm nhận những vấn đề đời tư, thế sự một cách

đầy trách nhiệm Với Lối nhỏ, nhà thơ Dư Thị Hoàn đã đánh dấu bước chuyển biến

của thơ Việt đổi mới cùng nhiều hiện tượng thơ nữ khác như Giáng Vân, Lâm Thị

Mỹ Dạ, Nguyễn Thị Hồng Ngát, Lê Thị Mây, Phạm Thị Ngọc Liên…Chị đại diện cho “lối thơ” trở về với cá nhân Dư Thị Hoàn đã đi vào thơ bằng con đường riêng,

bằng cách riêng không giống ai Đó là một “Lối nhỏ” với tâm trạng phức tạp pha lẫn

yêu thương, chán chường, giận dỗi, dữ dằn cùng với lo âu Tập thơ Lối nhỏ, mỏng

manh với 43 bài thơ, gây được sự chú ý của bạn đọc vì sự mới lạ của cảm xúc và cách phô diễn của nó Người ta bắt gặp không ít những giọt nước mắt trong thơ,

nhưng cũng chưa thấy mấy ai khóc thảm thiết như Dư Thị Hoàn: “Khóc cho hết hơi/

Khóc cho trời sập/ Khóc cho cột điện đổ/ Khóc cho tà – vẹt trôi/ Khóc cho còi tài câm bặt/ Khóc cho tay lái rời vô lăng/ Khóc cho đoàn tàu không dám lăn

bánh…”(Mười năm tiếng khóc) Đấy là tiếng khóc cho cuộc “sinh li” vĩnh viễn với

người mẹ của chị

Một thời gian sau, chị cho ra đời tập thơ tiếp theo Bài mẫu giáo sáng thế

(NXB Hội Nhà Văn, 1993) khi cuộc sống của chị khá giả Vẫn trên nền tảng giọng thơ rất riêng ấy, ta cảm nhận được rằng, tập thơ trước chị nói nhiều về những cung bậc, sắc thái của tình yêu đôi lứa, đến tập thơ này chị thể hiện nỗi lòng mình với nhiều số phận khác nhau trong cuộc đời, thông qua tình thương: thương người, thương thân và suy ngẫm về cuộc đời Thơ chị đi sâu vào nỗi đau âm ỉ trong lòng con người, đồng thời bộc lộ khát vọng vươn tới một lý tưởng đẹp đẽ và cao thượng, khơi dậy bản chất tốt đẹp, hướng thiện của con người

Tập thơ thứ ba Du nữ ngâm dù đã có giấy phép xuất bản nhưng chị chưa cho

xuất bản Nó chưa được lưu hành rộng rãi đến tất cả mọi người nhưng hầu hết những bài thơ trong đó đã được đăng tải rải rác trên các báo, tạp chí Ý thức đổi mới

của chị thể hiện trong Du nữ ngâm hết sức rõ rệt Những nhan đề đã mang màu sắc

tôn giáo, hình ảnh thơ hơi quái dị: cuồng nhân, du nữ, đám lửa nhảy nhót cười trên bãi tha ma…

Thơ “cứu vớt cuộc đời” của Dư Thị Hoàn, chị sống với thơ bằng một trái tim đầy tổn thương Nói cách khác, từng nhịp đập của trái tim, từng hơi thở của cuộc

Trang 32

sống đã trở thành âm hưởng chính trong thơ chị “Nhịp tim chạm phải ngày đông

cứng/ Trí não va vào đêm sạt lở/ Không gian chật chội quá/ Muốn chan tất cả vào

thơ” (Thi sĩ) Trái tim tổn thương, đầy trải nghiệm ấy đã cho Dư Thị Hoàn sự nhạy

cảm, tiếng nói sẻ chia trước nỗi đau thân phận những người phụ nữ bất hạnh trong tình yêu và đắng cay của đời mình Từ đó, tạo nên trực cảm lâu bền của thơ chị Dư Thị Hoàn luôn trân trọng, chăm chút từng biểu hiện nhỏ của cuộc sống, luôn quan tâm chia sẻ một cách chân thành với bạn bè và những người xung quanh Bởi thế, chị là người phụ nữ của tấm lòng bao dung và độ lượng Nhờ những trực cảm mạnh

mẽ mà thơ của Dư Thị Hoàn trở thành “tiếng thốt” của trái tim chứ không phải

“chuyện lựa đời mà viết” như nhiều người khác, nên thơ ấy luôn chân thật, mới mẻ

và xúc động lòng người Cái “trực cảm thơ” ấy là do số phận và sự từng trải của từng nhà thơ tạo nên, không học hỏi ở bất cứ sách vở hay trường lớp nào Có lần Dư Thị Hoàn đã bộc bạch “Hồi bán cá ở chợ, cả vỉa hè nữa, tôi buôn vải vóc quần áo,

ca cốc, thuốc men, hoa quả, ngao ốc…thượng vàng hạ cám, không thiếu thứ gì, xông xáo và tháo vát Nhưng lại sượng sùng khi phải đi bán thơ!” Thế mới biết cá tính Dư Thị Hoàn là vậy, quyết liệt, rõ ràng, và kiêu hãnh

 Quan niệm nghệ thuật của Dư Thị Hoàn

Thơ là gì? Thật khó gọi đích danh, nhưng tham vọng của con người lại đi tìm cái không thể nắm bắt được nó Thơ ca xuất phát từ trái tim tài năng và trong sạch,

từ trí tuệ minh mẫn và sự lao động kiên nhẫn bền lòng Thơ ca không chỉ là nguồn

an ủi mà là sự gột rửa tâm hồn, nó giúp cho con người vượt qua được những bi kịch nội tâm, nó đánh thức lương tri thánh thiện của mỗi con người Bởi thế mỗi bài thơ hay là một định nghĩa cho thơ

Với thi sĩ Dư Thị Hoàn thì thơ ca chính là sự cứu vớt cuộc đời chị Bởi thế hơn ai hết chị ý thức rõ về công việc lao động nghệ thuật, đề cao giá trị và thiên chức của người cầm bút Khi được hỏi về quan niệm sáng tác thơ, Dư Thị Hoàn đã

trả lời: “Nếu độc giả chịu khó bóc tách từng phần ẩn dụ trong bài thơ thì quan niệm

của tác giả sẽ được biểu lộ trên mặt chữ” Tính triết lý trong thơ chị không nằm ở

phần bề mặt của ngôn ngữ mà nằm ở phần ngôn ngữ được bóc tách ấy Thơ là sự kết tinh những gì tinh túy nhất ẩn giấu đằng sau bề mặt nỗi của ngôn từ Thơ phải

Trang 33

tìm được tiếng nói đồng cảm, sự sẻ chia chân thành từ tâm thế người đọc Nữ thi sĩ

luôn chắt lọc để đem đến cho thơ một diện mạo mới “Đứa con ta sinh ra/ Đâu hồn

đâu phách/ Diện mạo như nước chảy/ Tính tình tựa gió mây/ Ta nhận ra con/ bởi

vòng hào quang ai oán/ Một đêm với cõi/ động mùa/ sao rụng/ rơi trăng” (Nghiệp

chướng thi ca)

Thơ đến với chị cùng lúc với bệnh tật đang hành hạ tinh thần và thể xác Chính những ngày ở trong bệnh viện tâm thần lại giúp cho Dư Thị Hoàn có được những suy nghĩ chín chắn hơn, đồng thời cũng khởi nguồn trong dòng chảy của tâm thức nhà thơ Đối với Dư Thị Hoàn, khi điên cũng là lúc sáng suốt nhất bởi đó là

hành trình đi tìm bản ngã của mình: “Tôi sẽ khỏi bệnh/ Lại dịu dàng hát bên chiếc

khung thêu ngày ấy/ Không cần bác sĩ/ Không cần những viên thuốc đắt tiền/ Chỉ

cần đôi bàn tay nào run rẩy mang đến/ Một nhành hoa dại thôi” (Trong bệnh viên

tâm thần)

Mỗi người có một quan niệm khác nhau về thơ, tùy thuộc vào thiên hướng tư duy, nhận thức và cảm xúc của họ Với Dư Thị Hoàn, thơ còn như một cái nghiệp “ Thơ đến với tôi cùng lúc với những hoạn nạn mới mẻ và sâu sắc thì đúng hơn Nó chấn động cuộc sống của tôi đến mức quá tải Tôi còn chịu đựng được có nghĩa là tôi còn cơ hội để tìm hiểu tôi, giống và khác một con người ở chỗ nào? Tôi muốn

mã hóa những cuộc tìm kiếm ấy Rút cuộc, tìm kiếm lại dẫn tôi đến với những bất ngờ liên tiếp chứ không phải đáp số Khi nào tôi gặp được đáp số thì có lẽ thoát được nghiệp chướng văn thơ” Bởi vậy, quan niệm của Dư Thị Doàn về thơ cũng hết sức độc lập, bản lĩnh Với chị thơ – là nơi ký thác tâm hồn với những niềm vui, nỗi buồn, đau khổ yêu thương của cái tôi cô đơn và cả những ngẫm ngợi, suy tư nhân tình thế thái Chị viết bằng trái tim đầy mẫn cảm, ưu tư với một tâm hồn nóng bỏng, bồi hồi Thơ Dư Thị Hoàn là tiếng nói vang lên từ tâm thức Nhà thơ khẳng định được “cái tôi” trong thơ và sự kiếm tìm mệt mỏi trên con đường đi đến “thiên đường thơ”

Dư Thị Hoàn đã phả hồn mình vào trong rất nhiều bài thơ của chị Nó nặng trĩu nỗi lo, day dứt, trăn trở Từng tiếng thơ vang lên nhẹ nhàng, man mác như tiếng thơ buồn trong đêm Đằng sau vẻ đẹp tuyệt diệu của hoa quỳnh, trái tim đa cảm của

Trang 34

chị chợt dâng lên niềm xót xa cho kiếp đời ngắn ngủi của nó Đến khi trở lại chính

mình mới thấy đơn độc biết nhường nào: “Hỡi ơi! Người đến muộn sao,/ Chỉ còn

tịch mịch canh thâu đêm thừa…”(Khóc hoa quỳnh)

Nữ thi sĩ cũng dành một phần rất sâu kín trong tâm hồn để lăn lóc thân phận,

sẻ chia, chua xót với nỗi đau của những cảnh đời không mấy bình yên: “Em lăn lóc

kiệt sức dưới bàn chân chiến thắng/ Họ đá bật em từ phía này sang phía nọ để lưu

danh” (Tâm sự quả bóng đá)

Qua thời gian chiêm nghiệm, tinh lọc đã phát tiết ra những bài thơ mang “hơi

thở, máu thịt mình” (Dư Thị Hoàn) Bởi thế thơ của chị bàng bạc cái tôi trữ tình

triết lý, chiêm cảm là vậy “Nếu anh cũng như em/ Đòi nhau sự viên mãn/ Thì điểm

gặp nhau của chúng ta/ Còn thảm hại hơn hai hòn bi” (Viên mãn) Thế mới biết

con đường tìm đến với thơ thật nan giải, chứ không hề đơn giản, chị đã phải nếm

trải tất cả những buồn vui, cực nhọc của cuộc đời không mấy bình yên “Đường vào

mộ địa gập ghềnh con chữ/ cỗ xe tang câm lặng chở ham muốn/ hỷ, nộ, ai, lạc, ái,

ố/ lăn bánh nhọc nhằn…” (Thi sĩ)

Để sáng tạo và làm nên dấu ấn riêng thật không hề dễ dàng, Dư Thị Hoàn đã phải sử dụng hàng loạt những động tác và giác quan của mình một cách tinh tế để

cảm nhận sự trôi chảy của thơ “Tôi nấp/ Tôi nghe/ Tôi nín thở/ Rồi tất cả trong tôi

vụn vỡ ra/ Sức cộng hưởng đang tàn phá/ Tôi bắt gặp thi ca” (Viết tặng một nhà

thơ già) Và đặc biệt trong thơ thì vấn đề xúc cảm là một yếu tố quyết định nên cái

hồn của bài thơ, Dư Thị Hoàn đặc biệt chú ý đến vấn đề này, nếu không có xúc cảm mãnh liệt, dồi dào trong sáng thì nhà thơ không thể thăng hoa nghệ thuật, và sáng tạo nên những hình tượng đẹp, những thi tứ hay

Quan niệm thơ của Dư Thị Hoàn có gốc rễ sâu xa từ một tài năng và khát vọng hoàn thiện thi ca Nó được soi rọi từ nhiều góc độ và bằng những điểm nhìn khác nhau Đó còn là sự kế thừa truyền thống thơ ca dân tộc, lại vừa tìm tòi, cách tân để tạo ra một thế độc lập Dư Thị Hoàn vừa cái nhìn chủ quan nhưng lại được chắt lọc từ hiện thực khách quan Vì vậy, nhà thơ luôn tự chủ động vươn lên nhưng thành trì kiên cố với sự học hỏi không ngừng trong việc đổi mới phong cách thơ của mình

Trang 35

1.2.2.3 Hoàng Việt Hằng – “một mình khâu những lặng im” và âm thầm tỏa sáng

Trong lịch sử văn học Việt Nam không có nhiều người đàn bà theo nghề viết

mà có được hạnh phúc viên mãn Đàn ông sống bằng nghề viết đã cực nhọc, mà đàn

bà sống bằng nghề viết còn cực nhọc gấp bội Và Hoàng Việt Hằng là minh chứng tiêu biểu cho số phận truân chuyên của người đàn bà trót đa mang nghiệp cầm bút

để bươn chải với cuộc sống

Hoàng Việt Hằng tên thật là Hoàng Thị Hằng sinh ngày 29 tháng 12 năm

1953 tại Vân Hồ, Hà Nội Hội viên nhà văn Việt Nam Các tác phẩm chính: Những

dấu lặng (1990), Tự tay nhóm lửa (1996), Chuông vọng (2000), Một mình khâu những lặng im (2005), Vệt trăng và cánh cửa (2008)…Giải thưởng Hội nhà văn

Hà Nội năm 2008 cho tập thơ Vệt trăng và cánh cửa, giải thưởng 5 năm của Tổng

liên đoàn lao động Việt Nam (1990 – 1995) cho tập Những dấu lặng, giải thưởng

của Ủy ban toàn quốc liên hiệp các hội văn học – nghệ thuật Việt Nam cho các tập

thơ: Một mình khâu những lặng im, Tự tay nhóm lửa…

Là người Hà Nội gốc, yêu thơ, đến với thơ ca từ năm 17 tuổi, Hoàng Việt Hằng tốt nghiệp trường viết văn Nguyễn Du khóa 7 Khác với bạn bè, chị là người lận đận trên con đường công danh và duyên phận Chị gặp và yêu nhà văn Triệu

Bôn khi ông đã nổi tiếng với “Mầm sống” và những tập truyện ngắn, truyện dài của

một người lính đã kinh qua chiến tranh bom đạn Mối tình éo le của cô gái mới lớn

và nhà văn lớn tuổi trải qua biết bao nhiêu ghềnh thác, kéo dài bao nhiêu năm rồi mới có một đám cưới

Là người cầm bút sinh ra và lớn lên ở Hà Nội nhưng Hoàng Việt Hằng thường viết về những phận người nhỏ bé, thua thiệt nhiều lẽ ở đời Đọc thơ chị nhiều, day dứt cùng chị những hình ảnh người đàn bà bán rau, những phụ nữ nghèo

“rắc ngô và rắc lúa” trên núi cao, một chị Thứ nông dân nào đó ở đồng bằng Bắc

Bộ mà chỉ cần nhà thơ không ngủ ở khách sạn 5 sao một đêm là đã có thể đỡ cho chị một năm không phải ra đồng…Hoàng Việt Hằng lúc nào cũng cúi xuống những

số phận có phần lấm lem như vậy, dường như hơi “âm lịch” so với cuộc sống đang rầm rập hào nhoáng ngoài kia Chị rất thích những chuyến đi xa, với chiếc túi trên

Trang 36

đôi vai vững chãi, cây bút và trái tim nồng ấm trong ngực, để được chia sẻ, được đến gần những con người thiếu may mắn Với chị, họ chính là tri âm, là người vực chị dậy sau những đau buồn, an ủi chị và trở thành lý do để chị tiếp tục cuộc sống

Nhẫn nại, hi sinh, luôn nhận về mình mọi thua thiệt, lúc nào cũng cố gắng làm tròn đầy mọi hao khuyết, nhưng rồi cuộc sống vẫn không cho chị bình yên Bình yên thực sự với Hoàng Việt Hằng có lẽ là khi chị nhận ra rằng, làm người đàn

bà nhiều khi phải học cách dựa vào chính mình, làm chủ đời mình, như một cái cây đứng giữa trời mà reo…Dựa vào chính mình, cái ý nghĩ ấy ít nhiều mệt mỏi, ít

nhiều “cực chẳng đã” nhưng biết làm sao, khi người đàn bà đã trót cầm bút, chấp

nhận những đọa đày chữ nghĩa Nhất là khi người đàn bà ấy lại chấp nhận gắn bó số phận mình với một người chồng, một người lính, một nhà văn đang phải chịu không chỉ đọa đầy chữ nghĩa mà còn là biết bao chằng víu cuộc đời riêng… Trong sự gắn

bó định mệnh ấy, người đàn bà yêu chồng biết làm gì hơn ngoài sự im lặng Hãy nhìn sự im lặng chất chứa thân phận trong thơ Hoàng Việt Hằng:

“Em khâu tóc trắng thay lời

Mỗi khi cúi xuống rã rời nỗi đau Con chồng, vợ cũ đồng sâu Lấy chồng lấy cả nỗi đau của chồng.”

Viết về đời riêng, cho chân thực, cho sòng phẳng với chính mình đúng là không dễ Chị từng tâm sự: “Khi chồng tôi còn sống, những lúc rượu say anh thường bảo tôi, giá như em đừng thật như vậy thì em không khổ, và anh cũng không làm em đau đớn Nhưng tôi nghĩ, dưới ánh sáng mặt trời, mọi sự cần minh bạch và

ta nên minh bạch Có nhiều người thích tô son, trát phấn, đắp điếm cho đời sống của mình, còn tôi thì không Giời cho thế nào thì tôi nhận thế đấy, tôi không chối bỏ điều gì.” Không chối bỏ điều gì, cho dù đó là ngọt ngào hay cay đắng, sung sướng hay khổ đau, bất hạnh, đó là một thái độ sống mà phải trải qua rất nhiều chặng gian nan của cuộc đời Hoàng Việt Hằng mới chiêm nghiệm thấy Bởi thế thơ chị rất giản

dị và gần gũi, người đọc có thể soi thấu mình trong những thân phận, những cuộc đời lam lũ nhỏ bé để thấy mình cần sống xứng đáng hơn

Trang 37

Còn lại một mình với con trai, với những ký ức không nguôi thổn thức, chị Hoàng Việt Hằng lại lao vào cuộc vật lộn để sống, để cặm cụi viết Những chuyến

đi đơn độc, nhọc nhằn nhưng lại cho chị niềm vui, niềm hứng khởi Một nhà thơ, người bạn của chị đã nói rằng, chị là người đàn bà luôn phải bôn ba qua nhiều ngả phố, miền đất, chân bước nhanh nhưng trái tim cứ ngoảnh lại, xuyên vào những buồn thương nhân thế Và trong một nửa là thơ Một nửa là cuộc đời kiếp lạc đà ấy

là vời vợi mênh mông nỗi buồn Chị cũng ngộ ra rằng, cái kiếp viết, dù có nhọc nhằn, có bạc bẽo thì cùng:

Xin cảm ơn câu thơ Cho tôi tựa vào người Mỗi khi đơn độc…Tôi tựa vào Người

Để thở

Để sống

Và để chết…

Trang 38

CHƯƠNG 2: CÁI TÔI TRỮ TÌNH TRONG THƠ DƯ THỊ HOÀN, ĐOÀN THỊ LAM LUYẾN, HOÀNG VIỆT HẰNG NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN NỘI DUNG

Với mong muốn góp cho đời những vần thơ hay, thi sĩ đã phải đi hết cái tôi của mình để hiểu được cái ta của mọi người Làm được điều này, cái tôi của nhà thơ

đã phân thân, biến báo thành nhiều người để thấu suốt và bộc lộ được các sắc thái tình cảm, niềm vui, nỗi buồn của nhiều số phận Mỗi con người ấy hiện diện trong thơ là một cái tôi trữ tình, là nơi chốn để nhà thơ gửi gắm một phần diện mạo của cái tôi trong mình Xây dựng lên trong thơ một thế giới những hình tượng cái tôi trữ tình khá đa dạng và nhiều tầng bậc cảm xúc khác nhau Mỗi một nhà thơ một cá tính sáng tạo mang đậm dấu ấn cá nhân riêng biệt tạo nên sự phong phú,đa dạng trong nền thơ Việt Nam hiện đại

2.1 Cái tôi trữ tình trong thơ Dư Thị Hoàn

Thơ thường nói về cái tôi của chính chủ thể sáng tạo Nói cách khác, thơ là phương tiện để người nghệ sĩ gửi gắm những ý nghĩ, cảm xúc chủ quan của mình đối với thế giới nhân sinh Dư Thị Hoàn đã xây dựng lên trong thơ một thế giới hình tượng cái tôi trữ tình khá đa dạng với cái tôi băn khoăn day dứt trước thực tại đời sống, cái tôi trữ tình triết lý, chiêm cảm Bên cạnh hình tượng không gian nghệ thuật và thời gian nghệ thuật, Dư Thị Hoàn đã tìm thấy cho mình những vần thơ chứa đựng chiều sâu của cảm thức văn hóa rất riêng trong tình yêu và trong cuộc sống

2.1.1 Cái tôi trữ tình băn khoăn day dứt trước hiện thực đời sống

Bước vào làng thơ với Lối nhỏ đã gây ấn tượng mạnh với công chúng yêu thơ đương thời Bài thơ Lối nhỏ mở đầu tập thơ là một tuyên ngôn sống, tuyên ngôn

thơ chưa rõ ràng song hết sức quyết liệt Người phụ nữ ấy chấp nhận tất cả những

“lối nhỏ”, lối đi gập ghềnh sỏi đá, lối đi rung động xốn xang…với niềm tin mãnh liệt: “Chính lối này đưa em đến anh” “Anh” là hiện thân cho lý tưởng sống, lý

tưởng nghệ thuật người phụ nữ ấy đeo đuổi Một bài thơ nhỏ tiết lộ một thái độ

Trang 39

sống, thái độ nghệ thuật hết sức thành khẩn mà điều đó được hiện thực hóa bằng

toàn bộ tập thơ Dư Thị Hoàn lặng lẽ đi vào “lối nhỏ” thơ ca: trên hành trình đó, chị

được hoài nghi, từ khước, tìm kiếm và tự vấn Cái mới của chị là tinh thần hoài nghi (về lịch sử, quá khứ, hiện tại, dân tộc, văn hóa, thơ ca…), là nhu cầu mạnh mẽ khẳng định bản sắc cái tôi và niềm tin cá nhân

Bước vào thế giới thơ Dư Thị Hoàn, người ta bất ngờ khi gặp diện mạo một cái tôi trữ tình khiêm nhường mà cá tính: chối bỏ đám đông, sự ồn ào, những đại ngôn, để

nói tiếng nói của mình Thế giới với chị thật giản dị đó là thế giới của “em”- cái tôi trữ tình nhập thân, và cái “tôi”- trữ tình tự bộc lộ So với Thơ mới (1930 -1945), tiếng nói

cá nhân thành thực này không có gì mới mẻ Nhưng so với quãng im lặng của cá nhân trong bản hùng ca thơ cách mạng 1945 – 1975, tiếng thơ Dư Thị Hoàn đã trở thành những tiếng gọi cá – nhân đã mất, là sự thật đã bị vùi giấu đòi lộ diện Bởi thế, cái tôi trữ tình trong thơ chị luôn băn khoăn day dứt trước hiện thực đời sống, chị luôn tự vấn, luôn đi tìm sự thật, bản chất của nhân sinh, cuộc sống, tình yêu…

Cái tôi Dư Thị Hoàn luôn băn khoăn day dứt trước hiện thực đời sống, và luôn khát tìm những chân lý sống, vì thế luôn có xu hướng đối thoại Nhà thơ đặt câu hỏi: đâu là sự thật trong cuộc sống này? Chị nhận thức lại những vấn đề từ lớn lao đến nhỏ bé, từ cuộc sống chung đến con người cá thể Cái tôi của chị đối diện với tổ quốc để đối thoại về giá trị của nó:

Tôi quỳ sụp trước hai tiếng hư vô Người là ai?

Uy nghiêm trên ngai vàng tín ngưỡng

Có giây phút nào người ái ngại Đất đai đóng khung vì người Tình yêu chật hẹp vì người

… Đường viền của người thắt quặn trái tim tôi

(Tổ quốc)

Chị nhận thức lại về lịch sử dân tộc từ điểm nhìn của con người mang dòng máu Trung Hoa nhưng gắn bó với mảnh đất Việt:

Trang 40

Dải đất này chao đảo Chẳng riêng mình chị cơi đốm lửa nhọc nhằn

… Nếu bài thơ được viết

Từ ngôn ngữ của một dân tộc đau khổ

(Bức thư người Hoa)

Chẳng dễ dàng gì với một người như chị sống trên mảnh đất chịu quá nhiều đau khổ, nhưng với chị nó lại là ngọn nguồn nuôi dưỡng tâm hồn và cho chị những khoảnh khắc bình yên Những vần thơ như chính tâm hồn chị lan tỏa và hòa quyện với lòng yêu nước nồng nàn mới tạo nên những tứ thơ lay động hồn người như thế Chị còn cảm nhận được nỗi nhọc nhằn trong sự sống thường nhật của mỗi cá thể qua một chuyến tàu:

Mỗi ngày ngần ấy chuyến Đoàn tàu chở bao nhiêu nỗi lo âu lên dốc

(Qua đèo Hải Vân)

Nhịp điệu của cuộc sống cứ hiển hiện qua từng chuyến tàu qua lại, số phận của con người cũng vậy, bộn bề lo toan của cuộc sống có khi nào hết với những người lao động nghèo khổ Và chị dường như mắc nợ với những tiếng kêu thương muôn kiếp từ cuộc đời ấy:

Khối óc tôi tàn tật Bởi tiếng kêu cứu dai dẳng

Từ những số phận đang thoi thóp sống

Từ những số phận đang đợi chờ

(Trước ban thờ)

Nhận thức về những vấn đề của cuộc sống, Dư Thị Hoàn đi thêm một bước

xa hơn là nhận thức lại về con người trên phương diện cá thể, tất nhiên trong đó có nhận thức về bản thân mình, trong đó nhiều nhất là những bài thơ viết về đề tài tình yêu Tình yêu là ngọn lửa tạo nên sức sống trong tâm hồn con người và nguồn cảm hứng bất tận của thi ca Macxim Gorki nói: “Tình yêu đó là thơ ca cuộc đời, cuộc sống thiếu tình yêu không phải là sống mà là tồn tại Biết rằng mình đang yêu và

Ngày đăng: 23/03/2015, 09:38

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Vũ Tuấn Anh (1997), Nửa thế kỷ thơ Việt Nam 1945 – 1975, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nửa thế kỷ thơ Việt Nam 1945 – 1975
Tác giả: Vũ Tuấn Anh
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 1997
2. Phạm Quốc Ca (2003), Mấy vấn đề về thơ Việt Nam 1975 – 2000, NXB Hội nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy vấn đề về thơ Việt Nam 1975 – 2000
Tác giả: Phạm Quốc Ca
Nhà XB: NXB Hội nhà văn
Năm: 2003
3. Phạm Quốc Ca (1999), “Thơ trữ tình công dân trong nền thơ Việt Nam đổi mới”, Tạp chí Văn nghệ quân đội (số 03), tr.98 -101 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ trữ tình công dân trong nền thơ Việt Nam đổi mới
Tác giả: Phạm Quốc Ca
Năm: 1999
4. Nguyễn Việt Chiến (2007), Thơ Việt Nam tìm tòi và cách tân 1975 – 2005 (Tuyển chọn và giới thiệu), NXB Hội nhà văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ Việt Nam tìm tòi và cách tân 1975 – 2005
Tác giả: Nguyễn Việt Chiến
Nhà XB: NXB Hội nhà văn
Năm: 2007
5. Nguyễn Văn Dân (2003), Lý luận văn học so sánh, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận văn học so sánh
Tác giả: Nguyễn Văn Dân
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2003
6. Hữu Đạt (1996), Ngôn ngữ thơ Việt Nam, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ thơ Việt Nam
Tác giả: Hữu Đạt
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1996
7. Nguyễn Đăng Điệp (2002), Giọng điệu trong thơ trữ tình, NXB Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giọng điệu trong thơ trữ tình
Tác giả: Nguyễn Đăng Điệp
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 2002
8. Nguyễn Đăng Điệp (2003), “Những chuyển động của thơ Việt đương đại”, Tạp chí Văn học (số 05), tr.43 - 48 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những chuyển động của thơ Việt đương đại
Tác giả: Nguyễn Đăng Điệp
Năm: 2003
9. Hà Minh Đức (1998), Thơ và mấy vấn đề trong thơ Việt Nam hiện đại, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ và mấy vấn đề trong thơ Việt Nam hiện đại
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1998
10. Hồ Thế Hà (1997), Thơ và thơ Việt Nam hiện đại (Chuyên đề), Trường đại học Khoa học, Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ và thơ Việt Nam hiện đại
Tác giả: Hồ Thế Hà
Năm: 1997
11. Hồ Thế Hà (1997), Tìm trong trang viết, NXB Thuận Hóa, Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm trong trang viết
Tác giả: Hồ Thế Hà
Nhà XB: NXB Thuận Hóa
Năm: 1997
12. Bùi Công Hùng (2000), Sự cách tân thơ Việt Nam hiện đại, NXB Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự cách tân thơ Việt Nam hiện đại
Tác giả: Bùi Công Hùng
Nhà XB: NXB Văn hóa thông tin
Năm: 2000
14. Hoàng Việt Hằng, Một mình khâu những lặng im, NXB Phụ nữ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một mình khâu những lặng im
Nhà XB: NXB Phụ nữ
15. Hoàng Việt Hằng (1998), Vệt trăng và cánh cửa, NXB Phụ nữ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vệt trăng và cánh cửa
Tác giả: Hoàng Việt Hằng
Nhà XB: NXB Phụ nữ
Năm: 1998
16. Dư Thị Hoàn (1988), Lối nhỏ, Hội Văn học nghệ thuật Hải Phòng xuất bản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lối nhỏ
Tác giả: Dư Thị Hoàn
Năm: 1988
17. Lưu Hiệp (1997) Tinh hoa lý luận cổ điển Trung Hoa, NXB Văn Hóa Thông Tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tinh hoa lý luận cổ điển Trung Hoa
Nhà XB: NXB Văn Hóa Thông Tin
18. Yên Khương (2009), “Đoàn Thị Lam Luyến đặt tình yêu trong tương quan đắt”, Báo Tiền Phong Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đoàn Thị Lam Luyến đặt tình yêu trong tương quan đắt
Tác giả: Yên Khương
Năm: 2009
19. Nguyễn Thụy Kha (1992), “Đôi điều về thơ Dư Thị Hoàn”, Tạp chí Văn Nghệ (số 02), tr. 14 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đôi điều về thơ Dư Thị Hoàn
Tác giả: Nguyễn Thụy Kha
Năm: 1992
20. Mã Giang Lân (2002), Tiến trình thơ hiện đại Việt Nam, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiến trình thơ hiện đại Việt Nam
Tác giả: Mã Giang Lân
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2002
21. Mã Giang Lân (2007), “Nhịp điệu thơ hôm nay”, Tạp chí Nghiên cứu văn học (số 03), tr.21 – 33 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhịp điệu thơ hôm nay
Tác giả: Mã Giang Lân
Năm: 2007

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w