Với đặc tr-ng ngữ nghĩa riêng biệt, khi đi vào thơ ca từ láy đã trở thành một trong những công cụ tạo hình rất đắc lực, vừa tăng khả năng diễn đạt một cách chính xác những biến thái tinh
Trang 1Lời nói đầu
Láy là một ph-ơng thức cấu tạo từ đặc sắc góp phần làm nên sự phong phú đa dạng cho kho từ vững tiếng Việt Với đặc tr-ng ngữ nghĩa riêng biệt, khi đi vào thơ ca từ láy đã trở thành một trong những công cụ tạo hình rất đắc lực, vừa tăng khả năng diễn đạt một cách chính xác những biến thái tinh vi của cảnh vật và cảm xúc con ng-ời vừa góp phần tạo tính nhạc cho mỗi câu thơ
Vệ vậy nghiên cữu đẹ t¯i “Từ láy trong thơ Huy cận” chũng tôi muồn góp
một phần nhỏ vào việc khám phá cái hay cái đẹp của thơ Huy Cận nói riêng và thơ ca nói chung từ h-ớng ngôn ngữ
Trong quá trình thực hiện đề tài này, ngoài việc nỗ lực của bản thân, em còn nhận đ-ợc sự giúp đỡ chỉ bảo tận tình của các thầy cô và các bạn, đặc biệt
là sự chỉ dẫn tận tình của thầy giáo Trần Anh Hào Em xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới thầy giáo h-ớng dẫn cùng các thầy cô giáo trong tổ ngôn ngữ đã tạo điều kiện cho em hoàn thành khoá luận này
Tuy nhiên, do trình độ của ng-ời thực hiện đề tài còn có những hạn chế nhất định nên khoá luận này không thể tránh khỏi những thiếu sót Em rất mong nhận đ-ợc sự đóng góp ý kiến của quý thầy cô cùng các bạn để khoá luận này đ-ợc hoàn chỉnh hơn
Ng-ời thực hiện đề tài
Sinh viên: Lê Thị Bích Ph-ợng
Tr-ờng Đại học Vinh
Khoa ngữ văn - -
Lê thị bích ph-ợng
Từ láy trong thơ huy cận
Khoá luận tốt nghiệp đại học Chuyên ngành: ngôn ngữ học
Khoá học: 2002-2006
Vinh 2006
Trang 2Lời nói đầu
Láy là một ph-ơng thức cấu tạo từ đặc sắc, góp phần làm nên sự phong phú, đa dạng cho kho từ vựng tiếng Việt Với đặc tr-ng ngữ nghĩa riêng biệt, khi đi vào thơ ca, từ láy đã trở thành một trong những công cụ tạo hình rất đắc lực, vừa tăng khả năng diễn đạt một cách chính xác những biến thái tinh vi của cảnh vật và cảm xúc con ng-ời, vừa góp tạo nhạc tính cho mỗi câu thơ Vì vậy nghiên cứu đề tài “Từ láy trong thơ Huy Cận“ chúng tôi muốn góp một phần nhỏ vào việc khám phá cái hay, cái đẹp của thơ Huy Cận nói riêng và thơ ca nói chung từ góc độ ngôn ngữ
Trong quá trình thực hiện đề tài này, ngoài việc nỗ lực của bản thân,
em còn nhận đ-ợc sự giúp đỡ, chỉ bảo tận tình của các thầy cô và các bạn,
đặc biệt là sự chỉ dẫn tận tình của thầy giáo Trần Anh Hào Em xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới thầy giáo h-ớng dẫn cùng các thầy cô giáo trong tổ ngôn ngữ đã tạo điều kiện cho em hoàn thành khoá luận này
Tuy nhiên, do trình độ của ng-ời thực hiện đề tài còn có những hạn chế nhất định nên khoá luận này không thể tránh khỏi những thiếu sót
Em rất mong nhận đ-ợc sự đóng góp ý kiến của quý thầy cô cùng các bạn
để khoá luận này đ-ợc hoàn chỉnh hơn
Vinh, tháng 4/2006
Ng-ời thực hiện đề tài
Lê Thị Bích Ph-ợng
Trang 3mở đầu
0.1 Lý do chọn đề tài
Từ láy là một lớp từ đặc sắc, đ-ợc tạo ra từ ph-ơng thức láy, một ph-ơng thức tạo từ độc đáo của tiếng Việt Đối với riêng lĩnh vực văn học nghệ thuật, đặc biệt là thơ ca, từ láy đ-ợc coi là công cụ tạo hình rất đắc lực nhờ vào đặc tr-ng ngữ nghĩa phong phú, đa dạng, có giá trị biểu tr-ng, biểu cảm cao Bên cạnh đó, có thể nói thơ ca cũng là một môi tr-ờng đầy hiệu năng của từ láy, trong đó từ láy có thể phát huy đ-ợc tất cả sức biểu đạt, biểu cảm của mình Vì thế, tìm hiểu từ láy trong tác phẩm văn học không chỉ là một cách tiếp cận đối với một lớp từ chiếm số l-ợng lớn và đặc sắc của tiếng Việt
mà cũng chính là một con đ-ờng để khám phá cái hay cái đẹp của tác phẩm
Thực tế cho thấy, trong nền thơ ca Việt Nam hiện đại, tác giả Huy Cận chiếm một vị trí quan trọng Ông để lại cho nền thơ ca n-ớc nhà một gia tài thơ khá đồ sộ với hơn m-ời lăm tập thơ Hơn nửa thế kỷ cầm bút, Huy Cận không ngừng phấn đấu sáng tạo để có những bài đạt đến đỉnh cao của thành tựu thơ Việt Nam, trở thành tri âm tri kỷ của nhiều bạn đọc Đây cũng là lý do chính khiến thơ Huy Cận trở thành một mảng đề tài lớn thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu, phê bình văn học và những ng-ời yêu cái đẹp của thơ ca trong và ngoài n-ớc Tuy nhiên, vấn đề từ láy trong thơ Huy Cận lại ch-a đ-ợc quan tâm một cách thoả đáng
Bên cạnh đó, ta còn thấy Huy Cận là một nhà thơ có nhiều thi phẩm
đ-ợc đ-a vào giảng dạy trong nhà tr-ờng từ bậc trung học cho đến bậc đại học
Vì thế, khảo sát từ láy trong thơ Huy Cận không chỉ góp phần soi sáng giá trị nghệ thuật ngôn từ mà từ láy đ-a đến cho thi phẩm Huy Cận nói riêng cho thơ ca nói chung mà còn góp phần thiết thực cho việc dạy và học văn cũng nh- từ ngữ (từ láy) trong nhà tr-ờng
Do đó chũng tôi đ± quyễt định chọn đẹ t¯i: “Từ láy trong thơ Huy Cận”
Trang 40.2 Lịch sử vấn đề
Với một sự nghiệp sáng tác đồ sộ gồm hơn m-ời lăm tập thơ có giá trị, Huy Cận đã khẳng định đ-ợc vị trí của mình trong nền thơ ca dân tộc Trải qua một chặng đ-ờng thơ dài hơn sáu thập kỷ, thời kỳ nào thơ Huy Cận cũng thu hút sự chú ý của nhiều nhà nghiên cứu cũng nh- những ng-ời yêu thơ Tới nay đã có hơn tám m-ơi bài tiểu luận viết về thơ Huy Cận từ nhiều góc độ khác nhau nh-ng đều trân trọng những đóng góp của Huy Cận trên cả hai chặng đ-ờng thơ tr-ớc và sau cách mạng Nhiều ý kiến đã lý giải đ-ợc quá trình vận động cảm hứng sáng tạo của Huy Cận qua các tập thơ, phác thảo
đ-ợc những đặc điểm cơ bản phong cách thơ Huy Cận nh- nỗi khắc khoải
không gian, phong vị Đ-ờng thi Đáng chú ý nhất là tập tiểu luận Thế giới
thơ Huy Cận của Xuân Diệu Đi theo các tập thơ, các mảng đề tài chính, Xuân
Diệu đã cảm nhận tinh tế vẻ đẹp của những ý thơ, câu thơ Huy Cận và giúp
ng-ời đọc đi vào thế giới thơ Huy Cận Hay chuyên luận Thi pháp thơ Huy
Cận của Trần Khánh Thành tiếp cận thơ Huy Cận từ mặt thi pháp Nhiều
nhà nghiên cứu phê bình có tên tuổi nh- Vũ Ngọc Phan, Hà Minh Đức, Nguyễn Đăng Mạnh, Trần Đình Sử, Đỗ Lai Thúy đều có những bài tiểu luận sâu sắc về Huy Cận Tuy nhiên, vẫn ch-a có sự quan tâm thoả đáng đến vấn đề từ láy trong thơ Huy Cận mặc dù đây là một trong những công cụ tạo hình đắc lực của thơ ca, biểu hiện khá hiệu quả cảm xúc tâm trạng của nhân vật trữ tình cũng nh- góp phần tăng nhạc tính của câu thơ, bài thơ
Trong Thi pháp thơ Huy Cận, khi tìm hiểu về ph-ơng thức thể hiện của
thơ Huy Cận, tác giả Trần Khánh Thành đã chú ý đến vai trò tác dụng của một
số từ láy trong việc góp phần thể hiện giọng điệu thơ Huy Cận Trần Khánh Thành cho rằng: "Tiếng thơ Xuân Diệu là tiếng nói của một tâm hồn sôi nổi trẻ trung đầy nhiệt huyết Còn Huy Cận thì trầm lắng suy t- e dè kín đáo" [15; 174] Vì thế mà Xuân Diệu cũng dùng nhiều từ láy nh-ng là để tăng c-ờng sức sống động cho cảnh vật: đung đ-a, lơi lả, hây hây, lộng lẫy, quấn quýt, mơn mởn… còn “ Huy Cận l³i dùng nhiều từ láy nh-ng với ý nghĩa giảm nhẹ
cử động và tiếng động: rơi rơi, dìu dịu, lạt lạt, phất phơ, hiu hiu, hiu hắt, mênh
Trang 5mang, mac mác, chơi vơi, vu vơ, nhè nhẹ…”[15; 174] Nó phù hợp với thễ giới
mà Huy Cận đã tạo nên trong "Lửa thiêng", một thế giới ngát h-ơng, lộng lẫy sắc màu t-ơng ứng hoà hợp Đây là thế giới của -ớc mơ, t-ởng t-ợng, dịu êm, hoà hợp và trong thế giới đó, cảnh vật thật êm đềm, tĩnh lặng
Trong Linh hồn và tạo vật trong bài Tràng giang, khi đề cập đến phong
vị Đ-ờng thi của bài thơ "Tràng giang" , cụ thể là qua 2 câu thơ đầu:
“Sóng gợn tr¯ng giang buồn điếp điếp Con thuyẹn xuôi m²i nước song song”
Hà Bình Trị đã khẳng định:"Nghệ thuật dùng từ láy nh- "điệp điệp", "song song" cũng có hiệu quả nhất định gợi âm h-ởng cổ kính gần với thơ xưa” [14; 414]
Hay trong Tràng giang của Huy Cận, Trần Đình Sử đã nhận xét về t-
l²y "dợn dợn” trong câu: "Lòng quê dợn dợn vời con nước": “" Dợn" l¯ gợn lên, nh- ta nói sóng dợn, chỉ một chất lòng xao động, chuyển động dâng lên uốn xuống "Dợn dợn" là dợn liên tục, nhiều lần, không phải là dờn dợn chỉ mức độ dao động thấp (…) Chính vì vậy mà nhà thơ phiền lòng khi thấy ng-ời
ta đọc chếch th¯nh dờn dợn hay rờn rợn l¯m mất nghĩa câu thơ” [14; 410]
Hay Trinh Đ-ờng với Huy Cận, từ Lửa thiêng, trong khi cho rằng
"Tràng giang" là bài nói về kiếp ng-ời đậm nhất, cũng nhận xét về tác dụng của các từ láy trong bài thơ:" Man mác buồn hơn trong từng câu chữ với tám
điệp từ và tính từ kép lấp láy: điệp điệp, song song, lơ thơ, đìu hiu, chót vọt, mênh mông, lặng lẽ ” [14; 240]
Huy Trâm trong Những hàng châu ngọc trong thơ ca hiện đại, khi phân
tích câu thơ " Đồn xa quằn quại bóng cờ" (Chiều x-a) đã nhấn mạnh: "Để tả cái không khí buồn bã của cái đồn binh nơi địa đầu hiu quạnh này, ông lại dùng lối tả thực, mà nét chính nhằm vào bóng cờ đang tung bay phần phật tr-ớc gió Chúng tôi muốn nhấn mạnh vào chữ "quằn quại":
“Đồn xa qu´n qu³i bóng cờ”
Câu thơ rõ r¯ng l¯ không nhắc đễn gió nhưng chử “qu´n qu³i bóng cờ”
đã buộc ta hình dung liền ra cái cảnh đồn lính lẻ loi nơi đồi núi mà quanh năm
Trang 6ngày tháng sống hiu quạnh, chỉ có một hình ảnh sinh động độc nhất là lá cờ cắm trên một cột cao đang phơi mệnh trước gió” [14; 405]
Nh- vậy, trong các công trình, các bài viết về thơ Huy Cận của mình, các nhà nghiên cứu, phê bình đã có đề cập đến từ láy nh-ng mới chỉ chung chung và còn ở mức độ lẻ tẻ hoặc chỉ l-ớt qua, ch-a thực sự nghiên cứu trên cả hai mặt âm và nghĩa Vì vậy, với khoá luận này, chúng tôi muốn đi vào tìm hiểu một cách thấu đáo hơn về từ láy trong thơ Huy Cận
0.3 Đối t-ợng và mục đích nghiên cứu
0.3.1 Đối t-ợng nghiên cứu
Đề tài này có đối t-ợng nghiên cứu là tất cả từ láy đ-ợc sử dụng trong thi phẩm của Huy Cận, về cách dùng cũng nh- tác dụng của nó đối với những bài thơ của Huy Cận
Ngữ liệu về từ láy đ-ợc rút ra từ hai quyển:
- Tuyển tập Huy Cận (tập 1, Nxb Văn học, H,1986)
- Tuyển tập Huy Cận (tập 2, Nxb Văn học, H,1995)
0.3.2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài "Từ láy trong thơ Huy Cận", chúng tôi muốn đạt tới mục đích sau:
- Khảo sát tất cả các tụ l²y có trong hai tập “Tuyền tập Huy Cận”, miêu tả, phân loại các từ láy mà tác giả đã dùng
- Phân tích tác dụng, giá trị ngữ nghĩa mà từ láy đ-a đến cho tác phẩm thơ Huy Cận qua đó khẳng định những thành công của nhà thơ trong việc vận dụng ngôn ngữ dân tộc (từ láy) để sáng tác thơ ca
0.4 Nhiệm vụ của khoá luận
Để đạt tới những mục đích trên, chúng tôi tập trung giải quyết những vấn đề sau:
1 Thống kê, phân loại từ láy trong "Tuyển tập Huy Cận" (2 tập)
Trang 72 Khảo sát miêu tả tất cả các từ láy đã thống kê đ-ợc về cấu tạo, từ loại, vai trò ngữ pháp của chúng trong câu
3 Phân tích vai trò ngữ nghĩa của từ láy trong các tác phẩm thơ Huy Cận để thấy đ-ợc tác dụng to lớn của chúng đối với nội dung và nghệ thuật thơ Huy Cận
0.6 Cấu trúc của khoá luận
Toàn văn khoá luận gồm 63 trang Ngoài phần mở đầu và kết luận, khoá luận gồm 3 ch-ơng:
Ch-ơng 1 : Những vấn đề lý thuyết liên quan đến đề tài
1.1 Về từ láy trong tiếng Việt
Trang 82.3 Vai trß ng÷ ph¸p cña tõ l¸y trong th¬ Huy CËn
Ch-¬ng 3 Vai trß ng÷ nghÜa cña tõ l¸y trong th¬ Huy CËn
3.1 Vai trß cña tõ l¸y trong t¸c phÈm v¨n ch-¬ng
3.2 Vai trß ng÷ nghÜa cña tõ l¸y trong th¬ Huy CËn
3.2.1 Ng÷ nghÜa cña tõ l¸y trong th¬ Huy CËn
3.2.2 HiÖu qu¶ nghÖ thuËt cña tõ l¸y trong th¬ Huy CËn
Trang 9Ch-ơng 1
Những vấn đề lý thuyết liên quan đến đề tài
Tr-ớc khi tiến hành khảo sát về từ láy trong thơ Huy Cận, chúng ta cần phải có một số hiểu biết cơ bản về từ láy tiếng Việt và về thơ Huy Cận
Về từ láy tiếng Việt, cần nắm đ-ợc cách phân loại, đặc điểm cấu tạo và ngữ nghĩa của từ láy
Về thơ Huy Cận, ta cần tìm hiểu một số giá trị nội dung và giá trị nghệ thuật của thơ Huy Cận
Để nắm đ-ợc những kiến thức cơ bản đó, ở ch-ơng 1 này, sơ bộ chúng
ta sẽ đi tìm hiểu những nét chính về từ láy tiếng Việt và đặc điểm thơ Huy Cận
để thấy đ-ợc tác dụng của từ láy trong việc góp phần tăng giá trị biểu đạt, biểu cảm cho những vần thơ của Huy Cận
1.1 Về từ láy trong Tiếng Việt
1.1.1 Khái niệm
Láy là một ph-ơng thức cấu tạo từ quan trọng và phức tạp của tiếng Việt, vì thế nó thu hút sự quan tâm của rất nhiều nhà nghiên cứu Trong Việt ngữ học có rất nhiều tên gọi khác nhau xung quanh khái niệm "từ láy" Đó là
từ phản điệp (Đỗ Hữu Châu), từ lấp láy (Hồ Lê, Nguyễn Nguyên Trứ), từ láy
âm (Nguyễn Tài Cẩn, Nguyễn Văn Tu), từ láy (Đào Thái, Hoàng Tuệ, Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Thiện Giáp, Đỗ Thị Kim Liên) Cách gọi tên khác nhau về cùng một khái niệm cũng cho thấy cách nhìn nhận đối với hiện t-ợng láy không hoàn toàn giống nhau của các nhà nghiên cứu Nhóm tác giả trong "Từ tiễng Viết” đ± kh²i qu²t l³i hai c²ch nhện kh²c nhau đối với hiến tượng l²y
Cách nhìn thứ nhất coi láy là ghép Theo h-ớng này có Lê Văn Lý, Nguyễn Văn Tu, Nguyễn Hiến Lê, Nguyễn Tài Cẩn Họ đã đ-a ra định nghĩa: nễu coi l²y l¯ ghẽp thệ “tụ l²y âm l¯ lo³i tụ ghẽp, trong đó theo con mắt nhện của ng-ời Việt hiện nay, các thành tố trực tiếp đ-ợc kết hợp lại với nhau chủ yếu theo quan hệ ngữ âm"[5;61]
Trang 10Cách nhìn thứ nhất mới chỉ xem xét từ trong ở mặt hình thức, nghĩa là mới chỉ chú ý đến âm mà ch-a chú ý đến mặt nghĩa của từ láy Vì thế, nhiều nhà nghiên cứu khác nh- Hoàng Tuệ, Hoàng Văn Hành, Đỗ Thị Kim Liên, Phi Tuyết Hinh, Đỗ Hữu Châu, Diệp Quang Ban… đã đi theo h-ớng thứ hai, coi từ láy là sự hoà phối ngữ âm có giá trị biểu tr-ng hoá Cách nhìn này đã khắc phục đ-ợc nh-ợc điểm của cách nhìn thứ nhất Đó là vừa xem xét từ láy trong cơ trình cấu tạo, vừa xem xét nó trong sự hành chức với t- cách là một loại tín hiệu đặc thù của ngôn ngữ
Xuất phát từ cách nhìn này, các nhà nghiên cứu đã đ-a ra những định nghĩa khác nhau về từ láy
Ho¯ng Tuế coi tụ l²y l¯ “ nhửng tụ đa tiễt m¯ giửa c²c tiễng âm tiễt có quan hế ngử âm” [5; 61]
Ho¯ng Văn H¯nh củng đưa ra định nghĩa cða mệnh: “Tụ l²y l¯ tụ được cấu tạo bằng cách nhân đôi tiếng gốc theo những qui tắc nhất định sao cho quan hệ giữa các tiếng trong từ vừa điệp vừa đối, hài hoà với nhau về âm và về nghĩa, có giá trị biều trưng ho²”[3;27]
Trong luận văn này chúng tôi đi theo quan điểm coi láy là hoà phối ngữ
âm có giá trị biểu tr-ng hoá và chọn định nghĩa của Hoàng Văn Hành để thuận lợi cho việc khảo sát từ láy trong thơ Huy Cận
1.1.2 Phân loại
1.1.2.1 Dựa vào cấu tạo
Từ láy hiện nay th-ờng đ-ợc phân loại dựa trên 2 tiêu chí:
* Số l-ợng âm tiết trong từ láy
* Sự đồng nhất hay khác biệt trong thành phần cấu tạo của các thành tố trong từ láy do cách phối hợp ngữ âm tạo nên
Dựa vào tiêu chí 1, ta có:
- Từ láy bậc I (còn gọi là từ láy đôi) gồm 2 tiếng
Ví dụ : nhẹ nhàng, vèo vèo, thăm thẳm, lon ton…
Trang 11- Từ láy bậc II (còn gọi là từ láy ba, từ láy t-) gồm 3 hoặc 4 tiếng
Ví dụ : sạch sành sanh, dửng dừng d-ng…
lúng ta lúng túng, hớt ha hớt hải…
Dựa vào tiêu chí 2, các từ láy đôi lại đ-ợc phân loại thành:
- Từ láy hoàn toàn:
+ Láy nguyên khối: là từ láy mà giữa hai tiếng giống hệt nhau về thành phần cấu tạo nh-ng khác nhau về trọng âm
Ví dụ: rào rào, kh- kh-, ầm ầm…
+ Láy đối thanh: Là từ láy hoàn toàn mà giữa hai tiếng có sự khác nhau
- Một số từ láy có sự khác nhau về phụ âm cuối nh-ng vẫn đ-ợc xem là
từ láy hoàn toàn vì sự biến đổi phụ âm cuối không làm thay đổi về diện mạo ngữ âm và âm sắc chủ yếu của âm tiết mà chỉ nhằm tăng c-ờng khả năng hoà phối ngữ âm tạo nghĩa, tạo nên sự dễ đọc, dễ nghe
Ví dụ: Chiếp chiếp chiêm chiếp
San sát San sát
Vặc vặc Vằng vặc
Trang 12- Những từ nh- êm ả, oi ả, uể oải, ào ào, ấm áp, ao -ớc… đ-ợc xếp vào
từ láy âm vì ở đây cả hai âm tiết đều có phụ âm đầu là một âm tắc họng, không đ-ợc thể hiện trên chữ viết, cũng đ-ợc láy lại
1.1.2.2 Dựa vào ngữ nghĩa
Căn cứ vào đặc điểm của hình thái biểu tr-ng hoá ngữ âm của từ, ta có:
- Từ láy biểu tr-ng hoá ngữ âm giản đơn
Ví dụ : tí tách, lộp độp, lách cách…
- Từ láy biểu tr-ng hoá ngữ âm cách điệu
Ví dụ : lênh đênh, bâng khuâng, xôn xao…
- Từ láy vừa biểu tr-ng hoá ngữ âm vừa chuyên biệt hoá về nghĩa
Ví dụ : đỏ đắn, may mắn, da dẻ…
1.1.3 Đặc điểm
Từ láy là từ tiếng Việt nên ngoài những đặc điểm chung nh- những từ khác, nó còn có những đặc tr-ng riêng
1.1.3.1 Đặc điểm về mặt cấu tạo ngữ âm
Cơ trình cấu tạo của từ láy tiếng Việt chịu sự chi phối của xu h-ớng hoà phối ngữ âm, biểu hiện ở quy tắc điệp và quy tắc đối
Nh- ta đã biết, láy không đơn thuần là sự lặp lại âm thanh nguyên vẹn
mà bao giờ cũng kèm theo một sự biến đổi âm thanh nhất định theo những quy luật chặt chẽ Sự biến đổi âm thanh này th-ờng đều đặn theo quy tắc hoà phối ngữ âm chặt chẽ để có thể tạo ra cái thế vừa giống vừa khác Cái thế ấy gọi là thế vừa điệp vừa đối
Ho¯ng Văn H¯nh đ± gi°i thích cú thề: “Điếp (hay thễ điếp) l¯ tr³ng th²i
đồng nhất trong quan hệ giữa các tiếng của từ láy, là hệ quả của sự nhân đôi tiếng gốc trong quá trình cấu tạo từ láy Còn đối (hay thế đối) là trạng thái dị biệt trong quan hệ giữa các tiếng của từ láy, là hệ quả của sự biến đổi hoặc kết hợp ở tiếng láy để đảm bảo có sự hoà phối về âm và về nghĩa với tiếng gốc" [3;26 ]
Trang 13Sự tác động của quy tắc điệp và quy tắc đối trong quá trình cấu tạo từ láy là sự tác động có quan hệ chi phối và ràng buộc nhau để đảm bảo làm sao
có đ-ợc sự hoà phối về âm và về nghĩa của tiếng láy với tiếng gốc trong từ
1.1.3.2 Đặc điểm về mặt ngữ nghĩa
Đó chính là tính chất biểu tr-ng hoá ngữ âm của từ, gồm ba cấp độ
1.1.3.2.1 Từ láy biểu tr-ng hoá ngữ âm giản đơn
Đây là những từ t-ợng thanh, từ tiếng vang mô phỏng âm thanh tự nhiên theo cơ chế láy Từ góc độ ngữ nghĩa có thể phân biệt thành hai loại:
- Loại 1: gồm những từ láy mặc dù mô phỏng âm thanh nh-ng có chức năng gọi tên sự vật, hiện t-ợng hay quá trình phát ra âm thanh Đó là những
từ láy đã đ-ợc chuyển nghĩa theo phép hoán dụ để biểu tr-ng cho bản thân sự
vật, hiện t-ợng hay quá trình phát ra âm thanh nh-: tu hú, cút kít, chao chát,
rì rào, xào xạc,…
- Loại 2: gồm những từ mô phỏng trực tiếp gần đúng âm thanh tự nhiên
theo cơ chế láy, kiểu eng éc, gâu gâu, lộc cộc, nheo nhéo Nghĩa của những
từ này th-ờng giản đơn, chủ yếu mô phỏng trực tiếp theo tự nhiên , theo những quy tắc mà cơ chế láy cho phép Cơ cấu nghĩa của loại từ láy này có các đặc
đ-ợc cách điệu hoá Chính sự cách điệu hoá này đã làm cho sự hoà phối ngữ
âm trong các từ láy mô phỏng âm thanh có giá trị biểu tr-ng hoá, tuy rằng đó còn l¯ sứ biều trưng dưới dưới hệnh th²i gi°n đơn” [3; 77]
Trang 141.1.3.2.2 Từ láy biểu tr-ng hoá ngữ âm cách điệu
Đặc điểm của từ láy này là không thấy hoặc không còn thấy tiếng gốc
và cả từ láy đ-ợc nhận thức nh- một chỉnh thể Tuy không thể dựa vào tiếng gốc để giải thích nghĩa của từ nh-ng về mặt cấu tạo của từ thì lại có sự hoà phối ngữ âm đ-ợc cách điệu hoá nên có giá trị tạo nghĩa, tức là có tác dụng gợi tả, gợi ý và biểu cảm Đó là hệ quả của cơ chế láy Vì thế có thể nói tính
có lý do của mối quan hệ âm - nghĩa ở các từ đang xét thể hiện ở sự hoà phối ngữ âm đ-ợc cách điệu hoá có giá trị biểu tr-ng hoá Đó là lý do ta gọi đây là
từ láy biểu tr-ng hoá ngữ âm cách điệu
Căn cứ vào mối quan hệ giữa nghĩa của chúng với hiện thực khách quan
mà xét thì có thể tách thành hai kiểu nhóm nhỏ:
- Nhóm 1: gồm những từ biểu thị sự vật: b-ơm b-ớm, đu đủ, chôm
chôm, chuồn chuồn… Các từ thuộc nhóm này th-ờng là danh từ chỉ động vật
hoặc cây cỏ Cơ cấu nghĩa của các từ này là cơ cấu nghĩa của thể từ
- Nhóm 2: gồm những từ biểu thị thuộc tính (hiểu với nghĩa rộng gồm
tính chất, quá trình, trạng thái….) nh-: luộm thuộm, lôi thôi, đủng đỉnh, ru
rú…Các từ láy nhóm này chủ yếu biểu thị thuộc tính, trạng thái nên ý nghĩa của chúng có giá trị hoà phối ngữ âm rất điển hình, thể hiện ở khả năng biểu cảm và gợi tả của từ Nội dung ý nghĩa của những từ láy này rất khó nắm bắt
và giải thích do chỉ đ-ợc cảm nhận thông qua giá trị biểu tr-ng ngữ âm Việc giải thích nghĩa này chủ yếu dựa vào mẫn cảm ngôn ngữ và sự hiểu biết, tri nhận của ng-ời bản ngữ
1.1.3.2.3 Từ láy vừa biểu tr-ng hoá ngữ âm vừa chuyên biệt hoá về nghĩa
Là từ mà nghĩa của nó có thể giải thích đ-ợc không chỉ nhờ nghĩa của tiếng gốc mà còn nhờ giá trị tạp nghĩa (tức là giá trị biểu tr-ng hoá) của sự hoà phối ngữ âm trong cấu tạo của nó Nói cách khác, ý nghĩa của từ láy đ-ợc hình thành trên cơ sở ý nghĩa của yếu tố gốc , còn yếu tố láy và sự láy đem lại một sắc thái ý nghĩa nào đó cho từ, làm cho ý nghĩa của từ láy khác ý nghĩa của yếu tố láy khi đứng riêng nh- một từ
Trang 15ý nghĩa của các từ láy nhóm này là một thể thống nhất, lấy nghĩa của tiếng gốc làm cơ sở, đ-ợc bổ sung những sắc thái ý nghĩa nào đó do cơ chế láy tạo ra Những sắc thái nghĩa này rất phong phú và đa dạng, chúng ít nhiều phụ thuộc vào bản chất tiếng gốc
Nễu “ tiễng gốc l¯ động tụ thệ sắc th²i nghĩa phú thêm ở tụ l²y sẻ miêu tả ph-ơng thức của hành động, hay quá trình Đó có thể là sắc thái nghĩa biểu
thị sự lặp lại của hành động hay quá trình theo chu kì nh- nhấp nháy, lập
loè … hoặc là sự lặp lại của hành động, quá trình liên tiếp, kéo dài nh- gật gù,
dính dấp, vồ vập…”[5;107]
“Nễu tiễng gốc l¯ tính từ thì sắc thái nghĩa phụ thêm ở từ láy có thể biểu
thị mức độ khác nhau của phẩm chất hay trạng thái nh- đo đỏ, xanh xanh,
đèm đẹp….”[5;107]
“Nễu tiễng gốc l¯ danh tụ thệ sắc th²i nghĩa phú thêm ở tụ l²y có thề
biểu thị mức độ khái quát, tổng hợp của sự vật, hiện t-ợng nh- : mùa màng,
lớp lang, chùa chiền, máy móc…”[5;108]
1.2 Một số nét về thơ Huy Cận
1.2.1 Các chặng đ-ờng thơ Huy Cận
Huy Cận đ-ợc coi là một nhà thơ tiêu biểu cho thế hệ thi sĩ cũ hồi sinh trong cuộc sống mới, vì thế con đ-ờng thơ của ông có thể chia ra làm hai chặng tr-ớc và sau cách mạng
1.2.1.1 Thơ Huy Cận tr-ớc cách mạng - giai đoạn "Sầu nhân gian"
"Lửa thiêng" và "Vũ trụ ca"
Trang 161.2.1.1.1 Chủ đề "Sầu nhân gian"
Chủ đề này chủ yếu đ-ợc thể hiện trong "Lửa thiêng" (1940), tập thơ
đầu tay cða Huy Cận v¯ l¯ một trong nhửng tập thơ "to¯n bích nhất” cða giai
đoạn 32- 45 Với "Lửa thiêng", Huy Cận đã mang đến cho phong trào thơ mới những vần thơ buồn bã ảo não bậc nhất Trần Khánh Thành đã đánh giá:
"Trong lịch sử thơ ca dân tộc có nhiều tác phẩm thể hiện nỗi buồn nh-ng không có tập thơ nào nỗi buồn đ-ợc nói lên một cách đa dạng, lắm cung bậc
và nhiều sắc thái nh- trong "Lửa thiêng" của Huy Cận Nỗi buồn trong "Lửa thiêng" thường trức trong mọi lũc: "chiẹu buồn”, “đêm sầu”, “buồn đêm mưa”, “ buồn xễ trưa”, “ buồn tứ thuở xưa” Một vết buồn kẽo d¯i tụ qu² khữ
đễn hiến t³i: “ sầu v³n thuở”, “ sầu thiên cổ”, “sầu v³n kỳ”… Nỗi buồn đó lan toả khắp không gian, vũ trụ tr¯n ngập nỗi buồn: “trời buồn”, “ gió buồn”,
“sao buồn”, “ nước buồn”, “ sông nũi buồn”, “ sương sầu”, “v³n lý sầu”, “sầu
vủ trú” Sầu muộn nặng trĩu ở tâm hồn Huy Cận t³o nên nhiẹu sắc th²i buồn :
“buồn buồn”, “ buồn không cớ”, “buồn h±o”, “buồn nhiẹu”…”[15;15] Nỗi buồn lan toả khiến không gian cũng trở nên ảm đạm, nhuốm màu tang th-ơng:
“Ai chễt đó nh³c buồn chi lắm thễ Chiêù mồ côi rẽt mướt ngo¯i đường”
(Nhạc sầu) Không chỉ vậy, cái buồn, cái sầu còn đ-ợc nhà thơ vật thể hoá, có khả năng sờ mó đ-ợc, nhìn thấy đ-ợc:
“Tay anh em h±y tứa đầu Cho anh nghe nặng tr²i sầu rúng rơi”
(Ngậm ngùi)
Có thề nói, Huy cận đ± “đi lượm lặt nhửng chũt buồn rơi rớt đề rồi s²ng tạo nên những vần thơ °o n±o”[12;126] Nỗi buồn n¯y l¯ nỗi buồn nhân thễ, nỗi buồn thời cuộc Nó là hệ quả tất yếu khi nhà thơ ý thức sâu sắc về cảnh ngộ đất n-ớc và thân phận con ng-ời
Trang 17Tuy nhiên, hồn thơ Huy Cận tr-ớc cách mạng không chỉ có "Sầu nhân gian" mà còn có "Vui vũ trụ"
1.2.1.1.2 Chủ đề "Vui vũ trụ"
Khi đọc "Lừa thiêng” “ta nghe bay dậy một tiễng địch buồn buốt lạnh" (Xuân Diệu) thì ng-ợc lại khi đọc "Vũ trụ ca" (1942-1943) ta lại bắt gặp cái rạo rực bâng khuâng của một niềm vui không giới hạn, vui tràn vũ trụ Nếu trong "Lửa thiêng" có đến bốn m-ơi sáu lần chữ buồn hiện diện và ba m-ơi mốt chữ sầu giăng mắc khắp các câu thơ thì trong hai m-ơi bảy bài của
"Vũ trụ ca" chữ vui xuất hiện m-ời bảy lần còn chữ buồn chỉ xuất hiện năm lần trong những câu thơ hồi tưởng qu² khữ Không gian trong “Vủ trú ca” cũng rộng lớn, thanh cao với trăng, sao, gió, mây, ở đó con ng-ời có thể đ-ợc phiêu diêu, đ-ợc tự do tuyệt đối về mặt tinh thần, v-ợt lên trên ràng buộc xã hội Cái vui ở đây là cái vui ào ạt, tột độ:
“Trăng ru sóng vui tr¯n vủ trú Hồn ta ơi chớ ngð nghe em”
Khi đọc "Lửa thiêng" ta bắt gặp cái tôi trữ tình là Huy Cận đang rầu rĩ với đời, thì khi đọc "Vũ trụ ca" ta lại bắt gặp một tâm trạng vui t-ơi Liệu điều này có mâu thuẫn trong hồn thơ Huy Cận tr-ớc cách mạng không? Thực ra
điều này lại rất thống nhất vì nó cùng phản ánh tâm trạng buồn, cô đơn, bế tắc của nhà thơ Nhà thơ muốn tìm cái "vui vũ trụ" để nguôi cái sầu nhân gian nh-ng thực tế nhà thơ vẫn không trốn nổi, ông vẫn thấy đời buồn, cô đơn và tự thấy đời mình nh- hòn đảo cô độc giữa biển cả không có thuyền bè qua lại:
“Thuyẹn không giao nối dây qua đó V³n thuở chờ mong một c²nh buồm”
(Đảo) Nh- vậy hồn thơ của Huy Cận tr-ớc cách mạng vẫn là hồn thơ đa cảm
đa sầu, yêu đời, nh-ng bế tắc bất lực
Trang 181.2.1.2 Thơ Huy Cận sau cách mạng - giai đoạn "Trời mỗi ngày lại sáng"
Cách mạng tháng Tám thành công, giải phóng đất n-ớc đồng thời cũng giải phóng hồn thơ của nhiều nghệ sỹ, đ-a họ đến với nhân dân, đất n-ớc để tìm nguồn cảm hứng sáng tạo mới Trong các nhà thơ Mới thì Xuân Diệu là ng-ời trở ngòi bút nhanh nhất, còn Huy Cận "chuyển mình hơi muộn" so với nhiều nhà thơ cùng thế hệ Suốt thời kỳ kháng chiến chống Pháp, Huy Cận gần nh- vắng bóng trên thi đ¯n Nhưng đó chì l¯ sứ “ ẽm mệnh” v¯ sau chuyễn
đi thực tế dài ngày ở Quảng Ninh, Huy Cận đã tạo nên một mùa thơ mới:
“Trời mỗi ng¯y l³i s²ng” (1958), “Đất nở hoa” (1960), “B¯i thơ cuộc đời” (1963) Huy Cận dần khẳng định lại chỗ đứng trong lòng bạn đọc Sự thay đổi cơ bản nhất của Huy Cận sau cách mạng là sự thay đổi về cách nhìn nhận con ng-ời và cuộc đời Nếu tr-ớc đây Huy Cận nhìn con ng-ời trong vũ trụ, giữa thiên nhiên thì giờ đây nhà thơ nhìn con ng-ời giữa cuộc đời và trong mối quan hệ gắn bó với cộng đồng xã hội Hình t-ợng con ng-ời lao động trở thành hình t-ợng trung tâm trong các sáng tác nh- bác phở cầu, anh tài lạc, năm cô gái anh hùng Cẩm Phả , qua đó để nhà thơ ca ngợi sự đổi đời của con ng-ời, sự đổi thay của đất n-ớc Nhà thơ đang lắng nghe cuộc đời đang đổi thay "giữa lòng thế kỷ", cuộc sống đang độ chín qua những kì "đổi thịt thay da" và cuối cùng ông khẳng định chân lý "trời mỗi ngày lại sáng" Sự khẳng
định chân lý này cũng chính là sự khẳng định b-ớc biến chuyển trong tâm hồn thơ Huy Cận Ông đã thực sự chuyển từ một nhà thơ thuần tuý lãng mạng sang một nhà thơ hiện thực
Trong những năm kháng chiến chống Mỹ hào hùng, Huy Cận liên tục cho ra đời các tập thơ: "Những năm sáu m-ơi" (1968), "Chiến tr-ờng gần đến chiến tr-ờng xa" (1973), "Ngày hằng sống, ngày hằng thơ" (1975) để ca ngợi chủ nghĩa anh hùng cách mạng của nhân dân ta, khẳng định tầm vóc lớn lao của dân tộc ta trên tuyến đầu chống Mỹ Huy Cận không nói nhiều đến những con ng-ời, những số phận cụ thể đang lớn lên trong cuộc đời chung nữa mà viết nhiều về cộng đồng, về số phận chung của cả dân tộc Con ng-ời trong
Trang 19thời kỳ này đ-ợc nhà thơ nhìn nhận trong mối quan hệ giữa truyền thống và hiện đại từ đó khái quát lên đ-ợc những phẩm chất cao đẹp của con ng-ời Việt Nam:
“Sống vửng ch±i bốn ng¯n năm sụng sửng L-ng đeo g-ơm, tay mềm mại bút hoa Trong và thật: sáng hai bờ suy t-ởng Sống hiên ngang m¯ nhân ²i chan ho¯”
(Đi trên mảnh đất này) Cũng trong những năm tháng chiến tranh chống Mỹ oanh liệt, Huy Cận còn có ba tập thơ viết cho thiếu nhi: "Hai bàn tay em" (1967), "Phù Đổng thiên v-ơng" (1968), "Thiếu niên anh hùng họp mặt" (1973) Đây cũng là một mảng thơ đặc sắc của Huy Cận nh- đánh giá của Xuân Diệu: "Thơ thiếu nhi của Huy cận có một h-ơng vị đặc biệt, một sức thuyết phục từ bên trong"[15;24] Sở dĩ nh- vậy là vì "có một con ng-ời trẻ con trong một mảng tâm hồn Huy Cận, có nh- vậy mới đồng thanh t-ơng ứng đ-ợc với trẻ con đến vậy"[15;24]
Tụ 1975 tới nay, Huy Cận vẫn "gieo h³t” đẹu tay để có thêm những tập thơ: "Ngôi nhà giữa nắng" (1978), "Hạt lại gieo" (1984), "Chim làm ra gió" (1991), "Lời tâm nguyện cùng hai thế kỷ" (1997) Điều này chứng tỏ một sức sáng tạo dồi dào bền bỉ của nhà thơ
1.2.2 Một số đặc điểm thơ Huy Cận
1.2.2.1 Thơ Huy Cận thể hiện một cái tôi trữ tình với nhiều đối cực
Huy Cận có một hồn thơ vừa đa dạng vừa thống nhất Cái tôi trữ tình trong thơ luôn vận động và chịu sức hấp dẫn của nhiều đối cực Đó là một hồn thơ vừa bám riết lấy cuộc đời vừa v-ơn tới vũ trụ bao la, vừa trăn trở tr-ớc cái chết, vừa nâng niu trân trọng sự sống trên đời, vừa buồn bã ảo não, vừa rộn rã niềm vui, vừa suy t- chiêm nghiệm, vừa hồn nhiện t-ơi trẻ, vừa bay bổng trong cảm hứng lãng mạn, vừa giàu có cảm hứng hiện thực Nh-ng khát vọng của nhà thơ vẫn là tìm đến vẻ đẹp hài hoà giữa cuộc đời và vũ trụ, giữa cuộc
Trang 20đời chung và cuộc đời riêng, giữa cảm hứng lãng mạn và cảm hứng hiện thực, giữa truyền thống và hiện đại, giữa cảm xúc và trí tuệ Tr-ớc cách mạng, Huy Cận tìm niềm thân mật trong sự hoà hợp với thiên nhiên vũ trụ thì sau cách mạng nhà thơ lại tìm đ-ợc sự hoà hợp giữa cá nhân với cộng đồng và cảm thấy hạnh phúc khi hoà nhập cuộc đời riêng vào cuộc đời chung của nhân dân, của dân tộc
Từ những cực hấp dẫn và những sắc thái đa dạng của tâm hồn, ta vẫn nhận ra hạt nhân của cấu trúc phân cực trong hồn th- Huy Cận đó là tình ng-ời, tình đời thiết tha sâu nặng và tấm lòng nâng niu trân trọng sự sống chân chính ở trên đời
1.2.2.2 Thơ Huy Cận thể hiện một kiểu t- duy nghệ thuật độc đáo: nhìn thế giới, nhìn cuộc đời qua sự sống cỏ cây
Sự sống của cỏ cây là một quá trình từ "nhựa" đến "hạt", đến "nụ" đến
"mầm" và hoa lá xanh t-ơi Và từ "sự chuyển nao thầm kín" đó của cỏ cây, Huy Cận đã tìm đ-ợc mối liên t-ởng với sự vận động của cuộc đời con ng-ời
Trong thơ Huy Cận chứa chan "nhựa" và tràn đầy "hạt" "Nhựa" trong thơ Huy Cận không chỉ là nguồn mạch sự sống âm thầm l-u chuyển làm nên cuộc sống của cỏ cây, mà dòng nhựa này chính là dòng sự sống, nó chảy trong vạn vật, trong đất trời, trong con ng-ời
"Hạt" là sự sống ở dạng kết tinh, hạt chứa đựng tiềm năng, sự sống Vì thế "hạt" với Huy Cận chính là những hạt đời đ-ợc nhựa đời kết tinh lại trong tâm hồn thi sĩ để tạo nên những nụ mầm cảm xúc và khai hoa thi tứ cũng nh-
từ những hạt thóc thực Huy Cận đã mở ra viễn cảnh sự sống lan xa, nảy nở trong t-ơng lai
Là ng-ời tha thiết với sự sống với sức sống của thiên nhiên, đất n-ớc Huy Cận không thể không nói đến hoa lá Trong cách cảm nhận của Huy Cận cái gì gợi về sự sống, gợi về tình ng-ời cũng có thể trở thành hoa: hoa trời, hoa trăng, hoa tinh khiết đến hoa nhớ, hoa th-ơng, hoa đợi chờ…
Trang 21Nh- vậy có thể nói, trong thơ Huy Cận cảm quan cây trái chính là thể hiện ở ph-ơng diện phát hiện tiềm năng của sự sống trong tạo vật và con ng-ời Đây là một kiểu t- duy mang đậm bản sắc dân tộc
1.2.2.3 Thơ Huy cận kết hợp khá hài hoà giữa truyền thống và hiện
đại, giữa ph-ơng Đông và ph-ơng Tây
Huy Cận vừa chịu ảnh h-ởng của thơ Đ-ờng, vừa chịu ảnh h-ởng của thơ ca lãng mạn, thơ ca t-ợng tr-ng Pháp Những nguồn ảnh h-ởng ấy đã đ-ợc Việt hoá khá triệt để nhuần nhuyễn trong toàn bộ thi phẩm của Huy Cận
Sự kết hợp hài hoà này còn đ-ợc thể hiện khá rõ ở ph-ơng diện thể loại Những thể loại truyền thống của dân tộc nh- thể lục bát, thể thơ 5 chữ, 7 chữ đ-ợc Huy Cận sử dụng thành thục và có những cách tân quan trọng Đồng thời, thể thơ tự do cũng đ-ợc Huy Cận sử dụng trong thơ sau cách mạng để có thể chứa đựng một nội dung hiện thực phong phú, bề bộn
1.2.2.4 Thơ Huy Cận đậm đà bản sắc dân tộc
Tình yêu quê h-ơng dất n-ớc, tình yêu tiếng Việt thiết tha đã giúp nhà thơ kết tinh đ-ợc tiếng nói tâm hồn của nhiều miền đất n-ớc Xứ Huế cho ông tiếng thơ tình tứ m-ợt mà, quê h-ơng Xứ Nghệ cho ông tiếng thơ chân thành, sâu lắng, Hà Nội nghìn năm văn hiến lại cho ông tiếng thơ tinh tế hào hoa Huy Cận hiểu biết sâu sắc nhiều nền văn hoá, nh-ng hồn thơ Huy Cận vẫn gắn
bó ràng rịt với tâm hồn dân tộc Thơ Huy Cận luôn "nằm trong tiếng nói yêu th-ơng / Nằm trong tiếng Việt vấn v-ơng một đời" Tiếng nói của dân tộc thấm vào cảm nghĩ vào cách nhìn của nhà thơ Huy Cận nhìn cuộc đời qua sự sống của cỏ cây và ghi lại cảm xúc suy nghĩ của mình qua hình thức thơ truyền thống của dân tộc
1.2.3 Một số nét về nghệ thuật thơ Huy Cận
1.2.3.1 Về ph-ơng diện thể loại
Trong quá trình sáng tạo thơ ca Huy Cận đã sử dụng rất nhiều thể loại: thơ 5 tiếng, thơ 7 tiếng, thơ 8 tiếng, thơ lục bát, thơ tự do nh-ng thành công nhất vẫn là ở thể lục bát và thể thơ 7 tiếng
Trang 221.2.3.1.1 Thể lục bát
Lục bát là một thể thơ dân tộc dễ làm nh-ng khó hay, tạo đ-ợc bản sắc riêng lại càng khó Thế nh-ng Huy Cận đã tạo đ-ợc bản sắc riêng cho lục bát của mình.Nếu lục bát của Huy Cận tr-ớc cách mạng hàm xúc, lắng đọng thì sau cách mạng lại có thêm sự tự nhiên sôi nổi, linh hoạt
Đặc biệt, trong khi sử dụng thể thơ truyền thống này Huy Cận đã có ý thức cách tân nó cho phù hợp với hồn thơ của mình Sự cách tân này thể hiện
rõ nhất ở cách ngắt nhịp Nếu nhịp đôi là nhịp cơ bản của lục bát truyền thống tạo nên một kiến trúc luân phiên đều đặn ở câu lục và câu bát thì trong thơ lục bát Huy Cận lại xuất hiện rất nhiều câu có cách ngắt nhịp 3/3, 4/4 tạo nên tính chất đối xứng và tiểu đối:
“ Giận thầy mé / chàng nói thưa
Vỉa câu chua chát / lời thơ chuyện Kiẹu”
Trang 23- Thơ 7 tiếng của Huy Cận xuất hiện nhiều kiểu ngắt nhịp nh- 2/2/3, 2/5, 5/2, 1/2/3, 1/3/3 thay cho cách ngắt nhịp truyền thống của thể thơ 7 tiếng
“Thữc dậy/ nắng v¯ng ngang m²i nh³t Buồn gieo theo bóng l²/ đung đưa”
(Giấc ngủ chiều)
- Thơ Đ-ờng luật phải có đối ý, đối thanh giữa các câu trong cùng một liên, còn thơ bảy tiếng của Huy Cận lại chuyển vào tiểu đối trong một dòng thơ hoặc đối âm thanh ở phần cuối của cả cặp câu
- Cách gieo vần trong thơ 7 tiếng Huy Cận cũng đa dạng hơn, thoải mái hơn so với thơ Đ-ờng Luật Ngoài vần chân , ông còn đặc biệt chú ý đến vần trong nội bộ câu thơ:
“Buồn gieo theo gió veo hồ”
Trong thơ Huy Cận xuất hiện một số hệ thống hình ảnh:
- Hình ảnh đất trời, sông n-ớc đ-ợc Huy Cận sử dụng để thể hiện khát vọng chiếm lĩnh không gian
Trang 24- Hệ thống hình ảnh: nhựa, nụ, mầm, hạt, hoa lá, là hệ thống thể hiện rõ nét nhất kiểu t- duy nghệ thuật độc đáo của nhà thơ: cảm nhận cuộc đời qua
+ Huy Cận sử dụng nhiều từ láy với ý nghĩa giảm nhẹ cử động và tiếng
động: rơi rơi, dìu dịu, xiêu xiêu, phất phơ, hiu hiu, chơi vơi…
+ Động từ chỉ hoạt động của con ng-ời đều có sắc thái nhẹ nhàng, chừng mực h-ớng về hành động nội tâm: kêu than, cầu khẩn, trò chuyện, tâm
+ Khi miêu tả vũ trụ thì dùng nhiều từ Hán Việt: nhật nguyệt hải hà, tạo
hoá, sơ khai, vĩnh hằng, thiên thu…
- Hệ thống từ vựng trong thơ Huy Cận sau cách mạng tháng 8 có những thay đổi cơ bản
+ Từ hệ thống ngôn từ giàu chất bác học trang trọng cổ điển thời kỳ tr-ớc cách mạng về với ngôn từ bình dị mộc mạc của quần chúng nhân dân Những từ Hán Việt dần dần đ-ợc thay thế bằng từ thuần Việt gần với lời ăn, tiếng nói của quần chúng
Tiểu kết ch-ơng 1
Nh- vậy ta thấy trên thi đàn Việt Nam, Huy Cận đã khẳng định đ-ợc chỗ đứng của mình nhờ vào giọng điệu thơ rất riêng Ông đến với đời bằng
Trang 25tiếng thơ trầm lắng, ân tình, thấm thía tình ng-ời, tình đời và tình yêu cuộc sống Tạo nên giọng thơ đó có một phần đóng góp của từ láy,một lớp từ đặc sắc của tiếng Việt Lớp từ này khi đi vào thơ Huy Cận đã làm tăng sức tả, sức gợi, sức cảm của những câu thơ Nh- vậy ở ch-ơng này chúng tôi đã tìm hiểu những vấn đề lý thuyết về từ láy và thơ Huy Cận Đây chính là cơ sở để chúng tôi đi vào tìm hiểu từ láy trong thơ Huy Cận
Trang 26- Trong thơ Huy cận xuất hiện cả từ láy bậc I và bậc II
Từ láy bậc I có 571 từ chiếm 98,96% tổng số từ láy
Từ láy bậc II có 6 từ chiếm 1,04% tổng số từ láy
- Từ láy bậc I Huy Cận sử dụng trong các tác phẩm của mình gồm hai mức độ: láy hoàn toàn và láy toàn bộ
+ Có 116 từ láy hoàn toàn với 195 l-ợt dùng chiếm 20,3% tổng số từ láy bậc I
Trong từ láy hoàn toàn có 2 dạng: láy nguyên khối và láy đối thanh Láy nguyên khối: 78 từ với 109 l-ợt dùng chiếm 67,2%
Láy đối thanh có 38 từ với 86 l-ợt dùng chíêm 32,8%
+ Có 455 từ láy bộ phận với 1043 l-ợt dùng chiếm 79,7%
Trong từ láy bộ phận có nhóm từ láy phụ âm đầu và nhóm từ láy vần Nhóm từ láy phụ âm đầu có 347 từ với 826 l-ợt dùng chiếm 76,3% Nhóm từ láy vần có 108 từ với 217 l-ợt dùng chiếm 23,7%
- Từ láy bậc II trong thơ Huy Cận gồm 6 từ với 8 l-ợt dùng Chúng đều
là từ láy t-:
Trang 27ãng a ãng ¸nh RÝu ra rÝu rÝt Tung ta tung t¨ng Xóng xa xóng xÝnh LÊm la lÊm lÐt Trïng trïng ®iÖp ®iÖp
KÕt qu¶ thèng kª ph©n lo¹i cã thÓ tãm t¾t b»ng b¶ng sau:
B¶ng 1: C¸c lo¹i tõ l¸y trong th¬ Huy CËn
HÖ sè sö
BËc 1 571 98,96 1238 2,17 LÊp l¸nh BËc 2 6 1,04 8 1,33 RÝu ra rÝu rÝt
L-ît dïng
HÖ sè sö dông VÝ dô
bé
phËn
L¸y phô ©m ®Çu 347 71,3 826 2,38 R× rµo L¸y vÇn 108 23,7 217 2,01 Lim dim
Trang 282.1.2 Các nhận xét định l-ợng về cấu tạo của từ láy trong thơ Huy Cận
2.1.2.1 Từ láy trong thơ Huy Cận có cả từ láy bậc I và từ láy bậc II
Từ láy đ-ợc Huy Cận sử dụng trong các thi phẩm của ông gồm có từ láy đôi và từ láy t-, trong đó chủ yếu là từ láy đôi ( chiếm 98,96%), còn từ láy t- chiếm tỷ lệ rất nhỏ (1,04%)
Nh- vậy so với từ láy trong thơ Xuân Diệu thì từ láy trong thơ Huy Cận
đa dạng hơn về các loại từ láy vì theo số liệu của Đặng Thị Lan thì tất cả 313
từ láy với 571 l-ợt dùng mà Xuân Diệu đã sử dụng trong 239 bài thơ của mình
đều là từ láy bậc I, tuyệt nhiên không có một từ láy bậc II nào [8] Không những vậy, từ láy trong thơ Huy Cận còn phong phú hơn từ láy trong thơ Xuân Diệu (gấp 1,84 lần) với hệ số sử dụng là 2,16 trong khi của Xuân Diệu là 1,82
2.1.2.2 Từ láy bậc I trong thơ Huy Cận có đầy đủ kiểu, dạng cấu tạo
Từ bình diện cấu tạo chúng tôi thấy rằng từ láy trong thơ Huy Cận có
đầy đủ hai kiểu cấu tạo khác nhau: Kiểu láy hoàn toàn và kiểu láy bộ phận và trong mỗi kiểu đó lại có đủ các dạng láy
Kiểu láy hoàn toàn có hai dạng: láy hoàn toàn nguyên khối và láy hoàn toàn đối thanh
Kiểu láy bộ phận cũng có hai dạng: láy phụ âm đầu và láy vần, trong
đó nhóm láy phụ âm đầu đ-ợc sử dụng nhiều nhất so với tất cả các kiểu loại từ láy trong thơ Huy Cận, chiếm 60,1% tổng số từ láy trong thơ Huy Cận
* Trong cả hai tuyển tập thơ của mình Huy Cận đã dùng 116 từ láy hoàn toàn với 195 l-ợt dùng, chiếm tỷ lệ 20,3% tổng số từ láy bậc I, hệ số sử
dụng là 1,68 Số l-ợng này tuy không nhiều và có hệ số sử dụng thấp hơn một
số tác giả khác nh-:
Thơ Xuân Diệu: HSSD là 1,82
Nguyễn Du-Truyện Kiều: HSSD là 1,82
Nh-ng so với một số tác giả khác thì đây lại là một hệ số sử dụng không nhỏ:
Trang 29NguyÔn §×nh ChiÓu- Lôc V©n Tiªn : HSSD lµ 1,55
Con bó m¾t lu«n c-êi víi mÑ
Trêi chiÒu man m¸c mét vßm c©y
Trang 30Trên thành son nhạt chiều tê cúi đầu
(Chiều x-a)
- Vần "ang": 5 lần
Thì chết rồi chắc ng-ời vẫn lang thang
Nh- buổi sống ở trong bầu trăng gió
(Mai sau)
- Vần "ong": 5 lần
Nắng đào mặt chị khéo t-ơi
Thong dong em lá đ-a c-ời khắp thôn
Gà gáy ơi! tiếng gà gáy ơi!
Nghe sao rạo rực buổi mai đời
(Sớm mai gà gáy)
- Từ "bồi hồi": 13 lần
Đất chuyển đến tôi, trời chuyển đến tôi
Trang 31Tõ kh¾p non s«ng m¹ch sèng ®Ëp båi håi
(CÇu Hµm Rång) -Tô “x«n xao”: 12 lÇn
Nghe ®-a ®Èy tiÕng giã ru lóa chÝn
X«n xao tiÕng l¸ rông thay mïa
¤i quª h-¬ng tha thiÕt lßng ta
(Ng-êi MÌo ta)
- Dµo d¹t > D¹t dµo
Nh-ng vui h¬n tù bao giê
M-a tu«n th¾m ®-îm lßng th¬ d¹t dµo
(M-a m-êi n¨m sau)
Trang 322.2 Từ loại của từ láy trong thơ Huy Cận
Từ loại là một địa hạt quan trọng của ngữ pháp nói chung và ngữ pháp tiếng Việt nói riêng Vì thế, từ tr-ớc tới nay đã có rất nhiều ý kiến khác nhau bàn về từ loại trong tiếng Việt ở đây, chúng tôi đi theo quan niệm của tác giả
Từ đó tác giả chia từ loại tiếng Việt thành hai loại lớn:
-Thực từ: gồm Danh từ, Động từ, Tính từ, Số từ ,Đại từ
- H- từ: gồm Quan hệ từ, Trợ từ, Tình thái từ, Phụ từ
Căn cứ theo đặc điểm của các từ loại cụ thể trong tiếng Việt, khi khảo sát từ loại của từ láy trong thơ Huy Cận, chúng tôi thấy có các từ loại sau: danh từ, động từ, tính từ, số từ
2.2.1 Từ loại danh từ
Danh từ là những từ chỉ sự vật, có khả năng làm trung tâm của cụm danh từ, có khả năng đứng sau những từ chỉ vị trí: trên, d-ới, trong, ngoài…, có khả năng làm chủ ngữ và một số thành phần khác trong câu, Tuy nhiên danh
từ không có khả năng trực tiếp làm vị ngữ, muốn làm vị ngữ phải có quan hệ
từ "là" đứng tr-ớc
Từ láy là danh từ trong tổng số từ láy trong thơ Huy Cận tuy chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ (27 từ, chiếm 4.7%) nh-ng cũng phần nào góp phần tăng sức biểu đạt, biểu cảm cho câu thơ Huy Cận
Ví dụ : Gió lạnh chiều đông nhớ tuổi thơ
Bầy chim chèo bẻo nấp bên bờ
(Gió lạnh chiều đông)