1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Cái tôi trữ tình trong thơ nguyễn duy

97 50 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Cái Tôi Trữ Tình Trong Thơ Nguyễn Duy
Tác giả Nguyễn Thị Lệ Hằng
Người hướng dẫn TS. Vũ Văn Sỹ
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Lý Thuyết Và Lịch Sử Văn Học
Thể loại Luận Văn Thạc Sỹ Ngữ Văn
Năm xuất bản 2004
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 97
Dung lượng 811,43 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chúng tôi ý thức rằng, việc lựa chọn đề tài tìm hiểu và phân tích Cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Duy cho phép người đọc thâm nhập và thế giới nghệ thuật phong phú của một hồn thơ đặ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

-٭ - NGUYỄN THỊ LỆ HẰNG

CÁI TÔI TRỮ TÌNH TRONG THƠ NGUYỄN DUY

CHUYÊN NGÀNH LÝ THUYẾT VÀ LỊCH SỬ VĂN HỌC

MÃ SỐ: 602.232

LUẬN VĂN THẠC SỸ NGỮ VĂN

Người hướng dẫn: TS VŨ VĂN SỸ

VINH, 2004

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Với tình cảm chân thành, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các thầy giáo, cô giáo trong khoa Ngữ Văn và khoa đào tạo Sau Đại học - Trường Đại học Vinh, Viện Văn học đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi trong thời gian học tập và nghiên cứu Đặc biệt tôi xin chân thành cảm ơn thầy giáo - Tiến sỹ

Vũ Văn Sỹ, nhà nghiên cứu Văn học Việt Nam đã tận tình chỉ bảo và hướng dẫn tôi thực hiện hoàn thành luận văn này

Vinh, tháng 11/2004

Nguyễn Thị Lệ Hằng

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Nguyễn Duy tên thật là Nguyễn Duy Nhuệ, sinh năm 1948 tại thành phố Thanh Hoá Xuất hiện vào giai đoạn cuối của cuộc chiến tranh chống Mỹ, với giải thưởng thơ của Báo Văn Nghệ năm 1972 - 1973, Nguyễn Duy nhanh chóng trở thành một trong những gương mặt tiêu biểu của thế hệ các nhà thơ trẻ thời chống Mỹ

Sau chiến tranh, cả đất nước phải từng bước làm quen với cuộc sống mới, từng bước thoát ra khỏi tình trạng bao cấp của cộng đồng để đối diện với những khó khăn và thách thức mới Hoàn cảnh xã hội như vậy đã tác động rất lớn đến ý thức nghệ thuật của những người cầm bút Nhiều nhà thơ đã được khẳng định từ thời kỳ trước với cảm hứng sử thi lãng mạn nay trở về đối diện với cuộc sống đời thường cảm thấy hẫng hụt trong sáng tác Nguyễn Duy là một trong số các nhà thơ vẫn tiếp tục viết đều tay và cho ra đời một loạt tác phẩm thơ được nhiều người đón đọc nhưng đồng thời cũng gây nhiều tranh luận và đối thoại trong đời sống văn học Và rồi năm 1996, Nguyễn Duy đưa thơ mình ra triển lãm ở thị trường, một việc làm “xưa nay hiếm”, sau đó tuyên

bố “không tiếp tục làm thơ nữa” Lời tuyên bố nghe ra có vẻ nghiêm túc song

có lẽ mạch thơ Nguyễn Duy chưa dễ dừng thế được

Thơ Nguyễn Duy là hình ảnh cụ thể và sinh động, phản ánh sự vận động của thơ Việt Nam sau chiến tranh, gợi ra những khả năng tiềm tàng và cả những giới hạn thực tế của thể loại trữ tình trong quá trình đổi mới văn học Sau 1975, thơ anh vừa giữ được sắc điệu quen thuộc, vừa có sự nỗ lực tìm tòi

để hoàn thiện và phong phú thêm cho hồn thơ Điều này có thể nhận ra rất rõ

Trang 4

khi tìm hiểu cái tôi trữ tình trong tác phẩm của Nguyễn Duy qua các giai đoạn sáng tác

Cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Duy được thể hiện ở nhiều cung bậc: trước là giàu chất sử thi, sau là đậm chất thế sự, khi mang ý vị trào lộng và đôi khi có cả cái tôi siêu hình thể nghiệm cùng được bộc lộ Chúng tôi ý thức

rằng, việc lựa chọn đề tài tìm hiểu và phân tích Cái tôi trữ tình trong thơ

Nguyễn Duy cho phép người đọc thâm nhập và thế giới nghệ thuật phong phú

của một hồn thơ đặc sắc và nhạy cảm; đồng thời cho phép ta nhận ra những mối quan hệ giữa nhà thơ và cuộc sống, những mối liên hệ sáng tạo của tác giả với thời đại mà người cầm bút đang sống và sáng tác

2 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ

Ngay từ những sáng tác đầu tay Nguyễn Duy nhanh chóng chiếm được thiện cảm của độc giả yêu thích thơ và gây được sự chú ý của một số nhà nghiên cứu phê bình Người đầu tiên phát hiện và viết lời bình giới thiệu thơ

Nguyễn Duy là Hoài Thanh (Báo Văn nghệ 14/4/1972) Bằng con mắt “tinh

đời ”, Hoài Thanh đã nhận định: “Thơ Nguyễn Duy thể hiện được cái cao đẹp của những người không tuổi, không tên”, đồng thời ông cũng nhận ra cái

“Chất quê đằm thắm” từ những điều “quen thuộc mà không nhàm” của thơ Nguyễn Duy Đó là hương vị của “khúc dân ca…đồng bằng miền Bắc đã cùng anh đi vào giữa đỉnh Trường Sơn”, là chất thơ “nhẹ nhàng, hiền hậu…rất Việt Nam mà chúng ta giữ nguyên trong thử lửa” Nhà phê bình chỉ

ra những triển vọng và cả những hạn chế của một cây bút trẻ mà ông hy vọng như anh: “Câu thơ Nguyễn Duy còn nhiều khi khắc khổ, cầu kỳ, rắc rối…chưa học được nhiều cái giản dị, cái trong sáng của thơ ca dân gian…nhưng một số bài thơ của anh đậm đà phong cách Việt Nam Giọng thơ chân chất Tình thơ chắc Ý thơ sâu…Đọc thơ Nguyễn Duy, thấy anh thường

Trang 5

hay cảm xúc và suy nghĩ trước những chuyện lớn, chuyện nhỏ quanh mình Cái điều ở người khác có thể chỉ là thoáng qua thì ở anh nó lắng sâu và dường như dừng lại…”

Giáo sư Hà Minh Đức trong bài viết Về một số cây bút trẻ gần đây trong

quân đội đã viết về Nguyễn Duy như sau: “Thơ Nguyễn Duy mang nhiều màu

sắc dân gian Cách suy nghĩ và cảm xúc trên trực tiếp hay gián tiếp nằm trong mạch suy nghĩ quen thuộc của dân gian Và tự nhiên là anh cũng phải tìm đến một lối phô diễn, một điệu thơ thích hợp…”

Lê Quang Trang trong bài Đọc Ánh trăng (Báo Nhân dân 23/6/1985)

phát hiện cái mới trong lục bát Nguyễn Duy “chính là mới trong tình cảm, cái bạo trong suy nghĩ”

Sự xuất hiện của tập Ánh trăng còn thu hút một số cây bút phê bình khác Từ Sơn trong bài Thơ Nguyễn Duy (Báo Văn Nghệ 27/7/ 1985) vui

mừng nhận thấy trong thơ anh nét cao quí của tấm lòng chân thật: “điều đáng mừng là thơ anh đã góp vào kho tàng thơ xã hội chủ nghĩa hiện đại những bài thơ hay mang dáng vẻ riêng nồng nàn hơi thở đời sống, giàu hương vị dân tộc

và dào dạt một tình yêu cuộc sống trong dáng hình bình dị, chân chất, dân dã…”

Tác giả Lê Quang Hưng trong bài Thơ Nguyễn Duy và Ánh trăng (Tạp

chí Văn học số 3/1986) cũng đánh giá khá cao tập thơ và đưa ra nhận xét xác

đáng: “Lại có những bài thơ ghi lại một thoáng tâm trạng bàng bạc, bâng quơ dường như chẳng có gì nhưng để lại dư âm sâu lắng trong lòng người đọc như

Sông Thao; Đà Lạt một lần trăng”… Tác giả còn có nhận xét đáng chú ý về

nội dung và nghệ thuật thơ Nguyễn Duy: “Nguyễn Duy muốn đứng giữa hôm nay và nhìn lại hôm qua từ tâm trạng riêng, tiếng thơ anh như một lời cảnh tỉnh, lời nhắc nhở (…) Không chỉ qua thể thơ, giọng điệu mà chất dân gian

Trang 6

của thơ Nguyễn Duy ngâm trong cánh cảm, lối nghĩ, trong quá trình “dàn

dựng” hình tượng thơ Tất cả những cái đó vừa rất dân tộc, rất truyền thống, lại vừa khá hiện đại, khá mới.”

Mục Sổ tay người yêu thơ (Báo Văn Nghệ ra ngày 19/4/1986) cũng dành lời bình của Nguyễn Bùi Vợi về bài thơ Ánh trăng: “Viết về ánh trăng mà để

nói chuyện đời, chuyện tình nghĩa Tác giả chọn một lối viết giản dị, dễ hiểu Đọc xong bài thơ, những người thích ngôn ngữ tân kỳ có thể cho là không có

gì, những người ưa loại văn trau chuốt, tỉa tót đến tinh xảo có thể thất vọng, những người quen lối nói ồn ào đại ngôn có thể ngỡ ngàng”

Nguyễn Quang Sáng - người sống gần gũi với Nguyễn Duy nhiều năm - cũng đã có một cái nhìn tương đối toàn diện về sáng tác của Nguyễn Duy:

“linh hồn đời sống toát lên từ bên trong” nhưng đồng thời cũng có “nhiều suy

ngẫm có khi ngậm ngùi, cay đắng” (Đi tìm tiềm lực trong thơ Nguyễn Duy -

Báo Người Hà Nội - số 48 - 1987)

Tìm hiểu hình ảnh Người vợ trong thơ Nguyễn Duy, Đỗ Ngọc Thạch

viết “những câu thơ nặng trĩu hồn quê” có sức “lay động tận trong sâu thẳm tâm linh…đưa ta trở về với bản ngã, với những gì con người nhất” (55)

Tạp chí Văn học số 11/1994 đăng bài viết của Chu Văn Sơn Về bản sắc dân tộc và một hướng kiếm tìm trong thơ, tác giả đã nhận định phong cách thơ

Nguyễn Duy: “đã đào sâu vào phương Đông mà gần đây càng thấy rõ là anh

đã ngập sâu trong ngọn nguồn dân gian của ta” Về mặt nghệ thuật, tác giả bài viết so sánh Nguyễn Duy và Nguyễn Bính: “Nếu trước kia Nguyễn Bính

“lãnh đủ” điệu than để thể hiện cái bi kịch lỡ làng, cái sầu đô thị, cái hận ái ân của mình thì đàn em ông là Nguyễn Duy đã “xáp vô” điệu ghẹo Và anh đã nhấc nó ra khỏi phạm vi của tình yêu lứa đôi, vốn chỉ đứng ở chất phong tình

ỡm ờ, nghịch ngợm”

Trang 7

Phạm Thị Thu Yến trong bài viết Ca dao vọng về (Tạp chí Văn học số 7

- 1998) lại đi sâu vào khám phá chất ca dao trong thơ Nguyễn Duy và phát hiện thấy “những khúc ru này có nhiều ý, nhiều tứ, nhiều hình ảnh vọng về từ

ca dao nhưng tổng hợp hơn, suy tư hơn, giàu cá tính sáng tạo…Nguyễn Duy chịu ảnh hưởng của ca dao, uống nước nhớ nguồn mạch thơ ca dân gian trong trẻo nhưng bằng tình yêu ca dao, bằng sức lao động sáng tạo của mình, anh đã

“đền ơn đáp nghĩa” bằng cách làm cho ca dao sống mạnh mẽ, khoẻ khoắn sâu sắc trong cuộc sống và thơ ca hiện đại với những lớp ý nghĩa đa tầng của nó Trân trọng và đánh giá cao tài năng và tấm lòng thơ Nguyễn Duy, Vũ

Văn Sỹ trong bài Nguyễn Duy - người “thương mến đến tận cùng chân thật” (Tạp chí Văn học số 10/1999) đã đưa ra nhận định khái quát: “Thơ Nguyễn

Duy là hình ảnh cụ thể sinh động phản ánh sự vận động của các thể loại trữ tình Việt Nam trên hai mặt tiềm năng và giới hạn…Cái đáng quí nhất trong thơ Nguyễn Duy là anh viết về đất nước, về nhân dân, về đồng đội, về những người thân và về chính mình bằng tấm lòng “thương mến đến tận cùng chân thật” “

Ngoài những bài viết mang tính nhận định chung về thơ Nguyễn Duy, rất nhiều bài viết khác lại đi vào tìm hiểu thơ Nguyễn Duy theo hướng phân tích,

bình giảng về một bài thơ cụ thể Chẳng hạn, Lê Trí Viễn khi bình bài thơ Tre

Việt Nam thấy Nguyễn Duy “tìm ra cái tươi ở cái khô, cái cao cả ở cái tầm

thường, cái lạ trong cái nhàm…” (Đến với bài thơ hay - NXB GD - 1997) Bài Tiếc thay áo trắng má hồng của Hoàng Nhuận Cầm (Báo Tuổi trẻ hạnh

phúc số 5/1996) có đoạn: “vẻ hấp dẫn mà bài thơ đem lại đó là âm điệu của

một bài hát ru - hát ru cái áo trắng…tinh quái, hóm hỉnh trong một cái nhìn tinh tế như không có gì mà lại có gì”…

Trang 8

Ở góc độ so sánh, Nguyễn Thị Bông lại ngỡ ngàng khi phát hiện ra

điểm gặp nhau thú vị của Tú Xương và Nguyễn Duy qua hai bài thơ Thương

vợ và Vợ ốm: “Hai thi nhân của hai thời đại, một thì ngang ngạnh…một thì

trầm lắng…dịu dàng đằm thắm…lại có những điểm gặp nhau tuyệt vời…Cái

tiếng lòng của hai nhà thơ với hai bà vợ trong Thương vợ và Vợ ốm thật đáng quí nhường nào” (Phê bình, bình luận văn học - NXB Văn nghệ - TP HCM,

1998)

Ngoài ra còn một số bài viết của các tác giả khác như: Trần Hoà Bình, Nhị Hà, Vũ Quần Phương, Tế Hanh…đã bổ sung những khía cạnh đặc sắc của thơ Nguyễn Duy

Bên cạnh những bài viết đăng trên báo, tạp chí vừa nêu, thơ Nguyễn Duy

đã trở thành đề tài nghiên cứu của một số luận văn như: Tìm hiểu phong cách

nghệ thuật thơ Nguyễn Duy (Mai Thị Nguyệt - Luận văn Thạc Sỹ 1997); Lục bát Nguyễn Duy (Nguyễn Thị Bích Nga - Luận văn Thạc sỹ 2000); Phong cách thơ Nguyễn Duy (Dương Tú Anh - Luận văn Thạc sỹ 2002)

Các bài viết và các công trình nghiên cứu tuy không gọi đích danh Cái

tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Duy, nhưng những vấn đề có liên quan đến cái

tôi thì ít nhiều đã đề cập Trên cơ sở kết quả những người đi trước gợi ý, chúng tôi nghiên cứu thơ Nguyễn Duy từ góc độ lý luận về cái tôi trữ tình Nói cụ thể hơn, trên cơ sở lý thuyết và thực tiễn sáng tác luận văn nghiên cứu mối quan hệ và liên hệ của cái tôi với các yếu tố nội dung và hình thức trữ tình trong thơ Nguyễn Duy

Trong luận văn, chúng tôi coi cái tôi là đơn vị tồn tại của cái chủ quan, là hạt nhân làm nên nội dung thơ trữ tình, đồng thời cái tôi cũng là yếu tố trung tâm tổ chức, liên kết các yếu tố khác nhau của tác phẩm trữ tình như đề tài, tứ thơ, nhân vật, cảm hứng, giọng điệu, ngôn ngữ, thể loại…

Trang 9

3 MỤC ĐÍCH, NHIỆM VỤ VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Mục đích

- Khẳng định thơ Nguyễn Duy là một hiện tượng tiêu biểu của thơ Việt Nam từ sau chiến tranh Những nỗ lực tìm tòi sáng tạo của Nguyễn Duy khiến ông trở thành một trong số những nhà thơ tiêu biểu của thời kỳ dân chủ hoá của văn học nghệ thuật

- Sự vận động của cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Duy - phản ánh sự vận động của thể loại trữ tình của thơ Việt Nam trên con đường tìm kiếm để

mở rộng sự thể hiện con người bằng nghệ thuật

chúng những cái tên ước lệ, tạm thời để miêu tả và trình bày nó trong mối liên

hệ với các yếu tố của tác phẩm trữ tình

3.3 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu tác giả dựa vào lý thuyết về cái tôi trữ tình trong lý luận văn học và kinh nghiệm thi ca về cái tôi trữ tình của thời đại mà tác giả đã và đang tiếp nhận

- Phương pháp phân tích, tổng hợp

Trang 10

- Phương pháp so sánh: so sánh thơ Nguyễn Duy với một số nhà thơ khác cùng thời để thấy rõ sự riêng biệt của cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Duy

4 CẤU TRÚC LUẬN VĂN

Ngoài phần mở đầu, kết luận và tư liệu tham khảo, luận văn chia làm 3 chương

Chương 1: Về cái tôi trữ tình trong thơ Việt Nam từ sau cách mạng

Tháng Tám năm 1945 đến nay

Chương 2: Nội dung cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Duy

Chương 3: Một số hình thức biểu hiện của cái tôi trữ tình trong thơ

Nguyễn Duy

Trang 11

NỘI DUNG

Chương 1

VỀ CÁI TÔI TRỮ TÌNH TRONG THƠ VIỆT NAM

TỪ SAU CÁCH MẠNG THÁNG TÁM NĂM 1945 ĐẾN NAY

1 KHÁI NIỆM CÁI TÔI TRỮ TÌNH TRONG THƠ

Khái niệm cái tôi trữ tình chỉ thực sự xuất hiện khi tư duy lý luận thơ đạt

đến một trình độ nhất định Dù có nhiều cách hiểu khác nhau nhưng trong

quan niệm chung nhất, khái niệm cái tôi trữ tình được xác định như là sự thể

hiện trực tiếp những cảm xúc và suy tư chủ quan của nhà thơ hoặc của nhân vật trữ tình trước các hiện tượng đời sống Có thể nói rằng, mọi nghiên cứu

về thơ suy đến cùng đều xuất phát từ cái tôi trữ tình của nhà thơ

Vậy đặc điểm và bản chất của cái tôi trữ tình trong thơ là gì?

Nếu hiểu theo nghĩa hẹp, cái tôi trữ tình là hình tượng cái tôi cá nhân cụ

thể, cái tôi tác giả gắn liền với tiểu sử, với riêng tư, là một loại nhân vật trữ tình

Theo nghĩa rộng, cái tôi trữ tình là nội dung thẩm mỹ của tác phẩm trữ

tình Nói một cách khác, cái tôi trữ tình là biểu hiện tập trung của tính chủ quan trong thơ trữ tình Bản chất chủ quan của thể loại trữ tình thể hiện ở nguyên tắc tiếp nhận và tái hiện đời sống thông qua toàn bộ nhân cách người

trữ tình Ở đây, cá tính người trữ tình với mọi phong thái, ấn tượng, sự độc đáo chiếm địa vị chủ đạo và người đọc thông qua đó mà lĩnh hội thế giới

Trang 12

Cuộc sống sẽ được nhận thức, lý giải, đánh giá, mơ ước, cảm xúc bằng chính nhân cách người trữ tình Người xưa nói: “thơ tả cảnh ngụ tình”; “tình cảm giao hoà” thực chất là ý thức được cái tình qua cảnh Và “cảnh”, “sự” trong thơ không đơn giản là cảnh, sự khách quan mà là tâm cảnh, ý cảnh, tình cảnh, tâm

sự, ý sự

Nếu quan niệm thơ trữ tình là sự thể hiện ý thức xã hội - lịch sử - thẩm

mỹ thông qua kinh nghiệm một cá nhân thì ý thức chủ thể, cái tôi, chính là lăng kính để chuyển đổi một cách đặc biệt thế giới hiện thực qua một cá nhân, xây dựng nên một thế giới khác: thế giới trữ tình

- Cái tôi trữ tình trước hết có bản chất xã hội tâm lý, bản chất tự ý thức bởi vì nó tồn tại trong vô vàn mối quan hệ đời sống chịu sự chi phối của các qui luật, các điều kiện xã hội như truyền thống văn hoá, đạo đức, lịch sử, triết

học, thẩm mỹ Nhà nghiên cứu văn học Vũ Tuấn Anh cho rằng: “cái tôi trữ

tình - là sự hội tụ, thăng hoa theo quy luật nghệ thuật cả 3 phương diện cá nhân - xã hội - thẩm mỹ trong hình thức thể loại trữ tình” [1, Tr.33]

Sự chiêm nghiệm cảm xúc đời sống của một người xuyên qua lăng kính chật hẹp nhất của cái nhìn cá thể lại luôn phản chiếu những vấn đề chung nhất của con người để từ đó kết tinh những giá trị nhân bản Điều này M Bakhtin cũng từng nói: “Lời trong thơ không thuần tuý là lời của cá nhân Ở đây uy tín của tác giả là uy tín của dàn đồng ca Sự đắm say trữ tình về căn bản là sự đắm say của dàn đồng ca Bởi vì tôi nghe thấy bản thân mình trong người khác, vì người khác và cho người khác Một dàn đồng ca có thể có chỗ nào đó

là chỗ dựa có uy tín vững chắc của tôi Tôi tìm thấy mình trong tiếng nói của người khác, cái tiếng nói của người khác mà tôi nghe thấy được ở ngoài ấy chính là yếu tố tổ chức sức sống nội tại trong thơ trữ tình của tôi”

Trang 13

Như là một chỉnh thể toàn vẹn và đa dạng, cái tôi cũng bao hàm cả những mâu thuẫn và đấu tranh, chính điều đó làm cái tôi vận động và phát triển Cái tôi có chức năng nội cảm hoá thế giới biến thế giới khác quan thành chủ quan, trở thành chủ thể của giá trị , của cái nhìn

Với bản chất tâm lý, xã hội nên cái tôi chính là cơ sở của cái tôi trữ tình trong thơ Cái tôi ấy có thể trở thành cái tôi nghệ thuật khi nó có nhu cầu tự biểu hiện, nhu cầu được giao tiếp để tìm đến sự đồng cảm và được bộc lộ bằng ngôn ngữ nghệ thuật Thông qua một trạng thái cảm xúc đích thực của tâm hồn mình, như sự đau đớn, cười mình, tự cay đắng với chính mình… Người đọc không chỉ gặp riêng cái tôi nhà thơ - cả một thế giới hiện thực với những mảng sáng, tối, hạnh phúc và nỗi đau, niềm tin và sự đổ vỡ…được mở

ra trên một tầm cảm thức mang tính nhân loại Xuân Quỳnh trong bài thơ Tự

hát đã tạo cho người đọc cảm nhận được nỗi khát khao hoài vọng muôn đời

về tính yêu, hạnh phúc của người phụ nữ là một minh hoạ cụ thể

Sự bộc lộ bằng nghệ thuật thể hiện ở tính biểu tượng hoá, hình tượng hoá, đó là thế giới của sự quy ước với một không gian nghệ thuật, thời gian nghệ thuật riêng biệt Thế giới ấy cũng có sự vận động nhưng lại là sự vận động bên trong khác hẳn với thế giới khách quan bên ngoài Thế giới nghệ thuật của cái tôi trữ tình là một thế giới mang giá trị thẩm mỹ kết tinh từ cái nhìn nghệ thuật của nhà thơ và từ giá trị văn hoá, lịch sử, truyền thống…Do vậy thế giới nghệ thuật của cái tôi trữ tình không chỉ thể hiện ra với tư cách là

sự khái quát những phẩm chất chủ yếu, mà còn là đại biểu của một tiêu chuẩn thẩm mỹ nhất định M.Bakhtin nói: “Tôi muốn thành tôi nghĩa là tôi phải chiếm lĩnh một lập trường giá trị giữa đời Thế giới cái tôi như vậy có bao giờ lặng im mà chứa nhiều bi kịch giông bão, giằng xé” M.Gorki gọi cái tôi trong

thơ Êxênhin là “cái tôi trữ tình đồng quê thấm đẫm hương vị nước Nga cổ”,

là cây “đại phong cầm thiên nhiên” dành cho thơ ca…Cái tôi trong thơ Tố

Trang 14

Hữu là cái tôi trữ tình chính trị, là cái tôi của con người với chính nó và thời đại Trong cái tôi chủ đạo có phần xác định mặt cá tính, cái đơn nhất, cái độc đáo của nhân cách, tạo thành của cái tôi cá tính Đó chính là đặc điểm để phân biệt giữa người này với người khác, chủ thể này với chủ thể khác Thiết tha, rạo rực, băn khoăn là tính riêng của Xuân Diệu, “nét kỳ dị” là của Chế Lan Viên và “ảo não” điệu hồn của Huy Cận Cái tôi cá tính dù luôn vận động, phát triển nhưng vẫn giữ những nét ổn định và bất biến, đánh dấu phong cách riêng của từng tác giả [38, Tr.23]

Để tiện cho việc trình bày, phân tích, luận văn quy cái tôi trữ tình về hai phương diện nội dung và hình thức:

- Về nội dung, thế giới của cái tôi trữ trình phải là sự thể hiện những vận động lớn của quá trình văn hoá nói chung bộc lộ qua tư cách là người tham dự

và chứng kiến trực tiếp Cái tôi trữ tình bao giờ cũng tự khái quát, nâng mình lên để hoà nhập vào tiếng nói văn hoá của thời đại, đồng thời nó cũng thể hiện

sự khao khát hướng tới cái chân, thiện, mỹ, có khi còn chạm tới các giá trị vĩnh cửu mang tính triết học như cái đẹp, sự sống, cái chết…

- Về hình thức, cái tôi trữ tình không tồn tại nếu không có một hình thức

cụ thể, một cơ chế đặc biệt để khách quan hoá cái thế giới nội cảm của nhà thơ Là thế giới tinh thần nên nó cần những phương tiện vật chất cảm tính để tái hiện bằng một hệ thống hình ảnh, biểu tượng, hệ thống nhịp điệu, âm thanh, ngôn ngữ, nhạc điệu…Hình thức ở đây còn là sự thể hiện của nhãn quan trữ tình đối với đời sống, do vậy nó mang tính quan niệm Đó là hình thức của tư duy, của cái nhìn cái tôi đối với thế giới

2 NHẬN DIỆN CÁI TÔI TRỮ TÌNH TRONG THƠ VIỆT NAM

TỪ SAU CÁCH MẠNG THÁNG TÁM ĐẾN NAY

Trang 15

Trong mỗi thời đại thơ ca, có thể có một kiểu cái tôi trữ tình đóng vai trò chủ đạo, thể hiện tập trung cao độ tinh thần của thời đại và có thể có nhiều dạng thức cái tôi trữ tình, biểu hiện những quan niệm và thái độ thẩm mỹ khác nhau đối với hiện thực và con người Sự biến đổi bên trong của cái tôi trữ tình, cùng với sự thay thế các kiểu cái tôi trữ tình là cốt lõi của quá trình vận động của thể loại trữ tình

2.1 Sự hình thành cái tôi kiểu mới

Cách mạng tháng Tám thành công đã mở ra một kỷ nguyên mới của dân tộc Việt Nam, đó là kỷ nguyên của Độc lập và Tự do Song, niềm tự hào đó chưa được bao lâu thì toàn dân lại phải đối đầu với những thử thách hi sinh mới: Kháng chiến chống thực dân Pháp Điều đó đã tác động rất lớn vào đời sống văn hoá - tinh thần của dân tộc Bối cảnh xã hội - chính trị, văn hoá tinh thần ấy đòi hỏi trong thơ phải có cái tôi trữ tình kiểu mới với những phẩm chất mới

Trong nhịp sống sôi nổi của kháng chiến, người dân xem thơ như một món ăn tinh thần không thể thiếu, họ tìm đến thơ để diễn tả tình cảm, giãi bày tâm sự của mình Vì thế nên cái tôi trữ tình kiểu mới trước hết nằm trong phong trào thơ ca rộng lớn của quần chúng, trong đó thơ bộ đội, thơ “đội viên” đóng vai trò quan trọng Bởi thơ họ là mũi nhọn khai phá, xung kích của nền thơ ca mới cũng là chỗ để đào luyện những cây bút, quan trọng hơn là nơi

bộc lộ phẩm chất thơ mới, cái tôi trữ tình kiểu mới mà bài thơ Đồng chí của

Chính Hữu là một ví dụ

“Để hoàn thiện cái tôi trữ tình tiêu biểu cho tinh thần thời đại, trong quá trình vận động thơ Việt Nam cũng đã diễn ra cuộc đấu tranh để gạt bỏ những lệch lạc, ấu trĩ, cực đoan Chẳng hạn, quan niệm thơ phục vụ chính trị được hiểu một cách đơn giản, biến thơ thành cái loa phát ngôn tuyên truyền, hoặc

Trang 16

biểu hiện cực đoan của quan niệm tính quần chúng trong thơ: đề cao những bài thơ phản ánh kịp thời ít tính nghệ thuật, coi sự dễ hiểu và nôm na là tiêu chuẩn cao nhất của tính quần chúng trong thơ, hoặc đề cao tuyệt đối thể lục bát, coi đó là thể thơ độc tôn của nền thơ ca mới mà cuộc thảo luận về thơ Nguyễn Đình Thi tại Hội nghị tranh luận Việt Bắc 1949 là một ví dụ (…) Có thể thấy rõ yêu cầu về một mô hình thuần nhất của cái tôi trữ tình nhằm nói tiếng nói chung của cộng đồng, thể hiện tinh thần chung của thời đại và không thừa nhận những yếu tố khác lạ hoặc xa lạ với dòng chủ lưu”[1 tr 70]

Trải qua những bước thăng trầm, cuối cùng cái tôi trữ tình kiểu mới cũng

đã tìm ra “chân lý” và được khẳng định qua một loạt bài thơ hay như: Viếng

bạn (Hoàng Lộc); Nhớ (Hồng Nguyên); Đồng chí (Chính Hữu); Lên Cấm Sơn

(Tân Sắc); Cá nước, Lượm, Lên Tây Bắc, Bầm ơi, Phá đường…(Tố Hữu) Đó

không phải là cái gì khác mà chính là chất thơ của thời đại được nắm bắt và thể hiện thông qua một cái tôi trữ tình đã có đủ khả năng và bản lĩnh để chuyển hoá thực tại thành nghệ thuật, thành thơ

Có thể nói, bản chất của cái tôi trữ tình kiểu mới hình thành trong thơ sau 1945 có thể được xác định bởi những phẩm chất chủ yếu:

Thứ nhất, cái tôi công dân - xã hội, hướng về những tình cảm chung của cộng đồng

Thứ hai, cái tôi hiện thực, hướng vào sự khai thác và thể hiện chất thơ của đời sống

Thứ ba, cái tôi đại chúng, hướng về người đọc, người nghe nhằm tạo ra cộng hưởng cảm xúc tối đa

Sự xuất hiện cái tôi trữ tình kiểu mới đã đáp ứng được những yêu cầu chính trị, xã hội và nghệ thuật đặt ra trước thơ ca vào thời điểm ấy Với cái tôi

Trang 17

lượng, lấp đi những thiếu hụt của khả năng thể loại, mở ra con đường rộng lớn cho sự phát triển thơ ca

2.2.Cái tôi trữ tình trong thơ kháng chiến chống Pháp (1946 -1954)

Cách mạng tháng Tám thành công, mỗi người dân Việt Nam tự hào mình

là công dân tự do của một nước độc lập “Đời sống riêng của cá nhân không

có ý nghĩa gì trong đời sống bao la của Đoàn thể” [77] Đặc điểm này đã tạo

ra nét đặc trưng của cái tôi trữ tình trong thơ Cái tôi trữ tình hiện diện trước hết như là một sự gắn bó tự nguyện giữa cá nhân với cá nhân để hợp thành cái chung Người ấy không có gì xa lạ mà là đồng bào, đồng chí với những nét gần gũi, tương đồng:

Quê hương anh nước mặt đồng chua Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá Anh với tôi đôi người xa lạ

Từ phương nào chẳng hẹn quen nhau…

( Chính Hữu)

Nỗi nhớ trong tình bạn, trong gia đình, thậm chí trong tình yêu lúc này cũng vượt qua những mối liên hệ tình cảm cá nhân để trở thành những tình cảm lớn: tình quân dân, nghĩa đồng bào, tình đất nước Cảm hứng hoà nhập vào đội ngũ, vào cộng đồng là cảm hứng dẫn dắt chủ yếu của cái tôi trữ tình Những khoảng cách dù nhỏ hẹp, trong đời và trong thơ, giữa những con người kháng chiến đều được thu hẹp lại dần, để tìm đến sự đồng nhất tối đa Hướng

về người khác, tìm đến người khác trở thành tâm thế thường trực của cái tôi trữ tình, vẻ đẹp của con người kháng chiến là ngọn nguồn của cảm hứng thơ:

Tôi nằm không ngủ nghe anh thở Khe khẽ lòng ngâm lên tiếng thơ

Trang 18

(Tố Hữu)

Nếu coi cái tôi công dân là bản chất chủ yếu của cái tôi trữ tình trong thơ thì chúng ta sẽ thấy bản chất ấy được thể hiện thông qua phẩm chất cái tôi hành động kháng chiến Chủ thể không chỉ đứng ngoài quan sát mà trực tiếp

tham gia vào các hoạt động thực tiễn: “Tôi là tự vệ đêm này”; “Em là con gái

Bắc Giang”; “Tôi là lính Thanh - Điểm giờ đổi canh - Trao lại bạn đủ từng thước đất”…không chỉ xưng danh mà còn hành động “Chúng tôi đi mang cuộc đời lưu động”- “Chân đi không hề mệt mỏi” - Con đi trăm núi ngàn khe…; “Đi” trở thành một động thái quen thuộc, một tứ thơ lớn, một sự vận

động bên trong toàn bộ nền thơ Phẩm chất này của cái tôi trữ tình tạo nên phẩm chất mới của cả nền thơ, mở rộng không gian, thời gian, người và cảnh, phá vỡ cái thế giới “tĩnh” quen thuộc không chỉ có trong thơ cổ mà cả ở thơ

lãng mạn (“hành” trong Tống biệt hành của Thâm Tâm) Cái tôi yêu nước và

hành động trở thành nhân vật trữ tình chủ đạo của thơ

Gắn liền với cái tôi hành động là cảm quan hiện thực của cái tôi trữ tình trước đời sống Khác với thơ trung đại và thơ lãng mạn, cái tôi trữ tình yêu nước - kháng chiến tìm chất thơ ngay trong đời sống thực tiễn Mỗi bài thơ kháng chiến thường như một bức tranh thu nhỏ của hiện thực Trong thơ hiện lên sinh động những cảnh sinh hoạt kháng chiến và chân dung con người:

Người vá áo - Thiếu kim - Mài sắt; Người đập mảnh chai - Vểnh cằm - cạo râu …(Hữu Loan) hay như: Ơ những người - Đen như mực, Đặc thành keo - Tròn một củ - Hay những người gầy sắt lại - Mặt rẹt một đường gươm - Lạnh gáy…(Trần Mai Ninh) Từ hiện thực cụ thể sinh động của hiện thực được cái

tôi trải nghiệm, qui nạp và khẳng định những giá trị tinh thần của đời sống trong cảm xúc, mang đến cho người đọc những thông điệp trữ tình mà nó gửi gắm

Trang 19

2.3 Cái tôi ca ngợi cuộc sống mới (1954 - 1964)

Sau 1954, nền hoà bình lặp lại, miền Bắc được giải phóng và bước vào thời kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội Nhu cầu trở về với cá nhân trở thành một điều tự nhiên trong đời sống và trong nghệ thuật Sự khẳng định lại cái tôi ở thời kỳ này diễn ra khá phức tạp và theo nhiều hướng Theo Vũ Tuấn Anh, có thể nhận ra 3 xu hướng:

Thứ nhất, cái tôi khẳng định quyền tồn tại và quyền tự do sáng tạo một cách tuyệt đối Đã có sự phân lập thậm chí là đối lập giữa cá nhân với tập thể

và xã hội, thể hiện ở nhóm Nhân văn - Giai phẩm

Thứ hai, sự hiện diện trở lại của cái tôi lãng mạn với những nội dung cảm xúc quen thuộc: đời sống nội tâm cá nhân, riêng tư với những đề tài chủ

yếu là tình yêu, nỗi buồn, sự cô đơn: “Khi đông lạnh anh buồn như kiếp

nhộng, Nhốt tâm tình trong tổ kén chăn đơn” (Hoàng Tố Nguyên)

Thứ ba, sự vận động cái tôi trong thời kỳ này là cuộc đấu tranh bên trong của mỗi nhà thơ để xác định chỗ đứng và một hướng đi cả trong đời lẫn trong thơ

Sau lần nhập cuộc thứ nhất với tư cách cái tôi công dân, đây là sự hoà nhập của cái tôi - nghệ sĩ vào thực tiễn cách mạng Cho đến những năm 60, cái tôi trữ tình hình thành một phẩm chất tinh thần mới: tình cảm ân nghĩa với

cuộc sống, với nhân dân, với cách mạng: “Đảng cho ta trái tim giàu - Thẳng

lưng mà bước, ngẩng đầu mà bay” (Tố Hữu); “Hoa ơi lại nở trên cành - Mẹ hỡi đời con lại tái sinh” (Lưu Trọng Lư)…

Tình cảm ân nghĩa trở thành một mạch ngầm liên kết và chi phối cách nhìn và cảm xúc thơ không chỉ trong chỗ dựa tinh thần mà còn được nới rộng

trong không gian cảm xúc, hướng về cội nguồn, lịch sử văn hoá dân tộc

Trang 20

Trong sự hoà hợp với cái chung vị thế cá nhân được khẳng định, tư thế sáng tạo của cái tôi trữ tình được tìm thấy Trong thơ, con người thi sĩ được hiện diện như một cá thể, một nhân vật, trong một tư thế trữ tình chủ động:

“Tôi là người thơ đất nước – Một chiều đến nơi đây (Lưu Trọng Lư); “Thơ ta

ơi hãy cất cao tiếng hát… (Tố Hữu)

Lý tưởng thẩm mỹ được cái tôi trữ tình thể hiện là sự hài hoà của các cặp phạm trù: Con người - thiên nhiên; con người - con người; cái riêng - cái chung; hiện tại - tương lai…”Lăng kính cá nhân của cái tôi trữ tình đã cải hoá thế giới, cấp cho nó màu sắc chủ quan để nó trở thành một hiện thực của quan niệm và cảm xúc trữ tình Cái tôi ấy cũng đủ khả năng và bản lĩnh sáng tạo cái đẹp Thơ ca từ những năm 60 là thế giới của nhiều hình tượng đẹp, đầy chất sáng tạo thi sĩ, trong đó không ít những hình tượng lớn, kỳ vĩ, có tính

chất biểu tượng - dấu hiệu mở đường của tư duy sử thi: “Chào 61, đỉnh cao

muôn trượng - Ta đứng đây mắt nhìn bốn hướng”; “Yêu biết mấy những con người đi tới - Hai cánh tay như hai cánh bay lên - Ngực dám đón những phong ba dữ dội…” (Tố Hữu).[1 Tr 124]

Như vậy, từ cái tôi trữ tình mang tính quần chúng của giai đoạn trước đến nay cái tôi ấy đã in đậm tính cá thể sáng tạo, có giọng điệu và phong cách, có tầm vóc văn hoá - lịch sử Đấy là một bước phát triển quan trọng, đồng thời tạo tiền đề cho những chặng đường tiếp theo

2.4 Sự phát triển đỉnh cao của cái tôi trữ tình công dân (1964 - 1975)

Đây là thời điểm cả nước bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ đầy cam

go, ác liệt Trong thơ, cái tôi trữ tình không chỉ tiếp nối những giai đoạn trước

mà còn phát huy trong hoàn cảnh mới Vẫn là cái tôi yêu nước - hành động, cái tôi ân nghĩa, cái tôi ngợi ca hiện thực cách mạng nhưng nó đã mang một kích thước mới, chiều sâu mới Có thể nói đây là giai đoạn phát triển đến đỉnh

Trang 21

điểm của cái tôi trữ tình công dân để trở thành cái tôi khái quát, cái tôi cộng đồng, cái tôi nhân danh cái ta Dân tộc và Thời đại [1 Tr 124]

Cái tôi sử thi đã xuất hiện trong thơ thời kỳ kháng chiến chống Pháp và được tiếp tục ở mười năm hoà bình, đến cuộc kháng chiến chống Mỹ đã trở thành hình tượng cái tôi chủ đạo và đặc trưng Nó thể hiện ý thức trách nhiệm trước lịch sử, chủ động dùng thơ như một vũ khí tinh thần

Vóc nhà thơ đứng ngang tầm chiến luỹ

Bên những dũng sĩ diệt xe tăng ngoài đồng và hạ trực thăng rơi

(Chế Lan Viên)

Tư thế trữ tình của cái tôi sử thi là tư thế đứng ở một tầm cao, tư thế này

còn là tư thế của cái ta cộng đồng: Ta lại viết bài thơ trên báng súng, Ta vì ta

chục triệu người, Chúng muốn biến ta thành tro bụi…Đứng ở vị thế ta, tiếng

nói của cái tôi trữ tình có sức âm vang của hàng ngàn giọng nói Nhà thơ của thời kỳ chống Mỹ đã có sự mở rộng rất đáng kể về không gian và thời gian được chiếm lĩnh trong thơ, nối liền quá khứ lịch sử với hiện tại và tương lai, liên kết dân tộc với thời đại và nhân loại

Nhưng cái tôi sử thi chủ yếu hiện ra trong sự tự nhận thức, phát hiện và

tự thể hiện của dân tộc và nhân dân qua tiếng nói của người đại diện là nhà thơ Nhà thơ thường sử dụng cái tôi với hai bình diện: một mặt, đó là sự tự khẳng định, tự biểu hiện của cộng đồng dân tộc, nhân dân; mặt khác, nhà thơ lại trong vai trò người chiêm ngưỡng, nhìn ngắm, ngợi ca với tất cả sự cảm phục, thành kính và tự hào

Nhờ sự kết hợp hai bình diện này mà cái tôi sử thi trong thơ thời kỳ chống Mỹ rất thống nhất, không đơn điệu, không hoàn toàn thủ tiêu cái tôi

Trang 22

của tác giả cho nên bản sắc và cá tính của mỗi nhà thơ vẫn có chỗ để bộc lộ, phát huy

Cùng với cái tôi sử thi, cái tôi thế hệ là dạng thức tiêu biểu, nổi bật của cái tôi trữ tình trong các nhà thơ trẻ thời kỳ chống Mỹ: Phạm Tiến Duật, Nguyễn Đức Mậu, Nguyễn Khoa Điềm, Dương Hương Ly, Phạm Ngọc Vảnh, Nguyễn Duy, Vương Trọng…

Cái tôi thế hệ thể hiện cách nhìn, cách cảm riêng của đội ngũ trẻ tuổi gánh trên vai những thử thách nặng nề nhất của cuộc chiến tranh, với những

gian lao, hy sinh mà họ nếm trải đến tận cùng xương thịt

Nếu như cái tôi sử thi thường giấu mình để nói tiếng nói của cái ta, thì cái tôi thế hệ lại hiện diện như một cái tôi chủ thể nhìn vào bản thân Nhân vật trữ tình trong cách thể hiện sử thi thường là những người anh hùng trong những thời điểm chói sáng của chiến công, còn nhân vật trữ tình trong thơ của thế hệ này là cái tôi - chúng tôi - thế hệ chúng tôi, những người lính bình thường, vô danh

Cái tôi thế hệ, bằng cách chiếm lĩnh hiện thực riêng, là sự tăng cường và

bổ sung quí báu phẩm chất hiện thực cho nền thơ chống Mỹ Cái tôi ấy là sự tiếp nối và gần gũi cái tôi hành động, cái tôi hiện thực và dòng thơ đội viên thời kỳ kháng chiến chống Pháp Tầm vóc mới của nó là sự trưởng thành ý thức của cả một thế hệ, nó không hoà tan vào cộng đồng nhờ ý thức rõ rệt về bản thể - cá nhân và số phận thế hệ, để rồi từ điểm xuất phát ấy mà suy ngẫm

về những vấn đề sinh tồn của dân tộc

Cùng với cái tôi sử thi, cái tôi thế hệ, tính chính luận, chất suy tưởng triết

lý và gia tăng chất liệu hiện thực đời sống là những xu hướng chính trong sự vận động phát triển của thơ thời kỳ này

Trang 23

Nhà thơ vừa như một nhà tuyên truyền, cổ động, lại vừa là nhà tư tưởng, người nghệ sỹ để phát hiện, khám phá và say mê khẳng định Tổ quốc, dân tộc, nhân dân, thời đại.Chưa bao giờ trong thơ có nhu cầu khám phá và khẳng định truyền thống dân tộc và phẩm chất con người Việt Nam như ở thời kỳ kháng chiến chống Mỹ

Tính chính luận và chất triết lý, suy tưởng là đặc điểm nổi bật trong thơ của các nhà thơ lớp trước nay thấm đượm cả trong thơ các nhà thơ trẻ Sự đóng góp quan trọng của các nhà thơ trẻ chính là việc gia tăng chất liệu hiện thực đời sống, tạo cho thơ chiếm lĩnh thực tại bộn bè, phong phú và đa dạng của hiện thực chiến tranh Họ đưa vào thơ của mình những chi tiết chân thực, sinh động và đặc sắc về cuộc sống của chiến trường, những sinh hoạt của người lính, niềm vui và nỗi đau của họ Đó là hình ảnh của chiếc xe không

kính - Phạm Tiến Duật; mái tăng Bầu trời vuông của Nguyễn Duy…Xu

hướng đưa chất liệu hiện thực đời sống vào thơ đã tạo cho thơ những năm chống Mỹ có được sự nhuần nhuyễn giữa ngoại cảnh với nội tâm, miêu tả và biểu hiện, cụ thể và khái quát

2.5 Sự phân hoá của cái tôi trữ tình trong thơ từ sau 1975

Năm 1975, là dấu ấn quan trọng trong lịch sử đấu tranh chống giặc giữ nước của dân tộc Nước nhà thống nhất, nhân dân xây dựng cuộc sống mới trong hoà bình Bối cảnh xã hội mới đã ảnh hưởng tới sự sáng tạo nghệ thuật nói chung và văn học nói riêng Trong thơ không còn sự tồn tại của một loại hình cái tôi nghệ thuật, nhiều người đã nói đến một sự khủng hoảng của thơ như số lượng, phong cách, giọng điệu, sự nổi lên đột ngột của một số “hiện tượng”, các ý kiến phê bình và đánh giá trái ngược quanh một bài thơ, một tập thơ; những cuộc tranh cãi không dứt về các vấn đề tính dân tộc, tính hiện đại,

sự tìm tòi hình thức trong thơ…Sự phân hoá này phản ánh tính phức tạp và đa

Trang 24

dạng của đời sống tinh thần xã hội và có ý nghĩa như một sự vận động tích cực của chủ thể sáng tạo để từng bước định hình diện mạo cái tôi trữ tình của một giai đoạn mới

Chúng ta có thể nhận thấy hai động lực cơ bản trong sự vận động cái tôi trữ tình ở giai đoạn này:

Một là, sự hình thành con người cá nhân như một thực tế lịch sử và như một phạm trù văn hoá trên cơ sở quan niệm xã hội mới về con người

Hai là, sự giải phóng mạnh mẽ các năng lượng cá nhân trong đó có năng lượng sáng tạo nghệ thuật - một hiện tượng có ý nghĩa lịch sử trong đời sống văn hoá dân tộc

Sau chiến tranh, âm hưởng sử thi vẫn tiếp tục là nguồn nuôi dưỡng tinh thần thơ ca sau 1975 Bề ngoài, cái tôi sử thi dường như vẫn tiếp tục quán tính của giai đoạn trước, ít có sự biến đổi Nhưng ở bề sâu, có thể thấy một sự vận động thầm lặng và bền bỉ của cái tôi trữ tình sử thi nhằm đạt đến một chất lượng và chiều sâu mới

Những dấu hiệu đổi mới trong thơ được ghi nhận trước hết ở những cây bút thuộc nhà thơ trực tiếp đứng ở mũi nhọn của cuộc chiến tranh chống Mỹ phát ngôn nhân danh cái tôi thế hệ Song cái tôi chủ thể vẫn là cái tôi sử thi, cái tôi thế hệ

Sau 1975, thơ bắt vào các chủ đề thế sự với cái nhìn khách quan Một quan niệm mới về sứ mệnh nhà thơ được hình thành qua những tuyên ngôn:

“Hãy áp tải sự thật - Đến những bến cuối cùng” (Trần Nhuận Minh) “Cái đẹp

là sự thật - Hơn cả tắm trong nước là tắm trong ý nghĩ” (Thanh Thảo) Thơ

có khi đi sát với ký, ghi chép, mô tả về sự thật xã hội, nhịp cùng với tiếng nói

“chống tiêu cực” sôi nổi một thời

Trang 25

Hiện thực bao trùm sau chiến tranh là hiện thực đời sống của cả dân tộc đối mặt với những khó khăn thời hậu chiến Từ bỏ chỗ đứng cao cả của cái tôi

sử thi, tư thế trữ tình của nhà thơ là tư thế người trong cuộc, tư thế một người

trong muôn người giữa sinh hoạt xô bồ của đời thường “Một câu thơ chống

đỡ mấy mạng người” (Nguyễn Duy)

Khác với những năm trước, thơ trữ tình từ những năm 80, đặc biệt từ sau thời kỳ đổi mới (1986), là sự bừng tỉnh ý thức về cái tôi cá nhân Đi tìm mình

và khẳng định mình trở thành một khát vọng âm thầm nhưng mãnh liệt Từ nội dung lịch sử - dân tộc như một đề tài bao quát, thơ trở về với thể tài đời

tư Ngay nhiều tên gọi của nhiều tập thơ, bài thơ cũng nói lên sức hút của chủ

đề này: Mình anh trong một thế giới (Trần Mạnh Hảo); Người đi tìm mặt (Hoàng Hưng); Tôi gọi tên tôi (Đinh Thị Thu Vân); Tôi tìm đến tôi (Tạ Hữu Yên) Ở phần trên chúng tôi đã đề cập tới sự “ra đi” của nhân vật trong thơ ở các giai đoạn trước thì giờ đây, sự “trở về” trở thành một môtíp ám ảnh trong

thơ Trở về với quá khứ, trở về với kỷ niệm, với thiên nhiên, với cái đánh mất,

cái lãng quên: “Tôi trở về ngủ dưới vầng trăng”; Tôi về chơi với ngọn đồi cỏ

may”; “Em trở về đúng nghĩa trái tim em”…Hành trình trở về cũng đồng thời

mở ra thế giới nội tâm của cái tôi cá nhân với muôn vàn sắc thái

Trong thơ là hình ảnh cá nhân hiện hữu với mọi khía cạnh tinh thần của

nó Câu hỏi “ta là ai” lại trở về day dứt trong thơ Chế Lan Viên Một cái tôi

nhỏ bé, hữu hạn “Tôi nhỏ nhoi tồn tại chính mình - Nhân danh một chính

mình tồn tại” (Thạch Quỳ); “Đất rộng quá và bầu trời rộng quá - Con lặng ngồi bé nhỏ trước hoàng hôn (Võ Văn Trực) Chưa bao giờ nỗi buồn và sự cô

đơn trở thành những chủ đề được thể hiện đậm nét trong thơ đến thế

Trong nỗi buồn và cô đơn của cái tôi cá nhân ấy, có thể nhận ra những triết lý về thân phận và con người Đồng thời từ góc độ nhân bản, có thể xem

Trang 26

đó như sự nhạy cảm trước mọi nỗi đau nhân thế, trước sự không hoàn thiện

của cuộc sống, có lúc cái tôi ấy cũng đã tìm đến những cảm giác siêu nghiệm

về cái chết: “chết trong nỗi buồn - chết như từng giọt sương - rơi không thành

tiếng” (Lâm Thị Mỹ Dạ)

Cuối cùng cần nhận diện thêm cái tôi sáng tạo mang màu sắc của chủ

nghĩa hiện đại và hậu hiện đại vào thập kỷ cuối cùng của thế kỷ XX đã xuất

hiện hàng loạt các tập thơ như: 36 bài tình (Lê Đạt - Dương Tường); Ngựa

biển, Người đi tìm mặt (Hoàng Hưng); Bóng chữ (Lê Đạt); Bến lạ (Đặng Đình

Hưng) và đã gây ra sự phản ứng ở độc giả và một số nhà nghiên cứu và phê

bình văn học

Về cơ bản, đó là cái tôi duy ngã tìm cách phát lộ mình thông qua cái tôi

sáng tạo ngôn từ Nó tìm đến cách “nói” tượng trưng, đến siêu nghiệm, đến

Vô thức, tâm linh Trong thơ họ, cả người sáng tạo lẫn người tiếp nhận, lý trí

không còn là chỗ dựa, hơn nữa, phải gạt bỏ nó đi trong cuộc phiêu lưu vào vô

thức tìm cảm giác trong Bóng chữ (Lê Đạt)

Không coi hiện thực như một giá trị hiện hữu của cá nhân nên cũng

không cần đến những thao tác ý thức như quan sát, chọn lọc, mô tả…mà hiện

thực nào cũng là của thơ, và chỉ trực giác nhận ra nó, biến nó thành thơ

Trăng vỗ ô hô trúc bạch Bước động ngày thon róc rách

(Lê Đạt)

Ta có thể gặp llềnh nước, lli, lloang, llưng trong thơ Dương Tường; vú

mầm, trời mênh chim, hai con trắng dê, ngựa quần cộc trong thơ Lê Đạt…

Trang 27

Có thể nói rằng dạng thức cái tôi sáng tạo này không thuyết phục nếu không muốn nói nó còn những biểu hiện phản thẩm mỹ, gây phản cảm ở người đọc

* *

* Như vậy, sự hiện diện và vận động của cái tôi trữ tình trong thơ Việt Nam từ sau Cách mạng tháng Tám đến nay thể hiện trên cả chiều lịch đại và bình diện đồng đại Các dạng thức cái tôi trữ tình vừa kế tiếp, chuyển hoá lẫn nhau, vừa đồng thời dàn ra chiếm lĩnh mặt bằng thơ ca Một dạng thức cái tôi

có thể trở thành đậm nét trong một thời điểm, và sau đó là vai trò của một cái tôi khác Cái tôi sử thi vẫn tiếp tục vị trí chủ đạo trong thơ 1975 - 1980; cái tôi hiện thực thế sự nổi trội khoảng những năm 80 với tinh thần nhìn thẳng vào thực trạng cuộc sống; cái tôi cá nhân phát huy mạnh mẽ từ sau thời kỳ đổi mới; cái tôi sáng tạo ngôn từ có hình thù rõ nét trong vài năm trở lại đây và cũng lắng dần; cái tôi của những giá trị truyền thống - nhân bản được tích luỹ dần dà trong suốt quá trình vận động thơ và ngày càng có ý nghĩa quan trọng trong đời sống thơ ca…Xu hướng chung của thơ là đi từ những bột phát, cực đoan đến ổn định, cân bằng; từ cảm quan mang nặng tính xã hội chuyển dần sang cảm quan nghệ thuật

Có thể khẳng định: hơn nửa thế kỷ nay, thơ Việt Nam nói chung và thơ Nguyễn Duy nói riêng đã trải qua nhiều biến động Sự vận động của cái tôi trữ tình là một nhu cầu tự thân, có quy luật Khát vọng đổi mới đã thôi thúc các nhà thơ tìm kiếm những con đường khắc phục lối mòn ngôn ngữ Những

cố gắng có thể thành công hoặc thất bại, nhưng tất cả đều góp phần đánh thức những khả năng có thể mở rộng phạm vi của cái tôi trong thơ đưa tiếng nói trữ tình vào đời sống dân chủ của thể loại

Trang 29

Chương 2

NỘI DUNG CÁI TÔI TRỮ TÌNH TRONG THƠ NGUYỄN DUY

1 QUÁ TRÌNH SÁNG TÁC CỦA NGUYỄN DUY

Quá trình sáng tác của Nguyễn Duy có thể chia làm hai thời kỳ: Trước Thời kỳ Đổi mới (1986) và Thời kỳ Đổi mới (1986) đến nay

1.1 Trước thời kỳ đổi mới

Cát trắng là tập thơ đầu tay của Nguyễn Duy Mặc dầu là sản phẩm

“trình làng” nhưng Nguyễn Duy đã tự khẳng định mình với tư cách là một cây bút trẻ nhưng đã đạt giải nhất Cuộc thi thơ tuần báo Văn nghệ (1972-1973) Trước đó, năm 1965, giải thưởng này đã thuộc về nhà thơ Phạm Tiến Duật - người được coi là đại diện xuất sắc nhất, lá cờ đầu của thơ chống Mỹ cứu nước

Với Cát trắng Nguyễn Duy được chú ý đến như một gương mặt thơ có

hồn sắc Thơ anh “thường hay cảm xúc và suy nghĩ trước những chuyện lớn, chuyện nhỏ quanh mình Cái điều ở người khác có thể chỉ là thoáng qua thì ở anh nó lắng sâu và dường như dừng lại…Dầu sao cũng chỉ là bước mở đầu, thơ anh có thể còn nhiều hứa hẹn” (Hoài Thanh - Báo Văn nghệ ngày 14/4/1972)

Quả không nhầm với lời “tiên đoán” của Hoài Thanh, năm 1984, với tập

Ánh trăng sự nghiệp thi ca của Nguyễn Duy thêm một lần “toả sáng” Đó là

giải A cùng với Hoa trên đá của Chế Lan Viên trong giải thưởng của Hội

Nhà văn

Trang 30

Thời kỳ này thơ trữ tình Nguyễn Duy mang nặng ý thức trách nhiệm của thế hệ mình trước vận mệnh của Tổ quốc Những vần thơ được sinh ra từ lửa đạn, mang theo hơi thở chiến trường, mang theo nhịp đập của trái tim của một tâm hồn trẻ trung sôi nổi:

Hướng mũi thép là tim thù, không đổi Thắng lợi này không riêng cho đời ta hôm nay Cho dù anh mất một cánh tay

Em mang vết sẹo dài trên má

Ta quyết giữ lành nguyên dáng đứng người làm chủ…

(Khẩu súng trên tay ta)

Cái tôi ấy cũng rất trăn trở, suy ngẫm nhưng vẫn mang màu sắc sử thi:

“Là ta ta hát những lời của ta” Đó là cái tôi chung, cái ta của thế hệ trẻ

Tuy nhiên xu hướng chung của quá trình vận động thơ ca Việt Nam từ sau 1975 là đi từ cái tôi sử thi đến cái tôi thế sự Giọng thơ trữ tình từ sau

1975 đã bớt đi ít nhiều chất mượt mà, ngôn ngữ hoa mĩ, trau chuốt Thêm vào

đó là sự xuất hiện “chất đời thường” trước sự tác động của hiện thực cuộc sống “Nguyễn Duy không đóng vai một triết gia đạo đức mang cái nhìn và giọng điệu ngợi ca hay phê phán lạnh lùng” [19, tr62] Trong thơ, anh thường giãi bày lòng mình bằng tất cả những bộn bề của hiện thực để tự nó lộ ra chất thơ của đời sống Đằng sau cái tôi đằm thắm, trữ tình của thuở ban đầu thơ Nguyễn Duy còn có một cái gì trăn trở, ngậm ngùi, giàu cảm xúc trước hiện thực Anh thường ngắm nhìn sự vật từ góc khuất Từ hình ảnh cây tre, cây sim với những đặc điểm tự nhiên của nó được nhà thơ khái quát, liên tưởng đến phẩm chất của con người Việt Nam chịu thương, chịu khó, giàu lòng nhân ái

và cũng vô cùng kiên trung, bất khuất (Tre Việt Nam, Trận địa tím…) Yếu tố

Trang 31

tự sự trong thơ Nguyễn Duy đã bớt đi liều lượng đáng kể Điều này thể hiện

rõ trong tập Đường xa - 1985

I.2 Thời kỳ Đổi mới đến nay

Khát vọng xã hội cao cả nhất của giai đoạn 1945 - 1975 là nhu cầu độc lập tự do Khát vọng bức thiết nhất, đau đáu nhất của con người Việt Nam giai đoạn 1980 - 1990 là khát vọng dân chủ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ

VI (1986) đã thổi một luồng sinh khí mới vào đời sống tinh thần của xã hội Văn học nghệ thuật cũng vì thế mà nhập vào dòng chuyển động ấy Thơ trữ tình, giờ đây chuyển hướng mạnh mẽ vào chủ đề chính là các vấn đề về xã hội, nhân thế Nhà thơ đặt lên hàng đầu những suy nghĩ cá nhân và bộc lộ chính kiến của mình

Tuy nhiên ở giai đoạn này thơ Nguyễn Duy không dừng lại ở đề tài Đọc

các bài thơ đầy ấn tượng như: Đánh thức tiềm lực, Bấm đốt ngón tay, bán

vàng, Nấp vào bóng mình…sẽ thấy, thơ Nguyễn Duy không dửng dưng với số

phận riêng chung của cộng đồng:

Thôi thì… bán bớt đi một ít vàng ròng

Để sống được qua ngày gian khổ đã

Phải sống được qua cái thời nghiệt ngã

Để khối vàng đây chỉ đổi lấy mây trời…

“Bán vàng là một cách tự diễu mình, răn mình đừng bán thơ, bán mình”

(31) Chỉ trong hơn mười năm Nguyễn Duy đã có được nhiều tập thơ hay: Đãi

cát tìm vàng (1987); Mẹ và em (1987); Đường xa (1989); Quà tặng (1990); Sáu và tám (1994); Về (1994); Tình tang (1995); Vợ ơi (1995); Bụi (1997); Thơ Nguyễn Duy (tuyển chọn) (1998)…Đặc biệt, thơ Nguyễn Duy gợi cho ta

Trang 32

nắm bắt được những đường nét vô hình mong manh trong tiềm thức ở người đọc Đây cũng là thời kỳ mà chất thơ lục bát của Nguyễn Duy phát lộ Anh đã

sử dụng thơ lục bát để thuần hoá chất liệu cập nhật của đời sống đạt đến độ thâm thuý và điêu luyện:

Tôi về xứ Huế chiều mưa

Em ơi áo trắng bây giờ ở đâu Bến Tuần loáng thoáng hàng dâu

Em xa vườn lựu từ lâu lắm rồi Lối mòn đá cuội rong chơi

Lơ thơ trắng dưới chân đồi hoa mơ Lan báo hỉ nở tình cờ

Bông ngô đồng rụng xuống bờ Hương Giang

(Nhớ bạn)

Thơ Nguyễn Duy sau chiến tranh dù viết về đề tài cuộc sống mới, nhưng nơi neo thả hồn thơ vẫn là những cánh rừng thời ôm súng, những miền quê

“chập chờn nguồn cội” Nhưng bài thơ thuộc loại hay nhất của tác giả những

năm tám mươi như Ánh trăng, Đò lèn…mang cái hồn quê, hồn rừng ấy mà trụ

lại với thời gian

Quá trình sáng tác của Nguyễn Duy là con đường tìm kiếm và mở rộng

phạm vi biểu hiện của cái tôi trữ tình Tập thơ Bụi (1997) thấm đượm giọng

trào lộng Tuy nhiên sau những lời đùa cợt, ngông nghênh, phúng dụ, tự trào kia, là tâm sự và tâm trạng nhà thơ thường tự lộn trái phần cá nhân của mình, trải ra trên trang giấy để bỡn cợt Chính vì thế, trào lộng trong thơ Nguyễn

Trang 33

Duy là một cách lý giải con người và đời sống bằng âm thanh và nhịp điệu,

là thể hiện một thái độ thẩm mỹ trước hiện thực

Quá trình sáng tác của Nguyễn Duy sẽ được cụ thể hơn khi ta phân tích cái tôi trữ tình trong thơ của anh

2 NỘI DUNG CÁI TÔI TRỮ TÌNH TRONG THƠ NGUYỄN DUY

2.1 Cái tôi thế hệ

Cái tôi thế hệ mang màu sắc sử thi hay cũng có thể gọi là cái tôi sử thi trong thơ Nguyễn Duy, xuất hiện chủ yếu ở những sáng tác trước những năm

80, nhất là ở trong tập Cát trắng (Nxb Quân đội nhân dân, 1973) và tập Ánh

trăng (Nxb Tác phẩm mới, 1984) Chủ đề về đất nước trong chiến tranh và

xây dựng là những chủ đề lớn được đề cập đến Cái tôi trữ tình lúc này là cái tôi hướng vào cuộc sống chiến đấu và lao động sáng tạo để khám phá sức mạnh tiềm ẩn của dân tộc nói chung và của thế hệ trẻ nói riêng

Nhân vật trữ tình trung tâm dung chứa cái tôi sử thi trong thơ Nguyễn Duy là người lính Tế Hanh và Từ Sơn đánh giá cao những bài thơ viết về người lính trên những nẻo đường chiến tranh của Nguyễn Duy: “Những câu thơ anh viết về bộ đội về cuộc đời quân nhân vẫn là những câu thơ thấm thía nhất “[25] Chủ đề người lính là chủ đề lớn của văn học Việt Nam 1945 -

1975 Bằng cảm hứng lãng mạn mang màu sắc sử thi, các nhà thơ Việt Nam

đã từng tôn vinh người lính, xây dựng họ trở thành những hình tượng mang sức mạnh cộng đồng với vẻ đẹp đầy màu sắc huyền thoại mới về cuộc chiến tranh giải phóng:

Những đường Việt Bắc của ta Đêm đêm rầm rập như là đất rung

Trang 34

Quân đi điệp điệp trùng trùng Ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan

Có lẽ ít ai không nhớ đến câu thơ nổi tiếng một thời: “Đường ra trận

mùa này đẹp lắm” trong bài Trường Sơn đông-Trường Sơn Tây và những câu

thơ viết về người lính lái xe trong Tiểu đội xe không kính của Phạm Tiến

Duật:

Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước Chỉ cần trong xe có một trái tim Nguyễn Duy cũng nói về thế hệ mình nhưng với cái nhìn sâu lắng và chất phác hơn Cái tôi thế hệ trong thơ anh không đứng từ xa để chiêm ngưỡng mà là cái nhìn trực tiếp của người trong cuộc nói lên những suy nghĩ tình cảm của chính mình và hát những lời của chính mình, trên quê hương đất nước của chính mình:

Quê hương đây sau trận đánh lấp ngày

Có thảm suối chiều mát xanh tôi tắm Khi đàn chim chiều sà vào kính ngắm Đầu súng cụng trời tung muôn giọt sao

(Chiều khẩu đội) Mái tăng trên đầu họ cho là “bầu trời vuông” và dưới “bầu trời ấy sự sống

vẫn tiếp tục một cuộc sống tươi trẻ với tất cả những gì thân thương bình dị đời thường

Khoái nào bằng phút ngả lưng

Mở trang thư dưới bóng rừng đung đưa

Trang 35

Trời vuông vuông suốt bốn mùa nắng xanh

(Bầu trời vuông)

Cái tôi sử thi trong thơ Nguyễn Duy luôn lắng nghe và trân trọng những khoảnh khắc đời thường của những người lính Người lính từ nhân dân Hiểu điều đó, Nguyễn Duy ca ngợi đoàn quân hành quân trong đêm một cách lặng

thầm chỉ để lại dấu chân vì “giấc ngủ những người thương” trong bài Dấu

chân người lính Người lính trong cái rét thấm sâu không ngủ được vì trăn

trở:

Giọt sương muối co ro đầu nhành mạ Nhức nhói bàn chân phì phọp thở trong bùn

(Lời ấm áp nói từ trong gió lạnh)

Chất sử thi ở cái tôi trữ tình Nguyễn Duy còn bộc lộ ở niềm tự hào dân tộc Cái tôi ấy thường nhìn vào chiều sâu của sự vật và hiện tượng gần gũi, bình thường để lồng vào đó chiều sâu lịch sử và văn hoá dân tộc, từ đó khái quát lên những phẩm chất dân tộc, niềm lạc quan, tin tưởng vào tương lai đất

nước Tiêu biểu cho phương diện này là cái tôi sử thi trong bài Tre Việt Nam

Cái tôi trữ tình của Nguyễn Duy đã thổi hồn vào cây tre để khái quát lên phẩm chất của cả một thế hệ, của cả một dân tộc: đoàn kết, cần cù, nhân hậu, bất khuất, dũng cảm Tre được coi là biểu tượng của sức mạnh quật khởi Trong truyền thuyết Thánh Gióng, tre là vũ khí đánh giặc Trong kháng chiến, nhân dân lấy tre làm chông nhưng nhìn tre ở khía cạnh đời thường để khái quát nên phẩm chất của dân tộc thì chỉ có Nguyễn Duy Nguyễn Duy còn nhìn thấy “tầm vóc” sử thi của cây tre ở sự vất vả lam lũ mà nhân hậu, bao dung:

Thân gầy guộc, lá mong manh

Mà sao nên luỹ, nên thành tre ơi !

Trang 36

…Bão bùng thân bọc lấy thân Lưng trần phơi nắng, phơi sương

Có manh áo cộc tre nhường cho con…

(Tre Việt Nam)

Có thể nói, trên con đường khẳng định chân dung của tuổi trẻ chiến đấu, cái tôi thế hệ - một dạng thức của cái tôi sử thi trong thơ Nguyễn Duy đã thành công khi khái quát được sức mạnh trường tồn và bất diệt của nhân dân tồn tại trong không gian và thời gian, cội nguồn những chiến thắng của dân tộc

Nếu nhìn một cách tổng quát, thơ trẻ thời chống Mỹ có thể chia làm ba thời kỳ Mỗi chặng đường có những nét riêng găn liền với sự xuất hiện của những cây bút tiêu biểu Ở chặng đầu tiên là sự xuất hiện của các cây bút tiêu biểu như Bằng Việt, Xuân Quỳnh, Lưu Quang Vũ, Lê Anh Xuân, Nguyễn

Mỹ, Phạm Ngọc Cảnh, Vũ Quần Phương…Tiếng thơ của họ ở thời kỳ này vừa trẻ trung, tươi tắn vừa bồng bột sôi nổi trong khát vọng ra trận của tuổi trẻ

Nguyễn Duy xuất hiện ở chặng thứ hai (từ khoảng 1969 đến năm 1973) cùng với các tên tuổi như Phạm Tiến Duật, Hoàng Nhuận Cầm, Lâm Thị Mỹ Dạ…Chính sáng tác của những nhà thơ trẻ này đã góp phần đưa nền thơ ca chống Mỹ phát triển đến đỉnh cao, làm thay đổi cả bộ mặt của nền thơ chống

Mỹ

Trong chặng đường này, Nguyễn Duy đã cùng họ thực sự khẳng định tiếng nói riêng của thế hệ mình qua những vần thơ giàu chi tiết chân thực, sinh động như vẫn còn vương bụi chiến trường và mùi khói lửa của bom đạn Cảm hứng thơ vì thế càng trở nên mãnh liệt, sôi nổi và sâu sắc hơn Ý thức về

Trang 37

cái tôi thế hệ của những nhà thơ trẻ cũng rõ rệt hơn ở chặng đường trước Sự thống nhất cao độ giữa ý thức của nhà thơ với trách nhiệm công dân, tư cách người chiến sỹ cầm súng đã tạo nên những trang thơ của Nguyễn Duy một chiều sâu mới trong nhận thức và trong tình cảm Cái tôi thế hệ trong thơ Nguyễn Duy thấm thía hơn thực tế chiến tranh, càng thấy mình gắn bó sâu nặng hơn với nhân dân, đất nước Thơ Nguyễn Duy là tiếng lòng của những người con trực tiếp cầm súng, lấy máu của mình để giữ gìn, bảo vệ non sông

Hơi ấm ổ rơm của Nguyễn Duy đã nói lên một cách thấm thía và đầy xúc

động thiêng liêng, sâu nặng:

Rơm vàng bọc tôi như kén bọc tằm Tôi thao thức trong hương mật ong của ruộng Trong hơi ấm hơn nhiều chăn đệm

Của những cọng rơm xơ xác gày gò

Cái tôi thế hệ trong thơ chống Mỹ ở chặng đường này nói chung và trong thơ Nguyễn Duy nói riêng đã đạt tới chiều sâu của suy nghĩ và tầm cao của sự

khái quát Từ “hơi ấm ổ rơm”, bằng hình ảnh “rơm vàng bọc tôi như kén bọc

tằm”, Nguyễn Duy đã nói lên một cách thấm thía, sự gắn bó máu thịt của

mình, của thế hệ mình với nhân dân và đất nước, đạt tới chiều sâu nhân bản trong việc thể hiện con người trong chiến tranh

2.2 Cái tôi thế sự và đời tư

Cái tôi thế sự và đời tư trong thơ Nguyễn Duy có một vị trí quan trọng

và chiếm một số lượng lớn trong sáng tác của nhà thơ Sự đa dạng trong cách biểu hiện, ở nhiều khía cạnh song tất cả được “trộn lẫn” thành một thể thống nhất khó phân tách Việc phân tích cái tôi thế sự và đời tư trong thơ Nguyễn

Trang 38

Duy ra thành những nội dung chi tiết chỉ là tạm thời và mang tính chất ước

lệ nhằm diễn đạt sự mở rộng phạm vi biểu hiện của con người bằng nghệ thuật

2.2.1 Cái tôi tự nhận thức

Bản chất thơ trữ tình là ý thức về cái tôi, về giá trị bản thân về quyền sống, quyền làm người Con người trữ tình hiện nay đang trăn trở kiếm tìm và khát vọng điều gì? Họ suy nghĩ, hành động như thế nào? trả lời được những câu hỏi này thì thơ mới hoà nhập được với hơi thở của thời đại Bởi thơ phải

“tìm thấy sức mạnh của mình trong lịch sử đang xảy ra trong đời sống, đời sống của những con người này đặt ra” (Lui Aragông)

“Bước vào giai đoạn mới, nhiều nhà thơ vừa tự phát hiện thêm mình, tự thấy sự xơ cứng của những lối mòn công thức, sơ lược, giả tạo, đồng thời xác định trách nhiệm và vai trò của nhà thơ đối với lịch sử Điều này được thể hiện trên hai phương diện: Các vấn đề xã hội với tư cách công dân và những vấn đề đời sống cá nhân với tư cách một cá tính Trong đó, sự thành thực được coi là cội nguồn là khuynh hướng nội dung trữ tình” [38, tr.81]

Từ những năm 80, xã hội có những chuyển động mạnh mẽ, con người hoang mang trước sự đổi thay của đời sống và sự đảo lộn của những giá trị, những quan hệ chuẩn mực cũ Trong thơ Nguyễn Duy xuất hiện giọng nói không thuần khiết và cái nhìn “giả cổ tích” như là sự “nhận thức lại”điều chỉnh lại cái nhìn nghệ thuật về hiện thực:

Tôi trong suốt giữa hai bờ hư thực Giữa bà tôi và Tiên Phật Thánh Thần

Trang 39

Là người đã sống trải nghiệm qua cuộc chiến tranh, nhà thơ muốn nhận thức một cách nhân bản hơn về nỗi đau, những mất mát có thực của chính mình và của cộng đồng:

Mấy đời xương trắng hoá vôi Tro tàn âm ỷ mấy thời chiến tranh Tiếp đó là những cảm nhận về trạng thái xã hội hiện tại với những khiếm khuyết, băng hoại về môi trường và nhân cách, chứa đầy những thông tin nhức nhối, xót xa về những con người cụ thể, bộc lộ trước hết qua cuộc đời

những người thân: bà tôi, bố tôi, mẹ tôi, vợ tôi, em tôi…(Bán vàng)

Cái tôi nhận ra sự nhỏ bé của con người gắn với những sự vật rất tầm thường:

Người ta là cái gì đâu Hạt cát

Viên đá Chiếc lá Cọng cỏ…

(Viếng hoạ sỹ Nguyễn Sáng)

Thực ra triết lý cuộc đời nhỏ bé phù du đã được nhà Phật nói đến từ lâu nhưng ở đây, Nguyễn Duy không nhắc lại mà là tự chiêm nghiệm, thức tỉnh,

tự nhận thức và suy ngẫm Tuy nhiên nhà thơ không phủ nhận mà là khẳng định mình:

Dù tới đâu dù dạt bến nào Thấy hạt cát có cái gì bất diệt

(Dòng sông mẹ)

Trang 40

Sự thức tỉnh này tưởng như không có gì là to tát, cao siêu nhưng đối với một nhà thơ nó lại rất có ý nghĩa Bởi từ đó nhà thơ nhận thêm ra rằng thơ ca phải chắt ra từ sự sống hồn nhiên bình dị chứ không phải là một mớ triết lý suông:

Ta quàu quạu học đòi triết gia táo bón Những câu thơ nhăn nhó nhọc nhằn Quên rằng sự sống rất hồn nhiên Quên rằng cô bé nhà bên

Tiềm lực sống chả cần ai đánh thức

(Cô bé nhà bên)

Những năm gần đây, Nguyễn Duy đúc rút bằng thơ những triết lý về cuộc sống - cái triết lý được đánh đổi bằng chính cuộc đời cầm bút Nguyễn Duy nói hộ mọi người:

Thời thơ ấu không thể nào đánh đổi Trọn kiếp người ta chập chờn nguồn cội

Có một miền quê trong đi đứng nói cười Tuổi thơ nào cũng sẽ hiện ra thôi

Dù chúng ta cứ việc già nua tất

(Tuổi thơ)

Đọc những lời tự vấn của nhà thơ, người đọc như nghe được chính những lời nói tâm linh mình Và đôi khi ta không khỏi giật mình để rồi tự ngẫm:

Gỗ sồi già nói:

Ngày đăng: 27/07/2021, 16:09

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w