1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Yếu tố trữ tình trong thơ trào phúng của trần tế xương

64 42 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề yếu tố trữ tình trong thơ trào phúng của trần tế xương
Trường học trường đại học sư phạm
Chuyên ngành ngữ văn
Thể loại khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2023
Thành phố hà nội
Định dạng
Số trang 64
Dung lượng 603,37 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lâu nay người ta chỉ chú ý Tú Xương là nhà thơ trào phúng, “ông tổ trào phúng” mà quên đi một yếu tố vô cùng quan trọng ẩn đằng sau những tiếng cười, sự phê phán đả kích là nhân vật trữ

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

1.1 Tú Xương là một hiện tượng động đáo trong lịch sử văn học dân

tộc Thơ văn ông cho thấy có những yếu tố vượt qua khỏi những khuôn mẫu thẩm định vốn có, từng thu hút nhiều công trình tìm hiểu và nghiên cứu Yêu cầu tìm hiểu Tú Xương còn là một yêu cầu lâu dài, thường xuyên

1.2 Tú Xương được mệnh danh là "nhà thơ trào phúng lớn của dân

tộc", không những thế Tú Xương còn mang tầm vóc của một nhà trào phúng thế giới Một trong những lí do khiến thơ thơ trào phúng của Tú Xương trường tồn với thời gian là nó gắn liền với gốc rễ trữ tình Đi sâu nghiên cứu vấn đề này, luận văn nhằm lí giải nguồn gốc tạo nên sức lâu bền trong thơ trào phúng Tú Xương

1.3 Tú Xương không chỉ là một trong những tác giả có nhiều đóng góp

lớn, có vị trí đặc biệt trong lịch sử văn học dân tộc mà còn có vị trí quan trọng trong chương trình học văn ở trường phổ thông Nghiên cứu vấn đề này còn

có khả năng giúp cho việc giảng dạy thơ Tú Xương được tốt hơn

2 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

2.1 Tú Xương trên lịch trình nghiên cứu gần một thế kỷ qua

Khảo cứu lịch trình nghiên cứu về thơ văn Tú Xương gần một thế kỷ qua, chúng tôi thấy có trên 50 công trình tìm hiểu và bài viết nghiên cứu Có thể chia lịch trình nghiên cứu Tú Xương thành hai thời kỳ: trước và sau cách mạng tháng 8 năm 1945

2.1.1 Trước Cách mạng tháng 8 năm 1945

Nhìn chung ở thời kỳ này, thơ văn Tú Xương hầu như chưa có sức hút đáng kể đối với giới nghiên cứu Việc sưu tầm thơ văn Tú Xương cũng chưa được chú ý nhiều Sở dĩ có hiện tượng như vậy là vì trong bối cảnh chung thời bấy giờ giới nghiên cứu chịu ảnh hưởng khá nặng nề của phương pháp xã hội

Trang 2

học, thơ Tú Xương chưa được chú ý đúng mức và càng hiếm hơn nưa những

ý kiến coi Tú Xương như là một tác gia lớn hay là đối tượng của bộ môn văn học sử

2.1.2 Sau Cách mạng tháng 8 - 1945

Việc nghiên cứu Tú Xương thực sự phát triển mạnh kể từ sau 1954 Đặc biệt bước sang giai đoạn 1975 đến nay, khi đất nước thống nhất, giới nghiên cứu mới thực sự chú ý và đổi mới cách nhìn đối với hiện tượng thơ Tú Xương

Có thể kể một số tác giả và những công tình nghiên cứu tiêu biểu như:

“Đấu tranh chống hai quan niệm sai lầm về Tú Xương" của Trần Thanh Mại (1957) [18], “Tú Xương con người và nhà thơ” của Trần Thanh Mại (1961) [19], “Thơ văn Trần Tế Xương” của Nguyễn Đình Chú, Lê Mai” (1984) [3],

“Trần Tế Xương về tác gia và tác phẩm” - công trình tuyển chọn và giới thiệu

của Vũ Văn Sỹ, Đinh Minh Hằng, Nguyễn Hữu Sơn [18] Công trình này đã tập hợp cung cấp cho bạn đọc một cách tương đối đầy đủ những tư liệu, những bài viết về Tú Xương của các nhà phê bình, các nhà văn

2.2 Vấn đề trữ tình trong thơ Tú Xương

Vấn đề trữ tình trong thơ văn Trần Tế Xương ít nhiều đã được các nhà nghiên cứu chú ý Các nhà nghiên cứu đã “giải phóng” cái nhìn trước đây về Trần Tế Xương Lâu nay người ta chỉ chú ý Tú Xương là nhà thơ trào phúng,

“ông tổ trào phúng” mà quên đi một yếu tố vô cùng quan trọng ẩn đằng sau những tiếng cười, sự phê phán đả kích là nhân vật trữ tình trong thơ Trần Tế Xương Có thể thấy đằng sau tiếng cười của Tú Xương là cả một nỗi lòng đau đớn chưa biết tỏ cùng ai

Thơ văn Trần Tế Xương trường tồn với thời gian phần lớn nhờ vào sự kết hợp tài tình giữa các yếu tố: hiện thực, trào phúng và trữ tình trong đó trữ tình là gốc Tuy nhiên cũng đã có những công trình, bài viết phần nào đã thể hiện một sự khám phá tìm tòi đáng trân trọng về vấn đề trữ tình trong mảng thơ văn trào phúng của Trần Tế Xương

Trang 3

Chế Lan Viên đã chia thơ văn trào phúng Việt Nam xưa nay thành hai dòng lớn và bé Lớn là có sự kết hợp giữa trào phúng và trữ tình; Bé là không

có hoặc ít có sự kết hợp giữa trào phúng và trữ tình Theo Chế Lan Viên,

“cùng với Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Khuyến thì Tú Xương thuộc dòng lớn” [3, 40]

Nguyễn Tuân cũng cắt nghĩa lý do thơ Tú Xương “không tắt gió", không "bay ra khói” là nhờ “thơ Tú Xương đi bằng hai chân: hiện thực và trữ tình, hiện thực và lãng mạn Hiện thực là chân trái, lãng mạn là chân phải Cái chân phải lãng mạn đã khiến cái chân trái hiện thực để cả hai băng được về phía tương lai vô tận" [3, 41]

Nguyễn Đình Chú cho rằng: “Tú Xương dù có làm thơ theo kiểu “xuất khẩu thành chương” hay có lúc nào đó cầm bút mà viết thơ thì dứt khoát vẫn không phải thơ ra từ miệng, từ bút, mà trước hết là từ cõi lòng, từ cõi tâm Cái tâm tức là thế giới trữ tình trong thơ Tú Xương thật phong phú Nó gắn liền với vận mệnh của đất nước, với thời thế, với giai cấp Tú Xương và với chính ngay cả số mệnh Tú Xương giữa cuộc đời” [3, 27]

Nguyễn Lộc trong bài “Kết cấu trữ tình và trào phúng trong thơ Tú Xương” lại cho rằng: “Có thể nói trong thành công của mình, thơ trữ tình của

Tú Xương không kém bất kỳ thơ trữ tình của một nhà đương thời nào Kết cấu trong thơ trữ tình của Tú Xương mặc dù bị đóng khung trong thể thơ Đường luật gò bó, vẫn là một kết cấu vào loại kiểu mẫu của thơ trữ tình” [21, 329]

Xuân Diệu trong bài “Thơ Tú Xương” có viết “Tôi xem ý Tú Xương, đúng là “buồn tanh lại cười”, gốc trào phúng của Tú Xương rất sâu, là một nỗi đau thấm đến tận gan ruột bật ra thành tiếng cười sằng sặc đắng cay Nhiều nhà thơ khác cũng trào phúng, nhưng chất lượng tiếng cười không sâu được bằng Tú Xương, không phải như Tú Xương hộc ra tiếng cười” [21, 329]

Như vậy, có thể thấy rằng: Viết về Trần Tế Xương, các nhà nghiên cứu phê bình đã có những đóng góp nhất định trong việc phát hiện vấn đề trữ tình

Trang 4

của nhà thơ Nhưng những bài viết đó mới chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu một khía cạnh, một góc độ nào đó chứ chưa đi sâu vào khảo sát toàn diện Luận văn của chúng tôi là công trình đầu tiên đi sâu nghiên cứu vấn đề này một cách hệ thống và có tính chuyên biệt

3 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU VÀ PHẠM VI GIỚI HẠN CỦA ĐỀ TÀI

3.1 Đối tƣợng nghiên cứu

Yếu tố trữ tình trong thơ trào phúng Trần Tế Xương được xem là đối tượng nghiên cứu của đề tài này

3.2 Phạm vi, giới hạn nghiên cứu

Luận văn đi sâu khảo sát, tìm hiểu phân tích, luận giải yếu tố trữ tình trong thơ văn trào phúng của Trần Tế Xương Văn bản tư liệu mà luận văn dựa vào để khảo sát yếu tố trữ tình trong thơ văn Trần Tế Xương, chúng tôi lựa chọn cuốn: “Tú Xương tác phẩm và giai thoại” (Nguyễn Văn Huyên, Đỗ Huy Vinh (sưu tầm tuyển chọn),1986, NXB Văn học)

Sở dĩ lựa chọn tuyển tập trên làm văn bản khảo sát, vì chúng tôi cho rằng công trình sưu tầm này tương đối đầy đủ và đáng tin cậy

4 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

Với đề tài này, chúng tôi nhằm thực hiện các nhiệm vụ sau:

4.1 Khái quát đặc sắc của thế giới nghệ thuật thơ Trần Tế Xương 4.2 Khảo sát, phân tích yếu tố trữ tình trong thơ trào phúng của Trần Tế

Xương

4.3 Nghiên cứu mối quan hệ giữa hai yếu tố trữ tình và trào phúng, xác

định vai trò của yếu tố trữ tình trong thơ Trần Tế Xương Qua đó chứng minh sức sống của loại thơ trào phúng dựa trên gốc rễ trữ tình

Cuối cùng rút ra một số kết luận về yếu tố trữ tình trong thơ trào phúng Trần Tế Xương, để từ đó khẳng định thêm vị trí và vai trò của ông trong lịch

sử văn học dân tộc

5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Trang 5

Luận văn nghiên cứu vấn đề này trên cơ sở của quan điểm thi pháp học, phong cách học nghệ thuật với những phương pháp khác nhau như: phương pháp khảo sát, phương pháp phân tích - tổng hợp, phương pháp so sánh - loại hình, phương pháp cấu trúc - hệ thống

6 ĐÓNG GÓP VÀ CẤU TRÚC LUẬN VĂN

tố trữ tình trong thơ Trần Tế Xương

6.2 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, nội dung chính của luận văn được triển khai trong 3 chương

Chương 1 Hiện tượng Trần Tế Xương trong lịch sử văn học dân tộc Chương 2 Sự hiện diện của yếu tố trữ tình trong thơ trào phúng của Trần Tế Xương

Chương 3 Trữ tình là gốc rễ trong thơ trào phúng của Trần Tế Xương

Cuối cùng là tài liệu tham khảo

Trang 6

CHƯƠNG 1 HIỆN TƯỢNG TRẦN TẾ XƯƠNG TRONG LỊCH SỬ VĂN HỌC DÂN TỘC

1.1 CUỘC ĐỜI, CON NGƯỜI TRẦN TẾ XƯƠNG VÀ THỜI ĐẠI

ÔNG

1.1.1 Cuộc đời và con người Trần Tế Xương

Tên thật là Trần Duy Uyên, đến khi đi thi hương đổi thành Trần Tế

Xương, tự Mặc Trai, hiệu là Mộng Tích Sau nhiều lần thi trượt, kỳ thi khoa

Quý Mão năm 1903 ông đổi Tú Xương thành Cao Xương Song, cuối cùng

cái tên còn lại trong tấm lòng yêu mến của nhân dân, còn lại trong lịch sử văn

học dân tộc chính là Tú Xương

Tú Xương sinh ngày 5 - 9 - 1870 tại làng Vị Xuyên, huyện Mỹ Lộc,

tỉnh Nam Định trong gia đình dòng dõi nhà nho

Thân sinh của ông là cụ Trần Duy Nhuận, sinh thời cụ đi thi nhiều lần

nhưng không đỗ, sau làm tự thừa, giúp việc trong dinh đốc học ở Nam Định

Tú Xương học chữ rất sớm, cũng sớm nổi tiếng thông minh, giỏi thơ

phú, năm 15 tuổi ông đi thi hương nhưng không đậu (1886), hai năm tiếp theo

ông cũng đi thi nhưng đều trượt (1888 - 1891) Đến năm thứ tư (năm Giáp

Ngọ - 1894) ông mới đỗ tú tài Vì chỉ đậu tú tài nên chưa được bổ nhiệm làm

quan, ông lại tiếp tục đi thi để có bằng cử nhân Bốn khoa thi hương vào

những năm 1897, 1900, 1903, 1906 ông đều dự nhưng vẫn không gặt hái

được gì

Ngày 20 - 1 - 1907 Tú Xương qua đời đột ngột khi ông mới 37 tuổi đời

Tú Xương lấy vợ sớm Vợ ông là bà Phạm Thị Mẫn, quê ở Hải Dương

nhưng sinh ra và lớn lên ở Nam Định Bà là người phụ nữ hết sức đảm đang,

chịu khó để nuôi chồng ăn học và làm thơ cùng với 5 người con

Nhìn chung, cuộc đời của Tú Xương là cuộc đời của một nghệ sỹ,

nhưng trước hết là một trí thức phong kiến Cho nên về ý thức hệ thì vẫn chưa

Trang 7

có dấu hiệu gì là thoát khỏi ý thức hệ phong kiến nhưng lại sống ở thành thị,

vì thế Tú Xương có nhiều nét trong cốt cách, trong tâm lý không giống với những trí thức phong kiến trước đó mà ngay với Nguyễn Khuyến cũng khác Thực tế này in dấu ấn khá rõ trong thơ văn của ông

1.1.2 Thời đại Trần Tế Xương

Cuộc đời ngắn ngủi có 37 năm của Tú Xương đã nằm gọn trong một giai đoạn bi thương nhất của đất nước Trong những năm cuối của thế kỷ XIX

- đầu thế kỷ XX thực dân Pháp làm xáo trộn toàn bộ cơ cấu xã hội Việt Nam

Xã hội Việt Nam bị phân hoá, mục ruỗng, cuộc sống của nhân dân bị chèn ép, còn tầng lớp nho sĩ trái mùa ngày càng rã đám và có xu hướng tự đào thải ra khỏi giai cấp của mình Trước sức mạnh về quân sự cũng như về kinh tế của thực dân Pháp, vua quan nhà Nguyễn bước đầu cũng có sự chống đối nhất định thế nhưng vua quan nhà Nguyễn lại tỏ ra sự yếu hèn, bạc nhược đã bán

rẻ đất nước cho bọn xâm lược Điều này được thể hiện bằng hiệp ước cắt đất

Năm 1867, lục tỉnh Nam Kỳ mất trọn cho Pháp, Tú Xương lên 3, Bắc

Kỳ trong đó có Nam Định bị tấn công lần thứ nhất Tú Xương 12 tuổi, Bắc

Kỳ, Nam Định bị tấn công lần hai và nằm trong tay Pháp Năm 1883, triều đình ký hoà ước Harmand, đặt nước Việt Nam dưới quyền bảo hộ của Pháp Năm 1884 triều đình nhà Nguyễn ký hiệp ước Patenôtre thừa nhận quyền thống trị của thực dân Pháp trên đất nước ta

Nhà Nguyễn đầu hàng và chấp nhận chia xẻ quyền lợi với thực dân Pháp nhưng nhân dân ta không chấp nhận làm nô lệ, đã cùng nhau đứng dậy

tự giải phóng "xiềng xích" cho bản thân, cho dân tộc Ngọn cờ chống xâm lợc trong tay quần chúng nhân dân đã có sức thu hút các văn thân sĩ phu đứng về phía đại nghĩa của dân tộc mà kháng chiến dưới danh nghĩa Cần Vương Phong trào Cần Vương và nhiều phong trào khác đã diễn ra rất sôi nổi nhưng lần lượt thất bại Tú Xương đã sinh ra và lớn lên trong không khí sục sôi đấu tranh nhưng lại bị thương nặng nề đó của đất nước Tú Xương đã chứng kiến cảnh nước mất, dân nô lệ và chế độ thực dân nửa phong kiến hình thành Tú

Trang 8

Xương khổ, đau, Tú Xương nhục vì đất nước mất chủ quyền đã đành, đất nước xã hội lại bị đảo lộn Sự đổi thay này cái mới, cái lạ cũng nhiều nhưng cái quái lạ xuất hiện lại nhiều hơn Những cái được coi là chuẩn mực, giá trị của xã hội đều bị đồng tiền tư sản chi phối Những cảnh chướng tai gai mắt xuất hiện ngập tràn trong xã hội, những cảnh mua bán chức tước, sự chung chạ lăng loàn, sự xuống cấp đạo đức trầm trọng từ trong gia đình ra ngoài xã hội… Bọn thực dân phong kiến ra sức bủa vây, vươn dài những vòi bạch tuộc vào đối tượng nhân dân, chúng ra sức chèn ép và đục khoét… Với bộ máy thống trị quan liêu kiểu mới do quan chức thực dân cầm đầu kéo theo là một

hệ thống tay sai gồm quan lại phong kiến cũ, thông ngôn, ký lục…

Trần Tế Xương đã được sinh ra, lớn lên và ông đã tận mắt chứng kiến

sự hình thành xã hội thực dân nửa phong kiến với bản chất bi hài trơ trẽn của

nó, đó là thời kỳ mà cái cũ cái mới đan cài với nhau tạo nên sự lố bịch, gây cười Cuộc đổi thay này đã lay động đến toàn cõi đất nước, đến cái tỉnh Nam, cái thành Nam, đến cả làng Vị Xuyên nhỏ bé của Tú Xương, đến mọi tầng lớp

xã hội trong đó có tầng lớp nho sĩ, đến mọi gia đình, mọi người trong đó có gia đình Tú Xương, có Tú Xương

1.1.3 Tú Xương - chứng nhân và nạn nhân của một thời đại bi - hài lẫn lộn

Trần Tế Xương là nhà nho sống ở thành thị khi chế độ thực dân nửa phong kiến bắt đầu hình thành Trong thời đại ấy, ông vẫn giữ lề lối của nhà nho bằng hành động cả cuộc đời của ông gắn với chế độ khoa cử chân chính, không chịu sự uốn nắn theo những luật lệ trường thi mà ông cho đó là "vô lí,

kỳ quái" Vì thế mặc dù là người có tài nhưng chưa từng đỗ cử nhân, trong khi đó những kẻ dốt nát lại đỗ đạt Tú Xương căm ghét chế độ thi cử và cả chế độ đẻ ra chế độ thi cử ấy nhưng ông vẫn không thoát ra khỏi cái quy luật của chế độ này Và đây chính là tấn "bi - hài kịch" của chế độ ông

Ông là chứng nhân và cũng là nạn nhân của một giai đoạn bi thương nhất của đất nước, ông phải gánh chịu nhiều nỗi buồn, nhiều bất công Thực

Trang 9

dân Pháp từng bước, đặt ách thống trị lên đất nước, các phong trào chống Pháp nổ ra lần lượt thất bại Khi thâu tóm nước ta trong "guồng máy", thực dân Pháp đã điều khiển một cuộc đổi thay lớn về tình hình kinh tế - chính trị - văn hoá - xã hội… Hay trong một "xã hội phong kiến lỗi thời, cổ hủ, phản động bằng một xã hội thực dân nửa phong kiến mà mới ló mặt đã thấy đầm đìa bùn và máu" [3, 12] Khi đặt ách đô hộ, thực dân Pháp là "thổi luồng" với phương tây tân thời vào chế độ phong kiến với nền văn hoá phương Đông cổ truyền Sự đụng độ với hệ tư tưởng, nhân sinh quan, ứng xử văn hoá được xây dựng từ bao đời đã chịu "khuất phục" trước nền văn hoá phương tây Những cái mới, cái lạ được xuất hiện đó là những yếu tố ngoại lai đang giao thoa và lấn lướt nền văn hoá dân tộc Ông sống trong sự giao tranh đó, ông tự thấy mình bất lực trước thời cuộc Vì thế trong những sáng tác của mình, Tú Xương đã ý thức sáng tác, dùng thơ ca như một phương tiện phản ánh hiện thực đời sống và qua đó thể hiện tâm tư của tác giả

Nước mất, dân nô lệ, cả thế hệ nhà nho thời Tú Xương lâm vào bế tắc, bản thân Tú Xương rơi vào bi kịch cộng thêm hoàn cảnh nghèo túng của gia đình, dường như tất cả đã dồn Tú Xương vào chân tường

Chính điều này đã chia thơ văn Tú Xương thành hai mảng: cười cợt, mỉa mai cay đắng và sự trầm lắng, suy tư, đau xót, nghẹn ngào

1.2 TÚ XƯƠNG - NHÀ THƠ TRÀO PHÚNG LỚN TRONG LỊCH

SỬ VĂN HỌC DÂN TỘC

Trong thơ văn của mình, Tú Xương luôn đan cài tiếng nói trữ tình đằm thắm và tiếng cười trào phúng mạnh mẽ, lớn tiếng chỉ ra cái hài kịch đúng như nó vốn có của đối tượng không khoan nhượng Chính vì thế mà nhiều người đã tôn ông là "tổ thơ trào phúng Việt Nam" [21, 220], hay "Tú Xương đỉnh cao của nhà thơ trào phúng Việt Nam" [21, 437]

"Trong văn chương bác học, ý thức trào phúng cũng đã xuất hiện từ rất sớm Thời kỳ đầu, các nhà nho thường đan xen tiếng cười với ý nghĩa giảng đạo lý như Nguyễn Trãi (thế kỷ XV), Nguyễn Bỉnh Khiêm (thế kỷ XVI)…

Trang 10

Vào thời loạn li cuối thế kỷ XVIII và buổi giao thời Lê - Nguyễn đầu thế kỷ XIX, khuynh hướng trào phúng phát triển lên một bước mới với các tác giả: Nguyễn Hữu Chỉnh, Phạm Thái, Phạm Đình Hồ, Nguyễn Công Trứ và đặc biệt là nữ sĩ Hồ Xuân Hương Đến cuối thế kỷ XIX, trong những điều kiện lịch sử và xã hội đặc biệt, văn chương trào phúng đã nghiễm nhiên được "viên mãn" do công lao của các nhà thơ Nguyễn Khuyến Nguyễn Văn Lạc và đặc biệt Trần Tế Xương

Trong các nhà thơ trào phúng cuối thế kỷ XIX nói riêng và trong lịch

sử văn học dân tộc nói chung, có thể nói rằng Trần Tế Xương là "bậc thầy của thơ trào phúng" So với Tú Xương, thơ trào phúng của Nguyễn Khuyến tuy sắc bén xong vẫn tỏ thái độ "quân tử" của một nhà mô phạm mà đeo đuổi việc răn dạy người đời trong cái cười thì Trần Tế Xương đã mạnh dạn chuyên nghiệp hoá cây bút, tách rời văn chương trào phúng ra khỏi mọi lo toan thắc mắc có thể di hại cho sự tiến phát của nó Có thể nói rằng nhà thơ non Côi sông

Vị đã ghi công đầu tiên trong nền thi ca trào phúng nước nhà Cho cả đến ngày nay, hệ thống trào phúng của thơ ông hầu như chưa có ai vượt trội được "Nếu như Nguyễn Du, xứng đáng là một thi bá trong ngành thơ tình cảm, thì Trần Tế Xương đáng kể là một thi hào trong ngành thơ trào phúng Việt Nam" [21, 226]

1.2.1 Cảm hứng trào phúng trong thơ văn Trần Tế Xương

Cuối thế kỷ XIX, khi bắt đầu xảy ra sự va chạm giữa xã hội phong kiến

và nền văn minh tư sản, dưới ách thống trị của thực dân, cuộc sống tưởng như xây dựng trên nền tảng bất khả xâm phạm, bỗng nhiên bị phủ định không thương xót, cái tưởng là thiêng liêng, là bất di bất dịch bỗng trở thành cái lỗi thời, thảm hại, lố lăng

Với niềm tự hào dân tộc, lòng tự trọng của một nhà nho chân chính, có ý thức trách nhiệm trước cuộc đời đã thôi thúc Tú Xương sử dụng ngòi bút trào phúng chống lại sự đảo nghịch bi hài trong xã hội với một thái độ quyết liệt Có thể nói cái điểm tựa, cái vạch chuẩn trong chiều sâu cảm hứng của ông là truyền thống văn hoá đạo đức của dân tộc Tú Xương không bao giờ chấp nhận những

Trang 11

cái xấu xa trái với đạo lí, trái với truyền thống dân tộc Những cái lố lăng, đảo ngược, bi hài… đều là nguồn cảm hứng cho ngòi bút của Trần Tế Xương Với lối thơ đánh thép, không e ngại Tú Xương đã vạch trần, phanh phui, điểm chỉ những tên, những việc làm xấu xa dơ bẩn của xã hội nhố nhăng ấy

Tuy phạm vi phản ánh hiện thực chỉ bó hẹp trong thành phố Nam Định, nhưng người đọc cũng dễ dàng biết được đây là bức tranh thu nhỏ, điển hình cho cái xã hội thực dân nửa phong kiến đó Ở đây "hội tụ" đầy đủ những cái thối nát, mục ruỗng của xã hội là sản phẩm của xã hội vô luân, vô đạo đức

Đó là những tên quan dốt nát tham ô nhiễu sự ở phố Hàng Song, đến sự nhục nhã của một ông Cử trong "Lễ xướng danh khoa Đinh Dậu", hay là sự xuống cấp đạo đức gia đình như cha - con ở đất Vị Hoàng, cái lối sống vô đạo đức của ông quan bà lớn "chồng chung vợ chạ"…

Đứng trước hiện thực cuộc sống đầy rẫy xấu xa, thối nát ấy, Tú Xương

đã không ngần ngại dùng ngòi bút trào phúng để mỉa mai, để lột trần những cái vô đạo đức ấy Tiếng cười trong thơ Tú Xương đa thanh, nhiều giọng, lắm cung bậc Có khi đó là tiếng cười sắc đanh chỉa thẳng vào kẻ thù, có khi là tiếng cười mỉa mai những kẻ đánh lên án Dường như dưới cái nhìn của ông đối với mọi việc ở đất Thành Nam đều đáng cười, đáng lên án, vô nghĩa Tú Xương không bao giờ nghĩ đến đứng ngoài thời cuộc, đứng trên sự đời, mà nhà thơ tự nhủ: "Giương mắt làm chi buổi bạc tình", "Ngủ quách sự đời thây

kẻ thức" nhưng vẫn không sao nhắm mắt bịt tai trước thời thế đảo điên:

Ngoảnh cổ mà trông lại nước nhà

(Lễ xướng danh khoa Đinh Dậu)

Trong thơ Trần Tế Xương không phải đơn nhất tác giả sử dụng tiếng cười trào phúng mỉa mai mà ẩn đẳng sau đó là nỗi niềm thầm kín của tác giả,

là sự chua chát, phẫn uất trong nỗi bi kịch cá nhân và bất lực dằng xé trước thời cuộc Vì thế mà trào phúng và trữ tình là hai cảm hứng chủ đạo trong sáng tác Trần Tế Xương

Trang 12

Tóm lại, thời đại Tú Xương là một thời đại vừa bi vừa hài Đây chính là mảnh đất tốt, là nguồn cảm hứng cho văn học trào phúng nói chung và cho và cho thơ văn Tú Xương nảy mầm và phát triển

1.2.2 Thơ trào phúng của Tú Xương - một hiện tượng đỉnh cao của thơ trào phúng Việt Nam

Trên lịch trình thơ trào phúng Việt Nam có thể nhận thấy Tú Xương là

"ông tổ thơ trào phúng Việt Nam" [18, 220] và ông đã rất thành công khi dựng chân dung biếm hoạ

Trần Tế Xương sống trong giai đoạn xã hội đảo lộn, sự tan rã của giai cấp sĩ, sự lên đàn thống trị của giai cấp mới Nước mất, dân nô lệ, bất lực trước trọng trách cứu dân cứu nước, giai cấp sỉ đã tự chia thành 3 loại: một là đứng lên chống trả Pháp quyết liệt hoặc xuất dương mưu đồ phục hận mai sau; theo giặc hay một số rơi vào tình trạng bi quan yểm thế

Đây quả là bức tranh rộng lớn và phong phú để văn học trào phúng nảy mẫm

và phát triển Để thấy rõ điểm này, chúng ta hãy so sánh với các nhà thơ khác

Nữ sĩ Hồ Xuân Hương dường như không mấy khi "chỉ mặt vạch tên", đánh đích danh vào một thói hư tật xấu nào Bà chỉ chấm phá sơ lược về xã hội ngẩn ngơ, xấu xa: bọn thư sinh tồi tàn, bọn tăng lữ giả đạo đức, bọn học trò dốt… Nguyễn Khuyến cũng vậy, chỉ khái quát một vài khía cạnh, một vài thành phần xã hội Còn Trần Tế Xương thì ngược lại Bên cạnh những bài thơ nói một cách chung chung, thì tác giả còn chỉ đích danh, những tật hư thói xấu tỉ mỉ, rõ ràng:

Nào là ông sư phải tù:

Quảng đại từ bi cũng phải tù Hay là sự cụ vụng đường tu

(Sư ở tù)

Nào là ông Cò tây tỉnh Hà Nam:

Hà Nam danh giá nhất ông Cò Trông thấy ai ai chẳng dám ho

Trang 13

Nào quan giám khảo là thi hương trường Nam Định:

Sơ khảo trường Nam bác cử Nhu Thật là vừa dốt lại vừa ngu

Nguyên nhân cái cười của Trần Tế Xương không thể không nói đến thân thế của tác giả Đó là một nho sĩ tài hoa nhưng phải sống cảnh nghèo túng và nạn thi trượt

Không giống cảnh thanh bần của Nguyễn Khuyến, cái nghèo của Trần

Tế Xương là cái nghèo cùng cực

Tác giả viết:

Bức sốt nhưng mình vẫn áo bông Tưởng rằng ốm dậy hoá ra không Một đàn rách rưới con như bố…

Hay:

Gạo cứ lệ ăn đong bữa một

Vợ quen dạ đẻ cách năm đôi

Hoặc tác giả viết về nạn thi trượt của mình:

Trách mình phận hẩm lại duyên ôi

Đỗ suốt hai trường hỏng một tôi

Nhà thơ ngang nhiên cực tả cái gia cảnh điêu tàn khốn đốn của ông, hơn nữa ông lại còn bóc trần cả con người tinh thần hư hỏng của mình:

Biết chăng ? cũng chẳng biết gì Biết ngồi nhà hát, biết đi ả đào Biết thuốc lá, biết chè Tàu Cao lâu biết vị, hồng lâu biết mùi

Hay:

Cao lâu thường ăn quỵt Nhà thổ lại chơi lường

Trang 14

Tú Xương đã đặt mình vào bình diện của đám đông, đem bản thân lên bàn mổ xẻ của trào phúng cũng cho người đọc thấy được Tú Xương vừa vượt

xa lối "tự trào" còn vướng chủ quan và tự ái của Hồ Xuân Hương, của Nguyễn Khuyến, lại đồng thời khơi rộng đối tượng của văn chương trào phúng

Tú Xương được mệnh danh là "hiện tượng đỉnh cao của văn học trào phúng" Thơ trào phúng của Tú Xương hết sức đa dạng Có bài diễn đạt có vẻ trào phúng, nhưng cảm xúc lại trữ tình; ngược lại, có bài diễn đạt có vẻ trữ tình, những câu thơ được phát triển trong cái thế hài hoà, cân xứng nhưng thực chất lại trào phúng một cách tinh tế, kín đáo, sâu sắc Tiếng cười của Nguyễn Khuyến bao giờ cũng thâm trầm, kín đáo dù nhà thơ tự cười mình hay chế giễu cái xấu xa của cuộc đời Ở Tú Xương, biên độ tiếng cười cách biệt rõ rệt Trong những bài thơ viết về bà Tú cơ bản là trữ tình, nụ cười buồn buồn Trong những bài thơ tự cười cái nghèo, cười chuyện thi hỏng, hay cười vào thói ăn chơi của mình thì tiếng cười của ông pha lẫn nước mắt, nhiều lúc như tiếng cười gằn, nhiều lúc lại cười phá lên, có chút khinh bạc Còn đối với những cái xấu xa, nhơ bẩn của cuộc đời, tiếng cười của Tú Xương thường bốp chát, khinh bỉ…

Nghệ thuật trào phúng của Tú Xương đạt đến đỉnh cao, trước hết vì tiếng cười của ông là sự phê phán của một lí trí nhạy bén, nhưng đồng thời cũng là cảm xúc nhạy bén của con tim Nền cảm xúc trong thơ trào phúng của

Tú Xương rất chắc, nên tiếng cười trong thơ ông vang lên bật khỏi mà sắc thái, cung bậc vẫn phong phú Và chiều sâu của tiếng cười ấy là ở chỗ nhà thơ phát hiện được từ những mâu thuẫn đa dạng của sự vật, không phải chỉ những yếu tố gây cười mà còn là cái mâu thuẫn gắn liền với bản chất của sự vật, và ông có một nghệ thuật tổ chức bài thơ để đạt hiệu quả trào phúng cao

1.2.3 Nguồn mạch sức sống của thơ trào phúng Trần Tế Xương

Từ trước đến nay, Tú Xương nổi tiếng trên văn đàn với tư cách là một nhà thơ trào phúng kiệt xuất Điều đó đúng nhưng chưa đủ Trong thơ văn Tú

Trang 15

Xương không chỉ có tiếng cười châm biếm, đả kích mà còn là tiếng than, tiếng thở dài Tú Xương không chỉ là một nhà thơ trào phúng mà còn là một nhà thơ đậm chất trữ tình Trữ tình và trào phúng trong thơ Tú Xương chỉ là mặt này hay mặt khác của cùng một hiện tượng, chỉ là sự khúc xạ vào những lăng kính khác nhau của cùng một tâm hồn và nó thể hiện rõ ở giọng điệu

Trong lịch sử văn học dân tộc, xuất hiện nhiều nhà thơ trào phúng: Nguyễn Thiện Kế, Kép Trà, Tú Mỡ, Tú Sụn… thế nhưng có thể nói thơ của

họ không có sức sống lâu bền trong lòng độc giả như thơ trào phúng của Tú Xương Hầu hết trong những sáng tác của mình, các tác giả đã đẩy lùi, tách rời yếu tố trữ tình ra khỏi trào phúng, họ tập trung "gọt mài" lời thơ đanh thép thiên về đả kích Với Tú Xương, giọng điệu có khi là phê phán, trào phúng, mỉa mai, cay độc, có khi là giọng tự trào chua chát, buồn bã ngao ngán cho mọi biến đổi đáng buồn ở cuộc đời, khi thì giọng nanh nọc, bốp chát khó chịu Đằng sau và bên trong tiếng cười của Tú Xương là tâm tình sâu kín của nhà thơ, là sự chua chát phẫn uất trong nỗi bi kịch cá nhân và bất lực trước thời cuộc Thơ ông vì thế không thể cười hỉ hả thoả mãn Sau tiếng cười là cả một nỗi đau, cả nỗi niềm da diết sâu lắng của nhà thơ Nguyễn Tuân từng nói:

"Cái gốc hiện thực mà không có cái ngọn trữ tình, cái tán lãng mạn ấy thì Tú Xương tắt gió trong tôi từ lâu rồi" [20, 85]

Thơ trào phúng là lòng căm giận những thói hư tật xấu, những con người phản diện trong xã hội, xuất phát từ lý tưởng thẩm mỹ đúng đắn tiến

bộ Nếu chỉ xoay quanh ở cách nói hóm hỉnh, cách chơi chữ đùa vui, thơ trào phúng sẽ ít có ý nghĩa và không có sức hấp dẫn Ở Tú Xương nỗi đau lên đến tột cùng trong sự dằn vặt, dằng xé suy tư Do lẽ đó, bi kịch của Tú Xương so với Nguyễn Khuyến đã mang đậm cay đắng hơn và vì vậy nét hài cũng chua xót hơn

Những thi phẩm của Tú Xương sống mãi qua thời gian, có vị trí đáng

kể trong lịch sử văn học dân tộc, phải chăng Tú Xương đã gắn trào phúng vào yếu tố trữ tình ?

Trang 17

Theo Từ điển thuật ngữ văn học: trữ tình là "Phản ánh đời sống bằng

cách bộc lộ trực tiếp ý thức của con người, nghĩa là con người tự cảm thấy

mình qua những ấn tượng, ý nghĩa, cảm xúc chủ quan của mình đối với thế

giới và nhân sinh" [12, 316]

Trữ tình là biểu hiện, là bộc lộ tình cảm, tâm trạng Cái cơ bản nhất ở

trữ tình là những suy tư mang màu sắc cảm xúc, tâm trạng, tất cả đều liên

quan với cái tôi trữ tình tác giả Heghen cho rằng: "Nhà thơ trữ tình có thể tìm

kiếm sự kích thích sáng tạo và tìm kiếm nội dung bên trong bản thân mình,

tập trung vào những tình thế, trạng thái, xúc cảm và dục vọng nội tại của trái

tim và tinh thần mình" Có thể thấy hầu hết mọi trường hợp, trữ tình thường là

biểu hiện tâm trạng của nhà thơ Ở những bài thơ, chủ thể trữ tình đồng nhất

hoặc gần gũi nhiều nhất với bản thân nhà thơ được gọi là "tự thuật tâm trạng"

Sự tự biểu hiện - biểu cảm từng được nhiều nhà nghiên cứu xem là một trong

những thuộc tính quan trọng của trữ tình

2.1.2 Các phương diện biểu hiện của trữ tình trong thơ

Theo Trần Đình Sử: Thơ trữ tình cổ điển phương Đông có hai điểm

chính: "Thứ nhất, miêu tả một thế giới tinh thần lý tưởng, thống nhất hài hoà

cái khách quan và cái chủ quan Thơ ca cổ điển không thiên về miêu tả khách

quan, cũng không thiên về miêu tả, biểu hiện cảm xúc chủ quan như thơ lãng

mạn Các nhà thơ cổ điển chưa có ý thức tách bạch chủ thể và khách thể mà

chỉ nhìn từ một trong hai phía Thứ hai, xây dựng những quy tắc tổ chức tác

Trang 18

phẩm trên cơ sở đặc tính chất liệu với mô hình tác phẩm thơ lấy sự cân đối hài hoà làm nền tảng" [33, 12]

Do đề lên hàng đầu sự biểu lộ điểm nhìn của chủ thể trữ tình, việc miêu tả thế giới bên trong (phong cảnh thiên nhiên, các sự vật, các sự kiện…) ở tác phẩm trữ tình cũng phụ vụ mục đích tự biểu hiện Ở những trường hợp không xuất hiện trực tiếp cái "tôi" của tác giả, chỉ hiện diện một sự mô tả có vẻ khách quan, thì trong mạch ngầm văn bản vẫn cảm thấy có cái nhìn của chủ thể nhà thơ trong những chiêm nghiệm và bình giá thế giới

Cái nhìn trữ tình đối với thế giới nảy sinh khi con người (tác giả, người diễn xướng, người đọc) biểu lộ thái độ riêng của mình đối với thế giới xung quanh Bởi vậy, cái "tôi" tự biểu hiện có vai trò đặc biệt quan trọng trong trữ tình Do đó, "cái nhìn trữ tình" theo nghĩa rộng, như một năng lực thẩm mỹ của con người - năng lực tích tụ những trải nghiệm thầm kín, cả trong nghệ thuật lẫn trong đời thường

Phương thức trữ tình tái hiện các hiện tượng đời sống, như trực tiếp miêu tả phong cảnh thiên nhiên hoặc thuật lại ít nhiều sự kiện Sự tái hiện này không mang mục đích tự thân mà tạo điều kiện để chủ thể bộc lộ những cảm xúc, chiêm nghiệm, suy tưởng của mình Ở đây nguyên tắc chủ quan là nguyên tắc cơ bản trong việc chiếm lĩnh hiện thực, là nhân tố cơ bản quy định những dặc điểm cốt yếu của các tác phẩm trữ tình

Trong phương thức trữ tình, cái tôi trữ tình giữ một vị trí đặc biệt quan trọng vì nó là nguồn trực tiếp duy nhất của nội dung tác phẩm

Do thi phẩm trữ tình trình bày trực tiếp cảm xúc, tâm trạng, ý nghĩa của con người, nên xúc động trữ tình bao giờ cũng mang thời hiện tại Ngay cả khi tác phẩm trữ tình nói về quá khứ, về những chuyện đã qua, xúc động trữ tình vẫn được thể hiện như một trạng thái sống động Nhờ đặc điểm này, những rung động thầm kín mang tính chủ quan, cá nhân, thậm chí cá biệt của tác giả dễ dàng được người đọc tiếp nhận như rung động của chính bản thân

họ

Trang 19

Nội dung của phương thức trữ tình đòi hỏi một hình thức thể hiện phù họp, tương ứng Lời văn của tác phẩm trữ tình phải hàm súc, giàu nhịp điệu Chính vì thế, tác phẩm trữ tình có thể được viết bằng thơ hoặc văn xuôi, nhưng thơ vẫn là hình thức tổ chức ngôn từ phù hợp nhất với nó

2.1.3 Biểu hiện của trữ tình trong thơ trào phúng

Cảm hứng trào phúng trong văn học Việt Nam có từ sớm, trước hết có

từ trong văn học dân gian Trong văn học viết từ thế kỷ XIII, theo Bùi Văn Nguyên - Hà Minh Đức, một số tác giả đã làm thơ trào phúng như Nguyễn Sỹ

Cố Từ thế kỷ XVI trở đi, các nhà thơ trào phúng xuất hiện ngày càng nhiều như: Nguyễn Bỉnh Khiêm, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Khuyến, Tú Xương…

Văn học trào phúng là loại văn học dùng tiếng cười để nhận thức, phản ánh hiện thực xã hội Chừng nào trong hiện thực đời sống còn có những hiện tượng bi - hài, những hiện tượng đáng cười thì chừng đó văn học trào phúng còn tồn tại và phát triển

Trào phúng dùng lời lẽ bóng bẩy, kín đáo để cười nhạo, mỉa mai kẻ khác Song trong lĩnh vực văn học, trào phúng gắn liền với phạm trù mỹ học

và cái hài với các cung bậc hài hước, châm biếm Những cái ngược đời, đảo lộn, xấu xa, … đều được đề cập trong văn học trào phúng

Trên cơ sở phát hiện ra mâu thuẫn trào phúng ở đối tượng, tác giả trào phúng có thể dùng nhiều thủ pháp nghệ thuật để tạo ra tiếng cười hoặc là tiếng cười vui dí dỏm không nhằm phê phán, đả kích đối tượng, hoặc tiếng cười phê phán nhẹ nhàng, hoặc là tiếng cười phê phán đả kích đối tượng một cách mạnh mẽ, sâu sắc Nhưng ẩn đằng sau chuỗi cười vang phê phán đả kích

ấy là cả một nỗi tâm sự, là cái buồn cái thở dài trữ tình

Điều này chứng tỏ rằng, giữa trào phúng và trữ tình có mối quan hệ bên trong Dù ở dạng nào thì chủ thể sáng tạo đều nhằm bộc lộ tình cảm của mình Tuy nhiên dạng thức bộc lộ có những cung bậc sắc thái khác nhau Một mặt là bộc lộ trực tiếp tình cảm chủ thể (trữ tình), một mặt thông qua tiếng cười để

đả kích, châm biếm đối tượng nào đó và qua đó bộc lộ tình cảm của mình

Trang 20

Như vậy, thơ trào phúng là dạng trữ tình "đặc biệt", mà qua sự lên án phủ nhận, đả kích những giá trị đảo ngược, lố lăng đó, tác giả bộc lộ tình cảm của mình Cười đấy, ngông đấy nhưng thực ra đằng sau tiếng cười có khi là tiếng thở dài, là nước mắt, là nỗi đau không chỉ là của một cá nhân cụ thể mà rộng hơn là của cả xã hội

Vấn đề có thể khép lại bằng luận điểm của L I Timôphêep "trào phúng

là một loại đặc biệt của sáng tác văn học gần gũi với trữ tình, sử thi và kịch trong những trường hợp cụ thể"

2.2 BIỂU HIỆN CỦA TRỮ TÌNH TRONG THƠ TRÀO PHÚNG TRẦN TẾ XƯƠNG

2.2.1 Nhân vật trữ tình và cái tôi tác giả trong thơ trào phúng của Trần Tế Xương

Trong sáng tác của mình, những cái ngược đời, đảo lộn, "chướng tai gai mắt", … đều được Trần Tế Xương đề cập khá chân thực với lối châm biếm,

đả kích, phủ nhận triệt để Người đọc dễ dàng nhận thấy một nhà thơ có cá tính mạnh mẽ, một tài năng thơ ca Bên cạnh đó, Trần Tế Xương đã có những bài viết về mình, viết về cuộc sống tâm tư, tình cảm của mình và đã thể một cái tôi trữ tình khá rõ

Nhân vật trữ tình - tác giả được thể hiện khá nhiều trong thơ Chúng ta biết rằng, nhân vật trữ tình có quan hệ mật thiết với con người tác giả nhưng không hoàn toàn đông nhất với tác giả "Nhân vật trữ tình là con người "đồng dạng" của tác giả Nhà thơ hiện ra từ văn bản của kết cấu trữ tình… như một con người có đường nét hay một vai sống động có số phận cá nhân xác định hay có thế giới nội tâm cụ thể, đôi khi có cả nét vẽ chân dung" [12, 201]

Tú Xương đã đưa mình vào thơ như một nhân vật khách thể: Nhân vật

Tú Xương có cá tính rõ rệt và ít nhiều có ý nghĩa điển hình sâu sắc cho cả một lớp người trong thời đaị đương thời Nhân vật trữ tình ấy, dù được khách thể hoá, nhưng trước hết cũng thuộc thế giới trữ tình của tác giả Nhân vật trữ tình với tác giả vừa là một, vừa không là một, vì nó là nhân vật của văn học, được

Trang 21

xây dựng theo quy luật sáng tạo của nghệ thuật vốn dĩ vừa hư vừa thực nhưng tất cả là trên một nền tâm trạng thực, nhân cách thực của tác giả

Nhân vật Tú Xương đã tự xưng khi thì "bằng "tôi", bằng "ta", bằng

"mi", bằng "tớ", khi thì bằng "thằng tôi", bằng "bác", bằng "ông", bằng "thầy"

và có khi bằng "em" nữa" [3, 28] Không dưới 60 lần, Tú Xương đã tự xưng danh trong nhiều thi phẩm của mình Nhân vật Tú Xương tự nói về mình, về cuộc sống tâm tư tình cảm của mình cũng thật khác lạ, "cứ như là cố bôi cho đen kịt mình đi" (Tự vịnh, Tự cười mình, Hỏng khoa Canh Tí…) [3, 28] Đằng sau những bức tranh Tú Xương tự hí hoạ mình là cả một tâm hồn phong phú, một nhân cách đáng trân trọng Không chỉ những cái ngược đời, lố lăng ngoài xã hội mà ngay cả những thói tật của mình cũng được ông đề cập đến;

Tú Xương không hề giấu giếm, e ngại mà thậm chí Tú Xương còn thổi phồng lên, trước hết là cho vui sự đời, dù là vui gượng, nhưng quan trọng là muốn được tách mình ra khỏi lớp người xấu xa của thời buổi không may mình phải sống Tuy chưa có một lý tưởng sống cao đẹp, tích cực nhất, nhưng ít ra Tú Xương cũng đã tạo cho mình một triết lý sống trong sạch của một kẻ không chịu nhập vào dòng đời ô trọc kia Như nhân vật Chú Mán trong bài "Bần như lạc" (Nghèo mà vui) chính là tác giả chứ không ai khác

Như chúng ta đã biết, Tú Xương lớn lên thì chế độ thực dân nửa phong kiến bắt đầu hình thành Chế độ nhà nước này vẫn tiếp tục duy trì chế độ khoa

cử để tuyển chọn nhân tài ra giúp đời giúp nước Ví như đây là một cuộc thi chân chính thì rất đỗi tự hào, nhưng ngược lại chế độ khoa cử lúc bấy giờ đã mục ruỗng, nó được tổ chức lại theo ý đồ của bộ máy thuộc địa Thế nhưng ông củng cố đi thi để lập thân Năm 15 tuổi, Tú Xương đã đi thi, mãi đến năm

24 tuổi mới được bằng tú tài Khối nỗi, cái danh "ông tú" "dở ông dở thằng" chưa được bổ làm quan nên Tú Xương luôn nung nấu giấc mộng cử nhân:

Anh lăm le bia đá bảng vàng, cho vang mặt vợ

(Văn tế sống vợ)

Trang 22

Và cứ thế trường ốc đeo đẳng trói buộc cuộc đời khốn khổ của Tú Xương Ông thi trượt không phải vì dốt, mặc dầu ông vẫn nói:

Rõ thật Nôm hay mà chữ dốt Tám khoa chưa khỏi phạm trường quy

là cả một nỗi niềm chua chát của ông, nhưng đồng thời đây cũng là dịp hứng khởi cho nhiều sáng tác đặc sắc của ông:

Ăn yến xem ra có thịt công

Cái "hư", cái "thật", cái "giả" được phơi bày rõ ràng là tuỳ vào sự thẩm định đánh giá của người đời Tú Xương cố tình phóng đại những thói hư tật xấu của mình cho người khác cười Cho người đời cười mình cũng là cách để mình dễ dàng cười những hiện tượng lố lăng, kệch cỡm

Nghiện chè nghiện rượu, nghiện cả cao lâu Hay hát hay chơi hay nghề xuống lõng Quanh năm phong vận, áo hàng tàu, khăn nhiễu tím, ô lục

Trang 23

Hay hình bóng Tú Xương qua nhân vật Chú Hán Tú Xương muốn lấy

sự ăn chơi của mình để cười vào xã hội, cho nên hình ảnh chú Mán rất ăn chơi:

Khi cao lâu, khi cà phê, khi nước đá, khi thuốc lá khi đủng đỉnh ngồi xe

(Chú Mán)

Một cái tôi "ngông", cái tôi bất hợp pháp trong các bài thơ viết về bản thân, viết về những đảo lộn mọi giá trị của xã hội đã nhường bước cho giọng điệu trữ tình, đằm thắm khi Tú Xương viết về vợ của mình

Thật cởi mở, đầy nghĩa tình đằm thắm, ông cảm nhận sâu sắc công ơn của vợ với mình, với con mình:

Quanh năm buôn bán ở mom song Nuôi đủ năm con với một chồng

(Thương vợ)

Thương vợ bao nhiêu, ông lại thấy mình vô tích sự bấy nhiêu, ông buột lên một tiếng chửi, chửi cái anh chồng "dài lưng tốn vải" là mình, chửi luôn

cả thói đời bạc bẽo đẻ ra loại chồng như mình:

Cha mẹ thòi đời ăn ở bạc

Có chồng hỡ hững không như không

Thấu hiểu nỗi nhọc nhằn, cơ cực của vợ khi phải "nuôi đủ năm con với một chồng", ông chẳng biết làm gì để đỡ đần cho vợ, ông chỉ biết làm thơ đùa, làm thơ nịnh vợ bằng cách đưa vợ ra làm văn tế sống:

Con gái nhà dòng, lấy chồng kẻ chợ

Tiếng có miếng không, gặp chăng hay chớ

Mặt nhẵn nhụi, tay chân trắng trẻo ai dám chê rằng béo rằng lùn Người ung dung, tính hạnh khoan hoà, chỉ một nỗi hay gàn hay dở Đầu sông bãi bến, đua tài buôn chín bán mười

Trong họ ngoài làng, vụng lẽ chào dơi nói thợ…

(Văn tế sống vợ)

Trang 24

Đề tài tình bạn trong thơ của Tú Xương cũng thật phong phú, chân tình Những người bạn là bậc đáng kính, đáng tôn thì cái tình của Tú Xương gắn

bó, hồn nhiên và rất đỗi tha thiết:

Đi đâu một bước một chờ Vắng nhau một khắc một giờ khôn khuây

(Viếng bạn)

Tú Xương còn mở rộng tình thương của mình ra khỏi phạm vi quan hệ

cá nhân, lo cái lo chung của thiên hạ khi đại hạn lâu ngày

Dạo này đá chảy với vàng trôi Thiên hạ mong mưa đứng lại ngồi

(Thề với người ăn xin)

Nhân vật trữ tình Tú Xương thường trăn trở, thao thức đối với vận mệnh của non sông đất nước Nỗi niềm, tâm sự yêu nước của Tú Xương được thể hiện trong thơ thường là cảnh của đêm tối, trong bối cảnh đó nhà thơ thể

hiện một nỗi buồn lưng đọng:

Kìa cái đêm nay mới gọi đêm Mắt giương, trong bụng ngủ không thèm Tình này ai tỏ cho ai nhỉ ?

Tâm sự năm canh một ngọn đèn

Trang 25

Tâm trạng "đêm nảo đêm nao tớ cũng buồn" không phải là tâm trạng của một mình tác giả mà đó là tâm trạng bao trùm lên một bộ phận trí thức nho sĩ trong cuộc đổi thay nghịch chiều của thời cuộc vào những năm cuối thế

kỷ XIX - đầu thế kỷ XX đang cố tìm hướng đi đúng

Các tôi tác giả, nhân vật trữ tình trong thơ Tú Xương được thể hiện khá

rõ, có cá tính riêng, đặc điểm riêng của con người Tú Xương Ở Tú Xương ta thấy một kiểu giả muốn phả bỏ tính quy phạm chuẩn mực của loại hình tác giả trong thơ trung đại để tìm cho mình một hướng đi mới - ý thức khẳng định

đã xoá bỏ lối nói nghi thức, tiếp cận với cách nói thông tục, dân dã Nếu như

nụ cười của Nguyễn Khuyến có vẻ thâm thuý, hóm hỉnh thì tiếng cười của Tú Xương là "tiếng cười gằn mảnh vỡ thuỷ tinh" Không chỉ diễu đời, nhạo thế, nhà thơ còn lấy mình làm đối tượng để tự trào:

Ở phố hàng Nâu có phổng sành Mắt thời thao láo, mặt thời xanh Vuốt râu nịnh vợ, con bu nó, Quắc mắt khinh đời, cái bộ anh ! Bài bạc rượu cờ cao nhất xứ, Rượu chè trai gái đủ tam khoanh

Trang 26

Tú Xương nổi tiếng trước hết là nhà thơ trào phúng, nhưng những biểu hiện của trữ tình như những điều trình bày trên đây, ta thấy rõ trong thơ ông Giọng điệu trữ tình trong thơ ông đậm màu xúc cảm Tuy nhiên đều là giọng của tác giả nhưng giọng trữ tình ở những bài thơ trữ tình có những biểu hiện khác với giọng trữ tình ở những bài thơ trào phúng

Thơ văn trào phúng của Tú Xương bao giờ cũng gắn với trữ tình Đằng sau trào phúng bao giờ cũng ẩn chứa những yếu tố trữ tình

Từ khi thực dân Pháp bước chân đặt xuống mảnh đất dân tộc Việt đã kéo theo sự xuống cấp của đạo đức, tôn giáo, giá trị đạo lý tồn tại hàng nghìn đời nay đã bị thế lực đồng tiền làm mai một Sự suy thoái, xuống cấp này đã len lỏi vào quan hệ được xem là tốt đẹp nhất - đó là tình cảm vợ chồng

Tiếng nói trữ tình của nhà thơ hướng vào người sống và cả người chết Một người con gái trẻ trung phải "lấy làm hai họ" - ông ký và thầy tây Thầy tây dựa vào quyền lực để buôn hoa bán nguyệt, còn thầy ký biến vợ mình thành món hàng, thành công cụ làm tiền Điều này đã được Tú Xương lật tẩy

và đã phơi bày trong bài "Mồng hai tết, viếng cô ký":

Cô ký sao mà đã chết ngay ?

Ô hay, trời chẳng nể ông tây ! Gái tơ đi lấy làm hai họ

Năm mới vừa sang được một ngày

Hàng phố khóc bằng câu đối đỏ,

Trang 27

Ông chồng thương đến cái xe tay ! Gớm ghê cho những cô con gái,

Mà vẫn đua nhau lấy các thầy !

Bức tranh xã hội về vấn đề đạo lý được phơi bày Có thể nói sau tiếng cười đả kích, châm biếm ấy là cả một nỗi đau về nhân thế, nỗi đau về sự mục ruỗng của đạo đức con người trong xã hội thực dân nửa phong kiến

Có thể nói cuộc đời của Tú Xương gắn với các thời kỳ khoa cử do đó mà ông đã tận mắt chứng kiến bộ mặt thực của xã hội qua trường thi

Theo lẽ thường, mọi người đi thi đều mong đỗ, nhưng nhìn cảnh chầu chực của các ông cử tân khoa đã khiến nhà thơ buồn cười Này, những cái

"đầu rồng" lêu nghêu như rồng ở sân đặt cách dưới cái "đít vịt" loi ngoi của

bà đầm trên ghế là bức ký hoạ tệ nhất đời:

Một thằng hỏng đứng mà trông,

Nó đỗ khoa này có sướng không ? Trên ghế bà đầm ngoi đít vịt, Dưới sân ông cử ngỏng đầu rồng !

(Diễu người thi đỗ)

Cười mà đau, mà chảy nước mắt, tác giả đã lột tả hết nỗi nhục nhã của người thi đỗ khoa Đinh Dậu (1897) ở Bắc Kỳ Tất cả là một giọng điệu phủ nhận, phủ nhận cái vinh quang và sự tội nghiệp của các sĩ tử An Nam

Đi sâu vào tiếng cười của Tú Xương, Nguyễn Tuân nhận xét: "Trở lại cái cười của Tú Xương, mà thấy có lúc Tú Xương dựa hẳn vào con chữ trong

từ ngữ mà gieo rắc tiếng cười Có lúc chữ thơ không trực tiếp làm ra tiếng cười, mà ý cười lại lẫn vào cái cảnh ngộ tình tiết dẫn ra Có cái cười tức khắc,

có cái cười mai phục, cái cười cốt mình nổ chậm, có cái cười "làm giặc" Có khi cười sỗ sàng, và khi không cần bóng bẩy, tế nhị…" [21, 317] Giọng điệu trữ tình trong thơ Tú Xương trở thành giọng điệu riêng cơ sự kết hợp với giọng điệu trào phúng, có lúc dữ dội, lúc lắng đọng Thơ Tú Xương lắm sắc

Trang 28

giọng, nhiều cung bậc, sắc thái, có cái quyết liệt của giọng chửi, có cái đằm thắm sâu lắng của nỗi niềm tâm sự riêng tư và nỗi u hoài man mác

Thơ Tú Xương trải dài với thời gian bởi lẽ sau tiếng cười ấy là cả tâm tình của nhà thơ Tú Xương cười người, cười đời hay cười chình mình thì sau tiếng cười đó dường như có cả tiếng khóc lẫn lộn Con người vừa ghét đời vừa thương đời ấy chung quy lại cười đời để khóc cho đời, để làm nguôi ngoai bao nỗi phiền muộn đắng cay của cuộc đời mình Chính mối quan hệ kết hợp đan xen, lồng gắn vào nhau giữa hai yếu tố trào phúng và trữ tình đó

đã làm cho thơ Tú Xương thêm phần sâu sắc

2.2.3 Thơ trào phúng Trần Tế Xương - tiếng cười chảy ra nước mắt

Trong toàn bộ sáng tác của Tú Xương, người đọc dễ dàng nhận thấy sự phối hợp, phụ thuộc, chuyển hoá lẫn nhau giữa hai yếu tố trào phúng và trữ tình Thế nhưng trước đây, phần nghệ thuật trữ tình chưa được đánh giá đúng mức hoặc ít được chú trọng Khi nhắc đến Tú Xương thì người đọc liên tưởng đến "những cái cười mỉa mai, cay độc, những câu chữ tinh vi mà tàn nhẫn, những ngọn roi rất sắc, rất ngọt quất thẳng cánh vào những thói hư tật xấu của một xã hội giao thời, lúc chủ nghĩa phong kiến suy tàn và chủ nghĩa tư bản xâm nhập" [21, 199] mà quên đi một phần nghệ thuật biểu hiện những u uất của ông, một cá nhân bị xã hội hắt hủi, một trí thức yêu nước phẫn uất bất lực trước hành động xâm lược đồng hoá của giặc, sự yếu hèn của triều đình nhà Nguyễn, và con đau đớn hơn khi ông phải chứng kiến những cuộc đổi thay, những đảo ngược của mọi giá trị

Không phải ở những bài thơ trữ tình thì xuất hiện yếu tố trữ tình mà ngay cả những bài thơ trào phúng với lời thơ đanh thép, mỉa mai, châm chích thẳng vào đối tượng với chuỗi cười đả kích… thì đằng sau ấy là cả một nỗi niềm tâm sự, trào phúng cười chảy ra nước mắt

Cái vui, cái buồn, cái cười, cái khóc từ trong cuộc sống bước vào văn học đã hoà quyện vào nhau đan xen vào nhau và chúng đều xuất phát từ nỗi

Trang 29

niềm tâm sự của con người Vonte nói: "Con người là loài duy nhất biết cười

và biết khóc" [30, 37]

Khoảng cuối thế kỷ XIX, sang đầu thế kỷ XX, trong văn học Việt Nam xuất hiện nhiều tiếng cười Đó là những "cái cười tràn ra từ nước mắt" Họ khóc mà cười, cười mà khóc vì khi đất nước rơi vào tay bọn xâm lược thì bao nhiêu cái chướng tai gai mắt diễn ra hàng ngày Bọn thực dân Pháp thống trị

và bọn vua quan bu nhìn bày ra lắm chuyện vừa đáng căm giận, vừa đáng gây cười Bao nhiêu sự kiện xảy ra: cảnh quan khập khiễng nửa phố nửa làng, cảnh mua quan bán chức trắng trợn, đĩ điếm lên ngôi mệnh phụ, đền chùa dày đặc dân phe, con khinh bố, vợ chửi chồng… còn bản thân bị xã hội ruồng bỏ, lập thân bằng công danh thì lận đận, thương vợ thương con muốn đỡ đần những không được… Tất cả sự việc này đã được Tú Xương đề cập trong sáng tác là những tiếng cười, những chuỗi cười Những tiếng cười đẫm lệ thâm thầm, nức nở hay những giot lệ lung linh, nóng bỏng bật ra tiếng cười, hàm chứa đầy tính bi hài Tiếng cười của Tú Xương tiêu biểu cho tiếng cười của các nhà thơ trào phúng, tiếng cười trào phúng gắn với trữ tình đằm thắm

Cái cười đã được đề cập khá nhiều trong văn học dân tộc Ca dao xưa

có câu:

Làm người có miệng có môi

Khi buồn thì khóc khi vui thì cười

Hay trong thơ Bà huyện Thanh Quan có câu:

Tạo hoá gây chi cuộc hí trường

Nguyễn Công Trứ cũng có câu thơ lý thú về cái cười cái khóc:

Ngồi buồn muốn trách ông Xanh Khi vui muốn khóc, buồn tênh lại cười

Cái cười của Tú Xương rất nhiều khi vì "buồn tênh lại cười" Đúng là cười ra nước mắt

Tú Xương đi thi nhiều mà hỏng thi cũng lắm cho nên thơ phú của ông

nói về thi cử cũng rất nhiều

Trang 30

Được gần trường ốc vùng Nam Định, Thua mãi anh em cánh Bắc Kì

(Buồn thi hỏng)

Ông cay vì xoay hết cách: nào đổi "Tế" làm "Cao", nào "lễ thánh xem giờ", bà Tú thì "sáng đi lễ phật", "đêm dậy cầu trời" thế mà lần nào tên ông cũng được ghi trên bảng nhỏ dành cho những kẻ sĩ phạm trường quy Thật là:

Đau đớn đòn hằn, Rát hơn lửa bỏng

Hổ bút hổ nghiên, Tủi lều tủi chõng…

(Phú hỏng thi khoa Canh Tý)

Quá cay đắng ông đã thốt hai câu thơ nguyền rủa, oán trách, hằn học trút giận:

…Tế đổi làm Cao mà chó thế ! Kiện trông ra tiệp hỡi trời ôi !

(Hỏng thi khoa Quý Mão)

Những bài thơ, phú về thi hỏng người đọc nhận thấy Tú Xương là một nạn nhân của khoa cử, những uất ức được ông nhắc đi nhắc lại nhiều lần trong sáng tác

Ví phỏng còn thi mà học mãi, Hao cơm, tốn vải, hại mà thôi !

Sự chán nản đã ngập tràn trong Tú Xương, sự bực tức bật ra tiếng cười, điệu cười của người ngang tàng, Tú Xương tự cười mình, cứ ba năm một lần thi:

Đưa chân cô mất ba tiền lẻ

Trang 31

Tú Xương phải tự an ủi mình một cách khôi hài:

Ỷ sẵn kẻ lo toan việc nước, vua chửa dụng hiền

Hay thiếu người dậy dỗ đàn con, trời còn bắt học ?

Trong thâm tâm, Tú Xương biết đường khoa danh là đường luỵ nhưng

Tú Xương lại coi công danh là món nợ của nam nhi, phải trả bằng được:

Ta chửa trang xong cái nợ ta

Lẽ đâu chịu mãi nợ ru ta !

Tú Xương muốn chứng minh tài năng của mình ở trường thi, quyết không chịu khuất phục, nhưng càng lao vào thi cử, càng thấy mình chồng chất thêm bao nỗi chua chát Từng lặn lội với trường thi, Tú Xương thấy rõ chuyện thi cử lúc này chứa bao điều phi lí, bất công Tú Xương nhận thấy bao kẻ đỗ đạt chẳng phải do tài năng đích thực của họ mà do đồng tiền chi phối "Đứa trọng thằng khinh chỉ vì tiền" Tất cả kẻ đỗ đạt dưới con mắt của Tú Xương chỉ là một lũ bất tài:

Cử nhân: cậu ấm Kỷ,

Tú tài: con đô Mỹ

(Than sự thi)

Không chịu được ông bật tiếng chửi:

Thi thế mới là thi !

Điều này cho thấy đối tượng đả kích trong thơ Tú Xương rất rộng, tuy nhiên không phải vì thế mà Tú Xương đả kích châm biếm chung chung mà ông chỉ mặt gọi tên cụ thể Ở đây yếu tố trữ tình ít lộ diện nhưng người đọc cũng dễ nhận ra thái độ tình cảm, sự bộc lộ nội tâm của cái "tôi" tác giả

Trang 32

Ở những bài thơ trào phúng này (khoảng 56 bài  41%) ta thấy tiếng cười của Tú Xương đanh thép xen vào đấy là cả một nỗi đau sâu sắc Tiếng cười Tú Xương là sự phê phán của một lí trí nhạy bén nhưng đồng thời cũng

là cảm xúc nhạy bén của một con tin Bản thân những cảnh ngang trái đã bị

Tú Xương vạch mặt chỉ trích là những cái đáng lên án, đáng cười Nhưng người đọc thấu hiểu Tú Xương cười nó và thể hiện nó đã nhìn qua dòng nước mắt của chính tâm hồn mình, của tấm lòng đau xót vì tình cảnh nước nhà Nỗi đau sâu thẳm trong lòng Tú Xương là khi phải chứng kiến cái nhốn nháo của buổi giao thời Cái trang nghiêm của trường thi, cái vinh dự "áo phượng mũ rồng" của ông cử trong "lễ xướng danh" đã không còn, mà thay vào đó là cái

ồn ào xô bồ của đám đông, trong mắt Tú Xương nói lên cái nhốn nháo "lôi thôi", "lếch thếch" của sĩ tử, cái "ậm oẹ" của quan trường, cái rợp trời của cờ, của lọng che cho quan sứ mụ đầm

Nhà nước ba năm mở một khoa, Trường Nam thi lẫn với trường Hà Lôi thôi sĩ tử vai đeo lọ,

Ậm oẹ quan trường miệng hét loa

(Lễ xướng danh khoa Đình Dậu)

Tú Xương ngậm ngùi mà thương cho cả trường thi, thương cho đám sĩ

tử chịu nhục:

…Trên ghế bà đầm ngoi đít vịt, Dưới sân ông cử ngỏng đầu rồng !

(Giễu người thi đỗ)

Bức tranh biếm hoạ thật sinh động và cũng toát ra nỗi đau đời đến thế

Bà đầm ngồi trên khán đài trên cao, còn các ông cử tân khoa mặc áo thụng xanh phải "lên gối xuống gối lạy ở dưới sân đình" [30, 34] Nghệ thuật đối được Tú Xương sử dụng đã đem lại hiệu quả trào phúng sâu sắc: "Bà đầm ngoi đít vịt" thì ở trên, còn "ông cử ngỏng đầu rồng" thì ở dưới; ở trên thì

"ngoi", ở dưới thì "ngỏng" làm cho người chứng kiến tê tái vô cùng Tú

Ngày đăng: 27/07/2021, 17:05

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Lại Nguyên Ân (2003), 150 thuật ngữ văn học, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
Năm: 2003
[2] Lại Nguyên Ân - Chủ biên (1998), Từ điển văn học Việt Nam từ nguồn gốc đến hết thế kỷ XIX, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển văn học Việt Nam từ nguồn gốc đến hết thế kỷ XIX
Tác giả: Lại Nguyên Ân - Chủ biên
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998
[3] Nguyễn Đình Chú - Lê Mai (1984), Thơ văn Trần Tế Xương, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ văn Trần Tế Xương
Tác giả: Nguyễn Đình Chú, Lê Mai
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1984
[4] Lê Chí Dũng (2001), Tính cách Việt Nam trong thơ Nôm Đường luật, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tính cách Việt Nam trong thơ Nôm Đường luật
Tác giả: Lê Chí Dũng
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2001
[5] Xuân Diệu (1998), Các nhà thơ cổ điển Việt Nam, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các nhà thơ cổ điển Việt Nam
Tác giả: Xuân Diệu
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1998
[6] Vũ Văn Dũng (1951), Thân thế và thơ văn Tú Xương, Nxb Cây Thông, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thân thế và thơ văn Tú Xương
Tác giả: Vũ Văn Dũng
Nhà XB: Nxb Cây Thông
Năm: 1951
[7] Phan Cư Đệ, Trần Đình Hượu… (2000), Văn học Việt Nam (1900 - 1945), Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam (1900 - 1945)
Tác giả: Phan Cư Đệ, Trần Đình Hượu…
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2000
[8] Biện Minh Điền, Các bài giảng về Trần Tế Xương, Đại học Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các bài giảng về Trần Tế Xương
Tác giả: Biện Minh Điền
Nhà XB: Đại học Vinh
[9] Nguyễn Đăng Điệp (2002), Giọng điệu trong thơ trữ tình, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giọng điệu trong thơ trữ tình
Tác giả: Nguyễn Đăng Điệp
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2002
[10] Dương Quảng Hàm (2002), Việt Nam văn học sử yếu, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam văn học sử yếu
Tác giả: Dương Quảng Hàm
Nhà XB: Nxb Hội nhà văn
Năm: 2002
[11] Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (1992), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Tác giả: Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1992
[12] Nguyễn Văn Huyên, Đỗ Huy Vinh… Sưu tầm tuyển chọn (1986), Tú Xương tác phẩm và giai thoại, Nxb Văn học nghệ thuật, Hà Nam Ninh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tú Xương tác phẩm và giai thoại
Tác giả: Nguyễn Văn Huyên, Đỗ Huy Vinh… Sưu tầm tuyển chọn
Nhà XB: Nxb Văn học nghệ thuật
Năm: 1986
[13] Trần Đình Hượu (1995), Nho giáo và văn học Việt Nam trung cận đại, Nxb Văn hoá thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nho giáo và văn học Việt Nam trung cận đại
Tác giả: Trần Đình Hượu
Nhà XB: Nxb Văn hoá thông tin
Năm: 1995
[14] Trần Đình Hượu, Lê Chí Dũng (1988), Lịch sử văn học Việt Nam giai đoạn giao thời 1900 - 1930, Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử văn học Việt Nam giai đoạn giao thời 1900 - 1930
Tác giả: Trần Đình Hượu, Lê Chí Dũng
Nhà XB: Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp
Năm: 1988
[15] Vũ Ngọc Khánh (1974), Thơ văn trào phúng Việt Nam, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ văn trào phúng Việt Nam
Tác giả: Vũ Ngọc Khánh
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1974
[16] Nguyễn Lộc (1997), Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XVIII - hết thế kỷ XIX, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XVIII - hết thế kỷ XIX
Tác giả: Nguyễn Lộc
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1997
[17] Nguyễn Lộc (1961), Tú Xương - Con người và nhà thơ, Nxb Văn hoá Viện văn học Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tú Xương - Con người và nhà thơ
Tác giả: Nguyễn Lộc
Nhà XB: Nxb Văn hoá Viện văn học Hà Nội
Năm: 1961
[18] Trần Thanh Mại (1957), Đấu tranh chống hai quan niệm sai lầm về Tú Xương, Nxb Nghiên cứu - Cục xuất bản, Bộ văn hoá, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đấu tranh chống hai quan niệm sai lầm về Tú Xương
Tác giả: Trần Thanh Mại
Nhà XB: Nxb Nghiên cứu - Cục xuất bản
Năm: 1957
[19] Trần Thanh Mại - Trần Tuấn Lộ (1961), Tú Xương, con người và nhà thơ, Nxb Văn hoá, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tú Xương, con người và nhà thơ
Tác giả: Trần Thanh Mại - Trần Tuấn Lộ
Nhà XB: Nxb Văn hoá
Năm: 1961
[20] Lữ Huy Nguyên (1996), Tú Xương thơ và đời, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tú Xương thơ và đời
Tác giả: Lữ Huy Nguyên
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1996

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w