Tản Đà đã làm thật tốt chức năng của văn chương khi ông không ngần ngại vượt ra khỏi những giáo điều Nhogiáo để cho ra đời những áng văn chương phá cách phản ánh đúng sự thay đổi chóng m
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1.Lí do chọn đề tài 1
2.Lịch sử vấn đề 3
3.Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu: 9
3.1.Mục đích nghiên cứu 9
3.2 Đối tượng nghiên cứu 10
3.3.Phạm vi nghiên cứu 10
4Phương pháp nghiên cứu 10
4.1.Phương pháp sưu tầm 10
4.2 Phân tích và tổng hợp 10
4.3 Phương pháp so sánh 12
4.4.Phương pháp thống kê - phân loại 12
5.Cấu trúc của khóa luận 12
CHƯƠNG 1NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 14
1.1 Cuộc đời và sự nghiệp của Tản Đà 14
1.1.1 Cuộc đời 14
1.1.2.Sự nghiệp 16
1.2.Ảnh hưởng của thời đại đến sáng tác của Tản Đà 20
1.2.1 Tình hình Việt Nam cuối thế kỷ XIX - Đầu thế kỷ XX 20
1.2.2 Sự ảnh hưởng đến quan niệm sáng tác 21
1.2.3 Sự ảnh hưởng đến nội dung sáng tác 25
1.2.4 Giới thiệu về ba tập thơ Khối tình con I, Khối tình con II, Khối tình con III 27
* Tiểu kết 27
CHƯƠNG 2NỘI DUNG HIỆN THỰC TRONG THƠ TẢN ĐÀ 29
2.1.Khái niệm hiện thực 29
2.2 Bức tranh xã hội buổi giao thời 30
2.2.1 Hình ảnh những người muôn năm cũ 30
Trang 32.2.2 Xã hội nhố nhăng buổi Tây Tàu 36
2.3 Hiện thực về thân phận người nghệ sĩ 43
2.3.1 Hiện thực tinh thần kẻ sĩ 43
2.3.2 Hiện thực cuộc sống của người nghệ sĩ 48
*Tiểu kết 53
Chương 3: NỘI DUNG TRỮ TÌNH TRONG THƠ TẢN ĐÀ 54
3.1 Khái niệm trữ tình 54
3.2 Mảnh tình trong “cơn lốc” giao thời 57
3.2.1 Nỗi lòng bơ vơ, phiêu bạt 57
3.2.2 Tình yêu dang dở, hoài mong 63
3.3 Cõi tiên trong chốn hồng trần 70
3.3.1 Ảo ảnh tiên cảnh 70
3.2.2 Tinh thần Trích tiên 77
*Tiểu kết 83
KẾT LUẬN 84
TÀI LIỆU THAM KHẢO 85
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Tản Đà là một nhà thơ, nhà văn, nhà báo, nhà dịch thuật tiêu biểu của văn đàn Việt Nam đầu thế kỷ XX Tản Đà xuất hiện buổi ấy như là một “hiện tượng” đặc biệt thú vị và hấp dẫn Sinh ra trong thời kì đất nước bị giặc ngoại xâm, phong hóa xã hội nhập nhằng giữa cũ và mới đan xen cùng tồn tại, Tản Đà đã tự nhận về mình trách nhiệm “thuật việc nhân nghĩa cho đời hay” Chính điều đó đã biến một Nguyễn Khắc Hiếu với những nỗi cơ cực trong hiện thực đời thường thành một con người đặc biệt của thơ ca Việt Nam trong buổi giao thời Nhiều người đã nhận định rằng riêng về cuộc đời của thi sĩ Tản Đà đã là một tác phẩm lớn Trương Tửu ngay
sau khi Tản Đà mất đã cho ra đời cuốn sách “Uống rượu với Tản Đà”kể lại nhiều
câu chuyện đời thường của ông nhằm ca ngợi những phẩm chất đặc biệt của thi sĩ:
“Thi sĩ chấm hết câu pha trò ngông ấy bằng một chuỗi cười lớn, nở nang, ròn tan Tiếng cười đủ tố giác một tâm hồn cao quý, thẳng thắn và chân thành Bao nhiêu tình yêu đời tha thiết, cụ đem phổ hoang phí cả vào tiếng cười ấm áp”[3; tr 192]
Tuy sinh ra trong một xã hội phức tạp nhưng Tản Đà luôn giữ cho mình một nét đẹp riêng - nét đẹp của “người muôn năm cũ”, thanh tao, ngạo nghễ mà lại rất đời Dù đời có khắc nghiệt như thế nào cũng không thể quật ngã được nét đẹp ấy Tản Đà đã đem tài năng thiên phú của mình để tưới mát cho thời đại bằng những áng văn chương đẹp đẽ về câu từ, sâu sắc về nội dung và đặc sắc về nghệ thuật Tản Đà đã làm thật tốt chức năng của văn chương khi ông không ngần ngại vượt ra khỏi những giáo điều Nhogiáo để cho ra đời những áng văn chương phá cách phản ánh đúng sự thay đổi chóng mặt của cuộc sốngvà tâm hồn con người trong xã hội ông đang sống
Dù từng bịkhông ít người cùng thời và những nhà nghiên cứusau này chê bai, công kích, đánh giá một cách gay gắt nhưng Tản Đà vẫn cứ cống hiến bằng cách riêng của mình Ông là nhà thơ Việt Nam đầu tiên thành công làm thơ bằng chữ quốc ngữ, rồi in thơ ra “đem bán giữa phố phường”, dùng nghề viết để kiếm sống Suốt cuộc đời bèo dạt mây trôi với thân phận nay đây mai đó như một cánh chim vô
định, Tản Đà từng chua chát tự giới thiệu mình trong bài thơ Thú ăn chơi:
Trang 5“Trời sinh ra bác Tản Đà Quê hương thời có, cửa nhà thời không”
Cái mới mẻ, ngạo nghễ, cái khí chất của một bậc anh tài luôn thường trực trong con người này Đó là những điều đã làm nên một Tản Đà mang đậm bản sắc văn chương riêng không thể lẫn vào đâu
So với những người cùng thời, Tản Đà đã không ngần ngại đổi mới một cách táo bạo.Khi xã hội đang thay đổi văn hóa từ Hán học chuyển sang Tây học, từ nông thôn chuyển lên thành thị, Tản Đà chính là nhà văn đô thị đầu tiên, là nhà thơ Nho học cuối cùng Chúng ta đều biết, xuất thân là một nhà Nho, Tản Đà từng đi theo con đường khoa cử như những nhà Nho cùng thời khác Tuy nhiên khi đọc tác phẩm của ông, ta cũng cảm nhận được một luồng sinh khí mới với những bài thơ có
tư tưởng cách tân, vượt ra ngoài lối thơ niêm luật gò bó, Tản Đà là người mở đầu cho nền thơ ca Việt Nam hiện đại Ông là người đầu tiên đã mạnh dạn bước vào
một nghề mới: Nghề viết văn, xem việc sáng tác như một cách kiếm sống “Nôm na phá nghiệp kiếm ăn xoàng” Dù thời điểm giao thời đầy nhiễu nhương đó, những
người theo nghiệp chữ nghĩa như ông đều rất vất vả với cuộc mưu sinh nhưng ông vẫn gắn bó với nghiệp ấy và đã để lại một gia sản văn chương đồ sộ cho thế hệ sau Tuy góp công trên nhiều lĩnh vực nhưng có lẽ thơ là lĩnh vực thành công nhất của Tản Đà Chính ông là người tạo nên những nền tảngđể những nhà thơ Mới sau này bước đi trên con đường đó mà bước đi một cách vững vàng Nói như thế để ta thấy
rõ công lao khai sáng nền văn học dân tộc của Tản Đà trong thời điểm quốc văn, quốc ngữ mới phôi thai, mới bắt đầu
Có thể thấy rằng đã có rất nhiều bài viết, công trình nghiên cứu về thơ văn Tản Đà Do đó, nghiên cứu về thơ văn Tản Đà không phải là vấn đề hoàn toàn mới Tuy nhiên, chúng tôi vẫn chọn thơ văn Tản Đà để nghiên cứu, với một số lí do sau:
Trước hết, chúng tôi tự tin rằng khi dựa vào những công trình nghiên cứu trước đó, chúng tôi có thể có cái nhìn tổng quan về cuộc đời cũng như sự nghiệp của Tản Đà, và chính những nghiên cứu ấy cũng là nguồn tài liệu tham khảo quý giá
Trang 6làm cơ sở vững chắc để chúng tôi khi bước vào thế giới thơ văn Tản Đà mà không
bị bỡ ngỡ
Thứ hai, chúng tôi muốn thông qua để tài này để kiểm nghiệm, trau dồi một số kiến thức cơ bản về lý luận văn học trong suốt quá trình hơn ba năm theo học Ngành Văn học
Thêm vào đó, với sự yêu quý của bản thân dành cho vị “Trích tiên” này, chúng tôi muốn góp thêm một góc nhìn mới về nội dung hiện thực và trữ tình trong thơ văn Tản Đà từ sự tương tác giữa văn học với hiện thực cuộc sống cũng như hỗ trợ cho việc giảng dạy một số tác phẩm của Tản Đà trong chương trình trung học và phổ thông sau này
Cuối cùng, khi chọn đề tài Nội dung hiện thực và trữ tình trong thơ Tản
Đà, chúng tôi hi vọng có thể bổ sung thêm một công trình nhỏ về một hiện tượng
đặc biệt trong nền văn học nước nhà - hiện tượng Tản Đà.Người viết hi vọng sẽ góp một phần nhỏ sức mình vào các nghiên cứu khác để có thể hiểu một cách sâu sắc và trọn vẹn hơn về cuộc đời cũng như sự nghiệp văn thơ của ông
2 Lịch sử vấn đề
Tản Đà là nhà thơ lớn, là người đánh dấu mốc chuyển tiếp trong văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX từ việc sáng tácvới đề tài, thể loại, ngôn ngữ của thơ ca cổ điển sang thơ ca hiện đại nên đã có nhiều công trình nghiên cứu dành cho ông.Khi khảo sát, tìm hiểu những bài viết, nghiên cứu về Tản Đà, chúng tôi nhận thấy: lịch
sử nghiên cứu thơ văn Tản Đà chia làm ba hướng chính: Thứ nhất là nghiên cứu thơ văn Tản Đà dựa theo nội dung xã hội, nội dung chính trị, nội dung giai cấp Thứ hai
là nghiên cứu thơ văn Tản Đà theo hướng tìm hiểu tư tưởng, loại hình, nhà văn - xã hội Thứ ba đó là nghiên cứu thơ văn Tản Đà theo hướng phân tích, bình luận, bình giảng các tác phẩm Tản Đà trên các mặt nội dung và nghệ thuật, theo từng chủ đề, vấn đề, phần nhiều theo lối thưởng thức, cảm thụ chủ quan Dưới đây chúng tôi xin dẫn một số nhận xét về thơ văn và con người Tản Đà:
Năm 2016, Dương Kim Thoa trong bài viếtQuan niệm văn chương của Tản
Đà đã nhận xét: “Tản Đà được sinh ra, được đào tạo trong nền học vấn khoa cử, lối
Trang 7tư duy của Tản Đà là lối tư duy bắt nguồn từ văn ngôn , khác xa với tư duy bằng lời của những người theo học Pháp ngữ hoặc quốc ngữ sau này Chỉ có điều, tuy tư duy bằng văn ngôn, nhưng Tản Đà lại khác với những tác giả đi trước ở chỗ , hệ tiêu chí xét đoán, đánh giá mọi giá trị tư tưởng, cuộc sống của ông lại bắt nguồn từ chính những quan sát của bản thân và cuộc sống cá nhân Ông không cần phải mượn tới
từ chương, điển tích, điển cố của người xưa để nói thay mình câu chuyện của đời nay Và dù ông chưa xưng tôi , nhưng cái tôi trong ông đã mang dáng dấp rất riêng
so với cái tôi của các nhà Nho trước đó Thực chất, Tản Đà có phong thái và tố chất của một nghệ sĩ hơn một nhà Nho, đây là điểm khác biệt rất lớn và cũng rất quan trọng nếu so sánh Tản Đà với các tác giả viết bằng chữ Hán trước ông ”[25]
Nội dung thơ văn của Tản Đà mang đậm dấu ấn cá nhân và đi sâu vào việc phản ánh hiện thực biến chuyểntrong tâm hồn mỗi người Trong thơ ông, cái tôi ấy mới manh nha, vừa mới mẻ, vừa hiện thực mà cũng rất trữ tình Tản Đà chịu những ảnh hưởng nhất định của Hán học Tuy nhiên rõ ràng là Tản Đà đã biết cách thoát ra để mạnh dạn đưa những cái mới từ nội dung tới hình thức lẫn đề tài vào sáng tác của mình
Năm 2016, trong bài tiểu luận Tản Đà - Thi sĩ của hai thời đại, Đỗ Ngọc
Thạch đã khẳng định vị trí “khai sơn phá thạch” của thơ Tản Đà trong tiến trình
hiện đại hóa văn học nước nhà: “Trong lĩnh vực thi ca, thơ Tản Đà là thứ thơ có bản lĩnh, bản sắc riêng, không lẫn vào đâu được Song giá trị lớn lao và đặc sắc hơn cả cũng vẫn là ở vị trí khai sơn phá thạch của ông trên thi đàn đầu thế kỷ Đương nhiên, Tản Đà chưa phải là một nhà thơ mới như các nhà thơ mới lớp sau ông Thơ Tản Đà vừa có phong vị cổ thi vừa có cảm xúc hiện đại”[24]
Năm 2014, Phạm Trang trong “Tuyển tập Tản Đà” qua con mắt các Nhà nghiên cứu đã sơ qua lịch sử in ấn bộ tuyển tập của ông:“Nói đến ấn phẩm tiêu biểu tuyển chọn về Tản Đà những năm trước cách mạng, đáng phải kể đến là cuốn:
“Tản Đà vận văn”, do Nguyễn Mạnh Bổng tuyển chọn, Nhà xuất bản Hương Sơn
ấn hành năm 1944 Mãi đến năm 1986, Nhà xuất bản Văn học mới in “Tuyển tập Tản Đà” Như vậy là hơn 30 năm, từ năm 1954 cho đến năm 1986, người đọc mới
Trang 8được tiếp cận lại với những tác phẩm của Tản Đà, dù chưa thật đầy đủ.Đến những năm gần đây, nhà văn Nguyễn Khắc Xương, con trai trưởng của Tản Đà đã cho ra mắt cuốn “Tản Đà trong lòng thời đại”, năm 1997 và đặc biệt là bộ 5 tập “Tản Đà toàn tập” in năm 2002 tại Nhà xuất bản Văn học Hai bộ sách đã cung cấp cho độc giả không chỉ tư liệu mà còn cả những trước tác của Tản Đà “Tản Đà toàn tập” được xem là công trình biên soạn đầy đủ nhất về toàn bộ văn nghiệp Tản Đà Không chỉ có vậy, viết về Tản Đà còn có “Tản Đà về tác giả tác phẩm” của TS Nguyễn Đức Mậu, in năm 2001, là tư liệu tham khảo cung cấp các bài bình luận, nghiên cứu chính về Tản Đà, nhưng cuốn sách không trích tuyển các sáng tác Một
số khác lại tập trung nghiên cứu một lĩnh vực sáng tác của Tản Đà, hoặc một đặc trưng văn nghiệp hoặc tuyển một số tác phẩm của ông”[26].Như vậy, Phạm Trang
bước đầu nêu tên những công trình tiêu biểu nhất về thơ văn Tản Đà và sơ khảo những bài nghiên cứu về ông Đây cũng có một trong những cơ sở để chúng tôi tiếp cận và lựa chọn những văn phẩm của Tản Đà vào công trình nghiên cứu của mình
Năm 2010, Hoài Việt Hoài trong bài viết “Tản Đà - Thi sĩ của “thực” và
“mộng”” cho rằng: “Thường tình thì chất lãng mạn trong thơ của Xuân Diệu thật khó đi đôi với lối phê phán hiện thực của Nguyễn công Hoan; tính hài hước của Tú
Mỡ cũng khác với kiểu tả chân độc đáo của Nguyễn Tuân thế mà tất cả những văn thi sĩ đó đều nhận mình chịu ảnh hưởng của Tản Đà; ngay cả nhà viết tiểu thuyết lịch sử nổi tiếng là Nguyễn Triệu Luật cũng cho rằng: nếu mình làm nên sự nghiệp
gì thì cũng là nhờ đọc Tản Đà hồi còn trẻ Điều đó nói lên Tản Đà thật là một con người đa dạng: lãng mạn và hiện thực, hài hước và phê phán, hưởng lạc và yêu nước Sự đa dạng về khuynh hướng đã đưa ông đến sự đa dạng về thơ, ông làm đủ loại thơ: đường luật, ca trù, thơ bảy chữ, thơ tự do Tản Đà là người có những dòng thơ “phong phú, lắm vẻ”, đủ trang hoàng cho cả một giai đoạn văn học”[22]
Tản Đà là người có sức ảnh hưởng tới hầu hết các nhà thơ sau ông Đây cũng chính
là một trong những lí do để các nhà nghiên cứu khẳng định vị trí quan trọng của Tản
Đà trong tiến trình văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX Thơ Tản Đà đã đề cập tới mọi
Trang 9khía cạnh của cuộc sống Điều đó khiến ta có thể nhìn thơ ông như một lăng kính phản chiếu thời đại bấy giờ
Năm 2009, Lê Thị Mỵ An trong khóa luận tốt nghiệp Đại học “Cảm hứng thế sự trong thơ Tản Đà” (Khoa Khoa học Xã hội và Nhân văn trường Đại học Cần Thơ) nhận định: “Có thể nói, hiện thực cuộc sống xã hội là nguồn thi liệu phong phú đã khơi gợi nguồn cảm hứng cho các Nho gia xưa Trước thực trạng thối nát, vua quan không ra gì, dân tình khổ cực, luân thường đạo lý đảo lộn Tất cả những điều đó đều được phản ánh sâu sắc trong sáng tác của các nhà Nho Cũng như họ, khi gặp cảnh ngộ éo le, thất chí Tản Đà cũng tìm cách lánh đời, coi đời là cõi tục,
là nơi ở trọ Nhưng Tản Đà thoát ly mà không thoát tục Tản Đà không chọn giải pháp ở ẩn, Tản Đà chủ trương chán đời nhưng lại nhập thế Ở tác gia này luôn có
sự giằng xé giữa chán đời và gánh lãnh trách nhiệm Ông có ý định trốn đời để quên đời, mượn thú nhàn tản để tìm sự thanh thản cho tâm hồn nhưng cuối cùng đã không quên được và luôn phiền não, lo lắng cho cuộc đời Tản Đà đã luôn day dứt, đau khổ khi chứng kiến những thói xấu xa, “ăn bẩn” của bọn tham quan vô lại, rồi đến cuộc sống khốn cùng của người dân, của văn thi sĩ và cũng là của chính ông, hay sự suy đồi băng hoại đạo đức do sự du nhập của những cái mới, do sức mạnh đồng tiền… đều được ông phản ánh rất chân thực qua ngòi bút tinh tế, sắc sảo của mình”[1] Vậy là, không phải đến thời của Tản Đà thì hiện thực xã hội mới hiện
diện trong văn học mà trước đó hiện thực xã hội đã được các nhà Nho đề cập đến rất nhiều Tuy nhiên đến Tản Đà thì hiện thực được miêu tả một cách chân thực và mang tính thời sự cao
Năm 2007, Nguyễn Ái Học trong luận án tiến sĩ Thi pháp thơ Tản Đà
(Trường Đại học sư phạm Hà Nội chuyên ngành Lý luận văn học) đã thống kê, phân loại, đánh giá các công trình nghiên cứu về Tản Đà Theo luận án thống kê có hơn
300 công trình nghiên cứu dành cho Tản Đà Tiêu biểu có thể kể tới các nghiên cứu
như Tản Đà thơ và đời của Nguyễn Khắc Xương, Cái hay của thơ Tản Đà của Trương Tửu, Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu của Trần Đình Hượu, Tản Đà khối mâu thuẫn lớn của Tầm Dương…
Trang 10Năm 2007, Lưu Mai Tâm với khóa luận tốt nghiệp đại học “Mộng và thực trong thơ văn Tản Đà”, chuyên ngành Văn học Việt Nam khoa Ngữ văn trường Đại học Vinh đã nhận xét:“Tản Đà là cầu nối, sáng tác của ông chuẩn bị cho trào lưu lãng mạn và hiện thực phê phán xuất hiện, nở rộ trong thời kì 1930 1945 Sự khác biệt giữa hai khuynh hớng này ở chỗ một bên lột trần lớp xiêm áo bên ngoài của hiện thực để phơi bày toàn bộ sự đáng ghê tởm của hiện thực trước mắt người đọc, tạo một ý thức đối lập, một khát vọng thanh toán hiện thực xấu xa (hiện thực); một bên phủ nhận bằng cách quay lưng với thực tại, tự tạo cho mình một thế giới khác
có phẩm chất đối lập với thế giới mình đang sống (lãng mạn) Trên thực tế, lãng mạn không phải bao giờ cũng là thoát li Những người khốn khổ, Nhà thờ Đức bà Pari củaV.Huygo đậm chất hiện thực nhưng vẫn thuộc khuynh hướng lãng mạn
Đỏ và đencủaStandan,Bà Bôvary của Flobe, Ơgiêni Grăngđêcủa Banzaccũng viết
về tình yêu đượm chất lãng mạn, mơ mộng song vẫn là những kiệt tác của chủ nghĩa hiện thực Lãng mạn của Tản Đà không bao giờ xa rời hiện thực đất nước Trong sáng tác của ông luôn có sự chuyển hoá giữa mộng và thực, thực và mộng Tản Đà luôn đau đáu một tấm lòng trần gian”[11] Nhìn chung, khi đọc thơ Tản
Đà, ta thấy yếu tố hiện thực và lãng mạn đan xen với nhau, mà cốt yếu là cả một bức tranh hiện thực xã hội được Tản Đà vẽ nên Thơ Tản Đà hay diễn tả cảm giác say sưa, chán ngán đời thực, đắm chìm trong cõi mộng, những mối tình với người tri kỉ xa xôi, song cũng có những bài mang tính ẩn dụ, ngầm phê phán hiện thực
Năm 1989,Ngô Tất Tố đã từng nhận định về Tản Đà, sau khi Tản Đà đã
qua đời: “Tôi đã nghĩ đi nghĩ lại Trong cái trang Thi sĩ của cuốn Việt Nam văn học
sử này, dẫu sao mặc lòng, ông Tản Đà vẫn là một người đứng đầu của thời đại này”[3; tr 52]
Qua nhận định của Ngô Tất Tố và Đỗ Ngọc Thạch, ta có thể thấy được vị trí tiên phong của Tản Đà trên thi đàn Việt Nam những năm đầu thế kỷ XX Đương nhiên, Tản Đà chưa phải là một nhà thơ mới như các nhà thơ mới lớp sau ông Nhưng rõ ràng ông là nhà thơ có tư tưởng cách tân, có nhiều tìm tòi sáng tạo và mạnh dạn vượt ra ngoài khuôn sáo cũ Có thể thấy, Tản Đà là người khá nhạy bén
Trang 11và bắt kịp xu thế thời đại so với những văn sĩ cùng thời với ông Ông đã mạnh dạn thay đổi tư duy và phong cách sáng tác để đi đến cửa ngõ của sự hiện đại trong văn chương Ông là người có ảnh hưởng mạnh mẽ đến thế hệ các nhà thơ sau này đặc biệt là các nhà thơ Mới Vì thế Hoài Thanh Hoài, Hoài Chân mới trân trọng đưa ông
vào vị trí đầu tiên của cuốn sách Thi nhân Việt Nam
Năm 1958,Hà Như Chi đã có một bài viết khá công phu để đánh giá về văn
nghiệp của Tản Đà với tiêu đề Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu - Thân thế, sự nghiệp văn chươngđược in trong cuốn Tản Đà về tác gia và tác phẩm, Nhà xuất bản Giáo dục
năm 2017 Tài liệu này đã cung cấp nguồn tư liệu khá đầy đủ và chi tiết về cuộc đời cũng như sự nghiệp văn chương của Tản Đà cũng như những đánh giá khách quan của tác giả về một hiện tượng đặc biệt của văn học Việt Nam
Năm 1942, trong bài Cung chiêu anh hồn Tản Đà in ở đầu cuốn Thi Nhân Việt Nam của Hoài Thanh, Hoài Chân, có đoạn: “Tiên sinh đã dạo những bản đàn
mở đầu cho một cuộc hòa nhạc tân kỳ đương sắp sửa Với chúng tôi, tiên sinh vẫn
là một bậc đàn anh Tiên sinh còn giữ được của thời trước cái phong thái vững vàng, cái cốt cách ung dung Tiên sinh đã đi qua giữa cái hỗn độn của xã hội Việt Nam đầu thế kỷ 20 với tấm lòng bình thản một người thời trước những cảnh éo le thường phô bày ra trước mặt không làm bợn được linh hồn cao khiết của tiên sinh Cái dáng điệu ngang tàng chúng tôi thường thấy ở các nhà thơ xưa, ở tiên sinh không có vẻ vay mượn Cái buồn chán của tiên sinh cũng là cái buồn chán của một người trượng phu…”[14;tr 12] Qua nhận định ấy, tác giả củaThi nhân Việt Nam đã
khái quát cho chúng ta về vai trò khai sáng và ảnh hưởng của Tản Đà đối với thế hệ nhà thơ sau Bên cạnh đó là ca ngợi cốt cách, phẩm chất tốt đẹp của một người đã trải qua bao nhiêu “sóng gió thời đại” Bản tính “ngông” và “cái sầu” của Tản Đà cũng được nhắc tới như một nét đặc trưng cho “thương hiệu Tản Đà” Tản Đà cả cuộc đời đầy sóng gió nhưng vẫn giữ được tấm lòng với đời, đây là một điều thật đáng trân trọng
Năm 1939, trong bài viết Công của thi sĩ Tản Đà(Ngày Nay, Số 166, 17 Tháng Sáu 1939), Xuân Diệu đã viết: “Giữa lúc thơ Việt Nam khô khan ở trong dấu
Trang 12xe cũ, giữa lúc lối “thơ nam phong” trị vì một cách bệ vệ, dùng những tiếng lớn để nói những chuyện con, diễn những ý sáo bằng những lời sáo hơn bội phần, giữa lúc trống rỗng và buồn tênh, Tản Đà đem tới một hồn thơ, Tản Đà cho văn học Việt Nam một thi sĩ Lần đầu người ta được nghe giọng nói dịu dàng trong trẻo, nhẹ nhõm có duyên, người ta thấy một tấm lòng thực thà hé phơi và người ta được cảm động Lễ nghi đạo đức trói buộc con người Việt Nam trong bao nhiêu lâu, hồn thơ ngột ngạt giữa gông cùm, trái tim bị đè không dám đập, cuộc sống thì chật lại giữa khuôn phép bất nhân Lần đầu tiên, Tản Đà dám vẩn vơ, dám mơ mộng, dám cho trái tim và linh hồn được cái quyền sống cái đời riêng của chúng, cái đời phóng khoáng như “gió trăng mây nước” chứ không phải chỉ có sống cuộc sống vật chất
mà thôi ”[2].Tản Đà không viết theo những gì người ta vẫn viết, mà thay vào đó,
thi sĩ tài năng này đã bứt phá ra khỏi “căn nhà trống” của lối văn cũ, lối tư duy cũ để mang lại những điều mới mẻ hơn Rõ ràng nội dung thơ của Tản Đà hoàn toàn mới
và có tác dụng khai sáng hết sức mạnh mẽ
Tản Đà là một hồn thơ hiện thực và trữ tình vì nội dung thơ của ông bắt nguồn từ những gì ông thấy, cảm và nghĩ từ con người, cuộc sống của đời sống xã hội xung quanh ông và chính bản thân mình Nhìn chung, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu, bài viết về Tản Đà từ khi ông xuất hiện trên văn đàn cho tới những năm gần đây Những công trình ấy đã khai thác rất nhiều về sự nghiệp cũng như cuộc đời Tản Đà, về nội dung thơ ca cũng như sự nghiệp của Tản Đà Tuy nhiên chưa có công trình nào tìm hiểu cặn kẽ về Nội dung hiện thực và trữ tình trong thơ Tản Đà,
mà chỉ mới sơ qua hoặc có nhắc tới nhưng không chuyên sâu Tuy nhiênnhững công trình nghiên cứu, những bài viết ấy cũng là nguồn tài liệu quý báu để người viết thực hiện đề tài này
3 Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Thực hiện đề tài này, người viết mong muốn thông qua bối cảnh đất nước
ta vào cuốithế kỷXIX đầu thế kỷXX giúp người đọc thấy được tâm trạng của những trí thức trước sự giao thoacũ - mới; đồng thờicó thể góp thêm vào nguồn tài liệu
Trang 13tham khảocho sinh viên Ngữ văn về một tác giả thuộc giai đoạn giao thời để giúp cho việc dạy và học về tác phẩm của Tản Đà trong nhà trường khi thực hành
Bên cạnh đó, cũng như các đề tài nghiên cứu khác về Tản Đà, khi nghiên cứu về đề tài này, người viết mong muốn đem đến một cách hiểu rõ ràng hơn về nội dung hiện thực và trữ tình trong thơ Tản Đà, góp phần hiểu hơn về bối cảnh xã hội, cuộc đời và tâm tư của một nhà thơ đau đáu nỗi niềm trước thực tại của nước nhà lúc bấy giờ Từ đó, có thể khẳng định đóng góp của Tản Đà trong diễn trình phát triển của thơ ca Việt Nam
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Với tên đề tài của khóa luận, chúng tôi xác định đối tượng nghiên cứu
chính là:Nội dung hiện thực và trữ tình trong một số tập thơ của Tản Đà
3.3 Phạm vi nghiên cứu
Các tác phẩm được tập trung khảo sát gồm các bài thơ trong ba tập thơ:
Khối tình con I; Khối tình con II; Khối tình con III
4 Phương pháp nghiên cứu
4.2.Phân tích và tổng hợp
Sau khi sưu tầm tài liệu, chúng tôi tiến hành phân tích, tổng hợp các bài viết nghiên cứu, lý luận, phê bình văn học có liên quan đến “Nội dung hiện thực và trữ tình trong thơ Tản Đà” Phương pháp này giúp chúng tôi tiếp cận văn bản một cách hệ thống và đưa ra những luận điểm khái quát cho luận văn Từ đó xắp xếp,
Trang 14xâu chuỗi lại vấn đề để rút ra những kết luận, trình bày những phát hiện của mình
về đề tài
Trang 154.3.Phương pháp so sánh
Luận văn tiến hành so sánh vấn đề về nội dung hiện thực và trữ tình của các nhà thơ trước và sau thời đại của Tản Đà Từ đó, nhận thấy điểm giống và khác nhau của ông và các nhà thơ ấy và làm rõ điểm riêng của ông so với các nhà thơ khác
4.4 Phương pháp thống kê - phân loại
Luận văn tiến hành khảo sát và thống kê nhằm tìm ra những ý kiến tranh luận, bàn bạc, phê bình, lý luận văn học có liên quan tới đề tài “Nội dung hiện thực
và trữ tình trong thơ Tản Đà”, từ đó phân loại, sắp xếp thành hệ thống một cách khoa học nhất
5 Cấu trúc của khóa luận
Ngoài phần Mở đầu và phần Kết luận thì nội dung chính được của luận văn tốt nghiệp được chia thành 3 chương:
Chương 1: Những vấn đềchung
1.1 Cuộc đời và sự nghiệp của Tản Đà
1.1.1 Cuộc đời
1.1.2 Sự nghiệp
1.2 Ảnh hưởng của thời đại đến sáng tác của Tản Đà
1.2.1 Tình hình Việt Nam cuối thế kỷ XIX – Đầu thê kỉ XX
1.2.2 Sự ảnh hưởng đến quan niệm sáng tác
1.2.3 Sự ảnh hưởng đến nội dung sáng tác
1.2.4 Giới thiệu về ba tập thơ Khối tình con I, Khối tình con II, Khối tình con III
* Tiểu kết
Chương 2: Nội dung hiện thực trong thơ Tản Đà
2.1 Khái niệm hiện thực
2.2 Bức tranh xã hội buổi giao thời
2.2.1 Hình ảnh những người muôn năm cũ
2.2.2 Hình ảnh xã hội nhố nhăng buổi Tây Tàu
2.3 Hiện thực về thân phận người nghệ sĩ
Trang 163.2 Mảnh tình trong “cơn lốc” giao thời
3.2.1 Nỗi lòng bơ vơ, phiêu bạt
3.2.2 Tình yêu dang dở, hoài mong
3.2 Một cõi tiên trong chốn hồng trần
3.2.1 Ảo ảnh tiên cảnh
3.2.2 Tinh thần Trích tiên
* Tiểu kết
KẾT LUẬN
Trang 17CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 1.1 Cuộc đời và sự nghiệp của Tản Đà
1.1.1 Cuộc đời
Tản Đà tên thật Nguyễn Khắc Hiếu, sinh ngày 19 tháng 5 năm 1889 tại làng Khê Thượng, huyện Bất Bạt, tỉnh Sơn Tây (nay là xã Sơn Đà, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội) Tản Đà là một nhà thơ, nhà văn và nhà viết kịch nổi tiếng trên văn đàn Việt Nam đầu thế kỷ XX Bút danh Tản Đà của ông là tên ghép giữa núi Tản Viên và sông Đà, quê hương ông
Ông xuất thân từ một gia đình thuộc dòng dõi phong kiến quí tộc Thân phụ của ông là Nguyễn Danh Kế Nguyễn Danh Kế từng thi đỗ cử nhân, làm quan cho triều Nguyễn đến chức Ngự sử trong Kinh, giữ việc án lý, nổi tiếng là người có tài văn án trong triều Ông Kế vốn là người phong lưu, tài tử, thường lui tới những chốn nhạc tửu và đã quen với bà Lưu Thị Hiền Bà Lưu Thị Hiền có nghệ danh Nhữ Thị Nhiêm, là một đào hát tài sắc ở Hàng Thao - Nam Định Ông Nguyễn Danh Kế lấy bà Lưu Thị Hiền làm vợ ba khi ông làm tri phủ Xuân Trường (Nam Định) Bà là người hát hay, có tài làm thơ chữ Nôm Tản Đà là con trai út trong bốn người con của cuộc hôn nhân này Anh cả là Nguyễn Tái Tích (con của vợ cả) đỗ phó bảng, làm Ðốc học, sau tham gia ban Tu thư, làm Hiệu trưởng trường Qui Thức Đây là những tổ chức do Pháp lập ra để đối phó với phong trào Ðông Kinh nghĩa thục Nguyễn Tái Tích là người có nhiều những ảnh hưởng to lớn tới cuộc đời sau này của Tản Đà Nguyễn Tái Tích là người thanh liêm, chính trực nên đường hoạn lộ cũng không yên ổn, phải thay đổi công việc và nơi ở nhiều lần Từ lúc nhỏ, Nguyễn Khắc Hiếu đã theo cha và anh di trú và sống ở Nam Ðịnh, Sơn Tây, Vĩnh Yên
Nói về cuộc đời của Tản Đà, ta không thể không nhắc tới tuổi thơ, con đường hoạn lộ bất thànhcũng như con đường tình duyên lận đận của ông Tất cả đều
là những dấu ấn khó phai đối với Tản Đà Đầu tiên phải nói tới tuổi thơ của ông Năm lên ba tuổi, bố mất, cuộc sống gia đình trở nên cùng túng Năm sau, vì bất hoà với nhà chồng nên bà Nhiêm bỏ nhà đi, trở lại nghề ca xướng, để lại các con cho
Trang 18nhà chồng nuôi Tám năm sau, chị ruột ông cũng theo mẹ làm nghề ca xướng, năm
đó Tản Đà mười ba tuổi Điều này đối với dòng họ là nỗi nhục lớn, đồng thời để lại trong lòng Tản Đà một dấu ấn chua xót, khó phai Từ đó, Tản Đà sống với anh cùng cha khác mẹ là Nguyễn Tái Tích, được anh cưu mang, dạy dỗ Ngoài ra, con đường khoa cử của Tản Đà cũng rất lận đận Tản đà chịu ảnh hưởng của Nho giáo từ rất sớmvà cũng rất tự nhiên như một nét truyền thống của gia phong Tản Ðà từng theo học chữ Nho Ban đầu, Tản Đà cũng đi theo lối mòn của một nhà Nho xưa - thi cử
để tiến thân bằng con đường công danh Tuy nhiên, những trắc trở trên con đường thi cử và tình duyên đã đưa Tản Đà rẽ theo một hướng khác Ông là một trong những học trò đầu tiên của trường Qui Thức - một trường học thực nghiệm cải cách của Pháp mở tại Hà Nội Đây là một ngôi trường cải cách lối học cũ, vừa học Hán văn vừa học quốc ngữ và có các môn học mới như Toán, Địa… Được hấp thụ nền Nho giáo từ nhỏ, cùng với sự định hướng của anh trai Nguyễn Tái Tích cũng là người thầy giáo của Tản Đà Bản thân Tản Đà năm tuổi đã học Tam tự kinh, Ấu học ngũ ngôn thi, Dương tiết Sáu tuổi học Luận ngữ, kinh, truyện và chữ quốc ngữ Mười tuổi biết làm câu đối Mười một tuổi biết làm thơ văn Ông rất thích làm văn, lại được anh hết lòng chỉ dẫn, nên mười bốn tuổi đã thạo các lối từ, chương, thi, phú Năm mười lăm tuổi, ông đã nổi tiếng là thần đồng của tỉnh Sơn Tây Giai đoạn thiếu thời của Tản Đà phần lớn dành cho chuyện thi cử nhưng ông đi thi mãi không
đỗ Năm 1909 (KỷDậu), ông tham dự kỳ thi hương ở Nam Định, rồi trượt trong lần
đi thi đầu tiên này Sau khi thi rớt, ông về Khê Thượng rồi lại về phủ Vĩnh Tường học cho tới năm 1911 Mùa xuân năm Nhâm Tý (1912), Tản Đà thi Hậu bổ lại trượt, mùa thu thi Hương lại cũng trượt Con đường thi cử vô cùng lận đận đã đưa Tản Đà vào một con đường khác, đó là con đường văn chương Bên cạnh đó, con đường tình duyên của Tản Đà cũng vô trắc trở Khi nhắc đến cuộc đời và sự nghiệp của Tản Đà, hẳn không thể không nhắc đến mối tình đầu của nhà thơ với cô gái họ
Đỗ phố hàng Bồ (Hà Nội) Bởi lẽ, đó là mối tình đầu tiên khi thi sĩ mới bước vào tuổi mười chín mơ mộng và hơn thế nữa, mối tình này cũng để lại nhiều dấu ấn trong những tác phẩm của ông Hàng Bồ là nơi cô gái họ Đỗ, con nhà tư sản Đỗ
Trang 19Thận sinh sống Cô gái này bán tạp hóa tại cửa hàng riêng của gia đình Ngay lần đầu tiên nhìn thấy cô gái, chàng trai trẻ Nguyễn Khắc Hiếu đã bị chinh phục Tuy yêu say đắm nhưng ở mối tình đầu này, Tản Đà đã không đạt được những gì ông mong muốn Năm 1912 cùng với việc thi rớt khoa thi Nhâm Tý trường thi Nam Định, sau đó ông về Hà Nội lại chứng kiến cảnh người yêu đi lấy chồng Từ đó, Tản
Đà trải qua một thời kì điên loạn kéo dài đến nỗi bỏ ăn cơm, vào dãy Hương Sơn đêm đêm đốt đuốc tìm “hồ quỷ”, tế Chiêu Quân… Đến năm hai mươi bảy tuổi, Tản
Đà lấy vợ là bà Nguyễn Thị Tùng, là con gái tri huyện Nguyễn Mạnh Hướng, làng Hội Xá, huyện Mỹ Đức (Hà Đông) Tháng 4năm 1939, cả nhà ông dọn về đường Cầu Mới, Ngã Tư Sở, số nhà 71 Cũng vì sinh kế mà Tản Đà phải trôi dạt nhiều nơi: vào Nam, ra Bắc, về quê, ra Quảng Yên rồi lại về Hà Đông… Ông mất tại Ngã tư
Sở, ngày 7 tháng 6 năm 1939để lại vợ và đàn con trong cảnh túng nghèo Sau khi ông mất, hàng loạt bài viết về ông ra đời
1.1.2 Sự nghiệp
Tản Đà là một tác giả có vị trí, vai trò đặc biệt trong nền văn học Việt Nam giai đoạn giao thời Là người có ảnh hưởng sâu sắc đến các lớp nhà thơ nhà văn những giai đoạn sau Cuộc đời và sự nghiệp văn chương của Tản Đà đã để lại nhiều
ấn tượng đặc biệt trong lòng độc giả, những nhà nghiên cứu và phê bình văn học Ông sáng tác đủ loại thơ, văn, truyện, ca kịch, các làn điệu dân ca, từ khúc, diễn ca, dịch văn học cổ điển Trung Quốc như thơ Đường và Kinh Thi, chú giải Truyện Kiều Hiện nay, giới nghiên cứu văn chương đã sưu tập được khoảng trên 30 tác
phẩm gồm các văn tập, thi tập của ông như: Khối tình con, Giấc mộng con, Giấc mộng lớn, Còn chơi; Thơ và các bài viết của ông trên các báo khắp Nam, Trung, Bắc và An Nam tạp chí, Thần tiền, Lên sáu, Lên tám, Tản Đà tản văn, Tản Đà tùng văn, Truyện thế gian, Nhàn tưởng, Thơ Tản Đà Có thể thấy rằng, việc nghiên cứu
thơ văn Tản Đà đã đạt được những thành tựu nhất định trên nhiều phương diện như dịch thuật, giới thiệu, nghiên cứu cuộc đời, sự nghiệp và nhất là những đóng góp
của Tản Đà cho sự phát triển của văn học dân tộc
Trang 20Tản Đà là một nhà Nho, năm 1912 còn lều chõng đi thi hương Ông tiếp thụ văn hóa phương Tây qua các sách báo loại Tân thư Trung Quốc, năm 1913 mới bắt đầu viết thơ làm văn bằng chữ quốc ngữ và năm 1915 mới có bài đăng báo lần đầu Tản Đà là một tấm gương lao động của người nghệ sĩ và nhà tri thức chân chính Với khả năng thiên phú của bản thân và nghị lực, Tản Đà không những cống hiến trong phạm vi văn học mà còn trở thành nhà khảo cứu trên nhiều lĩnh vực khác
nhau, trở thành một nhà văn hóa lớn với nhiều cống hiến:““Việc sinh nhai quốc văn” trong hơn hai chục năm của ông Tản Đà bao gồm biết bao công việc mà tưởng hôm nay cũng ít người kham được Theo thống kê sơ bộ, tác phẩm đầu tiên của Tản Đà in năm 1916 và tác phẩm cuối cùng in sau khi ông mất một năm (1940), trong đó bao gồm: thơ, truyện, văn luận thuyết, sách giáo khoa, văn vần, dịch thơ, dịch sách kinh điển Trung Quốc, viết sử, ghi chép những công việc nhàn tưởng, viết sách giáo khoa dạy chữ Nho, viết tự truyện, chú giải Truyện Kiều, viết
và công diễn 4 vở kịch, tất thảy là 2 đầu sách như ta nói ngày nay Ngoài ra ông còn làm chủ bút báo Hữu Thanh (1921), chủ bút An Nam tạp chí (từ 1926 đến 1933), một tờ báo chết đi sống lại đã bao lần khiến ông phải long đong vất vả vì nó Ông còn chủ trương Tản Đà thư điếm (1922), một kiểu giám đốc nhà xuất bản bây giờ Và luôn luôn viết mướn cho nhiều tờ báo khác Ấy vậy mà khi nhắm mắt xuôi tay, còn mấy công trình chưa in hoặc còn đang quảng cáo, trong đó có Vương Thúy Kiều chú giải mà cho đến nay giới nghiên cứu văn học vẫn xem là một công trình chú giải đáng trân trọng”[3; tr 280] Như vậy, tầm hoạt động của Tản Đà trải rộng
ở mọi lĩnh vực và ở lĩnh vực nào ông cũng có những đóng góp đáng kể Một trong những nét độc đáo của sự nghiệp Tản Đà mà ngay từ đầu đã mang lại thành công cho ông, được công chúng đón nhận và mở đầu cho sự nghiệp của Tản Đà là văn xuôi Thùy Thiên (Ngô Bằng Giực), một nhà Nhobạn rất thân của Tản Đà từng viết:
“Cái văn tài của tiên sinh bắt đầu ra đời bằng tản văn tức là văn xuôi mà bài văn xuôi ra mắt bạn đọc đầu tiên là bài Đánh bạc đăng trong Đông Dương Tạp chí Bài này được độc giả hoan nghênh lắm, ai cũng tấm tắc khen mà tự hỏi rằng: “Chẳng biết tác giả Nguyễn Khắc Hiếu là người thế nào?””[3; tr 304] Nếu có người đón
Trang 21nhận văn xuôi Tản Đà nồng nhiệt thì cũng có người đánh giá thấp, thậm chí phủ định và cho rằng đây là một bộ phận văn học không có vị trí cao trong sự nghiệp của Tản Đà Bởi vì, theo rất nhiều ý kiến khác thì Tản Đà trước hết và chủ yếu là một nhà thơ, vị trí của Tản Đà trong nền văn học trước hết là ở thơ ca Nói như vậy không có nghĩa là những lĩnh vực khác không quan trọng, mà cùng với thơ ca, văn xuôi và các công trình khác đều mang đậm dấu ấn thời đại, tạo nên bước chuyển mạnh mẽ trong buổi giao thời của nền văn học nước nhà
Tản Đà có nhiều cống hiến trên nhiều lĩnh vực văn học: thơ, văn xuôi, truyện, sách giáo khoa, bình luận văn học, biên soạn kịch, làm báo, chủ trì xuất bản… Ta có thể tóm lược toàn bộ quá trình hoạt động của Tản Đà như sau:
- Năm 1913, Tản Đà được anh rể là Nguyễn Thiện Kế giới thiệu với nhà tư sản dân tộc Bạch Thái Bưởi Từ đây Tản Đà được tiếp xúc với Tân thu Trung Quốc, tìm hiểu về cách mạng Tân Hợi, đọc Lương Khải Siêu, Khang Hữu Vi…
- Năm 1915, có bài in trên Đông Dương Tạp chí, được đặt thành mục riêng
“Một lối thơ Nôm”
- Năm 1916: tiếp tục viết cho Đông Dương Tạp chí và bắt đầu lấy bút danh
là Tản Đà Soạn Giấc mộng con I, các vở tuồng Người cá, Tây Thi, Dương Quý Phi, Thiên Thai Xuất bản tập thơ Khối tình con I
- Năm 1917: diễn các vở tuồng soạn năm 1916 tại Hà Nội và Hải Phòng,
xuất bản tập thơ Giấc mộng con I, được Nguyễn Mạnh Bổng giới thiệu một số bài trên báo Nam Phong như Hai đồng xu, Con cá vàng, Tế Chiêu Quân…
- Năm 1918: xuất bản tập thơ Khối tình con II, bị Phạm Quỳnh đả kích Giấc mộng con I trong bài “Mộng hay mị” trên báo Nam Phong số 7 tháng 1 - 1918
- Năm 1919: xuất bản Thần Tiền, Đàn bà Tàu, Đài gương, Lên sáu
- Năm 1920: xuất bản Lên tám
- Năm 1921: làm chủ bút báo Hữu Thanh của nhóm Nguyễn Huy Hợi sáu
tháng, diễn thuyết về “chủ nghĩa chán đời” ở hội quán Trí Tri, xuất bản tập thơ Còn chơi
- Năm 1922: thành lập Tản Đà thư điếm, xuất bản tập thơ Khối tình con II (tái bản), xuất bản Tản Đà tùng văn, xuất bản Đại học (dịch)
Trang 22- Năm 1923: thành lập Tản Đà tu thư cục thay cho Tản Đà thư điếm, xuất bản Truyện thế gian I và II
- Năm 1924: xuất bản bản dịch Kinh thi, xuất bản Quốc sử huấn mông, Trần ai tri kỉ
- Năm 1925: xuất bản Thơ Tản Đà, Đài gương kinh (in lại), Đài gương truyện (in lại), Đàn bà Tàu
- Năm 1926: cho ra đời An Nam Tạp chí, ra số đầu tiên (1 - 7 - 1926) tại
phố Hàng Lọng - Hà Nội
- Năm 1927: An Nam Tạp chí ra tới số 10 đình bản (tháng 3 - 1927), vào
Sài Gòn gặp Diệp Văn Kỳ, ra Bắc trang trải nợ nần rồi vào Sài Gòn cộng tác với
Diệp Văn Kỳ phụ trách phụ trương trang văn chương của Đông Pháp Thời Báo
- Năm 1928: 14 - 2 thôi việc ở Đông Pháp Thời Báo, xuất bản Tam tự kinh
An Nam
- Năm 1929: xuất bản Nhàn tưởng, Giấc mộng lớn, cộng tác với Trần
Trung Viên soạn Văn đàn bảo giám cho nhà xuất bản Nam Ký - Hà Nội
- Năm 1930: An Nam Tạp chí tái bản ở Bờ Hồ nhưng chỉ ra được 3 số sau
đó Tản Đà về ở làng Văn Quán thì An Nam Tạp chí ra một lần thứ ba từ số 14 tới số 21
- Năm 1932: An Nam Tạp chí ra lần thứ tư tại phố Hàng Khoai - Hà Nội
sau đó tiếp tục ra lần thứ năm tại phố Hàng Bông, Hà Nội, đồng thời dạy quốc văn
tại trường Trung học Hồng Bàng được vài tháng, xuất bản tập thơ Khối tình con III(in lại thơ cũ), Trần Ai tri kỉ (tái bản), Thề non nước, Giấc mộng con II, Tản Đà văn tập
- Năm 1933: An Nam Tạp chí ra lần thứ sáu tại phố Hàng Da - Hà Nội
nhưng bị đình bản khi ra được 3 số, quảng cáo “Chữa thơ cho thiên hạ, mỗi tháng
bút phí lấy một đồng”, làm trợ bút cho Văn học Tạp chí của Dương Tự Quán rồi về
Khê Thượng
- Năm 1934: làm trợ bút cho tạp chí Tiểu Thuyết Thứ Bảy, xuất bản Tản Đà xuân sắc
Trang 23- Năm 1935, làm trợ bút cho tạp chí Tiểu Thuyết Thứ Bảy đồng thời viết báo Sống (Sài Gòn), Ích Hữu, báo Sài Gòn
- Năm 1937: dịch thơ Đường cho báo Ngày Nay (Tự Lực văn đoàn) từ tháng 10-1937, xuất bản bản dịch Liêu Trai chí dị
- Năm 1938: quảng cáo Quốc văn hàm thụ và Hán văn diễn giảng, quảng cáo Hà Lạc lý số trên báo Ngày Nay, soạn Vương Thúy Kiều chú giải tân truyện được Tân Dân xuất bản sau khi Tản Đà mất, soạn Thời hiền thi tập, Khổng Tử lược truyện (nhưng khi Tản Đà mất bản thảo cũng thất lạc)
- Tháng 4 - 1939 Tản Đà dọn về đường Cầu Mới, Ngã Tư Sở, số nhà 71 và mất ngày 7 - 6 - 1939 nhằm 20 - 4 âm lịch trong cảnh nghèo túng
Có thể thấy, Tản Đà đã lao động miệt mài không ngừng nghỉ và cống hiến suốt từ năm 1915 đến gần như cuối đời Cũng chính quá trình lao động không ngừng nghỉ ấy đã tạo ra một gia tài văn học đồ sộ cho nền văn học dân tộc
1.2 Ảnh hưởng của thời đại đến sáng tác của Tản Đà
1.2.1 Tình hình Việt Nam cuối thế kỷ XIX - Đầu thế kỷ XX
Ngày 01 tháng 09 năm 1858, thực dân Pháp nổ súng xâm lược Việt Nam Với hai bản hiệp ước Hác - măng 1883 và hiệp ước Pa - tơ - nốt 1884 mà triều đình nhà Nguyễn đã ký với Pháp đã công nhận sự thống trị lâu dài của thực dân Pháp đối với nước ta Triều đình phong kiến không dám đứng lên bảo vệ quyền lợi chính đáng của nhân dân mà ngược lại còn chia cắt đất nước cho giặc Sau khi đặt ách thống trị lên nước ta, thực dân Pháp nhanh chóng thiết lập chế độ caitrị vô cùng phản động và ra sức khai thác thuộc địa với mục đích vơ vét, xuất khẩu tư bản, bóc lột sức lao động và thị trường tiêu thụ Chính sách cai trị của thực dân Pháp cuối thế
kỷ XIX đầu thế kỷ XX đã làm biến đổi toàn diện và sâu sắc xã hội phong kiến Việt Nam trên tất cả các lĩnh vực, đặc biệt là chính trị, xã hội và văn hóa Về chính trị chúng thực hiện chính sách chia để trị, chia nước ta thành Bắc kì, Trung kì, Nam kì
và thực hiện ở mỗi kì một chế độ cai trị riêng, duy trì bộ máy chính quyền phong kiến từ trung ương xuống địa phương Thực hiện chính sách chuyên chế về chính trị với bộ máy đàn áp vô cùng nặng nề nhằm thủ tiêu mọi quyền dân chủ của nhân dân
Trang 24Việt Nam Về kinh tế, thực dân Pháp thực hiện chính sách kinh tế thực dân phản động và bảo thủ nhằm thực hiện chính sách bóc lột về kinh tế liên tục thực hiện các đợt khai thác thuộc địa Nền kinh tế Việt Nam trở thành một nền kinh tế bị lệ thuộc vào tư bản Pháp, bị kìm hãm trong vòng lạc hậu Về văn hóa, thực dân Pháp thực hiện chính sách văn hóa giáo dục thực dân: dung túng, duy trì các hủ tục lạc hậu, đầu độc nhân dân ta bằng rượu cần, thuốc phiện Chúng kìm hãm sự du nhập văn hóa tiên tiến kể cả văn hoá tiến bộ Pháp Thực dân Pháp thực hiện chính sách nô dịch nhân dân ta về văn hoá nhằm gây tâm lý tự ty vong bản, giam hãm và đầu độc nhân dân ta trong bề tăm tối Xã hội Việt Nam từ một xã hội phong kiến trở thành một xã hội thuộc địa nửa phong kiến, đất nước mất độc lập, nhân dân mất tự do dân chủ, đời sống nhân dân vô cùng cực khổ, bế tắc, lầm than
Tuy nhiên cuộc xâm lược của Pháp cũng mang lại nhiều chuyển biến tích cực cho xã hội Việt Nam, đặc biệt là văn học nghệ thuật Xã hội nước ta có nhiều thay đổi: xuất hiện nhiều đô thị và nhiều tầng lớp mới như công nhân, tư sản, tiểu tư sản, thương nhân, trí thức Nhu cầu thẩm mĩ cũng thay đổi Nền văn học dần thoát khỏi sự ảnh hưởng của văn học Trung Hoa và dần hội nhập với nền văn học phương Tây mà cụ thể là nền văn học Pháp Chữ quốc ngữ ra đời thay cho chữ Hán và chữ Nôm Nghề báo in xuất bản ra đời và phát triển khiến cho đời sống văn học trở nên sôi nổi Cộng thêm sự xuất hiện của đội ngũ phê bình văn học Đây chính là điều kiện thuận lợi đểđổi mới văn họctheo hướng hiện đại hóa Ngoài ra, thời kì này, văn chương đã trở thành một thứ hàng hóa, viết văn trở thành một nghề để kiếm sống Đây là lí do thiết thực kích thích người cầm bút Trong chặng đường đầu của quá trình đổi mới, sự đổi mới còn có những trở ngại nhất định, bởi sự níu kéo của cái cũ
Vì thế, văn học từ năm 1890 đến năm 1930 được gọi là giai đoạn văn học giao thời
1.2.2 Sự ảnh hưởng đến quan niệm sáng tác
Tản Đà sinh vào năm 1889 và mất năm 1939, tức là sinh thời trong bối cảnh đất nước đang chịu cảnh xâm lược của thực dân Pháp, điều này làm ảnh hưởng sâu sắc đến nhận thức của Tản Đà Sinh ra trong giai đoạn tối tăm của đất nước, nhân dân đang oằn mình chống lại sự thống trị của ách thực dân nên Tản Đà đã cảm
Trang 25nhận sâu sắc sự khắc nghiệt của xã hội mà ông đang sống Vì vậy mà ở Tản Đà, hiện thực xã hội đã được miêu tả dưới ngòi bút của mình một cách chân thực nhất Mọi vấn đề, khía cạnh đều được khai thác một cách sinh động và không kém phần hấp dẫn với những chi tiết, câu chuyện… ông quan sát được Không chỉ trong văn xuôi mà cả trong thơ, ta luôn cảm nhận được hơi hướng thế sự Đây cũng là thời kì
mà khái niệm “chữ Quốc ngữ” xuất hiện vào lúc đất nước bị xâm lược Tuy mới xuất hiện một thời gian ngắn nhưng “chữ Quốc ngữ” lại nắm vị trí chủ đạo ở một xã hội phong kiến nông nghiệp, còn “chữ Tàu” đã xuất hiện hàng ngàn năm lại đang bị dồn đẩy vào bước đường suy tàn Giai cấp phong kiến Việt Nam vốn lấy Nho giáo làm ý thức hệ chính thống, lấy Nho giáo làm quốc giáo, dựa vào Nho giáo để thống trị nhân dân Trong mấy thế kỷ trước, khi chế độ phong kiến đang đi lên thì Nho giáo có uy lực của nó Nhưng đến thời kỳ này chế độ phong kiến đã bước vào thời
kỳ suy vong, khủng hoảng thì Nho giáo cũng bị đả kích, bị lung lay dữ dội Sự sụp
đổ của ý thức hệ Nho giáo có hưởng đến tầng lớp Nho sĩ - lực lượng sáng tác văn học của thời đại Sống trong thời đại Nho giáo bị sụp đổ thảm hại như vậy, một tầng lớp nhà Nho chân chính bị khủng hoảng về mặt lý tưởng Họ không tìm ra con đường đi, họ hoang mang trước thời cuộc Tản Đà cũng từng trải qua thời gian mất phương hướng như thế Cũng vì thế mà Tản Đà sinh ra chán chường thực tại và mong tìm nguồn vui nơi chốn mộng ảo không thực
Nói về quan niệm văn chương của Tản Đà, trong bài viết Quan niệm văn chương Tản Đà, Dương Kim Thoa có viết: “Còn nhớ một câu mà lâu nay người ta đều bảo đó là câu nói của Phan Bội Châu: “Lập thân tối hạ thị văn chương”, có nghĩa lập thân hèn hạ nhất là bằng văn chương, nếu đó là thứ văn chương cử tử, văn chương tầm chương trích cú, chỉ lo ve vãn, tô đẽo những điều phù phiếm, hão huyền, không chú tâm tới hiện thực đời sống đang diễn ra với bao lo toan về sự bình yên, thịnh trị và phồn vinh của trăm họ Thực sự, câu nói đó của một sĩ phu Trung Hoa, vì cụ Phan tâm đắc với nó mà nhắc đi nhắc lại thôi Sau này, Tản Đà chỉ sửa một chữ trong câu đó để phù hợp hơn với quan niệm văn chương của nhà thơ “quê hương thời có cửa nhà thời không” Tản Đà phát biểu: “Lập thân tối
Trang 26thiểu thị văn chương”, có nghĩa lập thân kém nhất cũng phải bằng văn chương, nếu văn chương đó là thứ văn chương vì cuộc sống đương thời” [25] Qua nhận định đó
ta cũng thấy rõ quan niệm văn chương của Tản Đà Điều đầu tiên là đối với Tản Đà
là văn chương phải gần gũi với cuộc sống và con người, nói cách khác là văn học không được “xa lạ” với cuộc sống Nếu ngày trước, văn học được giới hạn trong một phạm vi, văn học là vấn đề của những người trí thức, quan lại, nhà Nho Tản
Đà chủ trương mang văn học đến gần với dân chúng hơn.Văn chương chỉ tồn tại trong những nơi trang trọng, bề thế thì nay Tản Đà muốn mang văn chương đến gần
dân chúng bình dân hơn Cụ thể là trong bài viết Vài nét về quan điểm văn chương của Tản Đà, Nguyễn Khắc Xương đã dẫn lời nói của Tản Đà trong dịp ông gặp Thái Phỉ - chủ nhiệm báo Tin văn: “Thơ văn của tôi rải rác các nơi còn nhiều, giờ tôi muốn sưu tập lại rồi đem xuất bản Tôi có ngỏ ý với các ông ở báo Ngày nay, nhưng các ông muốn đem thơ văn của tôi in thành những sách đẹp đắt tiền để người
ta bày làm đồ chơi trong tủ sách Cái đó tôi không thích vì tôi muốn thơ văn của tôi được phổ thông trong đám bình dân Sách của tôi sẽ được bán rất rẻ cho những ông hàng xén để các ông này đem bán rong phố hay ở các chợ quê, thế thì mới có ích cho đồng bào chứ” [17;tr17] Vì vậy, ta thường bắt gặp trong văn chương Tản Đà những câu văn, câu thơ đại khái, nôm na: “Quái lạ làm sao cứ nhớ nhau” (Tương tư).Những từ ngữ mộc mạc, đời thường rất hay được Tản Đà sử dụng trong sáng tác
của mình Bên cạnh đó những quy luật, hình thức văn chương cũng được Tản Đà đơn giản hóa để người đọc dễ cảm thụ và tiếp nhận hơn
Điều nữa là văn chương phải đem lại ích lợi cho con người Văn chương cung cấp tri thức, bồi dưỡng tâm hồn và giáo dục nhân cách cho con người Dù là ở trong thời đại nào thì văn chương cũng phải phục vụ cho con người, vì con người, lấy con người làm đối tượng phản ánh Văn chương không chỉ dùng để mua vui,miêu tả các loại tình cảm ủy mị làm cho con người mê muội, không phải các tiểu thuyết hiệp sĩ phương Tây làm con người ta quẫn trí mà còn phải là thứ dùng
để giáo dục nhận thức, đem lại ích lợi cho con người.Tản Đà từng ôm một hoài bão
đó là có thể mang tri thức của mình đề mở mang dân trí cho đồng bào trong lúc
Trang 27nhân dân ta đang chìm đắm trong bóng tối của cái “dốt” Đây là một quan niệm sáng tác rất mới mẻ và phù hợp với thời đại Với sự linh hoạt của mình, tuy vẫn còn chịu nhiều ảnh hưởng bởi Nho giáo nhưng Tản Đà đã phần nào thoát ra được những quan niệm văn chương cũ kĩ “chi, hồ, giả, dã” để đến với văn minh phương Tây và chữ Quốc ngữ
Tản Đà là một nghệ sĩ lao động nghiêm túc Đã có rất nhiều nhận xét về sự mâu thuẫn trong văn chương của Tản Đà Một mặt ông coi văn chương là một thú chơi nên ông không phức tạp hóa văn chương mà có vẻ tùy hứng Nhưng rõ ràng ta thấy qua những cống hiến của Tản Đà về mặt báo chí, thơ ca, văn xuôi, dịch thuật… thì Tản Đà là một người lao động nghệ thuật hết sức nghiêm túc Suốt cuộc đời ông luôn có ý thức về trách nhiệm công việc của mình Một con người chất chứa nhiều mâu thuẫn Nhưng suy cho cùng ta không thể phủ nhận giá trị văn chương của Tản
Đà cũng như những đóng góp của ông cho nền văn học nước nhà
Tản Đà vẫn nặng lòng với Hán học Tản Đà sinh ra và lớn lên trong lúc hai nền văn hóa Đông và Tây giao thoa Trong tình cảnh đó, nhà trí thức Nho học Tản Đà,tiêu biểu cho lớp người thuộc thế hệ đầu tiên, buông “bút lông” để cầm lấy “bút sắt” Tản Đà từng rất cố gắng để cứu vãn níu giữ sự tồn tại của Hán học Vì là thế
hệ đầu tiên nên Tản Đà còn chịu nhiều ảnh hưởng của cổ văn, cổ thi Những quy tắc, niêm luật, quan niệm, cách hành thơ, hành văn… của nền Hán học từng được Tản Đà cố gắng phổ biến nhưng cuối cùng thất bại Nhưng ông đã nhận ra sự cổ hũ của mình cũng như sự tàn lụi không thể cứu vãn của Hán học, thế nên ông đã mạnh dạn thay đổi về cả quan niệm văn chương và nội dung văn chương cho phù hợp với
xã hội đương thời Sự xuất hiện của chữ Quốc ngữ đã ảnh hưởng tới quan niệm cũng như đề tài khai thác của Tản Đà Lần đầu tiên, Tản Đà cũng như những nhà Nho khác được tiếp xúc với văn minh phương Tây ngoài những Kinh, Sử, Tử, Tập của Trung Hoa, điều này có tác động sâu sắc đến quan niệm về cuộc sống cũng như quan niệm văn chương của ông Tiếp xúc với văn hóa, văn học phương Tây, người
ta nhận ra tác dụng khai sáng và tính thực tế của nó, điều đó làm cho các sáng tác ít
đi hẳn sự viễn vông, gò bó, sáo rỗng mà đến gần với thực tế cuộc sống hơn Tản Đà
Trang 28không “cũ”, nhưng vẫn chưa thực sự “mới” Những tiêu chí, những xét đoán, đánh giá của Tản Đà đã khác so với những người cùng thời vì nó bắt nguồn từ chính sự chiêm nghiệm của ông từ cuộc sống thực tế từ tri thức ông tiếp thu được ở cả “Tây” lẫn “Tàu” Điều đó làm cho ngữ liệu sáng tác của Tản Đà phong phú và gần gũi hơn Tản Đà đã vượt ra hệ tư tưởng Nho gia để đến gần hơn với cảm nhận và tình cảm của con người trong đời sống sinh hoạt hằng ngày, nói về nó, cảm về nó và nghĩ về nó Nhưng Tản Đà chưa thoát hẳn khỏi cái bóng của thời đại cũ nên ta đôi lúc còn bắt gặp sự lúng túng, bỡ ngỡ ở Tản Đà trong giai đoạn đầu của nền văn học chữ Quốc ngữ
1.2.3 Sự ảnh hưởng đến nội dung sáng tác
Là một người nhạy bén với thời cuộc, ngòi bút của Tản Đà đã phản ảnh được phần nào diện mạo của xã hội mà ông đang sống Bên cạnh đó ta cảm nhận được tấm lòng, tâm sự của một tâm hồn đầy lãng mạn và tình cảm Ông là một nhà Nho rời nông thôn ra thành thị Cuộc sống thành thị lúc bấy giờ đã ảnh hưởng đến
tư tưởng, tình cảm và thái độ trước cuộc sống hiện tại của ông.Nhưng dù phân nửa cuộc đời sau này gắn bó với môi trường đô thị và tập nhiễm không ít lối sống thị dân thì về cơ bản cốt cách của một nhà Nho tài tử vẫn rất đậm nét trong con người Tản Đà Bên cạnh sự phơi bày thực tại, Tản Đà còn mang vào thơ văn của mình cả một thế giới tình cảm Những vần thơ cũng chính là sự trải lòng của ông Ta không thể tìm thấy trong thơ văn Tản Đà những áng văn chương mang đậm lòng căm thù giặc hay cổ vũ, khích lệ tinh thần chiến đấu cho nhân dân như những tri thức yêu nước thời bấy giờ Nhưng bao trùm lên tất cả là một tấm lòng yêu nước thương dân thầm kín Tinh thần dân tộc vẫn hiện diện trong thơ Tản Đà Bằng chứng là ông hay nhắc về lịch sử của dân tộc và tiếc nuối quá khứ vàng son của đất nước, đề cập tới những truyền thống tốt đẹp của dân tộc nhưng bị mất đi trong cảnh nước mất nhà tan:
Ôi! Lý Trần Lê đâu mất cả
Mà thấy hươu nai đứng đỉnh chơi
(Chơi trại hàng hoa)
Trang 29Bên cạnh đó, một nội dung chủ yếu trong thơ văn Tản Đà là “nỗi buồn thời đại” Vì sinh ra trong xã hội giao thời mà ông thì xuất thân từ tầng lớp phong kiến suy thoái, ông lại đứng ngoài cuộc đấu tranh của dân tộc nên Tản Đà cảm thấy mình
bị lạc lõng Ta thường thấy trong thơ Tản Đà man mác những nỗi buồn Ông buồn cho sự suy tàn của Hán học, buồn cho sự lạc hậu của đất nước, buồn cho thân phận những kẻ mang nghiệp chữ nghĩa chân chính, buồn cho sự bất lực của ông trước hoàn cảnh, buồn cho những mảnh đời chịu sự xô dạt của cuộc đời, buồn cho những
kỉ niệm tình yêu đầy nuối tiếc, vì vậy ông tìm đến những cơn say, tìm vào cõi hư
vô, tiên cảnh hay chu du khắp thiên hạ tìm tri kỉ
Tiếp đó là những vần thơ mang nặng nỗi niềm thế sự, mang nặng trách nhiệm với cuộc đời Có một điều ta không thể quên Tản Đà từng là nhà báo Thế nên việc cập nhật những thông tin về hiện thực xã hội xảy ra là việc hằng ngày của ông Ông cũng hay viết về bản thân mình, viết về những lí tưởng, những giai thoại cuộc đời mình, sự thất bại, đổ vỡ của chính mình, về ước mộng của chính mình Điều đó thể hiện mối quan hệ giữa hiện thực và trữ tình trong thơ Tản Đà
Những bất cập của xã hội thực dân nửa phong kiến được Tản Đà đưa vào thơ văn Bằng sự nhạy bén của mình, Tản Đà cảm nhận được những chuyển động của xã hội ông đang sống, ông cảm nhận rất rõ những gì đang diễn ra xung quanh mình Đứng trước giông bão cuộc đời, mỗi người có cách phản ứng khác nhau Trong suốt cuộc đời, Tản Đà luôn gặp nhiều trắc trở, thất bại, ông không lập được công danh sự nghiệp bằng khoa cử đến sáng tác văn thơ cũng chẳng mấy thuận lợi, lại gặp cảnh tình yêu ngang trái nên Tản Đà không tránh khỏi sự bế tắc trước thời cuộc Nếu như số đông đã lui về ở ẩn, hoặc đang làm quan lui về ở ẩn để giữ gìn khí tiết, nhân cách của mình thì Tản Đà đã can đảm đối mặt với thực tại Tuy nhiên thì trong Tản Đà vẫn biểu hiện sự chán nản, đối với ông thế gian cũng là nơi tạm bợ Cho nên ông vẫn sống với hiện thực nhưng trong hiện thực lại có trữ tình Tản Đà
có cái nhìn rất thực tế mà cũng rất trữ tình Ta có thể nhìn thấy chất trữ tình đậm nét trong các bài thơ của ông Chán ngán với thực tại nên ông luôn khao khát tự do, khao khát vẫy vùng ra khỏi thực tại bế tắc:
Trang 30Kiếp sau xin chớ làm người Làm đôi chim nhạn tung trời mà bay
(Hơn nhau một chén rượu mời)
Nhìn chung, sáng tác của Tản Đà vừa mang nội dung hiện thực vừa mang nội dung trữ tình, vừa mang tính triết lý vừa mang hơi hướng bình dị, đời thường Trong thơ Tản Đà, cái hiện thực và trữ tình luôn đi đôi và có mối quan hệ mật thiết với nhau Tản Đà sống vào thời kì xã hội đang trên con đường tư sản hóa, nền kinh
tế tư bản chủ nghĩa bước đầu hình thành và phát triển đã tác động mạnh mẽ đến tư tưởng và ý thức hệ của người cầm bút Ở Tản Đà, cái tôi cũng manh nha xuất hiện, con người cá nhân được thể hiện nhiều Sự lệ thuộc của đất nước vào sự thống trị của giặc cũng làm cho nội dung văn chương của Tản Đà bị hạn chế Tóm lại, xã hội thực dân nửa phong kiến cũng làm lung lay tư tưởng Nho học trong lớp người cầm
bút tạo nên sự cách mạng về nội dung và hình thức sáng tác
1.2.4 Giới thiệu về ba tập thơ Khối tình con I, Khối tình con II, Khối tình con III
Tản Đà là một tác giả có số lượng thể loại thơ khá phong phú Tiêu biểu như: bát cú Đường luật, trường thiên lục bát, song thất lục bát, các loại hình dân ca, tuồng chèo các thể thơ tự do… Điều này cũng được thể hiện trong ba tập thơ trên
Từ năm 1916 cho đến 1923, Tản Đà cho xuất bản Khối tình conI, II, III Ở thời
điểm đó, nước ta chưa có nhà xuất bản Các nhà văn tự lo lấy việc in, việc xuất bản
và cả việc phát hành Vì vậy mà các sách được xuất bản thời kì này chỉ thấy in tên nhà in mà không in tên nhà xuất bản Cụ thể là tập Khối tình con được in bởi nhà in Văn Minh (Hải Phòng-Hà Nội) Khối tình con gồm ba quyển: Quyển I (1916) gồm
50 bài thơ, Quyển II (1918) gồm 40 bài thơ, Quyển III (1932) gồm 31 bài thơ
* Tiểu kết
Có thể nói giai đoạn nửa thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX là giai đoạn khó khăn
và đầy biến động của đất nước ta về cả tình hình lịch sử - xã hội lẫn tình hình văn hóa - văn học Chính những biến động đó đã thúc đẩy sự biến chuyển của văn học
Và vì vậy, văn học giai đoạn này được gọi là văn học giao thời, chuyển tiếp từ nền văn học trung đại sang hiện đại Trong bối cảnh đó, văn đàn Việt Nam xuất hiện
Trang 31một hiện tượng mang đậm dấu ấn thời đại - hiện tượng Tản Đà Sinh ra trong thời kì lịch sử đầy biến động, Tản Đà bị cuốn trôi theo dòng thác “canh tân” Nhà Nho Tản
Đà đã không còn mang nặng tính chất của kiểu nhà Nho “kinh bang tế thế” mà đã mang nhiều nét kiểu “nhà Nho tài tử” Với cá tính và lập trường riêng, Tản Đà trở thành một con người dị biệt Tản Đà mang lại cho nền văn học Việt Nam nhiều cái
“lần đầu tiên” Lần đầu tiên, Tản Đà mang đến cho thi đàn Việt Nam nhiều hương
vị lạ Lần đầu tiên có người cầm bút viết về những sự ngang trái của tình cảm, tình cảnh của chính bản thân mình Lần đầu tiên có người dám bộc bạch những nét tính cách, những ngõ ngách trong con người mình lên trang giấy cho thiên hạ tỏ Lần đầu tiên có người đem đến cho độc giả một nhu cầu thưởng thức mới, đó là sự dung hợp giữa mục đích sáng tác và thị hiếu người đọc Lần đầu tiên có người dám làm những cái chưa ai dám làm Chính vì thế, Tản Đà đã trở thành một hiện tượng độc đáo, thu hút và nhận được sự quan tâm từ buổi đầu xuất hiện cho tới nay Kể từ đó, Tản Đà đã xuất hiện trong biết bao bài viết, bài bình luận, công trình nghiên cứu Tản Đà và tác phẩm của Tản Đà trở thành chủ đề của biết bao nhiêu bìa sách Với những đóng góp của mình cho nền văn học nước nhà, Tản Đà sẽ mãi giữ vị trí tiên phong trên văn đàn Việt Nam giao đoạn giao thời
Trang 32CHƯƠNG 2 NỘI DUNG HIỆN THỰC TRONG THƠ TẢN ĐÀ 2.1 Khái niệm hiện thực
Theo Từ điển thuật ngữ văn học thì tính hiện thực có nghĩa là “Một hình thái ý thức xã hội, tất cả các yếu tố, các chỉnh thể văn học, từ nội dung đến hình thức, từ trào lưu văn học đến phương pháp sáng tác, loại thể văn học… đều bắt nguồn sâu xa từ hiện thực khách quan, từ đời sống xã hội Theo ý nghĩa ấy, bất kỳ tác phẩm văn học nào dù là thuộc chủ nghĩa hiện thực hay chủ nghĩa lãng mạn, chủ nghĩa siêu thực hay chủ nghĩa ấn tượng, chủ nghĩa vị lai… đều có tính hiện thực dù
có được tự giác hay không Nói đến tính hiện thực là nói đến thuộc tính tất yếu của
ý nghĩa quy luật, không bao hàm một sự đánh giá nào về mặt chất lượng”[5; tr236]
Như vậy ta có thể hiểu phương pháp sáng tác hiện thực là một phương pháp sáng tác mà ngữ liệu chính của phương pháp đó lấy từ hiện thực cuộc sống, có liên quan mật thiết với điều kiện xã hội - lịch sử cụ thể Những vấn đề, hiện tượng, mâu thuẫn trong xã hội được thể hiện một cách chân thực trong tác phẩm hiện thực
Ở mỗi thời kỳ, mỗi chặng đường khác nhau của đất nước thì tính hiện thực lại mang những nội dung khác nhau Tuy nhiên dù ở bất kỳ thời đại nào nó cũng mang những đặc điểm chung đó là phản ánh xã hội, con người thời kỳ đó Nhờ có những tác phẩm mang tính hiện thực mà ta có cái nhìn khái quát và rõ ràng hơn về xã hội, con người qua từng thời kỳ khác nhau Vì văn học gắn bó sâu sắc với hiện thực cuộc sống nên hiện thực trong văn học cũng là hiện thực được rút ra từ cuộc sống Như
vậy, văn học được xem như lăng kính phản ánh cuộc sống
Ở Việt Nam, qua bao nhiêu diễn biến của đất nước, bút pháp hiện thực cũng đã nhen nhóm xuất hiện từ khá lâu Những nhà thơ Việt Nam xưa, đọc tác phẩm của họ ta đã bắt gặp những biểu hiện của bút pháp hiện thực tiêu biểu như Nguyễn Du, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Tú Xương… khi họ lấy những điều “mắt thấy tai nghe” làm chất liệu sáng tác
Hiện thực là những gì tồn tại trong xã hội Có thể là một khía cạnh của đời sống xã hội, mối quan hệ giữa con người trong xã hội, là những gì được gói gọn
Trang 33trong cụm từ “nhân tình thế thái” Hiện thực trong thơ Tản Đà không phải là những điều mang tính triết lý sâu sắc hay những điều lớn lao, to tát Hiện thực trong thơ Tản Đà là những điều gần gũi mà chân thực với đời sống con người Tản Đà đã dần thoát ra được khỏi quan niệm văn chương trung đại Đó là những quan niệm “văn dĩ tải đạo”; hay là quan niệm nội dung là nội dung được chứa trong một hình thức chỉnh chu Tản Đà đã dần bước ra khỏi những khuôn phép đó Nội dung thơ của Tản Đà là những điều đơn giản, mộc mạc được chứa trong hình thức không nặng tính quy tắc mà là những hình thức tự do, sáng tạo chủ quan Văn chương dù là thời nào cũng mang lại giá trị cho con người nhưng không phải tuân theo những lề lối cũ mới có thể truyền tải những giá trị ấy Tản Đà đã mạnh dạn vượt ra khỏi lề lối cũ để đến gần với thực tế đời sống con người hơn Vì vậy mà hiện thực trong thơ văn Tản
Đà dễ dàng gần gũi với mọi người và được đón nhận hơn
2.2 Bức tranh xã hội buổi giao thời
2.2.1 Hình ảnh những người muôn năm cũ
Trong suốt một nghìn năm Bắc thuộc, với chính sách Hán hóa của Trung Quốc, tiếng Hán đã được người Việt Nam tiếp thu và sử dụng làm ngôn ngữ chính thức Nhà nước phong kiến Việt Nam dùng tiếng Hán làm văn tự chính Chữ Hán được đưa vào giáo dục, thi cử và được sử dụng cho tới khoảng thế kỷ XIX Tiếp đó
là sự xuất hiện của chữ Nôm Chữ Nôm được sáng tạo dựa trên nền tảng của chữ Hán Xuất hiện vào khoảng thế kỷ VII đến thế kỷ IX cho tới đầu thế kỷ XIV chữ Nôm dần được hoàn thiện và trở thành văn tự dùng để sáng tác văn học bên cạnh chữ Hán Nhưng tới thế kỷ XVI, các giáo sĩ phương Tây đến Việt Nam truyền đạo
đã mang theo chữ La - tinh vào Việt Nam, quá trình hình thành chữ Quốc ngữ được bắt đầu từ đó Chữ Quốc ngữ một thời gian bị nhân dân ta không chịu tiếp thu vì xem đó là phương tiện cai trị của người Pháp Việc sử dụng chữ Quốc ngữ bị xem là
đi ngược lại với tinh thần chống Pháp của nhân dân Tuy nhiên, với những chính sách của Pháp cộng với sự tuyên truyền của những trí thức tích cực Việt Nam (tiêu biểu là những người sáng tạo ra phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục), nhiều người Việt Nam đã dần chấp nhận chữ Quốc ngữ vì đây là loại chữ viết dễ sử dụng và phổ
Trang 34biến Như vậy, thời kỳ của Tản Đà là thời kỳ Pháp thuộc, cùng với sự yếu thế của nhà nước thì chữ Hán và chữ Nôm đã không còn được trọng dụng nữa Trong thời
kỳ xâm lược Việt Nam, chính quyền thực dân chỉ cho duy trì trường Hán học một thời gian ngắn Từ thập niên 1910 thì toàn bộ hệ thống trường Hán được thay thế bằng trường Pháp - Việt Đứng trước sự thay đổi ấy, Tản Đà không tránh khỏi cảm
giác tiếc nuối Trong quyển Tản Đà - Một đời văn,Nguyễn Khắc Xương có viết:
“Tản đà đứng ở một bước ngoặt lịch sử của văn học Việt Nam, phía sau Tản Đà là quá khứ với sự tàn lụi của văn chương Hán Nôm, thơ ca Việt Nam cứ héo dần sinh khí để đi tới cằn cỗi, còn trước mắt là sự chờ đợi, mong đón một cái gì đó mới mẻ
sẽ phải đến nhưng chưa xuất hiện Thơ ca đang thoi thóp với các bài thơ khô cứng khuôn sáo, thiếu cảm xúc chân thực, thiếu rung động nội tâm, nói những điều cũ mòn với những ngôn ngữ cũ mòn hơn nữa Nền văn học của thời đại giã từ văn học Hán Nôm để đến với Quốcngữ cần phải có ai đó mở đường cho nó đi, cho nó ào tới Phải có một người nào đó bổ những nhát cuốc đầu tiên để khai thông, đặt những viên gạch đầu tiên xây dựng văn học hiện đại của thế kỷ 20”[17;tr5] Trong bối
cảnh đất nước đang có giặc Pháp xâm lược, sự xuất hiện của văn hóa phương Tây
đã tác động mạnh mẽ đến mọi mặt đời sống của nhân dân ta Đặc biệt là văn hóa, văn học Đối với một chặng đường lịch sử, ngoài các tài liệu sử học thì văn học là nguồn thi liệu phản ánh chân thực diễn biến của xã hội Thời kỳ Pháp xâm lược cũng là giai đoạn kết thúc văn học truyền thống và mở ra thời đại mới Tản Đà là người tiên phongđặt viên gạch đầu tiên mở ra ánh cửa của thời đại mới đó Trong
thơ Tản Đà, ta nhìn thấy những biểu hiện suy yếu của nền Hán Nôm:
Mười mấy năm xưa ngọn bút lông Xác xơ chẳng bợn chút hơi đồng Bây giờ anh đổi lông ra sắt Cách kiếm ăn đời có nhọn không?
(Thuật bút - Khối tình con II)
Gia đình của Tản Đà là gia đình Nho gia truyền thống Ông được hun đúc
từ Khổng học, nhưng đến thời đại của mình, ông phải đau đớn chứng kiến cảnh tàn
Trang 35lụi, xác xơ của Hán học Chính ông cũng đã ra sức níu kéo lại nền Hán học đang
trượt dốc, như ra sức dịch Kinh thi, soạn Đài gương kính, Đài gương truyện, mở mục Hán học tinh thần trên An Nam tạp chí… Tuy nhiên tất cả những việc làm đó
không thể cữu vãn một nền văn chương, chữ nghĩa Hán Nôm đã đi vào lụi tàn Nhận thấy thực tại phũ phàng, Tản Đà tỉnh táo để dần thay đổi chính mình cho phù hợp với thời cuộc Không cố chấp cứ giữ mãi những gì đã cũ, Tản Đà bắt đầu định hướng để theo kịp thời đại: đó là bỏ bút lông (chữ Hán, Nôm) mà cầm bút sắt (chữ Quốc ngữ) Nhưng nói cho cùng chính bản thân Tản Đà cũng chưa hoàn toàn thoát khỏi cái bóng của Hán học Việc từ bỏ nền văn chương từ phú Hán học để đến với nền văn chương Quốc ngữ là việc bắt buộc các nghệ sĩ, nhà Nho, trí thức thức thời phải làm theođể có thể tồn tại trong thời buổi “xiển dương Tây học” Chính vì sự suy yếu của Hán học mà một số đông trí thức thức thời đã buông bỏ “bút lông” để cầm bút sắt Tuy nhiên dù đã thay đổi rồi nhưng cuộc sống của những người mang nghiệp chữ nghĩa thời kì đó vẫn rất lênh đênh bởi vì họ suy cho cùng vẫn chưa hoàn toàn bắt kịp nhịp độ của thời đại mới Nhìn chung thì giai đoạn cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX được xem như là giai đoạn chuyển tiếp từ trung đại sang hiện đại cả về lịch sử lẫn văn học Tuy chỉ kéo dài hơn nửa thế kỷ, một khoảng thời gian khá ngắn nhưng khoảng thời gian này đã mang lại sự thay đổi sâu sắc tình hình đất nước ta Chính vì sự thay đổi ấy mà những con người trong xã hội cũ vẫn chưa thích nghi được, vẫn còn nặng lòng với quá khứ và muốn níu kéo quá khứ tàn lụi, tiêu biểu là
Tản Đà: “Trong khi chữ Hán chẳng còn đem lại tác dụng thực tế nào với nhân sinh, với xã hội, trong khi lớp thanh niên, con em các gia đình đều vào học ở các trường Pháp - Việt, trong khi Hán tự chỉ còn là vật để trang trí qua những bức hoành phi câu đối ở các nhà quan sang, nhà giàu có, Tản Đà lại mở ra mục “Hán văn diễn giảng” thật là quá lỗi thời… Xã hội Tản Đà không còn là xã hội của giáo lý Khổng Mạnh nữa, kinh tế tư bản chủ nghĩa đã hình thành và trên đà phát triển, yêu cầu giải phóng cá nhân đặt ra, các giáo điều, khuôn phép của cụ Khổng thầy Mạnh chỉ còn là những món hàng trái “mốt” tồn kho hay những thứ để đem ra mà nhạo báng, mà giễu cợt, thế mà An Nam tạp chí lại mở ra mục “Hán học tinh thần” và
Trang 36còn không hiếm các mục và bài “cổ hủ” khác như “Bắc sử”, như các truyện về các nhân vật lịch sử Trung Quốc, nào Vương Tôn Cổ, nào Từ Thứ, nào Trịnh Thành Công, nào những truyện về các phụ nữ tiết liệt đoan trang của Trung Hoa cổ v.v và v.v… tất cả những món hàng không sao tiêu thụ nổi trên thị trường văn hóa thời đó” [17; tr 92] Nói như vậy để chúng ta thấy là đến thời điểm này, Hán học đã
hoàn toàn thất thế Những thứ hay ho của Hán học đã không còn phù hợp cũng như hấp dẫn với xã hội Việt Nam đương thời Dù rất cố gắng nhưng Tản Đà cũng đành
“lực bất tòng tâm” đứng nhìn sự diệt vong của Hán học, một sự diệt vong không thể nào cứu vãn nổi
Thời kì trước, Hán học nắm vị trí độc tôn nên những đặc trưng của Hán học cũng được tôn vinh Đơn cử như sự tồn tại của ông đồ - một đại diện của Hán học Người Việt từ xưa có truyền thống thờ chữ, rước chữ, chơi chữ, xin chữ Không chỉ vậy, người Việt đặc biệt nâng niu và trân trọng chữ Ngày nay ta đôi khi vẫn bắt gặp những tấm hoành phi, câu đối trong những khu vực đình, chùa, miếu hay trong mỗi gia đình Những thứ ấy luôn được đặt ở những nơi trang trọng và linh thiêng nhất Như vậy để thấy, vai trò của ông đồ là hết sức to lớn khi ông đồ vừa dạy chữ thánh hiền vừa truyền trao nghệ thuật thư pháp - một hình thức văn hoá xem trọng chữ nghĩa thánh hiền Ngày xưa, ông đồ khăn đóng, áo dài thâm, quần chúc bâu trắng, chòm râu bạc phất phơ thật cốt cách, trải chiếu ngồi mài mực trên vỉa hè Đằng sau ông giăng đầy những chữ Thần, chữ Phúc, chữ Tâm, chữ Hiếu… và những câu đối viết trên giấy màu đỏ khổ to Bên nghiêng mực và mấy chiếc bút lông, ông đồ chăm chú thảo những dòng chữ Hán, chữ Nôm như “rồng bay phượng múa” Phố phường
từ đó như rực rỡ thêm với những tấm giấy lụa, giấy điều Ông đồ ngày xưa rất được trọng vọng, những nhà có tiền thì mời thầy về tận nhà để dạy chữ cho con cái, những nhà bình dân thì gửi con đến nhà thầy, thầy giỏi học sinh khắp nơi kéo đến học, ngày lễ ngày tết phải sang tết thầy, dân gian có câu: “Mùng một tết cha, mùng hai tết mẹ, mùng ba tết thầy” Tết đến, có những ông đồ thì lại đến các chợ, hoặc nơi đông người qua lại, bày giấy mực ra để bán chữ Sắc đỏ của giấy, mùi thơm của mực cũng làm cho ngày tết thêm màu sắc và hương vị Ngoài cầu may mắn, người
Trang 37ta còn muốn xin cái đức độ, tài năng của ông đồ, lấy chữ để răn mình Bên cạnh viết chữ Hán, chữ Nôm thì các ông đồ còn viết cả chữ quốc ngữ
Thời kỳ hưng thịnh là thế Cái nét xưa ấy thực ra đã tàn phai từ lâu rồi Bài thơ “Ông Đồ” (cuối thập niên 1930), nhà thơ Vũ Đình Liên đã ngậm ngùi trước sự tàn phai của văn hóa Nho học của cha ông xưa:
Ông đồ vẫn ngồi đấy Qua đường không ai hay
vị trí độc tôn, thế nên những đặc trưng của Hán học dần đi vào bế tắc Nền văn hóa mới khiến hình ảnh ông đồ cũng có sự thay đổi Những tàn dư của Hán học ngày càng lộ rõ sự yếu ớt trên mọi khía cạnh cuộc sống Nếu ngày xưa ông đồ ở địa vị cao trong xã hội thì nay ông đồ không còn được coi trọng, vị thế của ông đã khác
Tình cảnh khốn cùng của ông đồ trong bài thơ Thơ khóc tết của hai ông đồ của Tản
Đà đã cho thấy sự tàn lụi của một nền học thuật, của một truyền thống văn hóa Những điều thuộc về Hán học, thuộc về truyền thống ngày càng bị mai một, bị vùi dập:
Giời ơi! Ới tết ơi là tết!
Bác hãy còn hơn, tôi mới chết!
Gạo tẻ đong chịu, nếp thời không,
Trang 38Áo vợ rách tan, chồng cũng hết, Con theo cạnh nách mếu môi sò,
Nợ réo ầm tai câm miệng hến, Giời còn để sống đến trăm năm, Lại mấy mươi bài thơ khóc tết
(Thơ khóc tết của hai ông đồ - Khối tình con I)
(Hủ Nho lo việc đời - Khối tình con III)
Những câu thơ vẽ ra nên một cuộc sống “eo sèo”, nghèo túng của ông đồ
Đọc những câu thơ này ta liên tưởng ngay tới bài thơ Ông đồ của Vũ Đình Liên
Ông đồ là những người tài hoa, chữ tốt, nếu trước kia nền Hán học còn giữ vị trí cốt yếu thì ông đồ - đại diện cho nền Hán học cũng được mọi người ngưỡng mộ, thán phục, xin chữ Còn nay, thời thế đã thay đổi, Hán học đã lụi tàn trong xã hội thực dân nửa phong kiến Tiếng Hán từ chỗ là một ngôn ngữ chính thống mà nay đã không còn được sử dụng trong văn phong hành chính công vụ lẫn trong việc sáng tác văn học và giao tiếp hàng ngày Điều đó khiến người Việt mất dần khả năng đọc hiểu các văn tự, văn chương, sử học, khoa học, tư tưởng dân tộc viết bằng Hán Nôm của ông cha ta hơn mười thế kỷ trước Việc bãi bỏ các kỳ thi lấy Nho học làm nền móng khiến Nho học mất dần ảnh hưởng đến đời sống xã hội và chìm vào quên lãng Cái thời hoàng kim của Hán học đã trôi qua và đi vào quá khứ, thay vào đó là một hiện thực đau lòng Tình thế đảo ngược, tình đời đổi thay Giữa ồn ào, xô bồ của văn minh đô thị, hình ảnh ông đồ bị lu mờ và trở nên lạc lõng Bao nhiêu cái bẽ bàng ập đến cho những con người bị bỏ lại ở phía sau Đối với xã hội hiện tại, họ là thế hệ tượng trưng cho cái cũ, cái nhìn thiện cảm ngưỡng mộ ngày xưa giờ chỉ còn
là những ánh mắt xám lạnh, e dè Hiện thực xã hội đương thời đã đẩy những ông đồ
Trang 39vào con đường bế tắc Người ta đã từ bỏ “mực tàu, giấy đỏ” để đến với thời đại “gió
Á mưa Âu”, những cái mới mẻ, hiện đại hơn Những con người anh hùng quân tử, tài hoa phong nhã trở thành những kẻ “sinh bất phùng thời” Lúc này, họ phải đối mặt với hiện thực phũ phàng, sự lẻ loi, túng quẫn của đời sống kinh tế cơ cực bủa vây lấy họ Hình ảnh ông đồ tiều tụy tượng trưng cho một nền Hán học lụi tàn dưới
sự thống trị của ngoại bang
2.2.2 Xã hội nhố nhăng buổi Tây Tàu
Giữa cõi đời ô trọc, ta thấy hiện lên một vị khách vô cũng ngạo nghễ và tự
tin Trong An Nam tạp chí(số ra 14 năm 1930) khi trả lời bạn đọc nhằm khẳng định giá trị xã hội của văn học, Tản Đà viết: “Văn chương là cái vật có sức để cổ lệ tinh thần Tinh thần lại là một vật tuyệt quý có sức nâng dẫn cái sự thực Dân giàu nước mạnh phải nhờ có tinh thần làm cốt rồi sự thực mới theo đó mà nên” hay ông lạikhẳng định dứt khoát: “Văn chương ngôn luận nếu không có ảnh hưởng đến lợi ích nhân quần xã hội thì thật là không có chút giá trị”[17; tr 10].Trong câu trả lời
này, ta thấy Tản Đà hết sức đề cao sự thực ở trong văn chương Nếu như văn chương muốn phát huy tác dụng khích lệ tinh thần thì đầu tiên văn chương phải hướng tới sự thực Có lẽ đến Tản Đà, đã qua rồi cái thời văn chương bị bó hẹp trong việc thể hiện ý chí, khí phách của người quân tử Người ta làm văn, thơ chỉ để dấu cho riêng mình, hay thể hiện khí phách của người có chữ nghĩa, hay là món quà cho những người tri âm, tri kỉ Thời của Tản Đà, ông muốn đưa văn thơ của mình đến gần với công chúng Văn học không còn là cái gì quá xa vời với nhân dân Mà muốn gần gũi với nhân dân thì văn học đó phải là văn học của hiện thực cuộc sống Tản Đà đã nhận thức được vai trò quan trọng của cái gọi là “sự thực” trong văn chương Vì chỉ khi chứa nội dung phản ánh hiện thực đất nước, xã hội thì văn chương mới tạo được sức hút và đến gần với quần chúng nhân dân hơn Người ta tìm đọc văn chương Tản Đà vì nó gần gũi Bởi vì trong văn chương của Tản Đà người ta nhìn thấy chính, thấy xã hội, thấy bản chất của con người, thấy những mặt tiêu cực của xã hội… Sở dĩ những người thời đó họ “không chấp nhận nổi” thơ văn Tản Đà vì ông nói sát quá, ông nói thực quá Tới nỗi làm họ “choáng”, vì xưa nay
Trang 40trong văn chương người ta chỉ nhìn thấy những thứ hoa mỹ, những gì tốt đẹp được
ca ngợi chứ nào đâu người ta đã được nhìn thấy những sự thực trần trụi đến thế
Thứ nhất, đó là xã hội của đồng tiền Trước đây Nguyễn Du đã từng vạch trần cái bất lương của xã hội đồng tiền:
Thấy nàng hiếu trọng tình thâm,
Vì nàng nghĩ cũng thương thầm xót vay
Tính bài lót đó, luồn đây,
Có ba trăm lạng việc này mới xuôi
(Truyện Kiều)
Vì đồng tiền mà gia đình Thúy Kiều bị bắt bớ Vì đồng tiền mà con người bằng da bằng thịt như Thúy Kiều trở thành một món hàng hóa Và cũng chính đồng tiền đã làm cho chuyện không hóa có, chuyện dữ có thể hóa lành Điều đó cho ta thấy rõ uy lực của đồng tiền dù là trong hoàn cảnh, xã hội nào Chính đây cũng là lúc Nguyễn Du bày tỏ thái độ phê phán của mình trước xã hội đương thời Tản Đà sinh sau Nguyễn Du gần hai thế kỷ, vậy mà đến xã hội của Tản Đà, đồng tiền vẫn
có vị thế như vậy:
Đồng tiển, đồng tiền Sao em sắc sảo lại khôn ngoan?
Vừa xinh vừa đẹp, Vừa trắng vừa tròn, Chán chỗ nhà quê đến chỗ quan Quan yêu, quan để nhẩy lên bàn
Cô hầu nâng đỡ, Cậu lính kêu van, Sướng đến thế mà em nỡ bạc Lại lẩn theo chú Trích, chú Cược tếch lên ngàn
(Đồng tiền - Khối tình con I)