1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Cứu tinh dân tộc Việt - Hồ Chí Minh: Phần 1

196 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 196
Dung lượng 20,37 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhân kỷ niệm 118 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (năm 2008), Nhà xuất bản Thanh Niên cho xuất bản Tài liệu Hồ Chí Minh - cứu tinh dân tộc Việt của tác giảNguyễn Ngọc Truyện.Đây là Tài liệu lần đầu tiên được tổ chức công phu, dầy dặn và tập hợp được nhiều ảnh tư liệu xuyên suốt về cuộc đời và sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tài liệu gồm 2 phần, sau đây là phần 1. Mời bạn đọc cùng tham khảo.

Trang 5

CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH

Trang 7

Thân sinh của Bác Hồ là cụ phó bảng Nguyễn Sinh sắc (Nguyễn Sinh Huy) Thân mẫu là bà Hoàng Thị Loan Bác có ba anh chị em: chị lớn Nguyễn Thị Thanh (tự Bạch Liên), anh trai Nguyễn Sinh Khiêm (tự Tất Đạt) và người em út Nguyễn Sinh Nhuận (tự Tất Danh) đã chết hồi nhỏ.

Bác Hồ sinh ra trong một gia đình nhà nho yêu nưóc, nguồn gôc nông dân và lớn lên ỏ một địa phương mà nhân dân có truyền thông anh dũng chông ngoại xâm, trong một thòi kỳ phong trào cứu nước ỏ' Việt Nam rất sôi nổi.

Thuở nhỏ ỏ quê nhà, Bác Hồ học chữ nho với một thầy đồ yêu nước: Vương Thúc Quý Trong học tập Bác rất thông minh, quan tâm tìm hiểu những tấm gương yêu nước, họr cách làm người này, Bác đã ró thể đọc, nói, viết được 12 tiếng nước

Để kết hợp cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam với phong trào công nhân quôc

tế và phong trào giải phóng dân tộc trên th ế giối, Ngưòi tham gia thành lập Hội Liên Hiệp các dân tộc bị áp bức châu Á, xuất bản hai CUÔI 1 sách nổi tiếng: Bản án chế độ thực dân Pháp (1925) và Đường kách mệnh (1927).

(1) Lời tựa cho quyển Hồ Chi Minh xuất bản ở Liên Xô 1959.

Trang 8

Để chuẩn bị tiến tới thành lập Đảng của những người cộng sản Việt Nam, năm

1925 Ngưòi thành lập “Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội” (Hội Thanh niên cách mạng Việt Nam) ở Quảng Châu (Trung Quốc) và tổ chức ''Cộng sản đoàn” làm

nòng côt cho Hội, đào tạo cán bộ cộng sản để lãnh đạo Hội và truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin vào nước ta Năm 1929, những tổ chức cộng sản đầu tiên ra đòi ở Việt Nam Ngày 3-2-1930, được sự ủy nhiệm của Trung ương Quốc tế Cộng sản, Ngưòi triệu tập ''Hội nghị hỢp nhất'" để thống nhất các tổ chức cộng sản ở Việt Nam thành

“Đảng Cộng sản Việt Nam", sau đổi tên là ''Đảng Cộng sản Đông Dương” rồi “Đảng

Lao động Việt N a m " và ngày nay là ''Đ ả n g C ộ n g s ả n V iệ t N a m ".

Ngày 28-1-1941, sau hơn ba mươi năm bôn ba hoạt động cho sự nghiệp giải phóng của dân tộc Việt Nam và của các dân tộc bị áp bức khác trong những điều kiện vô cùng gian khổ khó khăn ở nước ngoài, Bác Hồ trở về Tổ quốc, sống tại hang Pác Bó (Cao Bằng) để trực tiếp chỉ đạo cách mạng Tại đây, Người triệu tập Hội nghị Trung ương lần thứ 8, quyết định đưòng lối cứu nước, thành lập ‘‘Việt Nam Độc lập Đồng minh Hội" (Việt Minh), tổ chức lực lượng vũ trang giải phóng, xây dựng căn cứ địa, lãnh đạo

nhân dân khởi nghĩa từng phần và chuẩn bị tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong

cả nước.

Cách mạng tháng Tám năm 1945 thắng lợi, Ngưòi tuyên bố thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (2-9-1945), tổ chức tổng tuyển cử tự do trong cả nước (6-1- 1946), bầu Quốíc hội và thông qua Hiến pháp dân chủ đầu tiên của nước ta Quốc hội khóa I đã bầu Ngưòi làm Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa (1946).

Ngay sau Cách mạng tháng Tám, thực dân Pháp trở lại xâm lược nưốc ta một lần nữa, Ngưòi kêu gọi toàn quốc kháng chiến (19-12-1946), bảo vệ độc lập, tự do của Tổ quốc, bảo vệ và phát triển những thành quả của Cách mạng tháng Tám Ngưòi nói:

chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu

Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng họp ở Việt Bắc (11-2-1951), Ngưòi được bầu làm Chủ tịch Ban Chấp hành Trung ương Đảng Theo ý kiến của Bác, Đại hội đã quyết định Đ ảng phải hoạt động công khai để lãnh đạo toàn quốc đấu tranh cho đến thắng lợi Đ ảng mang tên Đảng Lao động Việt Nam Dưói sự lãnh đạo của Trung ương Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, cuộc kháng chiến thần thánh của nhân dân ta chống thực dân Pháp xâm lược đã giành được thắng lợi to lón, kết thúc vẻ vang bằng chiến thắng vĩ đại Điện Biên Phủ, buộc Chính phủ Pháp ký kết Hiệp định Giơ-ne-vơ (20-7-1954), công nhận chủ quyền độc lập, thông nhất và toàn vẹn lãnh thổ của nưốc ta.

Sau khi miền Bắc hoàn toàn giải phóng (1954), Trung ương Đảng và Hồ Chủ tịch

đề ra hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam là Hiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc; đồng thời đấu tranh đê giải phóng miền Nam, thực hiện thống nhất nước nhà, hoàn thành nhiệm vụ cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân trong cả nước".

(1) Lòi kêu gọi toàn quốc kháng chiến (19-12-1946).

Trang 9

Đại hội đại biểu toàn quôc lần thứ III của Đảng (1960) quyết định đường lốì cải tạo xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miển Bắc và đưòng \ốì đấu

tranh giải phóng miền Nam, thực hiện hòa bình thông nhất nước nhà Đại hội nhất trí bầu lại đồng chí Hồ Chí Minh làm Chủ tịch Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao Động Việt Nam.

Cùng với Trung ương Đảng, Bác Hồ lãnh đạo cuộc kháng chiến vĩ đại của nhân dân ta chông chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ Người kêu gọi nhân dân cả nưốc quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược Người nói:

‘'Nước ta là một, dân tộc ta là một'"^'

“Nam Bắc là một nhà, là anh em ruột thịt, quyết không thể chia cắt được"^'^^

Ngưòi lại chỉ rõ:

"Không có gi quý hơn độc lập tự

"Đánh cho quân Mỹ rút hết sạch, đánh cho ngụy quân, ngụy quyền sụp đổ hết, giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, hòa binh thống nhất nước nhà".

Đôi với miền Bắc, Người đã chỉ rõ: ''Miền Bắc nhất định sẽ tiến lên chủ nghĩa xã hội, mà đặc điểm to nhât của ta trong thời kỳ quá độ tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội, không phải kinh qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa"'''K

Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta đang trên đà thắng lợi thì Bác Hồ kính yêu của chúng ta đã ra đi "gặp cụ Các Mác, cụ Lênin và các vị cách mạng

đàn anh khác" vào ngày 2-9-1969, hưởng thọ 79 tuổi.

Trong Di chúc lịch sử (đề ngày 10-5-1969) Bác Hồ đã khẳng định: “Kháng chiến chống Mỹ cứu nước nhất định thắng lợi hoàn toàn, Tô quốc nhất định sẽ thống nhất, đồng bào Nam Bắc nhất định sẽ sum họp một nhà".

Người đã đi xa gần bôn mươi năm nay, nhưng Bác đã để lại cho Đảng và nhân dân lòng tiẻc thương vỏ hạn, cho nhán dán và bạn bè thê giỏi lòng kính phục vô biên Công lao của Người đôi với dân tộc, đốl với đất nước như biển rộng, trời cao Người là “Vỉ

anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hóa lớn”.

''Dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta đã sinh ra Hồ Chủ tịch, người anh hùng dân tộc vĩ đại, và chính Người đã làm rạng rở dân tộc ta, nhân dân ta và non sông đất nước

Người đã hy sinh cả cuộc đòi để vạch đường chỉ lôi cho dân tộc đấu tranh giành được độc lập tự do, tiến lên chủ nghĩa xã hội.

Người là người thầy vĩ đại của cách mạng Việt Nam, lãnh tụ kính yêu của giai cấp công nhân và của cả dân tộc Việt Nam, một chiến sĩ xuất sắc, một nhà hoạt động lỗi lạc của phong trào cộng sản quốc tế và phong trào giải phóng dân tộc.

(1) Thư gửi Luật s ư Nguyễn Hữu Thọ - Chủ tịch M T D T G P MNVN (5-6-1967).

(2) Diễn vãn nhân dịp TW Đảng, Chinh phủ về Thủ đõ (1-1-1955).

(3) Lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch (17-7-1966).

(4) Ba mươi năm hoạt động của Đảng.

(5) Điếu vãn của Trung ương Đảng tại lễ truy điệu Hồ Chủ tịch (9-9-1969).

Trang 10

Người là tấm gương về tự học, tự rèn luyện, giữ gìn đạo đức khiêm tôn, giản dị, cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, rất mẫu mực cho chúng ta noi theo Tên tuổi của Ngưòi sông mãi trong lòng mỗi người Việt Nam yêu nước và sự nghiệp cách mạng của Người nhất định sẽ được k ế tục thắng lợi.

Để tưởng nhớ và biết ơn Người, chúng ta quyết tâm ra sức học tập, rèn luyện tư tưởng, đạo đức, quan điểm, đưòng lối, tác phong của Ngưòi , đem hết sức mình phục

vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân, thực hiện cho kỳ được mong muôn CUÔ 1cùng của Người

là “Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hòa binh,

thống nhất, độc lập dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”.

Hồ Chí Minh cứu tinh dân tộc Việt!

NGUYỄN NGỌC TRmÌ:N

Trang 11

DI CHÚC

CỦA CHỦ TỊCH H ồ CHÍ MINH

Cuộc chống Mỹ, cứu nước cùa nhản dân ta dù phải kinh

qua gian khổ, hy sinh nhiều hơn nữa, song nhắt định thắng

lợi hoàn toàn.

Đó lá một điéu chắc chán.

Tôi cỏ ỷ định đến ngày đó tôi sẽ đi khắp hai m»én Nam

Bắc, dể chúc mừng dóng bảo cán bộ và chiến s ĩ anh hùng;

thảm hòi các cụ phụ lão, các cháu thanh niên vả nhi đổng

yèu quỳ của chúng ta.

Kẽ ttìeo đó, tôi sẻ thay mặt nhán dàn ta đi thăm vả cảm

ơn các nước anh em trong phe xả hội chủ nghĩa, vả các

nước bẩu bạn khắp nàm cháu dã tận tình ủng hộ và giúp đở

cuộc chống Mỹ, cứu nước của nhản dãn ta.

Õng ĐỔ Phủ là người lám ỉhơ rất nổi tiếng ở Trung Quốc

đời nhà Đưòìg, cỏ câu răng "Nhân sinh thất thập cổ lọi hy",

nghĩa là “Người thọ 70, xưa nay hjếm".

Năm nay, tôi vừa 79 tuổi, đả tà lóp người “xưa nay hiém"

nhưng tinh thần, đáu óc vẩn rất sáng suốt, tuy súc khỏe có

kéoi so vối vài năm taiớc đây Khi người ta đả ngoài 70

xuản thì tuổi tác cảng cao, súc khỏe cáng thấp Điếu đó

củng khỏng có gi iạ.

Nhưng ai mả đoán biét tôi còn phục vụ cách mạng, phục

vụ Tổ quốc, phyc vụ nhân dàn được bao ỉâu nữa?

Vi vậy, tôi đẩ sẵn máy icN này phòng khi tôi sẽ đĩ gặp cụ

Các Mác cụ Lè-nin và các vị cách mạng đản anh khác

đỉng bào cả nước, đổng chi trong Đảng vẳ bẩu bạn khắp nơt

điu khỏi cảm thấy dộl ngột.

Tnlđc h â nól về Dảng • Nhờ doàn kểt chặỉ chẽ, một ỉòng

một dạ phục vụ giai cấp, phực vụ nhốn dân, phục vụ Tổ

quóc, cho nôn tử ngày thành lập đến nay Đảng ta đả đoàn

kất tổchúc và tẫnh dạo nhân dân ta hảng hái dấu tranh tìén

từ thắng lợl này dín ttiắng lợl khác.

Đoàn kổt lả một Iruyén ứìống cực kỳ quỷ báu của Đảng

vá của dân ỉa Các đổng chi từ Trung ưong đến các chi bộ

cển phải giữ gìn sự doàn kổt nhắt trí của Đảng như giử gin

con ngưcrt của mắt minh.

Trong oảnq thục hánh dân chủ rộng rãi thuờng xuyốn

và nghidm Chĩnh tự phô bĩnh và phô bình lá cách tốt nhất dể

củng cố và phát triển sự đoàn két vá thổng nhẨt của Đảng

Phải có tình đổng chí thương yỗu íẫn nhau.

Đàng ta lả một đảng cám quyến Mỗi đảng vién và cán

bộ phũ thật sự thám nhuán đạo đíK: cách mạng, thật sự cẩn

Ỷôệnt lốm chinh, chi cổng vô tư Phải giử gin Đảng ta thật

trong sạch, phải xứhg dáng lá nguòi tãnh đạo lả người dẩy

tở Ihật trung ứìảnh của nhân dân.

Đoản vlèn và ttianh nlén ỉa nói c^ung là ỉ6t mọi viộc đâu

hăng hái xung phong, không ngại khó khản, có chí tiển ttìủ

Đàng cẩn phải chám lo giáo dục dạo đức cách mạng cho họ,

đào tạo họ tf)ành nhúng ngưòA thùa kế xảy dựng chủ nghĩa

xả hẠ vùa *T>ổng" vừa “chuyên".

BÍI duõng thế hệ cách mạng cho đcri sau là một vìộc rất

quan trọng và rát cẩn thiét.

Nhăn dftn lao động ta ở m ỉỉn xuôi cũng như ò mién núỉ,

đã bao đời chịu dựng gian khổ bị ché độ phong klấn và thục đản áp bức bóc lột, lại kỉnh qua nhtáu nám chién tranh Tuy vậy nhân dán ta rất anh hùng, dũng cảm, hàng hái cắn củ Từ ngày có Đảng, nhân đản ta luôn luôn di theo Đảng, rất trung tf>ảnh với Đảng.

Đảng cần phải cỏ kể hoạch thật tốt để phát triển kinh tế

vả vản hóa, nhằm khổng ngủng nâng cao dời sống của nhân dân.

Cuộc kháng chiến chổng Mỹ có thể còn kéo dài Đóng bảo

la có thể phải hy sinh nhiổu của nhiều nguớí Dù sao, chúng

tâ phải quyết tâm đánh giặc Mỹ đến thắng lợ( hoàn toàn.

Còn non, còn nước, còn người,

Thắng gìậc Mỹ ta sẽ xảy dựng hơn mười ngày nayf

vể phong trảo cộng 8Ìn th í gỉđi • Là một ngườt suốt đờt

phục vụ cách mạng, tòi càng tự háo vởi sự lởn mạnh của phong trào cộng sản và công nhản quổc té bao nhỉôu thi tôi càng đau lòng bấy nhiôu ví sự bất hòa hiộn nay giũB các Đảng anh em!

Tôi mong rằng Đảng ta sẽ ra sức hoạt động, góp phán dắc lực vảo viÿc khôi phục tại khổi đoàn két giữa các Đảng anh em trốn nổn tảng chủ nghĩa Mác ‘ Lè-nin và chủ nghĩa qiiổc té vổ sản, có có ỉinh.

Tồi tin chắc rằng các Đảng anh em và các nuóc anh em nhẨt định sẽ phảỉ đoán két lại.

• •

Vế vlộc riông - Suốt đời tôi hểt lòng hổt sức phục vụ Tổ quốc, phục vụ cách mạng, phvic vụ nhân dãn Nay dù phải

tử biột thế giới nay tồi khồng oó điáu gỉ phải hổi hận, chĩ tỉẨc

ỉả tiéc rằng khổng được phục vụ tâu hơn nữa nhiều hc^ nũa Sau khí ỉổi dã qua dòl, chớ nôn tổ chúc điếu phúng linh đình, để khỏi tảng phí thi giờ và tién bạc của nhân dán.

Cuổi cùng, tổi để ỉạỉ muôn vàn tình thản yôu cho toàn dân, toán Đảng, cho ỉoàn ttìể bộ đội, cho các cháu thanh néồn và nhỉ đổng.

Tỏi cũng gửt lởl chào thản ái đén cảc đóng chí các bẳu bạn và các cháu thanh niên nhj đồng quóc tể.

€>iáu mong muốn cuổi cùng của tôi là: Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phắn đáu, xáy dựng một nước Viÿt Nam hòa bình, thổng nhát độc lập dân chủ vả gỉảu mạnh, và góp phẳn xứng đáng vào sự ngNập cách mạng thế gid.

Hà Nội, ngày 10 ttìéuìg 5 nàm 1969

HÓ CHÍ MINH

Trang 13

TỪ ĐẦM SEN

1 LOÀI CÁ HÓA CHIM BẰNG

Làng Chùa nhòa trong khói sương lam Dưới gổc cây đa đầu làng, trên bờ sông Lam, bên đầm sen ngọt ngào hương sắc, có một cô bé gái đang chăn mấy con bò.

- Cháu Thanh ơi! Mẹ cháu có chuyện chi người ta đang dìu mẹ cháu về nhà kia kìa! Bé Thanh với cái tuổi lên bảy, dáng mảnh khảnh, rời khỏi gốc đa, chạy hôl hả về phía những người đang dìu mẹ mình.

Dưới bóng tre đầu làng, bà đồ Hoàng Xuân Đường - bà ngoại của bé Thanh, cùng mấy người chạy ra phía đầm sen Gió đồng lùa những dải lưng, dải yếm của họ bay phất phới về phía sau

Về tới đầu sân nhà, cơn đau chuyển bụng làm cho chị nho sắ c mệt quá phải ngồi thụp xuông, ôm bụng, rên rỉ rồi phải nặng nhọc lắm mới đưa được chị nho sắ c vào giường.

Chim chiểu vê tổ đang ríu n't trên ngọn cây thị Bà đồ chốc chốc lại mắng yêu con gái:

- Tham công tiếc việc cho lắm Đã bảo ở nhà, gần kỳ sinh nở rồi đừng có đi mần đồng xa nữa

Từ trong nhà chị nho sắc, tiếng cô An (em gái chị nho sắc) nói khỏa lấp cả tiếng khóc chào đòi của đứa trẻ:

- Ô ồ Chị nho lại sinh con trai sinh con trai nữa rồi! Mặt mày sáng láng, khôi ngô lắm!

Bà đồ quát:

- Cái con bé, có im miệng quở độc cháu đi không! Đưa cái thanh nứa mau lên cắt rôn cho cháu Rồi! Xong rồi Đưa cái quần cũ của cha mi đây Trên dây phơi ấy Tôi đã giặt kỹ rồi ú cháu vô quần ông cho có hơi ấm ông, nó sẽ được sáng dạ, học giỏi hơn ông, hơn cha cho mà coi

Rồi bà dặn chị nho sắc:

- Con nhố là hàng ngày phải chăm lau sạch đĩa đèn rồi hãy đổ dầu thắp Các cụ thường dạy: ^ ‘Sinh con dạ sáng làu làu, nhớ mẹ ngày trước chăm lau đĩa đèn”.

Trang 14

Tiếng rên của chị nho nhỏ dần và im bặt Tiếng khóc oa oa của đứa bé vẫn chưa dứt hẳn Và cái ngôn ngữ đầu tiên ấy đã hòa âm trong tiếng gà gọi con lên ổ, tiêng bò gọi bê vào chuồng, tiếng chim câu ríu rít trên cành thị, tiếng lá reo, tiếng đồng xa vọng về

Hương sen từ ngoài đầm bay theo gió pha lẫn mùi bồ kết cháv từ nồi than trong buồng chị nho sắ c tỏa ra ngào ngạt.

Ông đồ Hoàng Xuân Đường ngồi xếp bằng trên phản gụ Anh nho sắc ngồi đôi diện với ông nhạc, vẻ thoải mái Bé Khiêm ngủ say nằm sát bên đùi ông ngoại, chân duỗi dài sang gần chỗ cha ngồi Ngọn đèn dầu lạc trên mép đĩa tỏa sáng khắp gian nhà.

Những con thiêu thân sa vào đĩa dầu vẫy đôi cánh mỏng yếu ớt, chói với Bên cạnh, cái đỉnh trầm nhỏ thư thả nhả ra những sỢi khói thơm mảnh như chỉ.

Anh nho sắ c rót rượu vào chén cho bô" vỢ Sau khi uống cạn chén rượu, ông đồ nói:

- Mừng cho nhà ta, mừng cho cả họ Nguyễn làng Sen

Ông đồ đứng lên, dáng cung kính, thắp năm nén hương, vái năm vái trước bàn thò gia tiên Ông đứng nghiêm trang trước làn hương khói Anh nho sắ c cũng đứng chắp tay thành kính ở phía sau ông đồ Từ phía đầm sen, tiếng chim quốc khắc khoải: Quốíc quốc.

Hai cha con ông đồ trở lại chỗ ngồi Anh nho sắc muôn bô" vỢ đặt tên cho con mình, lên tiếng:

- Thưa cha, cha đặt tên cho cháu đêm nay luôn ạ!

- Tôi đang nghĩ.

Ông đồ gõ gõ ngón tay trên mặt gối, nói tiếp:

- “Sinh con quý tử khó nuôi Trồng cây ngon trái lắm người lăm le " Con người

ta có thể xét đoán được hiệu quả trưổc của công việc mình sắp làm Cho nên, tôi muôn đặt cho cháu tên là Côn, tự Tất Thành.

Anh nho sắ c chớp chớp mắt, môi hé nở nụ cưòi và hỏi:

- Côn ấy là tích loài cá hóa chim bằng, phải không thưa cha?

- Chính vậy đó Theo mong ước của tôi thì thằng bé sẽ có chí vẫy vùng bốn bể, dù gặp truân chuyên chìm nổi, nhưng ắt thành công Cho nên tự Tất Thành.

Anh nho sắ c nâng cây bút lông thỏ dúng vào nghiên son Hương trầm, hương sen như tỏa khắp gian nhà và tụ hội vào ngọn bút Nguyễn Sinh sắ c đang nắn nót dòng chữ NGUYỄN SINH CÔN, tự TAT THÀNH.

Chị nho Sắc sinh lần này bị mất sữa và bị bệnh hậu sản Bé Côn vừa phải đi bú nhò vừa phải ăn cơm bà ngoại mớm cho Điều trăn trở lớn nhất trong lòng anh nho sắc lúc bấy giò là biết mất nước mà không lo việc cứu nước là phạm điều bất trung Nhưng khốn nỗi, gánh gia đình của anh quá nặng Mới hăm bảy tuổi mà đã ba con, còn là cậu học trò chưa có khoa cử gì Đã nhiều đêm, anh và bô" vỢ ngồi đàm luận việc nước, việc nhà Năm Giáp Thân 1884, bé Thanh ra đời giữa lúc nhà vua ký hòa ưốc Pa-tơ-nốt, công nhận quyền đô hộ của Pháp ở Việt Nam Sang năm At Dậu 1885, Pháp cử khâm

sứ Ray-no sang ngự trị bên cạnh nhà vua Rồi Tôn Thất Thuyết phải rước vua Hàm Nghi lánh xa đồn trú ở rừng núi vùng Quảng Trị - Quảng Bình và xuốhg chiếu Cần

Trang 15

vương Đến lượt bé Khiêm ra đòi, năm Mậu Tý 1888 vua Hàm Nghi bị sa vào tay giặc

và bị đưa đi đày biệt xứ Pháp lại đưa Đồng Khánh lên ngôi Nay bé Côn ra đời (năm Canh Dần 1890), lại một tên quan Tây khác đến cai quản xứ mình

Thê cuộc xoay ván như thê đó! Đất nưóc đã đắm chìm vào đêm tôi Những anh hùng nghĩa khí dám xá thân cứu sơn hà xã tắc thì đều bị thất bại Dân Nam ta khác nào đàn gà con đã bị diều hâu cướp mất mẹ

Anh nho sắc mải miết nghĩ suy về những điều tâm sự của người bôVợ - người thầy,

mà cùng chính là tâm trạng của anh trước bôi cảnh "Quốc loạn, gia bần" Nỗi lo về

bệnh tình của bô vỢ vế cảnh vỢ bị ốm, mất sữa lại dấy động trong lòng anh Và trước mắt anh cứ chập chờn hình ảnh khoa thi Hương sắp đến.

Giữa đất tròi khô cháy bao la, đầm sen như gương mặt xanh làm dịu bầu nắng hạ Nhừng bông sen trắng, sen hồng đua sắc khoe màu vởi đàn ong đi kén mật.

(Theo Sơn Tùng)

Ngôi nhà ở quê nội Bác Hồ

Trang 16

2 LẬT LẠI GIA PHẢ HỌ NGUYÊN SINH■ ■ ■

Dân làng Sen không ai còn nhớ ngưòi đầu tiên của dòng họ Nguyễn Sinh về đây khai cơ lập nghiệp từ bao giờ Người ta chỉ nhớ rằng, lúc về ở trại Sen - một phường

có nhiều đầm sen nhất làng Sen, họ Nguyễn chưa đệm chữ Sinh.

Theo gia phả của một nhánh họ thì “Hoàng sơ tổ khảo là Nguyễn Bá Phú, rồi Nguyễn Bá Bạc, Nguyễn Bá Ban, Nguyễn Văn Dân Đến đời Nguyễn Vật thì bắt đầu lót đệm chữ Sinh, vì ông là Giám sinh (triều Lê Thánh Đức - năm thứ ba) Kê đến ông

tổ đòi thứ sáu là Nguyễn Sinh Trí, mới mưòi bảy tuổi đã đậu hiệu sinh Đến năm 34 tuổi, ông đậu tam trường khoa thi Hội Khoa Canh Ngọ”.

Đến đời thứ mười là Nguyễn Sinh Nhậm"’ vào bậc trung lưu của làng Sen ô n g lập gia đình sớm và sinh được một người con trai là Nguyễn Sinh TrỢ (tên chữ là Thuyết) thì bà Nhậm chết Sau khi lập gia đình cho con, ông cưới bà Hà Thị Hy, một cô gái tài hoa, nhan sắc ở làng Sài (còn gọi là làng Mậu Tài), cùng một xã Chung Cự với làng Sen.

Hà Thị Hy là con gái một nghệ nhân nổi tiếng về ngón đàn đáy, đàn bầu Hy được cha yêu quí, truyền cho tất cả vốn hiểu biết về đàn, phách và ca trù Cô lại còn biệt tài

về múa đèn, nên được bà con trong làng khâm phục và gọi là cô Đèn.

Về làm bạn vói ông Nhậm được ít lâu thì năm Quí Hợi (1863), Hà Thị Hy sinh con trai, được đặt tên là Nguyễn Sinh sắc Niềm hạnh phúc của cô Đèn đã tắt phụt như ngọn đèn trước gió, khi bé sắc mới lên ba thì ông Nguyễn Sinh Nhậm qua đòi Bà Hy cặm cụi thò chồng, nuôi con trong căn nhà hiu quạnh Thế rồi, một buổi sáng tinh mơ,

bé Sắc chạy từ trong nhà ra ngõ, gọi thất thanh:

- Anh ơi! Mẹ em chết! Mẹ em chết! Anh ơi!

Sau cái chết của bà Nhậm, có người thương tình than thở:

- Ôi! Một người con gái đã một thòi sáng như ngọn đèn, mà củng ngắn ngủi như ngọn đèn!

Cha chết, mẹ lại chết, Nguyễn Sinh sắc với hơn 4 tuổi đầu vê' ỏ với ngưòi anh cùng cha khác mẹ, lòng trông trải, xa lạ với tất cả.

Những đêm đầu tiên ở trong nhà anh, sắc cứ ngỡ là ở nơi bãi hoang, thỉnh thoảng sắc khóc thét lên: “Mẹ ơi! Mẹ ơi!” Ngưòi anh cứ phải nằm xuốhg ôm em giữ cho em ngủ Làm theo lòi cha dặn lúc hấp hốì, Nguyễn Sinh Thuyết cho sắc đi học chữ ngày một buổi, một buổi về đi chăn bò, cắt cỏ Ngay những buổi học ban đầu, thầy tú Vương*^’ đã nhận ra sắc là một học trò sáng dạ.

Một buổi chiều sau Tết Mậu Dần (1878), mưa xuân lâm râm, gió se se lạnh, Nguyễn Sinh Sắc đội nón mê, khoác áo tơi, ngồi trên lưng trâu đang gặm cỏ, mà mắt cứ dán vào trang sách, không biết có người đang đứng bên con trâu để ý việc học bài của mình.

(1) Nguyễn Sinh Nhậm (tức Nguyễn Sinh Vượng).

(2) Thầy tú Vương Thúc Mậu.

Trang 17

- Cháu chăm chỉ quá! Hiếu học là một đức tính đáng quý!

Sắc giật mình, hời bối rô"i, nhìn thấy một ông trông hiền từ, dáng vẻ một thầy đồ Sác nhảy từ lưng trâu xuô'ng đất, đứng lễ phép chào ông.

- Cháu là con nhà ai?

- Thưa ông, cháu là con ông Nhậm.

- À ra cháu là con trai ông Nhậm, con cỗ Đèn! Thảo nào, cháu sớm có chí học

Ch Au giữ bền được chí học đó thì ắt sẽ làm nên.

Sau khi biết bé sắc học nhà ông thầy Vương, ông đồ Hoàng Xuân Đưòng hỏi tên, hỏi tuổi và nói với sắc giọng cảm động:

- Ông ước ao có một người con trai mà không được Vậy ngày nay cháu thưa lại với thầy tú Vương rằng ông đồ Hoàng Xuân Đường chuyển lời thăm sức khỏe và một ngày không xa ông sẽ đến vịnh thơ, uống rượu vói thầy.

Đầu mùa hè năm đó, ông đồ họ Hoàng từ làng Chùa sang làng Sen chơi nhà thầy

tú Vương và ngỏ lời muôn đưa sắc về nhà mình nuôi dạy Sau khi thầy tú Vương và

vợ chồng Nguyễn Sinh Thuyết đồng ý, bé sắc theo ông đồ Hoàng Xuân Đường về làng Chùa với lòng ham muôn học chữ, học thuôc để giúp ích cho đời Từ đây, bé sắc được gia đình thầy đồ Hoàng Xuân Đường nuôi cho ăn học Nguyễn Sinh sắc ngày càng được mọi ngưòi vêu mến vì sác vừa học giỏi, vừa lễ phép Đối với bé sắc, làng Chùa là quê hương thứ hai và thầy Hoàng Xuân Đường là người cha đỡ đầu vô vàn kính yêu Gia đình cụ Đường vào hạng trung lưu Bà đồ cùng vói hai người con gái là Hoàng Thị Loan và Hoàng Thị An làm ruộng và dệt vải Nhà là lớp học của cụ Đưòng, nên bà

đồ và hai con cũng biết chút ít chữ nghĩa.

Từ ngàv cậu bé Nguyễn Sinh sắc về làm con trong gia đình ông bà đồ, tiếng tăm học giỏi đồn đại khắp vùng Năm sáu năm sau ngày về làng Chùa, Nguyễn Sinh sắc trở thành một chàng trai khôi ngô, còn Hoàng Thị Loan cũng đã khôn lớn và có duyên Ong bà đồ bàn chuyện chọn sắc làm con rể Năm 1883, lễ thành hôn đưỢc tổ chức tại làng Chùa, thế là cô Loan bước vào đòi làm vợ Nguyễn Sinh sắc, một anh nho 18 tuổi Hoàng Thị Loan kế thừa được những đức tính quý báu của cha mẹ Cô siêng năng, giản dị, chăm lo làm tròn phận sự người con, người vỢ.

Bảy năm sau ngày cưới, cô Hoàng Thị Loan bấy giò đã là mẹ của ba con: Nguyễn Thị Thanh (tự Bạch Liên) sinh năm Giáp Thân 1884, Nguyễn Sinh Khiêm (tự Tất Đạt) sinh năm Mậu Tý 1888, Nguyễn Sinh Côn (tự Tất Thành) sinh năm Canh Dần, vào ngày 19-5-1890 Năm 1900, lúc ở Huế, chị cử sắc còn sinh thêm Nguyễn Sinh Nhuận"’ (tự Tất Danh) rồi khi ông cử sắc đi vắng, thì chị c ử qua đời và không bao lâu đứa trai

út này cũng theo chị

Khoa thi Tân Mão (1891), Nguyễn Sinh sắc dự thi Hương lần đầu tại trưòng Vinh nhưng chỉ lọt nhị trường, không đủ điểm vào tam trường Ngày mồng 7 tháng 4 năm Quý Tỵ (1893), cụ Hoàng Xuân Đưòng qua đời Băn khoăn lớn về việc mình chưa đỗ đạt đê báo hiếu với cụ Đường, sắc đã quyết tâm ôn tập, rèn luyện văn chương đê dự khoa thi Hương Giáp Ngọ (1894).

(Theo Sơn Tùng Và N.An)

Trang 18

3 “GÁI CÓ CÒNG THÌ CHỒNG CHẲNG p h ụ

Từ ngày ông đồ Hoàng Xuân Đưồng tạ thế, nhà bà đồ trở nên eo hẹp Cả nhà bảy miệng ăn chỉ trông vào hoa lợi của hơn hai mẫu ruộng bà đã cho cấy rẽ mất một nửa Ngoài ra, hai chị em cô Loan phải kéo sợi dệt vải luôn tay mới có tiền bút nghiên cho anh nho sắc học ôn thi.

Anh nho sắc lại nhiều bạn tới lui đàm đạo việc học, việc đời Bà đồ thấy ấm dạ, vì chồng đã khuất mà nhà không vắng khách văn, có con rê được nhiều người trọng nể Nhiều hôm khách của anh nho sắc đến chơi đông, ở lại ăn cơm, mẹ con bà đồ phải nấu thêm hai, ba lần mới đủ Thỉnh thoảng gặp bữa chưa kịp giã gạo ba mẹ con bà đồ phải nhịn cơm cho khách Riêng ba chị em bé Thanh, Khiêm, Côn thì được ăn cơm vét nồi, cơm cháy.

Vừa qua giỗ đầu ông Hoàng Xuân Đưòng, anh nho sắc đi thi Hương khoa Giáp Ngọ (1894) trường Nghệ (Vinh) Bà đồ làm mâm cơm cúng gia tiên, cầu danh cho con

rể Bà con họ Nguyễn Sinh cũng như họ Hoàng đều mong ngóng, đợi chờ anh nho sắc

ở khoa thi này Dân làng Sen, làng Chùa ai cũng biết anh là người học giỏi vào hàng thứ nhất trong vùng, chỉ e “học tài thi phận” Hàng ngày, nhà bà đồ từ sáng đến tôi liên tiếp người đến thăm tin vui ở dưới trường thi về Bé Côn thấy nhà vui như hội cũng vui lây

Có lần, một bạn hỏi chị nho sắc:

- Loan này ta nghe nói mi đã bán đôi khuyên vàng để lo việc thi cử cho anh ấy?

- Có vậy Vì nhờ tròi mà anh ấy đậu Hương thí thì còn vô Kinh đê dự Hội thí nữa kia.

- Gái có công thì chồng chẳng phụ, Loan ạ!

Quả thật, anh nho sắc không phụ lòng vỢ mình đã tảo tần sớm hôm, tạo điều kiện góp phần kết quả mà anh đã đạt được: đỗ cử nhân.

Tin vui! Cả làng ra đưòng quan đón quan tân khoa Chị nho sắ c đã qua phút giây xúc động, với giọng từ tôn nói với cô An:

- An, em về trước đi Chị ở lại cấy cho hết sô" mạ này kẻo hỏng mất ô n g nghè, ông công gì cũng sông về ăn, em ạ!

Đồng quê chiều tím Chị nho sắc quảy trên vai đôi gióng nhẹ tênh, lần từng bước theo bờ ruộng chênh vênh Gió chiều vuốt nhẹ tấm áo nâu non, nếp váy thâm bạc màu lượn theo dáng ngưòi thắt đáy lưng ong của chị.

Chị vừa bước về đầu ngõ, đã có tiếng reo;

- Ổ! Chị cử Sắc đã về kìa!

Chị nho Sắc cảm thấy ngường ngượng về cách gọi mới Bé Côn ríu ra ríu rít hỏi mẹ:

Trang 19

- Mẹ ơi! Cha thi đỗ cử nhân thì được cái chi mà ai cũng vui, cũng đến mừng nhà

ta hở mẹ?

- Ay chớ! Con không được hỏi thế, cha máng chết.

Từ thềm nhà trên cho ra đến cuôì sán, khách ngồi kín cả hai gh ế tràng kỷ, các chõng tre và nhiều ngưòi ngồi xổm, ngồi bệt xuông các khúc gỗ Trước mặt mọi ngưòi

là dãy bát nưởc chè xanh đặc quánh Những miếng trầu têm cánh phượng, cau được đật ngay ngắn Anh Nguyễn Sinh sắc được mọi người gọi là “Quan cử” thì ngồi ghế tựa đầu bàn Hương lý, hào mục ngồi trên hai dãy ghế tràng kỹ

Anh Sắc với giọng từ tôn:

- Thưa các thầy trong hội đồng hương lý! Thưa các bác, các chú, các o, các dì và bà con nội ngoại, xóm làng! Điều trưốc nhất tôi xin mọi người đừng gọi tôi là quan cử Sự

đỗ đạt của tôi không phải là cái thang lên quan Tôi sinh từ làng Sen Tôi lớn lên trên đất làng Chùa Tôi là dân và bao giờ củng vẫn là người dân của làng ta, của xứ ta Ông chánh hương hội xoa xoa hai bàn tay nói:

- Quan Quan cử đã nói thực tâm như vậy là là cái gốc của ngưòi có đạo nghĩa,

ở chỗ “Dân vi q u y ở chỗ “Dân vạn đại, quan nhất thời” Vậy thì, xin được gọi là “ông cử" ạ.

Mọi ngưòi vừa uống nước, ăn trầu, vừa nói râm ran, tỏ vẻ đồng tình gọi là “ông cử Sắc”.

Đến khi viên lý trưởng nói quyết định của hội đồng hào lý cấp ba sào ruộng “học điền” cho ông cử sắc thì ông từ chôi, nhưng rồi cũng không thể từ chối hẳn được, đành phải:

- Thôi thì, đất lể quê thói, tôi xin nhận một sào rưỡi thôi ạ Còn sào rưỡi kia tôi xin dân làng và hội đồng hào lý được phép bán lây tiên để sửa lại ngôi nhà thò họ bị hư hỏng đã lâu ngày.

Trong đám đông dân làng dấy lên những tiếng tấm tắc:

- Hiếm có ngưòi tốt như anh cử sắc Trong khi có bao nhiêu kẻ lòng tham không đáy, đục khoét của dân, dùng chức quyền đè đầu dân, cưỡi lên cổ dân, thì trái lại, anh

cử Sắc từ chôi “lộc” của làng thưởng cho mình, không chịu nhận cái danh vỊ mà mình

có được.

Cách xử sự của anh cử sắ c đã làm cho bé Côn thấy được đức tính cao quý của cha.

(Theo Sơn Tùng)

Trang 20

- Bé Côn hư nhá! Cha đi đường xa vừa về còn mệt mà đã vòi vĩnh.

Anh cử Sắc bế vác bé Côn vừa đi vào nhà, vừa hỏi:

- ớ nhà ba chị em có ngoan với bà, với mẹ, với dì An không?

Bé Thanh thưa:

- Thằng Khơm (Khiêm) ngoan, con ngoan, còn thằng Côn thì nghịch nổ trời, cha ạ!

Bé Côn lắc đầu:

- Không phải Chị Thanh nói không không phải.

Anh cử Sắc hỏi gạn con gái:

- Em Côn con nghịch những gì?

- Nó trèo cau lấy bẹ để làm thuyền này Trèo cây thị hái quả ương này Leo cả lên hồi nhà tìm tổ chim sẻ đã sẩy chân lên bệ bát cổ của bà, làm vỡ một lúc chục cái đĩa bạt trúc hóa rồng, cha ạ!

Côn thanh minh:

- Bà đã gắn được bảy cái, chỉ có ba cái là vỡ nhiều mảnh thôi, cha ạ!

- Như thê là Côn đã không ngoan bằng chi Thanh, anh Khiêm Lần nàv thì cha cho qua, lần sau con còn không nghe lòi bà, lòi mẹ, lòi dì An thì cha cho ăn đòn Côn

đã nhớ chưa nào?

- Thưa cha, con nhớ rồi ạ!

- Hôm nọ, mẹ con đã dặn con về cái hại của việc leo trèo, nghịch ngỢm, con còn nhớ không? Nhắc lại lòi mẹ dặn con, cha nghe coi.

- Thưa cha, mẹ nhủ: “Nhà có phúc sinh con giỏi lội, nhà có tội sinh con hay trèỏ' ạ!

Cả nhà cưòi vui vẻ Chị cử sắ c từ nãy bận dọn luôn tay, thấy chồng “truy lỗi” bé Côn, chị định đỡ lòi cho con, nhưng sỢ con lại dựa vào tình thương dễ dãi của mẹ sẽ sinh nhờn sự nghiêm khắc của cha Chị đặt ấm tích chè xanh trước mặt chồng, nói:

- Bé Côn được cái khi có lỗi biết nhận lỗi ngay với bà, với mẹ Thầy cử Qúy cũng khen bé Côn sáng dạ nhất đám học vỡ lòng, mà cũng là đứa nô đùa nhất đám Được cái là hễ khi thầy răn một tiếng là biết phép, sửa lỗi ngay Và dạo này, bé Côn còn biết đặt những câu vè, bắt chước bà nói có ca, có vần đáng khen lắm.

Sau khi trao quà cho người lớn xong, anh cử sắ c nói với bé Côn:

- Con tuy có nhiều thiếu sót, chưa ngoan bằng chị Thanh, anh Khiêm, nhưng con học chăm, được thầy khen, con lại nhỏ nhất nhà, nên cha thưởng cho cái đèn kéo quân này.

Trang 21

Bé Côn nỏ nụ cười tươi, hai mắt sáng ngòi, sung sưóng đón nhận quà trên tay cha rồi chạy sang với bà ngoại.

Nghe tin anb cử sắc vào kinh đô thi Hội đã “về không”, bạn bè danh nho, khoa cử lần lượt đến với anh Tuy mới lên năm tuổi, bé Côn rất ham mê cha bình văn, bàn thòi cuộc với bạn.

Anh cử Sắc tưòng thuật với bạn về việc thi Hội không đỗ là do bài văn sách của anh đã lồng ý phê phán việc để mất nưốc ta cho Tây Anh còn nhận xét về thái độ của các quan trong triều đình Huê đã cam bề thần phục ngưòi Tây và đang đua nhau học tiếng Tây cốt để được Tây trọng dụng Trong những ngày ở Kinh đô, Nguyễn Sinh Sắc được một lần nhìn thấy vua Thành Thái ngự thuyền rồng chơi sông Hương, nhưng

vẻ mặt vua ủ dột, mắt nhìn buồn thăm thẳm.

Bé Côn nghe cha tả về thần sắc của vua khác với hình ảnh ông vua do bà ngoại kể, nên hỏi mẹ đang ngồi cạnh:

- Con nghe bà kể chuyện cổ tích thi ông vua đi đâu củng có hào quang tỏa sáng, có

mảy gấm trên trời che cho vua Sao cha lại nói là vua Thành Thái mặt ủ dột, mắt buồn hả mẹ?

■ Mẹ làm sao biết được cái điều ấy, con hỏi cha lúc khách về hết Cha mới có thể biết nổi cái việc con hỏi mẹ.

Một đêm thu, gió chướng thổi dài hun hút tràn qua mái nhà Tiếng gió hú xa

trên đỉnh núi Chung, ngọn đèn ở giữa nhà ngỢp gió run rẩy Anh cử sắc, anh cử Qúy, anh nho San ngồi quanh ngọn đèn bàn chuyện nưóc non.

- Từ dạo anh cử sắc vào Kinh Hội thi đến giò, nghĩa quân liên tiếp bị thất bại, phải rút lèn tận dãy núi Vụ Quang.

- Mới rồi, nghĩa quân đánh một trận lớn ngang dãy Trường Vật, giết tại trận tên quar Tây chỉ huy Nhưng Hoàng Cao Khải không dụ được cụ Đình, đã dùng hạ sách khủng bố các gia đình của nghĩa quân và đàn áp dân Hà Tĩnh thật là khốc liệt

- ở trong Kinh đô, nhiều ngưòi chửi công khai việc làm bất nghĩa của Hoàng Cao Khải Ba ngưòi trò chuyện cho đến lúc trăng lặn Chị cử sắc cũng đã ghé lưng xuống chõng, bé Côn nằm trong lòng mẹ.

(Theo Sơn Tùng)

5 TRÊN CON ĐƯỜNG THIÊN LÝ

Sương sớm ám mái nhà Tiếng chim cu gáy trên khóm tre làng văng vẳng Nắng trải dài trước ngõ Một ngày cuối năm At Mùi 1895.

Trên sân nhà, Khiêm và Côn chạy ra, chạy vào ríu ra ríu rít vối mấy thứ đồ chơi quen thuộc mà hai anh em sắp phải xa chúng.

Trong nhà, hai mâm cơm đã dọn sẵn, không ai muốn ăn trước cái cảnh người đi

xa, người ở lại.

Trang 22

Bà đồ tay luýnh quýnh điểm lại từng thứ đồ đạc trong hai cái thúng của con gái sắp phải đi theo chồng vào Kinh Bà nhìn trăn nhìn trở cái bó dép mo cau do bà làm cho con và cháu mang đi đường trường, nước mắt ướt mèm gò má nhăn nheo, nhưng

bà vẫn giữ vẻ thản nhiên trước con cháu Chị cử sắc luôn dặn em và con gái lo toan công việc nhà trong khi chị đi vắng nhà và thay chị chăm sóc bà đồ lúc trái gió, trd trời Bà con hàng xóm lần lượt đến tiễn đưa gia đình “quan cử" vô Kinh.

Bé Côn chợt nhận ra đã đến giờ mình và anh cùng cha mẹ đi xa nhà Côn chạy từ ngoài hè nhà sà vào lòng bà Bà đồ ôm choàng lấy cháu, môi mím chặt không cho bật lên tiếng khóc Phải một lúc nghẹt ứ cổ bà mới nói trôi mấy tiếng:

- Các cháu đi đưòng xa, bà lo lắm Bà ở nhà sẽ khấn tổ tiên phù hộ cho các cháu, cho cha mẹ các cháu được chân cứng đá mềm.

Bé Côn lắc tay bà:

- Bà! Bà lại khóc rồi!

Một không khí rộn rịp mà bồi hồi giữa kẻ ở với ngưòi ra đi Chị cử sắc xỏ chân vào dép mo cau, đặt gánh lên vai Bé Thanh vẫn bịn rịn bên chân mẹ Cô An và các bạn gái xúm xít quanh chị sắc, bé Khiêm đã chạy ra ngõ trước Bé Côn cầm tay bà ngoại

đi sau mẹ Anh cử sắc mang tay nải vải tây điều, chiếc ô gọng đồng mắc ngang khuỷu tay, chân đi dép da bò mỏng Anh bước chậm rãi giữa đám bạn danh nho và anh em bên làng Sen sang tiễn đưa.

Đám người tiễn gia đình anh cử sắc đi tới cổng làng, rồi tới con đường quan Anh

cử Sắc dừng lại, đứng trước bà đồ:

- Thưa mẹ! Tròi khá trưa rồi, chúng con xin mòi mẹ về kẻo mệt Vợ chồng con và hai cháu luôn luôn cầu mong mẹ ở nhà mọi sự được bình yên Dì An và cháu Thanh sẽ thay vỢ chồng con sớm hôm săn sóc mẹ Chừng nào đỗ đạt, chúng con lại sẽ trở về làm

ấm tuổi già của mẹ.

Bà đồ sụt sùi, tay xoa đầu hai cháu Khiêm, Côn:

- Các con đi đi cho chân cứng đá mềm.

Đối với bà con, bạn bè anh cử sắ c cảm tạ và chúc ở lại an khang Kẻ ỏ người đi, ai nấy giọt ngắn giọt dài, bịn rịn không muôn rời tay

Một cơn gió thổi cuôn theo những chiếc lá vàng, cát bụi chạy dài trên con đường nắng cháy Bé Côn ôm chặt cổ cha, mặt vẫn ngoảnh lại phía sau gọi:

Côn níu chặt bàn tay cha, bước chầm chậm trên hè phô Đôi dép mo cau ôm dính chặt vào hai bàn chân Côn thon thon như hai chiếc lá non Côn chăm chú nhìn mọi cảnh vật mới lạ trên đường phô', quên cả đói bụng, mỏi chân.

Trang 23

Dọc điròng từ quê nhà, qua thành Vinh, rồi đèo Ngang, đến kinh đô Huế, bé Côn không ngớt hỏi cha chuyện này, chuyện nọ, nào là cái ông to đùng, bụng phệ nằm trên

xe bắt một ông gầy gò kéo đi (Tây đi xe kéo), nào là cái nhà cao lớn có hào sâu, lính gác (thành Vinh), nào là chuyện kết bạn với những khách bộ hành đê đỡ lo cướp, lo hổ báo v.v Rồi khi đến đèo Ngang, bầu tròi trong vắt, gió biến gọi cây ngàn, gia đình anh cử Sắc nghĩ chân trên bãi cỏ dưới chân đèo.

Lần đầu thấy dãy núi cao nằm chắn ngang con đường thiên lý, gió biển lật lật tà

áo và hai cụm tóc trái đào bay lõa xõa quanh đầu mà bé Côn vẫn không hay biết Bất chợt, Côn hỏi:

- Cha ơi cha, trên đỉnh núi kia có cái chi vắt qua núi, m àu đo đỏ như sỢi dây ngoằn ngoèo ấy cha?

Anh cử Sắc nhìn lên đèo:

- O! Cái như sợi dây đo đỏ trên núi ấy là con đường mòn đó con ạ! Lát nữa cha con mình sẽ leo lên đó rồi mới sang bên kia dãy núi được.

Mặt trồi ngó xuống đỉnh đèo Bé Côn đòi cha cho được tự do leo lên dốc, lúc nào mệt thì cha hẵng cõng Qua khúc lượn quanh sườn núi, gió đồng đẩy lùi lại, họ phải nhoai người lên phía trước, tay níu cây bên đường mối bước lên được từng bậc dốc Chị Sắc áo sũng mồ hôi vẫn theo sát gót chồng con Đằng sau, còn có những tốp người đi vào Kinh đô, cũng đang tiếp tục vượt đèo.

Trên đỉnh đèo cao, gió lộng, biển trải dưới chân đèo, xa mênh mông Mọi ngưòi ngồi nghỉ chân, phanh ngực đón gió lành Bé Côn trầm trồ nhìn ra chân tròi xa thấy “Cái

ao lớn quá” {biển), rồi lại thấy những “con bò to” lội trên biển (thuyền)

Anh cử Sắc cứ bâng khuâng nhìn con và cảm thấy ở đứa con mình có thiên tư khác thường.

Côn ôm lấy cổ cha, bóng trải dài trên đỉnh đèo Ngang cao vòi vỢi Biển xanh xa vẫy gọi dưới chân bé Côn Từ trong triền núi xa xa vọng tới tiếng chim: Quốc quổíc gia gia Côn hỏi cha:

- Ổ đây cũng có chim cuốc và cả tiếng chim chi đó nữa, nghe “gia gia” lạ quá cha ạ!

- Vì có loài chim ấy kêu mà người xưa khi đi qua đây đã vịnh thơ: “Nhớ nước đau lòng con cuốc cuốc Thương nhà mỏi miệng cái gia gia”.

Bé Côn hai tay vẫn ôm chặt cổ cha, nhắc từng tiếng câu thơ “Nhớ nước đau lòng con cuốc cuốc” theo nhịp bưốc của cha xuốhg dốc đèo Ngang.

Sau một tháng đi bộ ròng rã trên con đưòng thiên lý dài hàng trăm dặm, gia đình anh cử Nguyễn Sinh sắc vào tới Kinh đô H uế an toàn.

Nơi ăn chốn ở đã ổn định, chị cử sắc bắt tay vào kéo sỢi, dệt vải, lấy công làm lãi

đê nuôi con, giúp chồng ăn học.

Anh Sắc vào học Quốc Tử Giám, đổi tên là Nguyễn Sinh Huy.

(Theo B úp sen xanh)

Trang 24

6 ở ĐẤT THẦN KINH

Lần đầu tiên đến Kinh thành Huế, Côn ngơ ngác như chú nai con lạc giữa vưòn hoa nhiều màu sắc rực rỡ và xen lẫn những cỏ gai khác lạ Côn đi bên cha mà lại cứ nhố lời cha dặn hôm đi thi Hội về:

- “Với cái tuổi của con, nghe điều gì, thấy việc gì, đều là những bài học vỡ lòng "

Côn và cả anh c ả Khiêm được cha dẫn

đi xem phong cảnh đất “thần kinh” Nhìn thấy đỉnh núi phía tây Kinh thành với những làn mây quấn hình vành khăn, trắng xốp, Côn định hỏi cha về hòn núi mò ảo giữa mây giăng như cảnh núi non trong truyện

cổ tích thì trước mắt Côn đã hiện ra một dòng sông phang lặng Côn thủ thỉ hỏi:

- Cha ơi cha, con sông ni có tên gọi không hả cha?

- Có chứ con Tên nó là Hương - sông Hương!

- Nước sông ni thơm lắm phải không cha?

- Sao con nghĩ rằng nước của con sông ni thơm?

- 0 nhà ta, thường thắp hương cúng, con thấy thơm lắm Con nghĩ nước con sông

ni cũng phải thơm thì người ta mới đặt tên nó là Hương, phải không cha?

Anh cử Sắc chỉ cười, rồi chỉ cho hai con thấy nơi vua và triều đình nhà Nguyễn ỏ Hai anh em Côn cứ ngơ ngác trướe những tòa lâu đài nguy nga, tráng lộ Cái hình ảnh cung điện nhà vua, chàng hoàng tử, nàng công chúa trong các chuyện cổ tích được bà

và mẹ kể cho nghe những đêm khuya ở quê nhà lại hiện lên chen lẫn với những cảnh tượng thực đang bày ra trước tầm mắt của Côn.

Côn nói với cha:

- Con ngỡ ở làng ta mới có những người đói rách, nhà cửa tồi tàn khổ sở Đây là kinh thành, nơi vua ở mà cũng có nhiều nhà tranh lụp sụp, nhiều ngưòi quần áo rách mướp, có cả những người đi ăn mày nữa.

Anh cử Sắc giọng nghiêm khắc:

- Con còn bé, đừng vội nghĩ những việc của người lớn.

Rồi hai con mắt Côn chóp chớp nhìn về phía có tiếng nhạc ngựa: ba chiếc xe song

mã đang chạy tới Côn níu chặt bàn tay cha, đi nép vào mí đưòng thành, nhưng mắt vẫn không rời những cỗ xe phủ rèm gấm Những ngưòi ngồi trong xe đội mũ cánh chuồn, áo xa-tanh kép thêu hoa cúc, quần là, chân đi hia Lại còn có những bà mặc áo vóc, áo nhiễu, đội cái khăn có tới hàng chục lớp trông như cái rế c ả những con ngựa kéo các cỗ xe cũng được khoác trên mình bộ đồ thêu nhiều màu sặc sỡ, từng chuỗi hạt cườm lóng lánh Côn rất thú vỊ về bộ lục lạc trên cổ ngựa

Trang 25

Đi trên con đưòng về phía chợ Xép, mắt Côn bận rộn về dòng người đi lại tấp nập Bất chợt, Côn níu tay cha lại:

- Cha ơi! Cha có tiền trong túi không hả cha?

- Con muôn mua cái chi nào?

Côn chỉ tay về chỗ bà già gầy gò, đội chiếc nón mê, trưốc mặt là chiếc mẹt con cũ

kỹ, đứng bên cạnh bà già là hai chị em cô bé bằng sắp tuổi hai anh em Côn, gầy giơ xương, áo không, ngưòi lấm lem:

- Con muôn cha biếu ba bà cháu ăn xin ni một ít tiền.

Anh cử Sắc vét trong túi áo được một ít tiên lẻ, bỏ vào mẹt cho bà cụ.

Vào tới cửa chợ Xép, ba cha con đến một cửa hàng sách Anh cử SắC-mua cho hai con hai bộ sách: Sơ học vấn tân và Ầu học ngũ ngôn thi Anh nói với hai con:

- Số tiền mua mấy quyển sách ni bằng tiền gạo cả tháng ăn của nhà ta đó các con ạ! Học thì phải có sách Trong sách Âu học ngủ ngôn thi cha vừa mua cho các con, có dạy: “Di tủ kim mãn doanh, hà như giáo nhất kinh” (tức là: để cho hòm vàng đầy

không bằng dạy con một quyển sách).

Côn ngây thơ hỏi cha:

- Còn có câu nào hay như câu ấy nữa không cha?

Anh cử Sắc nghe con nói thế, cưòi:

- Quyển sách con đang ôm trong tay có những hai trăm bảy mươi tám câu, mỗi câu năm chữ Các con rồi sẽ học lần lần bằng hết ngần ấy câu Cha ngẫm thấy câu nào cũng đáng nhớ, nhổ để làm được như sách dạy Chẳng hạn như câu “Dưỡng tử giáo độc thư, thư trung hữu kim ngọc' (nghĩa là: Nuôi con phải biết dạy con đọc sách, vì trong

sách có vàng ngọc) Cho nên, dù sách có đắt tiền, nhà ta còn túng thiếu, cha mẹ phải nhịn các thứ khác để mua sách cho các con học.

Bóng ba cha con đổ dài trên đường lớp lớp bóiig người qua lại Bước theo cha, tám hồn thơ ngây của bé Côn lắng vào âm vang chiều Kinh đô Huế Hoàng hôn buông xuông nhuộm tím dòng Hương Giang, sương chiều thấp thoáng dăng sa Tiếng chuông chùa bay bay trong bầu tròi Huế

(Theo Sơn Tùng)

7 ĐI XEM MẶT VUA THÀNH THÁI

Trong sô' bạn học thành nội, Công tôn nữ Huệ Minh là bạn thân nhất của Côn Huệ Minh là dòng dõi nhà vua, hơn Côn vài ba tuổi Còn bạn Diệp Văn Kỳ là con ông Diệp Văn Cương, người Sài Gòn, làm quan thông ngôn tiếng Pháp cho vua Thành Thái Kỳ cùng tuổi với Côn Tuổi nhỏ tuổi nhất, Côn vẫn là trung tâm trong đám “học trò thành nội” của “ô n g Cử Nghệ”.

Trang 26

Hôm ra chơi ngoài Phu Văn Lâu, nhìn về dãy núi phía Tây Nam thành Huế, Côn hỏi Huệ Minh;

- 0 Minh đi, con sông ni có tên là Hương, cái lầu kia là Phu Văn Lâu, cái cửa lớn

ở chính giữa là Ngọ Môn, cửa bên là Thượng Tứ, là Đông Ba Vậy cái hòn núi tận xa kia tên là chi?

- Hòn núi đó tên là Ngự Bình, Côn ạ.

- Ngự Bình - Côn chau mày, hỏi gạn: - Hương Giang là sông Thơm Vậy Ngự Bình nghĩa là gì; o có biết không?

- Hòn núi đó thỉnh thoảng được Hoàng Thượng tói ngồi ngắm cảnh, nên gọi là

“Ngự” Núi ấy lại giống như cái bình phong chắn phía Tây Nam cho cung thành nên gọi là “Bình”.

Nghe thế, Côn lại nói:

- Chỗ tụi mình thường ngồi chơi đây nên đặt tên là bến Ngự Đồng, nghe.

Công tôn nữ Huệ Minh hơi sửng sôt nhìn Côn Khiêm thì trề môi: “Vẽ chuyện'’ Kỳ thì hào hứng nói:

- Côn sáng ý lắm Ta nên đặt tên cho những nơi chúng mình hay tụ họp nhau lại chơi.

Huệ Minh quát:

- Chúng mình đã phạm thượng! Vua là đấng thiên tử Chúng mình thuộc quyền chăn dắt của vua Cho nên, từ quan chí dân không ai được làm việc chi ngoài sự quy định của vua.

Côn chớp chớp mắt nhìn về phía điện Thái Hòa, nhổ lại có lần bà ngoại nói với Côn:

“Vua là con trời ”, Côn chưa thể tin, nên hỏi:

- o Minh ơi! Nói trời là cha của vua, sao trồi lại để cho ngưòi Tây dương đến bắt vua nước Nam ta phải ở dưới quyền cai trị của họ?

Huệ Minh và cả đám bạn nhỏ mặt tái mét nhìn sang phía tòa Khâm sứ, nhìn quanh bôVi phía, sỢ quan binh Tây nghe thấy.

Chị cử Sắc từ trong thành đi ra phía bờ sông Một bạn nhỏ thấy mẹ của c ôn liền giục cuốhg cuồng:

- Mẹ của mi Côn ơi! Trôn mau đi

Côn ngước nhìn về phía mẹ Khiêm và các bạn nhỏ đều đã trôn vào bụi cây ven sông Côn không trốn mà ròi khỏi bò sông đi tới với mẹ Chị cử sắ c giục:

- Về nhà nằm để mẹ hỏi tội, mau lên.

Côn ngoan ngoãn đi về nhà Khiêm và đám trẻ cũng lục đục đi tít đằng sau.

Về đến trước cửa nhà, chị sắc nhắc:

- Rửa chân đã rồi vô phản nằm sấp xuống.

Côn nằm úp mặt xuô'ng phản, hai tay ôm lấy mông đít đợi những ngọn roi của mẹ Chị Sắc ngồi xuông mé phản Đám trẻ từ ngoài ngõ ngấp nghé nhìn vào Chị sắ c dặt dặt cái roi xuôVig mông đít con:

- Côn!

-D ạ !

Trang 27

- Sao con không nghe lòi mẹ dặn? Đã biểu là không đưỢc ra bò sông chơi đùa, lỡ sẩy chân chết đuối thì sao?

Côn mếu máo nói:

- Con trèo cây thì cha cấm, mẹ nhủ là: "Nhà có phúc sinh con biết lội, nhà có tội sinh con hay trèo” Bây giò con tập lội thì mẹ

Nghe đến đây chị cử sắc phì cười, mắng yêu;

- Tổ cha cái thằng đã vụng chèo lại khéo chông!

Chị ném cái roi ra sân rồi vỗ mấy phát bàn tay xuô'ng mông con rồi cười giòn, nói:

- Dậy! Mẹ tha đòn cho rồi đó Đi gọi anh Khiêm về học bài Cha ở Giám cũng sắp

về rồi Việc học là phải chăm chỉ Học được nhiều chữ càng sáng mắt ra, con ạ.

Anh cử Nguyễn Sinh sắc lại thi rớt khoa thi Hội Mậu Tuất 1898 Quan thượng thư Bộ Hình - Đào Tấn thông cảm cảnh nhà túng thiếu và rất trọng nể cái chí, cái tâm của anh cử, nên bàn với ông Nguyễn Viết Chuyên (một ngưòi dưới quyền tại Bộ Hình) đón anh cử sắc về nhà dạy học cho con trai sắp đi thi Hương, tại làng Hương Nổ Anh

cử Sắc dẫn hai con theo để dễ bề học vấn Chị cử sắ c sống thui thủi một mình trong thành nội, chẳng những không khỏa lấp được nỗi nhớ người thân mà ngày càng thấy nỗi nhớ rộng thêm, sâu thăm thẳm Chị đành phải bàn vói chồng đưa bé Côn trở về thành nội ở vói chị.

Bé Côn lại sông bên cạnh mẹ trong ngày tháng mẹ đau yếu và sắp sinh em Vào bữa ăn, Côn thấy mẹ ăn ít quá, vẻ lo âu hiện lên trên ánh mắt của Côn:

- Mẹ ơi! Mẹ đừng ô"m, mẹ nhá!

- Mẹ chỉ mệt mệt trong người thôi Vì mẹ sắp sinh em cho các con mà!

- Mẹ sinh em gái, chớ sinh em trai cứng đầu khó bảo, mẹ nhá!

- Sao con lại nói thế?

- Cha biểu như vậy mẹ ạ!

Chị Sác nhìn con cười, một nụ cười chứa đựng ở bên trong nỗi lo âu Một hôm,

trong bữa cdm chiều, Côn thủ thỉ vối mẹ:

- Mẹ ơi! Mẹ cho con theo chị Huệ Minh vô xem lễ Vạn Thọ (sinh nhật vua), mẹ nhá! Chị Sắc ngạc nhiên:

- Tròi đất! Con to gan thế! Là hạng thứ dân, ai để cho con vô nơi sân rồng, điện ngọc?

- Chị Huệ Minh bảo trẻ nít chẳng ai để ý đâu mẹ! Và chị còn nhận con là em, cho con mượn quần áo hoàng thân, mẹ đừng lo.

- Nhưng con vô chỗ đó liệu có ích gì?

- Dạo còn ở quê nhà, con đã hứa với bà ngoại là lúc vô Kinh đô con sẽ tìm cách nhìn bằng được mặt vua rồi kể lại với bà khi con được về thăm bà.

Đên giò thiết triều, hoàng tử, chư công, hoàng thân lần lượt tiến vào điện Thái Hòa Các quan văn võ theo thứ tự phẩm hàm đứng tại Long Trì Ngoài Ngọ Môn, các đơn vị tượng binh, kỵ binh được dàn thành đội hình hưóng vào sân rồng.

Từ trên lầu Ngũ Phụng của Ngọ Môn, còi đồng nổi lên chín tiếng Côn nghe cảm thấy ròn rỢn, da nổi gai ốc Nhưng hai mắt Côn giưdng rộng, không nhấp nháy, nhìn vua Thành Thái ngự trên kiệu rồng từ điện cầ n Chánh, đi qua Đại Cung Môn vào điện Thái

Trang 28

Hòa Vua còn rất trẻ, mặt hơi trái xoan, mũi thẳng, mắt xếch, lông mày thanh, dài quá mắt, môi đỏ tươi, cằm có rãnh sâu Vua đội mũ cửu long, tay cầm hốt ngọc, áo gấm, cổ đeo chuỗi ngọc sa xuống trước ngực chiếc kim khánh hình bướm trên đó đúc bốn chữ nổi bằng vàng: “Đại Nam Hoàng Đ ế ’.

Sau buổi đi xem mặt vua, Côn thủ thỉ với mẹ:

- Con thấy vua, người nhà vua, các quan trong triều mặt mũi đều bình thường như mọi người mà sao họ sướng gấp vạn lần, còn dân lại không được lấy một lần là bởi tại đâu, hả mẹ?

Chị cử Sắc tái mặt, bịt bàn tay lên miệng con:

- Ôi cha! Con còn bé mà Đã biểu ở gần cung vua, con phải giữ mồm, giữ miệng.

(Theo Búp sen xanh)

8 MỘT TRÁI TIM NGỪNG ĐẬP!• ■

Mùa hè năm CUÔ1 cùng của th ế kỷ mưòi chín.

Tuy sống với bé Côn trong thành nội, nhưng nỗi nhớ cứ trập trùng lòng chị cử sắc Nhất là về đêm, nằm với con trong ba gian nhà trống vắng, chị cử sắc càng thấy nỗi nhố càng mạnh và từ nỗi nhớ kéo theo nỗi lo xa Chị lo; mẹ già như chuốỉ chín cây, ở quê nhà, không biết mấy năm qua thiếu bàn tay săn sóc của vỢ chồng mình, mẹ sống ra sao? Em gái mình liệu có làm tròn việc phụng dưỡng mẹ sớm hôm như mình đã dặn dò lúc ra đi?

Bé Thanh lúc vắng cha niẹ, nó có Iigoan với bà, với dì không? Việc đồng áng nó có chịu

thương, chịu khó vối dì An không? Nó đã xấp xỉ tuổi mưòi sáu! Cái tuổi ấy mình đã sinh con đầu lòng! Mình đã sớm bước vào đời làm vỢ, làm mẹ, mình không có tuổi xuân bay nhảy như các bạn gái ở làng mình! Mình ru con nhiều hơn là được hát!

Hằng ngày, Côn đi theo đám trẻ thành nội hái cành củi khô trên các hàng cây cao

để mẹ có củi đun bếp Hôm đầu tiên, Côn đội một bó củi về, mồ hôi nhễ nhại, chị cử Sắc hốt hoảng:

- Ây chết! Con di, ai biểu con đi mần cái việc ni?

- Con thấy mẹ phải lượm từng chiếc lá khô quanh nhà làm củi đun, nên CDn giúp

mẹ một tay mà! Các anh lớn trèo bẻ cành khô ném xuô'ng Con ở dưới nhặt xếp ại từng đống Rồi các anh ấy chia phần cho con mẹ ạ!

- Nhưng mà con phải học bài, phải tập viết cho chữ đẹp

- Con chỉ nhẩm một buổi sáng là thuộc làu hết mẹ ạ!

Đối với Côn, mẹ là một kho truyện cổ tích, Truyện Kiều và ca dao, dân ca Mẹ thưòng dạy anh em Côn những câu dễ nhớ: “Đóỉ cho sạch, rách cho thơm”, 'Thương người như thể thương thân”, “Có công mài sắt có ngày nên kim”.V V

Trang 29

^hững đức tính quý báu ấv của mẹ cha như những sỢi tơ dệt nên nhân cách Ngu’ễn Sinh Côn trong thời thơ ấu.

Nột hôm, Côn đang cặm cụi gom từng đông lá dưối hàng cây thì một bà hàng xóm chạy ra gọi:

-Côn ơi! Mẹ cháu đau bụng chuyển sinh rồi.

(ôn hô’t vội những đống lá vào sọt, na bên lưng, chạy vội về nhà Côn để cái sọt lá vào góc sân, chạy vào buồng với mẹ.

Chị Sắc vừa rên, vừa nói:

- Con có dám đi sang Dương Nổ gọi cha về ngay không?

- Con đi gọi mụ (bà đỡ) cho mẹ đã.

- Mẹ đã nhò người đi mời bà mụ rồi.

Côn vội khoác cái áo, vừa đi vừa cài khuy Nắng chiều xiêu xiêu trên thành nội Bóng Côn ngã dài trên ngõ vắng rgập lá vàng rơi.

Ngay tối hôm đó, anh cử sắc cùng con trai từ Dương Nổ về thành nội Chị sắc sinh con trai Anh cử đặt ngay tên cho đứa con út là Nguyễn Sinh Nhuận.

Anh giải thích:

- Đã gần mưòi năm, nav nhà mổi sinh thêm một lần nữa Vì vậy, tên con là Nhuận,

có nghĩa là thêm Ví như ‘'năm nhuận” là năm có dôi ra một tháng Còn tên chữ của con là Tất Danh.

Tháng 8 năm Canh Tý (1900), ông tiến sĩ Trần Đình Phong, Phó chủ khảo trường thi Thanh Hóa, biết anh cử sắ c văn hay, chữ tô"t, tính tình cẩn trọng, nên tiến cử anh

đi làm sơ khảo ở trường thi Bé Khiêm được cùng đi với cha Bé Côn ở lại vối mẹ tại Huế.

Bệnh hậu sản của chị cử sắ c ngày càng nặng Sức khỏe của chị suy sụp rất nhanh

từ sau ngày anh cử đi vắng nhà.

Với cái tuổi lên mưòi, Côn đã phải nấu cháo, sắc thuốc, chăm sóc bệnh tình cho mẹ Hằng n^ày Côn còn phái bê em sang hàng xóm xin những bà mẹ đang nuôi con thơ cho em đưỢc bú nhờ Các bạn nhỏ cũng thường bế em giúp Côn đi xin sữa và gọi bé Danh băng cái tên thân mật là: em Xin.

Thâm thoắt đã hết năm 1900 - năm cuối cùng của th ế kỷ mười chín Côn sốt ruột hỏi mẹ:

- S eo cha và anh Khiêm đi hoài, đi mãi chẳng thấy về, hả mẹ?

Đêm tháng Chạp Gió hú dài trên đường thành Chị cử sắ c đau đớn kinh hoàng khi cản thấy mình có thể chết - “Bao giờ chồng con mới về?” và nghĩ đến mẹ già ở quê nhẻ đang mỏi mắt chờ con, lòng chị càng tê tái Chị đăm đắm nhìn đứa con nhỏ đang b t móm và bé Côn còn nhỏ quá rồi lịm dần trong nỗi đau đớn khôn cùng! Thâ/ mẹ mê man bất tỉnh, em bé đang đói sữa khóc gào Côn tất bật chạy đi, chạy

về, kêu :ứu bà con, cô bác chạy chữa cho mẹ.

Đ ộn| lòng thương xót, nhiều ngưòi đã hết lòng giúp đỡ mẹ con chị cử Nhiều thầy thuốc g;ỏi trong vùng đến chữa trị cho chị.

Trang 30

Ngày 22 tháng Chạp năm Canh Tý (10-02-1901), kinh đô H uế nhuộm màu ảm đạm Người đi chợ Tết đông như hội Côn đang ra hàng cơm thì có tiếng Công tôn nữ Huệ Minh gọi yếu ớt:

- Côn ơi! Mẹ Côn Côn ch ết Côn ơi!

Côn chạy một mạch về nhà, miệng la lớn:

- M ẹ Mẹ ơ i!

Huệ Minh, Kỳ và đám trẻ thành nội cũng chạy theo Côn về nhà Côn mím chặt môi không cho bật ra tiếng khóc Càng chạy nhanh càng dồn nén nỗi đau nấc tắc nghẹn, nước mắt trào giàn giụa, đất trời quay tít trước mặt Côn lại òa lên khóc khi thấy mẹ đã thõng một cánh tay xuông bên thành giường, một tay vẫn ôm vòng qua cổ

bé Xin và bé Xin không biết mẹ đã chết cứng, cứ ngậm vú mẹ nhay nhay Côn phủ phục xuô'ng bên mẹ gọi:

- Mẹ! Mẹ! Mẹ! Mẹ ơi! Mẹ bỏ chúng con sao mẹ ơi! Cha chưa kịp về mẹ ơi!

Huệ Minh chạy vào bế bé Xin ra khỏi vòng tay thi hài chị cử sắc Bé Xin giãv nảy, chuồi chuồi chân, khóc thét Ngoài sân, hàng xóm đã đổ tới khá đông Nhiều tiếng tặc lưỡi và xuýt xoa:

- Tội nghiệp bà cử! Cha con ông cử vẫn chưa về

- Tội thân anh em bé Côn! Mẹ chết mà chẳng có một ai thân thích ở gần.

- Giữa lúc năm hết, Tết đến mà mẹ chết, cha vắng nhà, ở giữa đất khách quê ngưòi này, liệu anh em bé Côn sẽ sống ra sao đây?

- Vậy thì, chị em xa, ta là láng giềng gần, mỗi ngưòi một tay để đưa bà cử về nơi

an nghỉ cuôi cùng.

Vì luật của triều đình, chiếc áo quan phải chuyển ra ngoài thành để hành lễ Bé Côn đầu đội khấu rơm, mặc áo đại tang, chống gậy, đi đất, đi sau quan tài mẹ Huệ

Minh bế em Xin đi sóng bước với Côn Quan tài chị cử sắc được khiêng ra phía cửa

hậu, luồn qua Đông Thành Thủy Quan ra bò sông Hương.

Con đò chở áo quan tách khỏi bến, những chiếc đò chở người đưa đám nôl theo sau Quan tài được đưa lên táng ở chân núi Ba Tầng, thuộc dãy núi Ngự Bình Trên đỉnh núi Ba Tầng là nơi Nguyễn Huệ thiết đàn lên ngôi Hoàng Đ ế ngày 25-11 năm Mậu Thân (1788), rồi hành quân cấp tô'c ra Bắc Hà đại phá 29 vạn quân Thanh trong Tết

Kỷ Dậu (1789) Mộ chị cử sắ c - Hoàng Thị Loan cách nơi đó khoảng 50 mét Ngôi mộ được vun cao Mọi người thành kính đặt một nắm đất cuối cùng lên mộ rồi lần lượt ra

về Người nào cũng ngoảnh lại cám cảnh nhìn hai anh em bé Côn!

Bãi tha ma Nam Giao hoang vắng Bóng chiều tà ôm tròn ngôi mộ màu đất mới nghi ngút khói hương Côn phủ phục xuống lạy tạ trước tấm bia gỗ trên đầu ngôi mộ mang mấy hàng chữ đen; Hoàng Thị Loan sinh năm Mậu Thìn (1868) tại làng Hoàng Trù, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An, từ trần ngày 22 tháng Chạp năm Canh Tý (10-02-1901) tại kinh đô Huế.

(Theo Búp sen xanh và N An)

Trang 31

9 NHỮNG TRÁI TIM VÀNG BAY

Chôn cất mẹ xong, Côn lại bê em về với ngôi nhà hoang vắng trong thành nội Bà con hàng xóm, các nhà có con học ông cử sắc đều muôn đón anh em Côn về với gia đình họ Nhưng Côn không đến nhà ai Em còn nhỏ, đang lâm bệnh ỉa chảy, lại là ngày Tết, nhà nào cũng có cồ bàn sang trọng, khách khứa đông vui, người ta sẽ khó chịu về sự có mặt của hai đứa trẻ mồ côi này.

Những đêm đầu tiên vắng mẹ, Côn cảm thấy rờn rỢn trong đầu Bé Xin nhớ hơi mẹ, thèm sữa gào khóc Không dỗ được em nín, khổ quá Côn khóc luôn với em Côn bế em vào lòng, tựa lưng lên bàn thờ mẹ nhìn đau đáu trong đêm đen quạnh quẽ mịt mù Sau khi coi thi ở Thanh Hóa xong, anh cử sắc đưa bé Khiêm về làng Chùa thăm

mẹ và con Và tại đây, anh nhận được tin bất hạnh, vội vàng trở vào Huế Tới thành nội, anh bàng hoàng trước cảnh vợ đã từ trần, đứa con út đang hấp hổì trên tay bé Côn Anh buông thõng hai tay, mắt mở to trống rỗng khi đôi mắt thơ ngây của bé Danh như hai dấu chấm đen ánh lên lần cuôl cùng rồi lặn vào vĩnh viễn Chôn cất đứa con

út rồi anh và hai con đi thăm mộ chị cử.

Không thể sông ỏ đất đế đô, anh cử sắc đưa hai con trai trở về xứ Nghệ Trên đường về, tâm trạng ông chảng khác nào một danh tướng thất trận, ô n g sẽ nói gì, nói

th ế nào khi về gặp lại bà mẹ vỢ cao cả đã hai lần bán ruộng, gom tiền cho ông đi thi, vào Kinh đô học Bà là người đã nén tình cảm để con gái đầu lòng đi nuôi chồng ăn học Nay ông trở về mà vỢ và đứa con út nằm lại vĩnh viễn bên bò sông Hương Suốt dọc đường thién ly, hang tháng trời, ông gập lại những kỷ niệm của vỢ chồng ông cùng

đi vào lần trước Và hình ảnh vợ quảy gánh trẩy kinh giúp chồng ăn học như dãy núi dài theo bước chân ông về thấu quê nhà.

Được tin cha con ông cử nhân Nguyễn Sinh sắc đã về, bà con họ hàng, làng xóm lũ

lượt kéo đến chia buồn Đau thương nhất là bà đồ Hoàn Xuân Đường ôm chầm lấy hai đứa cháu ngoại mồ côi mẹ, nhìn chàng rể về một mình cụ kêu khóc như xé trời, thủng đất Bé Thanh không thấy mẹ về, nằm lăn ra đất ngất xỉu Chị Thuyết và mấy người hàng xóm bế vội cháu Thanh vào nhà Tiếng khóc trùm lên lũy tre làng.

Bàn thờ bà Hoàng Thị Loan kê ở gian giữa ngôi nhà cũ, có tấm bài vị mà ông cử Sắc mang từ H uế về.

Sau khi gởi các con - Thanh, Khiêm, Côn, cho mẹ vỢ, Nguyễn Sinh sắc lại trở vào kinh đô thi Hội.

Để bà ngoại khuây khỏa phần nào, Côn kể chuyện đi xem sân rồng, cung điện, ngai vàng và xem mặt vua cả những chuyện gặp lúc đi đường, như vô sô' người đi làm phu mỏ đưòng bị Tây quất roi gân bò vào lưng gầy gò của dân ta Đêm đã khuya, Côn nhắm mắt Hương Sen từ ngoài ao làng thoang thoảng quanh buồng ngủ, pha lẫn với khói hương bên bàn thò mẹ.

Trang 32

Tại nhà thầy "đồ, một buổi sáng tinh mơ Nghe tiếng chim khách, từ trong lớp học, Côn nhìn ra vườn Những ngọn cây cúi xuông, nhô lên, từng chiếc lá vàng chao rơi lấp loáng Cả đám học trò bỗng giật mình nhìn ra vườn vì tiếng thốt bất ngờ của Côn:

- O! O! Những trái tim Những trái tim vàng bay!

Thầy đồ ngồi bên án thư nhìn Côn, nghiêm giọng:

- Trò Côn đứng dậy! Trò làm xong câu đối chưa? Đọc nghe coi!

Côn đứng lên, đọc rõ từng tiếng:

''Chung Sơn vưỢng khí thành kiên cố.

Trắc Lĩnh đa vân thi lão niên”

(Có nghĩa là: ‘‘N úi Chung khí uượng nên kiên cố

Non Lĩnh nhiều mây hóa lâu năm”)

Thầy đồ giọng ấm áp:

- Trò Côn ngồi xuông kẻo mỏi chân Các trò ơi! Thầy dạy học từ ngày thầy mới có dúm tóc bằng quả thị, nay đã có những sợi bạc, nhiều người học trò đã có đỗ đạt cao hơn thầy, đã làm tổi quan huyện, quan phủ Nhưng thầy chưa hề ngạc nhiên vối một học trò nào có thiên tư như trò Nguyễn Sinh Côn! Thầy biết cái lẽ: Khen người trẻ tuổi đang ở trưốc mặt mình là có hại Nhưng với trò Côn thì thầy lại cho phép mình làm trái cái điều ấy Bởi lẽ, vô'n chữ của trò Côn chưa có nhiều, nhưng cái tỏa sáng trong trí lại vượt ra khỏi lứa tuổi ấy Với đầu đề bài tập làm câu đối có hai chữ Chung Sơn

và Trắc Lĩnh, mà trò Côn đã tạo nên một bức tranh hùng vĩ quả là ''Thi trung hữu

họa” (như có bức vẽ trong thơ)

Rồi tiếng giảng bài của thầy đồ đều đều giữa ban trưa thoang thoảng hương Sen Một ông lão chông gậy trúc đi từ ngoài ngõ vào, giọng nói trang trọng:

- Xin kính báo với thầy: Quê ta đã có hồng phúc, ông Nguyễn Sinh sắc đã đậu Hội thi, Phó bảng Quan trên đã có giấy về cả huyện sẽ đón quan “vinh quy bái tổ”.

Ra về, anh em Côn lâng lâng nhìn những lá vàng bay xoay xoay trong nắng xế chiều.

(Theo Búp sen xanh)

10 “VINH QUY BÁI T ổ ”

Một tin vui đến với gia đình Nguyễn Sinh Côn và dân làng: Nguyễn Sinh sắc

(Nguyễn Sinh Huy) đã đậu Phó bảng“’ khoa thi Hội Tân Sửu (1901).

Côn chạy lên trước anh Khiêm Côn ôm cả sách, cả ốhg bút chạy ùa thẳng vào nhà tìm bà, báo tin mừng Không thấy bà ở nhà trên, Côn xuống nhà ngang, sang nhà thò

mẹ vẫn không thấy bà Côn đứng thừ ra trước bài vỊ thờ mẹ, hai hàng nước mắt trưòn chầm chậm trên má.

(1) Dự hội thi, Nguyễn Sinh s ắ c đổi tôn là Nguyễn Sinh Huy Phó bảng là học vị dưởi Tiến sĩ Cùng khoa này có Phan Chu Trinh.

Trang 33

Bà đỏ từ ngoài ao sen đi vào thấv cháu đang thẫn thò bên bàn thò mẹ, bà nén xúc động dừng bước bên gốc cây thị Côn ròi khỏi bàn thờ mẹ, thấy bà, liền lau nước mắt bằng ông tay áo, chạy ra với bà Từ ngoài ngõ ông tiên chỉ của làng dẫn đầu một đoàn người, bưng theo cơi trầu, chai rưỢu Bà đồ hơi bôi rối chưa biết có chuyện gì Mọi người chào bà rối rít Bà mời tất cả vào nhà ô n g tiên chỉ đặt trầu, rưỢu lên án thư, giọng nói hơi trầm:

- Thưa cụ, chúng tôi được hội đồng lý hương ủy thác tới đây kính báo với cụ và thân quyên việc quan Nguyễn Sinh sắc đã đem vinh hiển về cho nhà, vinh hoa cho làng xóm quan là người đầu tiên ở đất nàv chiếm được bản Hội thí

Bà cụ đồ nước mắt lưng tròng, hai bàn tay nhăn nheo bấu chặt tràng kỷ mà chân vẫn không hết run Cụ cười, lưỡi hơi líu lại:

- Thưa thưa quý ông xin quý ông dạv biểu cho mẹ con, bà cháu nhà tôi phải làm chi bây giờ?

- Quan Phó bảng sẽ vinh quy vê' bên quê nội Mọi việc đều có hội đồng hương lý lo liệu Cụ cứ bình tâm.

Cá buổi chiều, nhà cụ đồ người ra vào nhộn nhịp như ngày Tết Mâm cơm đã dọn

từ lúc gà mới lên chuồng, mà vẫn đậy lồng bàn, chang khác gì cái ngày vỢ chồng Nguyễn Sinh sắc đưa cả con cái lên đường vào Kinh đô Huê ăn học.

Dân làng nô nức chuẩn bị trông cờ, võng lọng đi rước quan Phó bảng Nguyễn Sinh Huy "vinh quy bái tô'" Khi dân làng kéo đến cầu Hữu Biệt (cầu Mượu), cách làng Chùa khoảng 4 cây số, thì vừa gặp quan Phó bảng đi bộ từ Vinh trở về Thật không ai ngờ ông

lại giản dị như vậy Mọi người mừng rở nổi trông, giương cờ lọng, mời quan Phó bảng lên võng cho dân làng rước, nhưng ông một mực từ chôl Có một người thưa:

- Bẩm quan Phó bảng, từ xưa tới nay, cả xã Chung Cự ta mối có quan đậu đại khoa, xin được rước vinh quy cho thỏa lòng dân mong ước bấy lâu nay.

Ồng Sắc nhất định không chịu Thế là dân làng phải lặng trống, xếp cò lọng, đi bộ cùng ông Phó bảng Trong khi đó cùng trên một tuyến đường, có hai đám rước rập rình hỢp nghi thức vinh quy của hai vị đồng khoa"’ với ông Phó bảng Nguyễn Sinh Huy Dàn trong xã ai cũng biết rằng, nhờ công lao cụ Hoàng Xuân Đưòng cùng gia đình bên vợ ở làng Chùa, Nguyễn Sinh sắc mới thành đạt Song theo tập tục địa phưdng và

ý nguyện bà con họ Nguyễn Sinh, ông sắc đã vinh quy tại làng Sen quê nội.

Làng Sen vui như ngày hội Từ già chí trẻ, ai cũng tự hào vì lần đầu tiên trong xã Chung Cự có người đậu đại khoa.

Bước trên con đường làng khấp khểnh hô' chân trâu, ông sắ c đứng sựng, mắt đăm đăm nhìn ngôi nhà mới dựng cô đơn giữa khoảng đất rộng quá tầm ước đoán của ông

Bà con đứng đầy sân Những người bạn danh nho đã xúm xít bên ông đều nhận thấy ông Phó bảng không vui, đang có điều gì áy náy trong lòng Một ngưòi hỏi mới biết:

- Tôi thấy ngượng về sự đón tiếp ồn ào này và làng đã dựng cho tôi nhà quá lớn, vườn quá rộng.

- Thưa quan tân khoa, dân làng còn muốn góp tiền mở hội ăn mừng ba ngày mới thỏa dạ dịp vui hiếm có này ạ!

(1) Hai vị đồng khoa là: Nguyền Dinh Điền (Nam Đàn) và Nguyễn Xuàn Thưởng (Thanh Chương).

Trang 34

vẻ mặt ông Sắc càng buồn Đôi lông mày nét mực tàu chuyển động lấp láy, giọng ông xúc động:

- Tôi rất cảm kích trước sự đối đãi hậu hĩ của dân làng, của hội đồng hương lý Nhưng, tôi rất đau lòng, vì ruộng làng ta chia cho đầu người thì chỉ được một mảnh nhỏ đủ cho chó nằm thòi đuôi Nay lại dành cho tôi một mẫu bảy sào ruộng cày, bôn sào mười bôn thước đất vườn 0! Chẳng hóa ra việc đỗ đạt đại khoa của tôi chưa thấy cái vinh dự cho dân làng là đâu mà lại cướp ruộng, tức là cướp bát cơm của dân rồi! Tôi xin hoàn lại ba sào vườn, bảy sào ruộng

Về làng Sen, Phó bảng Nguyễn Sinh Huy làm lễ “vào làng” cho hai con trai Chắc ông nghĩ đến mình, đến tương lai của con, bèn ghi tên Sinh Khiêm là Tất Đạt, Sinh Côn là Tất Thành vào sổ làng.

Tiếng là con nhà khoa bảng, nhưng cách sinh hoạt của anh em nhà Tất Đạt, Tất Thành cũng không có gì khác trưóc Mức sông ấy làm cho mọi người trong gia đình ông Sắc gần gũi với dân nghèo trong làng Có lần khách đến thăm nhà, hỏi tên các con, ông Sắc đã nói đùa “Cu anh tên là Khơm, cu em tên là Công, Khơm Công mà!"”’

(Theo N X B Nghệ An)

1 1 “KIM LIÊN CÓ CÁNH SEN VÀNG”

Cũng như nhiều vùng khác ở nông thôn Nghệ An, làng Sen vổh đã nghèo lại càng nghèo thêm từ khi mất nước Tại đây, ngoài làm ruộng, bà con nông dân còn phải làm thêm nhiều nghề khác, như dệt vải, đan lát hoặc nghề sơn tràng, kiếm củi, đốt than

mới duy trì được cuộc sông.

Xưa kia, vùng này gọi là Trại Sen vối những địa danh toàn Sen: nào Đồng Sen Cạn, Đồng Sen Sâu, Giếng Sen, Đầm Sen; nào Vực Sen, Bàu Sen, Chợ Sen, cồn Sen Cho nên, có câu:

Chiều chiều ra đứng cồn Sen Bạch Liên trắng bạch, Hồng Liên đỏ hồng

Sen góp phần tạo nên cảnh trí thiên nhiên đặc sắc ở đây, nên mới gọi là làng Sen Người dân làng Sen hết sức tự hào vì làng mình đẹp, lại có nhiều nho sĩ thưòng hay lui tới đàm đạo văn chương, thòi thế.

Với tâm hồn thơ mộng, rất thiên nhiên, Nguyễn Sinh Côn - Tất Thành tự hào với cảnh đẹp của làng quê mình Nhưng điều đáng tự hào hơn cả, Kim Liên có nhiều di tích lịch sử và anh hùng hào kiệt Ngay trưốc ngõ nhà Côn, chếch về phía phải là Giếng Cốc, nơi bọn thực dân Pháp đã ra lệnh tát cạn nưốc để tìm vũ khí của ''Chung nghĩa binh",

khi chúng đã đàn áp được cuộc khởi nghĩa Vương Thúc Mậu (1886) Hình ảnh người anh hùng của quê hương, ngưòi bạn thân của ông ngoại Hoàng Xuân Đường, ngưòi thầy dạy

Trang 35

học của cha mình, đã hv sinh ngay tại làng để bảo vệ khí tiết, đã từng gây xúc động mạnh trong lòng Nguyễn Sinh Côn.

Một vinh dự lốn cho Sinh Côn - Nguyễn Tất Thành là được cha gửi sang học với thầy Vương Thúc Quý"’con trai cụ Vương Thúc Mậu Mang nặng nợ nước, thù nhà, thầy Quý vừa dạy học, vừa ngầm liên kết với những người có tâm huyết để mưu tính việc đánh Tây Thầy có chân trong đội “Sỉ tử cần Vương" và đã cùng với vài chục ngưòi khác, dưới

sự chỉ huy của Phan Bội Châu định làm một cuộc bạo động đánh chiếm thành Nghệ An vào ngày “Hội Tây” (Quốc khánh Pháp - 14/7/1901), nhưng phải đình chỉ vì nội ứng không hành động được trước sự đề phòng nghiêm ngặt của địch.

Thầv Vương Thúc Quý thưòng gửi gắm tâm sự yêu nước và căm thù giặc vào những bài giảng cho học trò.

Có một lần, thầy thắp đèn trên bàn thờ cụ Vương Thúc Mậu, dầu sánh ra, thầy nhân cơ hội này ra cho học trò một v ế đôi:

''Thắp đèn lên dầu vương ra

Sau đó có học trò lớn tuổi đôl một câu rất chỉnh:

“Đ ôị nhang rồi gió quạt bay tàn’

Nhưng trò Nguyễn Tất Thành lại xin đôi:

"Cưỡi ngựa dong thẳng Tấn lên Đường"'^^

Thầy Quý khen cả hai câu, nhưng với câu sau của Thành thầy cho rằng đôi thoát hơn, thể hiện ý chí và hoài bãi lớn hơn, không gò bó với nghĩa đen của từng từ trong

vê đôi.

Học với thầy Vương Thúc Quý, Nguyễn Sinh Côn cảm thấy rất thoải mái, dễ chịu,

vì thầy thức thời, không nệ cổ, không bắt học trò nhồi sọ cổ văn theo lôi “tầm chương trích cú" Thầy thường gỢi cho Côn những vấn đề mà trong bước trưởng thành, Côn còn phải tìm hiểu cho đến nơi, đến chôn Đôi với Côn, thầy Quý nhìn thấy một tương lai tươi sáng và thư('mg nói với học trò;

'"Kim Liên có cánh Sen Vàng"

(2) vưang ra đ ế= “Vương" là vương vãi ra, “đế" là đ ế đèn.

(3) Tấn lẽn Đường = “Tấn’ là tiến Tấn Đường còn là tên hai triều đại phong kiến Trung Hoa Nhà Tấn xung vương, nhà Đường xưng đế.

(4) õng Điền là tên của con Tên thật là Hoàng Xuân Luyến.

Trang 36

Nguyễn Sinh Côn - Tất Thành thường ra lò rèn chơi, hễ rảnh việc Thấy Thành hiểu biết, hay hỏi, ông Điền ân cần bàv vẽ cho anh tập thụt bề đập đe và cho anh mượn đồ nghề để anh dũa liềm sửa dao kéo hoặc làm đồ chơi Tại đó, vê mùa đông có

lò lửa rực hồng, ấm áp nên thường đông vui, rôm rả như một câu lạc bộ nhỏ cua làng Sen.

Ngoài những câu chuyện dạng tiếu lâm cưòi đến chảy nước mắt, còn có nhiều chuyện thời sự hấp dẫn và lý thú Thành thích nghe những trận chiến đấu ác liệt với thực dân Pháp của nghĩa quân Phan Đình Phùng - Cao Thắng Là thợ rèn, ông Điền khoái nghe nhất là chuyện ông Cao Thắng'“ chế tạo được cả súng trường khá tinh xảo Thành rất xúc động khi nghe kể đến đoạn ông Cao Thắng bị giặc bắn thủng bụng trong trận Đồn Nu (21-11-1893).

Mất Cao Tháng, cụ Phan Đình Phùng mất cánh tay đắc lực Tuy vậy, cụ vẫn lãnh đạo nghĩa quân chiến đấu với giặc Pháp cho đến hơi thở cuôi cùng (28-12-1895) Nhắc đến tấm gương anh hùng của cụ, Thành rất khâm phục và xúc động, rất căm giận hành động trả thù hèn hạ của bọn giặc Pháp.

Thành còn tự hào khi được biết ngay trong họ Nguyễn Sinh cũng có người gia nhập nghĩa quân Phan Đình Phùng Đó là ông Nguyễn Sinh Quyến, một "'Chung nghĩa binh" dưới lá cờ cần Vương của Vương Thúc Mậu Sau khi cụ Vương tử tiết, ông lo việc mai táng thủ lĩnh chu tất, rồi cùng với một số bạn chiến đấu vượt sông, lội suôi, vào tận núi Vũ Quang, huyện Hương Khê, gia nhập nghĩa binh Phan Đình Phùng Khi cuộc khởi nghĩa Phan Đình Phùng bị đàn áp, ông bị bắt giải về tận làng Sen xử chém Thái độ bình tĩnh của ông trưóc lưỡi gươm của giặc là hình ảnh không bao giò phai mờ trong tâm trí dân làng Sen.

Thời niên thiếu của Nguyễn Tất Thành còn được tắm mình trong dòng sông dân

ca sâu lắng của quê hương Đất Nam Đàn từ xa xưa đã nổi tiếng có nhiều làn điệu dân

ca đặc sắc;

"'Thanh Chương là đất cày bừa

Nam Đàn bông vải hát hò thâu canh ”

Thời ấy, trên đất Nam Đàn đâu đâu cũng đều phát triển nghề bông vải, tơ tằm Đêm đêm, trai gái trong vùng thường quay xa, kéo sỢi và hát phường vải Dưới ánh trăng vàng, những hoạt động ấy trở thành nhu cầu không bao giò thiếu được trong đời sống tinh thần của mọi người Nhiều nhà nho cũng rất mê hát phường vải Đại thi liào Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ ngày xưa cũng đã từng đi hát phường vải Ong Phan Bội Châu là một “cây” hát phường vải nổi tiếng có tài đối đáp Ban đầu, Thành mê ông Phan Bội Châu vì cái tài đôi đáp nhanh nhạy và hóm hỉnh của ông Nhưng dần dần sau này anh cảm thấy ông không chỉ hát để tiêu khiển, mà còn u ẩn một môi tình non nước qua những câu hát đầy chất khích lệ ý thức trách nhiệm đôi với non sông, nòi giông.

Ồng Phan Bội Châu ngày càng thu hút sự kính phục của Nguyễn Tất Thành, ô n g thường qua lại vổi thầy Vương Thúc Quý và thỉnh thoảng lui tới nhà ông Phó bảng Nguyễn Sinh sắc, ngâm vịnh thơ phú và luận bàn th ế sự ồ n g thường kể cho chị em

ị1) Cao Thắng (1864 - 1893) quê Hương Sơn - Hà Tĩnh, làm liên lạc cho nghĩa quân Phan Đinh Phùng ty 11 tuồi, sau được giữ chức “chưởng binh” ch ỉ huy toàn quân.

Trang 37

Thành nghe chuyện cụ Hoàng Phan Thái"’ bị xử chém vì chiêu tập nghĩa binh chông lại triều đình Tự Đức bán nước.

Có thể nói, nhà chí sĩ nhiệt thành Phan Bội Châu đã có ảnh hưởng đáng kể đối với gia đình Thành Thân phụ anh rất tâm đắc với ông Phan về tấm lòng yêu nước, thương dân Chị Bạch Liên và anh Tất Đạt về sau đã có những hành động theo gương Phan Bội Châu Còn Thành thì nghe được nhiều chuyện chứa chan lòng yêu nước, thương dân của ông.

(Theo N XB Nghệ An)

13 MẤY TUỔI ĐỜI - BAO Nỗl ĐAU!

Theo phép nước lúc bấy giò, những vị đã đậu đại khoa, sau một thòi gian ''vinh quy hái t(f' phải trở lại kinh đô chò lệnh bổ hàm Nhưng Phó bảng Nguyễn Sinh Huy vẫn

nân ná ở quê nhà.

Tâm trạng của ông đang rôl bời “Dùi mài kinh sử' ngót ba chục năm tròi, hai khoa

thi Hương, ba lần thi Hội, đậu đạt rồi lại chần chừ không muôn 'ĩai kinh" Thật là

Iig ư ợ c đời! Bà con họ hàng, làng nưóc không ít người vẫn mong ông ra làm quan để nhò cậv, vì quan niệm ''một người làm quan, cả họ được nhờ" Bản thân ông, nếu muôn

đỡ đần gia đình, nuôi nấng các con, phụng dưỡng mẹ già, ắt không có đường nào tốt hơn là ra làm quan đế "vinh thân phì g ià ’ Nhưng cái nhục mất nước và cái cảnh nhốn nháo của quan trường làm cho lương tâm ông cắn rứt ô n g đành tìm cách “cáo ô'm" với

Chính trong thời gian “cáo ô'm” đó, ông Phó bảng đã đưa hai con trai theo ông đi nhiều nơi trong các tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh

Một ngàv xuân năm 1903, hai anh em Tất Đạt, Tất Thành được cha cho đi lên huyện Thanh Chương - quê hương của Bang biện Trần Tấn, một trong hai thủ lĩnh của cuộc khởi nghĩa Văn Thân năm Giáp Tuất (1874) ở Nghệ An.

Tại Võ Liệt, Tất Thành được thăm đền Bạch Mã nổi tiếng vừa đẹp, vừa “thiêng”, thò vị tướng trẻ của Lê Lợi là Phan Đà, hy sinh oanh liệt trong trận đánh thành Nghệ

An Trong thời gian gần đây, Tất Thành được dân làng yêu mến bởi tính nết hiền lành,

dễ gần ham thích lao động.

(1) Hoàng Phan Thãi (1818 - 1865) quẽ Nghi Lộc - Nghệ An Năm 1865, ông chuẩn bị một cuộc nổi dậy, nhưng bị bại lộ.

Trang 38

Thường ngày, Thành vẫn mặc quần nâu, áo vải Thỉnh thoảng có đi đâu, Thành mới khoác chiếc áo dài thâm, quần trắng cho tươm tất Còn cha Thành - ông Nguyễn Sinh Huy thì được bà con ở đây mến phục, không chỉ vì ông hay chữ mà còn bởi đức tính độ lượng, thương người và giản dị của ông ô n g thường răn dạy các con: “Chớ lấy phong cách làm quan làm phong cách nhà mình”.

Do cuộc sông khắc khổ từ thuở bé, do sự từng trải với đòi, lịch lãm trong tuổi trung niên, nên lối sống làm ra bộ “quân tử” rất xa lạ vổi Nguyễn Sinh Huy.

Một ngày nọ, được tin bà cụ đồ lâm bệnh, Tất Thành lại cùng thân phụ và Tất Đạt trở về làng Chùa chăm sóc bà ngoại Vì tuổi cao, bệnh nặng, bà cụ đồ qua đòi ngày 28-

2 năm Giáp Thìn (6-4-1904) Tất Thành đau xót, nghẹn ngào Hình ảnh ông ngoại, mẹ

và em Xin lại hiện rõ nét trong trí nhớ của Tất Thành Thế là trong tuổi thiếu niên, Thành phải chịu bôn cái tang của gia đình! Thế là những tuổi thơ đầu, Thành đã chịu bao nỗi đau!

đã gây ra trong cuộc đàn áp khởi nghĩa Phan Đình Phùng - quê hương và là đất đứng chân của nghĩa quân cần Vương trong suô"t 10 năm ròng.

Đông Thái (nay là xã Đức Phong) ở cạnh sông La và cũng là đất văn vật: “Trai Đông Thái, gái Yên Hồ” Cùng sinh ra trong một làng với Phan Đình Phùng, nên Hoàng Cao Khải đã trổ tài khuyển mã, định lấy tình đồng hương để dụ dỗ cụ Phan

“quy thuận” giặc Pháp và phong kiến Nam triều, nhưng cụ đã kiên quyết từ chôi Nhìn dòng sông La cuộn chảy, Sinh Côn - Tất Thành như cảm thấy bóng hình cụ Phan Đình Phùng còn phảng phất đâu đây.

Côn được thân phụ đưa đến làng Du Đồng với cảnh “sơn thủy hữu tình” tuyệt đẹp

ở bến Tam Soa; rồi lại ra huyện Diễn Châu thăm ông Võ Tất Đắc, nguyên Tri huyện

ở Thanh Hóa Côn còn được theo cha đến Quỳnh Đôi, một làng nổi tiếng lắm người học giỏi, đỗ đạt cao Ồng Phó bảng còn đưa Côn đi một sô' nơi khác, như làng Hậu Luật và

ra tận Phủ Kiến Xương (nay thuộc Thái Bình) gặp những ngưòi từng có công đánh giặc Pháp trong phong trào Cần Vương.

Vì sao Nguyễn Sinh Huy đưa con ngao du nhiều như vậy? Điều đó chính Côn cũng chưa hẳn đã tưòng tận

Trang 39

Có lần, Côn cùng trẻ làng Đông Thái chò! truởc dinh thự Hoàng Cao Khải Trong sán gạch, các quan khách đang hướng cả tàm trí vào việc làm thơ tứ tuyệt mà “hòn non bộ” là để tài Trong lúc các quan đang say sưa bình thơ, uô'ng rưỢu vui vẻ, thì có tiếng vang lên:

- Thơ các quan chẳng hay, chẳng thích!

Mấy tên lính hầu rượu giật mình, các quan đều nghiêm mặt nhìn ra nơi có tiếng nói đó Hoàng Cao Khải vẻ cao đạo rộng lượng của một ông quan đại thần, đến gần đám trẻ đang ở ngoài ùa vào, nói:

- Các cháu đừng sỢ Lại đây ông thưởng kẹo Cháu nào lúc nãy chê thơ các quan, nêu làm được thơ hay, ông sẽ thưởng nhiều thứ đẹp lắm!

Đám trẻ nhìn Côn với vẻ cầu cứu Côn nhìn các bạn rồi quay sang nói với Hoàng Cao Khải:

- Ông ơi! Òng phải hứa không đánh cháu nếu thơ của cháu không vừa ý của ông.

- O! Đời nào ông lại nỡ đánh mắng cháu, dù cho cháu có làm điều chi dại dột Côn đọc chậm rãi, mắt đăm chiêu nhìn Hoàng Cao Khải:

Kia ba ông lão bé con con,

Biết có tinh gi với nước non,

Hoàng Cao Khải gật gật đầu, đác ý Đám quan khách cũng nhìn cả về phía Côn, lắng nghe, vẻ khâm phục Côn đọc tiếp:

Trương mắt làm chi ngoi mãi đó,

Hỏi xem non nước mât hay còn?

Hoàng Cao Khải căng tròn cả đôi mắt nhìn Côn Giọng y rung rung:

- Thằng bé ni con ai? Con nhà ai hè?

Một em nhỏ đáp:

- Con quan Phó báng Nguyễn Sinh sắc bên Nghệ An ạ!

Hoàng Cao Khái cầni cái caii không vững, đi trở vào nhà, nói lẩm bẩm;

- Hổ phụ sinh hổ tử!

(Theo N An và Búp sen xanh)

15 RÚT RUỘT VUA - CHÉM ĐẦU TÂY

Phan Bói Châu

Hè năm 1904, chôn cất bà ngoại xong, Côn được cha dẫn đi thăm các bạn thân trước ngày ông phải vào kinh đô nhậm chức Cũng lúc này, Phan Bội Châu đã lập Duy Tân Hội cùng với Tăng Bạt Hổ, Đặng Tử Kính, Đặng Thái Thân, Nguyễn Hàm, Nam Xương, Lê Võ Các nhà sáng lập Duy Tân Hội đã mòi Cường Để làm hội trưởng rồi đưa sang Nhật cầu viện.

Phó bảng Nguyễn Sinh Huy là bạn chí thân của Phan Bội Châu, nhưng ông không tham gia Duy Tân Hội Ong không tỏ thái độ tán

Trang 40

thành mà cũng chẳng phản đối con đuòng của Phan Bội Châu, Vương Thúc Quý về những nỗi đau mất nước Quan niệm của ông là sự nghiệp lớn lao đó lốp người hiện thòi như ông chưa thực hiện được, mà phải thê hệ sau, con cháu mới có thể gánh vác điíợc Côn thường được nghe cha đàm đạo những quan niệm ấy với Phan Bội Châu, Vưđng Thúc Quý Có lần Côn nghe cha và ông Phan nói với nhau:

- Mục đích của Hội Duy Tân là gì?

- Là quét sạch bọn Tây dương ra khỏi bò cõi!

- Đó là nguyện vọng của hai mươi triệu con cháu Lạc Hồng chúng ta Nhưng lấy cái gì, dựa vào đâu để cái mục đích ấy thành đạt được?

- Không được đâu anh ạ! Vọng ngoại tất vong"\

Sau cuộc bàn luận giữa cha và Phan Bội Châu, Côn trăn trở nghĩ về những điều

đã nghe được.

Nhân lúc trên đường cùng cha tiễn Phan Bội Châu xuất ngoại, Côn “chiết tự” về mục đích của Hội Duy Tân Côn viết lên bàn tay chữ “Vương” biến ra chữ “Tam”, chừ Tây” biến ra chữ “Tứ”.

Quan Phó bảng Huy đọc những chữ đó trên tay con, chưa rõ ý, bèn hỏi:

- Con muôn nói gì về cách chiết tự này?

- Dạ thưa cha, con nghe chú Phan nói chuyện với cha về công việc “hội kín”, trong đầu con bỗng lóe lên cái trò chiết tự, vổi nghĩa của nó là: Rút ruột vua (bỏ cái sổ), tam dăn'^^ bình đẳng chém đầu Tây (bỏ nét đầu), tứ chủng giai huynh^^\

Quan Phó bảng sắc sửng sốt nhìn con và thấy sự suy nghĩ của con cũng giông sự suy nghĩ của ông về công cuộc cứu nước.

(Theo Sơn Từngỳ

16 “Tự DO, BÌNH ĐẲNG, BÁC ÁI” LÀ CÁI THỨ G Ì?

Từ khi thực dân Pháp chiếm sáu tỉnh Nam kỳ (1867), đến năm 1905, tên Toàn quyền Đông Dương Pôn Đu-m e (Paul Doumer) ký lệnh thành lập trong phạm vi cả nước một loạt trường tiểu học, gọi là trường Pháp - bản xứ, đặt ở các thành phô' và các tỉnh lớn, để dạy tiếng Pháp kèm thêm quốc ngữ và chữ Hán.

ớ các tỉnh Trung kỳ được Toàn Quyền Đông Dương cho phép mở trường Pháp - Việt, thu hút thanh niên và nho sinh của các thầy đồ ở hương thôn Nhiều thầy nho

đã than thở và lại ghét chữ Pháp và quốc ngữ, cho đó là chữ của giặc Pháp.

(1) Trông chờ vào bên ngoài giúp ắt sẽ thất bại.

(2) Tam dân: dân tộc độc lập dân quyền tự do dân sinh hạnh phúc Ỳ nói: đánh đổ chế độ vua chúa, mọi người binh đẳng (3) Tứ chủng: Theo quan niệm ngày xưa có bốn màu da: vàng, trắng, đen, đỏ Tại Đại hội Đảng lần thứ III, B á c Hồ nói: “Quan sơn muôn dặm một nhà, bốn phương vô sản đều là anh e m ” Trong "Nhật ký chìm tàu” (1930), B á c viết:

“Răng đây bốn b ể một nhà, vàng đen trắng đỏ đều là anh e m ” Cách chiết tự trên của Côn, ý nói: Đánh đuổi giặc Tây, mọi người đều là anh em.

Ngày đăng: 13/05/2021, 03:19

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w