VÀ TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP ■ ■
Sáng 5-1-1946, Sáng 5-1-1946, Lời kêu gọi quô'c dân đi bầu cử của Bác Hồ được các báo đều đăng
91. NHỮNG NGÀY LÀM THƯỢNG KHÁCH ■
Năm 1946, trong thời gian làm thượng khách của Chính phủ Pháp, Bác Hồ có nhiều môi quan hệ với các giới và Việt kiều ở Paris.
Có một hôm, các cháu thiếu nhi, con em Việt kiều do một cô giáo trẻ hướng dẫn, đến chào Bác. Các cháu lên tặng hoa rồi xin phép hát để Bác nghe những bài hát Việt Nam các cháu mới tập. Bác Hô rất vui và vô cùng xúc động. Buổi “liên hoan” nhỏ kết thúc, cô giáo sợ làm mất nhiều thì giò của Bác, định xin phép cho các cháu về, thì Bác đặt tay lên xoa đầu một cháu gái nhỏ nhất rồi ôn tồn hỏi;
- Thê các cháu có biết bài Quốc ca của nước Pháp không?
Các cháu đồng thanh:
- Thưa Bác, có ạ!
- Thế thì các cháu hát xem nào.
Giọng hát trong trẻo của các cháu ngân vang lên bài ca cách mạng “Mácxâye”
(Marseillaise) từ lâu đã trở thành Quốc ca nước Pháp.
Trong không khí trang nghiêm, Bác Hồ khẽ gật đầu và nheo nheo đôi mắt. Những người Pháp có mặt ở đây đều xúc động về sự biểu hiện thiện chí của vị Chủ tịch nước Việt Nam vừa giải phóng.
Một lần khác, trước cuộc họp báo của Bác ỏ khách sạn Royan Môngxô để thông báo mục đích hội nghị Phông-ten-nơ-blô (Fontainebleau) và đặt ra trước lương tri nhân dân Pháp và th ế giới tình cảm gắn bó của nhân dân ta với Nam bộ ruột thịt mà thực dân Pháp đang âm mưu chia cắt, theo yêu cầu của nữ ký giả - nữ thi sĩ Phrangxoadơ
Côrêdơ, phóng viên báo Nhân Đạo, Bác đã tiếp bà này. Sau khi kết thúc cuộc tiếp xúc, bà Ph. Côrêdơ cảm tạ Bác;
- Tôi xin cảm tạ Bác đã soi sáng cho tôi nhiều vấn đề và xin Bác cho phép đưỢc nói những gì và nói như th ế nào.
- Cô hãy tự lượng mình là người của báo Nhân Đạo mà viết bài. Chỉ có điểu cô hiểu th ế nào thì viết rằng mình hiểu như thế, chứ không viết là mình nghe thấy thế.
Trong cuộc họp quan trọng này, có một câu nói đã làm xúc động lòng ngưòi - một chân lý không bao giò thay đổi là: “Nam bộ là máu của máu Việt Nam, là thịt của thịt Việt Nam".
Khi cuộc họp báo kết thúc, Bác Hồ đứng dậy cầm một bông hoa hồng trên bàn đến tặng Ph. Côrêdơ, vì bà là nhà báo phụ nữ duy nhất có mặt ở đây.
Phóng viên báo Rơga (Regard) đã kịp chớp được tấm hình ấy đăng trên báo này với lời chú thích hóm hỉnh: “Bôn mươi năm đấu tranh cách mạng mà vẫn lịch thiệp như thường'.
Thòi gian làm thượng khách của Chính phủ Pháp, Bác Hồ được bô" trí ở tại một khách sạn lớn giữa trung tâm Paris. Theo lời mời của gia đình ngưòi Pháp, ông bà Ôbrắc (Aubrac), Bác về ở ngôi nhà của họ thuộc ngoại ô Paris.
Chính tại ngôi nhà này, Bác theo dõi, chỉ đạo phái đoàn ta tại Hội nghị Phông-ten- nơ-blô và tiếp khách khứa, bạn bè. Sau 10 ngày, Bác đã trở thành người thân troiig gia đình Ôbrắc và những ngưòi Pháp láng giềng.
Vào dịp đó, bà Ôbrắc sinh con thứ ba, cháu gái Balét (Balette) đúng vào ngày 15- 8. Bác đã đến tận nhà hộ sinh để chào mừng và theo đề nghị của ông bà Ồbrắc, Bác đã nhận Balét làm con nuôi. Đến năm 1969, Balét báo cho Bác biết ngày cưởi của cô.
Bác Hồ liền gửi tặng cho con gái đỡ đầu một tấm lụa Việt Nam để may áo cưới. Chỉ mấy tháng sau, Bác Hồ qua đòi. Balét được tin, khóc nức nở như khóc ngưòi thân nhất trong gia đình.
Lần nọ, nhà thơ Huy Cận trong chuyên công tác ở Pháp, có ghé thăm gia đìiih Ồbrắc. Ông bà đã tặng nhà thơ một số ảnh chụp Bác Hồ trong những ngày sống với gia đình, trong đó có bức ảnh Bác đang ngủ trên ổ rơm ngoài vưòn mà ông Ôbrắc đã lén chụp được.
Huy Cận liền đề bài thơ “tứ tuyệt” dưới bức ảnh và tặng lại ông bà Òbrắc.
Bài thơ như sau:
“Bác ngủ nằm trên đệm ổ rơm
Vườn xanh trưa vắng nắng thêu cườm Lo âu trên trán làn mây thoáng Hương đất dâng Người ngọn cỏ thơm”
Cũng tại khách sạn Royan Môngxô, Bác có buổi gặp mặt với các nhà báo Việt kiều ở Paris. Sau khi nghe các nhà báo trình bày tình hình báo chí của ngưòi Việt ở đây, Bác ân cần khuyên nhủ;
- Các ông nên về hội họp tất cả bà con, anh em lại để anh chị em đều hay: Bây giò mình nên đứng về lập trưòng dân tộc, đoàn kết chặt chẽ, cùng một lòng, một chí, một lời nói, chúng ta phụng sự quốc gia để đi đến độc lập hoàn toàn, ở Pháp không có bao nhiêu ngưòi, không nên mỗi nhóm chia rẽ, rồi mỗi nhóm một tờ báo. Như vậy tôn hao
vê tiên bạc, nhưng còn một phương diện quan trọng hơn về tính đoàn thể sẽ sút kém
đ i n h i ề u .
Nhiệt liệt hương ứng lời chỉ bảo, khuyên nhủ của Bác, tối ngày 3-8-1946, hơn 300 anh chị em làm việc ở báo “Lao động" và báo ''Thủy thu' h ọ p m ặ t b à n việc h Ợ p n h ấ t .
Kết quả là hai báo này h Ợ p nhất lấy tên là báo “Lao động" - Cơ quan thông tin của Hải liẽn đoàn tại Pháp.
(Theo Giulapxki - Phạm Huy Thông - Huy Cận - Nguyễn Thành)
92. MỘT CUỘC HỘI NGỘ THÂN TÌNH■ • • •
Một buổi chiều mát tròi cuối tháng 10-1946, có một bà cụ ở tuổi lục tuần, bước đến vọng gác nơi làm việc của Bác Hồ ở Bắc Bộ phủ, hỏi người lính bảo vệ: “Có phải đây là nơi làm việc của Chính phủ không?”
Người sĩ quan bảo vệ đứng kê bên thưa:
- Dạ, đúng đây là nời Chính phủ làm việc. Thưa, cụ tìm đến có việc gì?
Với chất giọng ấm áp của miền Trung, bà cụ nói chầm chậm:
- Tui từ xứ Nghệ ra đây thăm ông em ruột đã mấy chục năm không gặp.
- Dạ, thưa cụ, ông tên là gì ạ?
- Hồi nhỏ ở nhà đi có tên là Nguyễn Sinh Cung, nay “cải” là Hồ Chí Minh.
Nghe đến đây, người đội trưởng bảo vệ giật mình, vừa bàng hoàng xúc động, vừa ngạc nhiên thầm nghĩ: Trời ơi, thì ra đây là chị gái của Bác Hồ mà ta đã từng nghe nói.
Trước nay, ta đã nghe trong quê Bác Hồ còn một ông anh cả và một bà chị gái, nhưng vì btận việc dán, việc nước, lo chông thù trong giặc ngoài mà Bác Hồ chưa thể về thăm.
Bất chợt, người đội trưởng nhìn lại bà cụ lần nữa. Sau vẻ mộc mạc, nhìn cụ thấy rõ dáng dấp gia giáo, nền nã. Đầu vấn khăn độn tóc, ngoài chít khăn mỏ quạ, mặc áo dài tứ thân đổi vai, váy lĩnh đen, đội nón rộng vành như kiểu nón quai thao, nhưng mái nón hơi dốc chứ không bằng, chân đi đôi dép ba quai giông như dép Thái Lan bằng da màu nâu.
Người đội trưởng cẩn thận hỏi bà cụ:
- Dạ, xin cụ cho biết tên để con thưa với cụ Hồ.
- Tôi tên Thanh, Nguyễn Thị Thanh...
- Dạ, mời cụ theo con vào phòng trực ban nghỉ để con lên báo cáo.
Người đội trưởng quàng vội khẩu các-bin qua vai, tay trái cầm đõ cụ chai nước mắm, tay phải xách con gà đi trước, chầm chậm dẫn cụ vào gian giữa tầng một, nơi làm việc của trực ban đại đội, mời cụ ngồi xuông chiếc giường kê gần đó, rồi báo cáo với trực ban, xin phép lên tầng trên để gặp Bác. Sau đó thưa với bà cụ:
- Cụ ngồi đây chò một lát để con lên đón cụ Hồ xuố"ng!
Nói xong, ngưòi đội trưởng vội bước lên gác, sải chân hai bậc một đến phòng làm việc của Bác, người đội trưởng mạnh dạn gõ cửa. Tiếng Bác Hồ từ trong vọng ra ấm áp:
- Xin mời vào!
Người đội trưởng xoay nắm cửa, nhẹ nhàng bước vào, thấy Bác đang ngồi trước bàn xem báo hay đọc tài liệu ^ đó. Nghe tiếng chân người, Bác quay ra nhìn, ánh mắt đôn hậu hỏi:
- Có việc gì đấy chú?
- Dạ, thưa cụ (hồi đó ai cũng đều gọi Hồ Chủ tịch bằng cụ, vì cụ là Chủ tịch nước đã nhiều tuổi, chứ chưa gọi bằng Bác như sau này). Cụ có khách trong quê ra ạ!
- Khách nào, chú có hỏi tên không?
- Dạ thưa có ạ! Một bà cụ nói là chị gái của cụ ạ. Bà cụ nói tên là Thanh, Nguyễn Thị Thanh ạ!
Bác Hồ hơi thảng thốt:
- Thế à, đúng rồi, đúng chị ruột của Bác rồi. Bây giờ bà đang ở đâu?
- Dạ, thưa chúng cháu đã mồi cụ vào phòng trực ban ở tầng một ạ.
Thường ngày, Bác Hồ luôn có tác phong khoan thai, điềm tĩnh, nhưng tới giây phút này thấy Bác thật sự xúc động, nói nhanh:
- Đâu, đâu! Chú đưa Bác xuốhg ngay! Bốn chục năm rồi chị em Bác mới gặp nhau đấy!
Rồi Bác đứng dậy đi nhanh ra cầu thang. Ngưòi đội trưởng khép cửa phòng rồi bước đi theo Bác. Đến nơi bà cụ Thanh ngồi đợi, Bác Hồ bưóc nhanh tới giang hai tay ôm chặt lấy đôi vai người chị và chỉ nói được một câu:
- Ôi chị, chị có khỏe không?
Còn bà cụ Thanh cũng run run đưa cả hai tay xoa lên ngực áo của Bác Hồ, mắt nhòa lệ:
- Ôi, cậu Cung, cậu già th ế này rồi ư?
Hai chị em Bác cứ th ế mừng mừng, tủi tủi, không nói thêm được lòi nào nữa, niíớí' mắt lưng tròng. Mấy anh lính trẻ lúc này có mặt ở đó cũng xúc động ứa nưóc mắt.
Kliông ai bảo ai, mọi người lảng đi nơi khác, như muôn để Bác Hồ và người clìị oủíi Bác được tự nhiên hơn. Sau đó ít phút, người đội trưởng được cùng Bác Hồ đưa bà cụ Thanh lên tầng ba để cụ nghỉ ngơi, đến hết cầu thang, Bác Hồ bảo:
- Chú để các thứ xuông đây cho Bác. Cảm ơn chú nhé!
Cuộc hội ngộ của hai chị em Bác Hồ là hình ảnh, là kỷ niệm sâu sắc, đẹp đẽ cho mọi người.
(Theo Tạ Doãn Đich)
93. “GỌI BẰNG BÁC C H ừ ’■
Sau này, bác sĩ Trần Hữu Tước nhớ lại: Tháng 9 năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Pháp về nước, có bốn nhà trí thức Việt kiều theo Bác về, trong đó giáo sư Trần Hữu Tưốc được cử làm bác sĩ riêng của Ngưòi.
Bốn mươi lăin ngày trên tàu biến, Bác Hu tranh thủ trao đổi với các nhà trí thức lâu ngày xa quê tình hình đất nước hiện tại (te khi vê nhà khỏi bỡ ngỡ...
Bác sĩ Tước nhớ lại lần Bác Hồ tiếp các ti'í thức ngành V học tại Paris chưa lâu.
Anh chị em ngồi chạt cả phòng khách. Một chị ớ Nam bộ mổi sang Pháp, băn khoăn hỏi: "Nên Pĩọi cụ Hồ là Chủ tịch, Tông thông hav Quôc trưởng”, thì từ buồng bên, Người bước sang, tươi cưòi bảo: “Gọi bằng Bác chứ!" Ai nấy đều cười vui vẻ. Hôm ấv, lỉác nói, đại ý:
- Học y là rất tô t rất phù hỢp với yêu cẩu của nhân dân ở nước nhà... Nhưng có làm thầy thuôc suô"t 24 giò trong một ngày cũng không giải phóng đưỢc con ngưòi và l)ệnh tật của họ. MuôVi giải phóng con người, phải thay đổi cơ cấu xã hội...
Một hôm, tàu qua An Độ Dương, Bác Hồ lại hỏi bác sĩ Tước:
- Tại sao chú chọn học nghê thuôc?
- Thưa Bác. cháu ham mê nghề thuôc vì muôn mọi người hết đau khổ.
r>ác cười và nói:
- Chưa đủ chú ạ! Phải thay đổi xã hội. phải làm cách mạng...
Thmh thoảng lúc rảnh rỗi, Bác Hồ củng đọc thơ. Có hôm, Bác đọc cho anh em nghe bài thơ Bác làm trong tù có câu:
"Ngãng đầu nhìn trăng sáng Cúi đầu nhà người xa".
Rồi Bác giúi thích:
- Đó là mình phỏng thơ Lý Bạch'", chứ thật ra trong tù có nhìn thấy trăng sao gì (tâu. Bây giờ mới thực là "Ngàng dầu nhìn trăng sáng; cúi đầu nhớ người xa".
Có hôm. Bác hỏi mấy nhà trí thức có đọc ''Kiều', đọc '"Chinh phụ ngâm" không?
Ai nấy đều trá lời là rất thích đọc.
Bác ngoảnh sang phía bác sĩ Tước hỏi:
- Trong "Chinh phụ ngâiù' chú thích câu nào nhất, chú Tước?
- Thưa Bác, cháu thích câu: "Hướng dương lòng thiếp như hoa".
Bác vừa đùa vừa khen:
- À! Chú này chưa “mất gốc".
(Theo Trần Hữu Tước)