1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hiện thân của văn hóa hòa bình - Hồ Chí Minh: Phần 1

485 7 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 485
Dung lượng 27,17 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong những năm qua, tạp chí Xưa Nay đã dành một vị trí quan trọng cho các bài viết về Hồ Chí Minh trên nhiều lĩnh vực: Nghiên cứu tư tưởng chính trị, xã hội và văn hóa, đóng góp những tư liệu mới về cuộc đời hoạt động phong phú của Người, cung cấp những Tài liệu đánh giá nhận định của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước. Sau mười năm tồn tại của tạp chí, số lượng bài viết về Hồ Chí Minh tập hợp lại quả thật là phong phú.Để giúp bạn đọc tiện tham khảo, Tài liệu này tập hợp những bài viết đó với nhan đề: Hồ Chí Minh - hiện thân của văn hóa hòa bình. Qua đây, các bạn có thể thấy tính phong phú của những bài viết về Hồ Chí Minh. Tài liệu gồm 2 phần, sau đây là phần 1. Mời bạn đọc cùng tham khảo.

Trang 1

Hộ Chí MinhHiện thân của Văn hóa Hòa bình

Trang 5

LỜI Glốl THIỆU

Nói về Hồ Chí M in h , từ năm 1960 đồng

chí Trường C hinh đã viết: "Người tiêu biểu

n h ấ t cho dạo đức cộng sản chủ nghĩa ở Việt Nam và kết tin h những đức tính tốt đẹp nhất của dân tộc ta Người đã p h át huy đạo đức truyền thống phưctig Đông là trí, nhắn, dũng

trên một cơ sở hoàn toàn mới" Chính vì vậy

mà Hồ Chí M in h luôn luôn là chủ đề hâ’p dẫn đô1 với các nhà nghiên cứu không những về các mặt tư tưởng, chính t r ị mà còn về văn hóa và tiểu sử cuộc đời Không những các nhà nghiên cứu Việt Nam mà còn có nhiều nhà nghiên cứu nước ngoài quan tâm Những công

t r ì n h nghiên cứu về tư tưởng Hồ Chí M in h không phải chỉ dựa trên các trước tác, mà còn gắn với các hoạt động cụ th ể trong cuộc đời còn nhiều (fn số của Người, đòi hỏi phải đầu

tư nhiều công sức trong việc sưu tầm xác minh

Trong những năm qua, tạp chí Xưa & Nay

đâ dành một vị t r í quan trọng cho các bài viết về Hồ Chí M inh trên nhiều lĩnh vưc:

Trang 6

nghiên cứu tư tưởng chính trị, xã hội và văn hóa, đóng góp những tư liệu mới về cuộc đời hoạt động phong phú của Người, cung câ'p những tài liệu đánh giá nhận định của các nhà nghiên cứu tron g và ngoài nước Sau mười năm tồn tại của tạp chí, số lượng bài viết về Hồ Chí

M in h tập hợp lại quả thật là phong phú

Để giúp bạn đọc tiện tham khảo, chúng tôi đã biên tập những bài viết đó trong tập

sách nhan đ ề l à Hồ chí Minh, hiện thân văn hóa hòa bình Qua đây, các bạn có t h ể thấy tính phong phú của những bài viết về Hồ Chí

M in h , nhưng cũng vì vậy mà chúng tôi không

t h ể sắp xếp theo một kết câu chặt chẽ theo chủ đề Mong được bạn đọc thông cảm

Tạp chí Xưa & Nay NXB V ăn Hóa Sài Gòn

Trang 7

Trong lịch sử của mình, dân tộc Việt Nam đã phải liên tục đương đầu với các thế lực xâm lược hùng mạnh đến từ các lục địa Á-Âu Những chiến công hiển hách trong lịch sử chông ngoại xâm của dân tộc Việt Nam không chỉ phản ánh sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước, tinh thần đâu tranh bât khuất cho độc lập, tự do mà còn phản ánh cả truyền thông nhân hậu, khoan hòa và

ý chí thiết tha với hòa bình của nhân dân ta.

Trong kháng chiến chông quân xâm lược nhà Tông, khi kẻ thù đã lâm vào tình thế quẫn bách, tiến thoái

Trang 8

lưỡng nan, chính Lý Thường Kiệt đã chủ trương "biện sĩ bàn hòa", nhằm mở lôl thoát cho quân địch, đi tới chấm dứt chiến tranh, để "không nhọc tướng sĩ, khỏi tốn máu xương mà lại bảo toàn được tông miếu"^^\

Cũng ý chí ấy, khi giặc Minh đã "khốn đốn, cởi giáp

ra hàng", thì Lê Lợi - Ngtiyễn Trãi cũng "mở đường hiếu sinh", cấp cho "dăm trăm chiến thuyền, vài nghìn cổ ngựa" chúng về nước; còn ta cốt "toàn quân, để nhân dân nghỉ sức" Thật là một cử chỉ khoan hồng, nhân đạo hiếm có, "chưa thấy xưa nay”, nhằm mở ra "nền thái bình muôn thuở vững chắc".

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kế thừa truyền thống khoan dung, hòa hiếu, nhân nghĩa của dân tộc ta từ nghìn xưa và nâng nó lên một tầm cao mới, thành văn hóa hòa bình ở thời đại mới.

Biểu tưcmg của ý chí hòa bình Việt Nam

Chủ tịch Hồ Chí Minh mở đầu sự nghiệp chính trị của mình bằng một cử chỉ hòa bình: đưa Yêu sách 8

điểm gởi tới Hội nghị hòa bình Versailles (năm 1919) nhằm đòi các quyền tự do, dân chủ tối thiểu cho nhân dân Việt Nam Bản yêu sách khiêm tón cả về nội dung lẫn hình thức ấy dã không được các cường quốc để m ắt tới Được thực tế đó rèn luyện, Người rút ra kết luận:

"Muốn được giải phóng, các dân tộc chi’ có thể trông cậy

(1) Văn bia chùa Linh Xứng của Pháp Bảo đời Lý

Trang 9

vàc mình"^^\ Sau khi tìm được con đường chân chính chc sự nghiệp cứu nước, giải phóng dân tộc, Người tìm dưcng về nước, "đi vào quần chúng, thức tỉnh họ, tổ chức

họ, đoàn kết họ, huấn luyện họ, đưa họ ra đấu tranh giàah tự do, độc lập"^^\

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng viết; "Chế độ thực dân, tự bản thân nó, đã là một hành động bạo lực của

kẻ mạnh đối với kẻ yếu"‘-^\ Do đó, "trong cuộc đấu tranh giai khổ chông kẻ thù của giai cấp và dân tộc, cần dùng bạc lực cách mạng chống lại bạo lực phản cách mạng, giành lấy chính quyền và bảo vệ chính quyền"^^^.

Tuy nhiên, giữa hai giải pháp; bạo lực cách mạng

và hòa bình, bao giờ Hồ Chí Minh cũng ưu tiên theo đuci con đường hòa bình, thương lượng, đôi thoại với tấm lõnj chân thành và thái độ hiểu biết.

Trước khi lãnh đạo nhân dân ta đứng lên tổng khởi nghĩa giành chính quyền, trong tương quan lực lượng bấy giờ Hồ Chí Minh đã hai lần đưa ra đề nghị 5 điểm gửi tới chính phủ Pháp, qua người đứng đầu cơ quan tình bá( của họ ở Côn Minh (tức M.5) là J.Sainteny; một lần vàc tháng 7-1945 và một lần vào ngày 18-8-1945, tức mộ: ngày trước khi Hà Nội khởi nghĩa Trong đề nghị của mình, Hồ Chí Minh chấp nhận một cuộc phổ thông đầi phiếu để bầu ra một nghị viện do một người Pháp làiầ chủ tịch Sau 5 năm chậm nhất là 10 năm, Pháp

(1) 2) Trần Dân Tiên N hững mẩu chuyện về đời hoạt dộng của

'rỉồ Chủ tịch NXB Văn học, H 1970, các trang 30, 49.

(3) (4) HỒ Chí Minh, Toàn tập, NXB CTQG Hà Nội, 1995, tập

tr.96.

Trang 10

sẽ trao trả độc lập hoàn toàn cho Việt Nam, nước Pháp

sẽ được hưởng những ưu tiên về kinh tế,

J.Sainteny nhận điện, gửi về Pháp, nhưng Pari đă im lặng Do không thức thời, Chính phủ De Gaulle đã bỏ

lỡ một cơ hội mà sau này Sainteny cho là một đề nghị

"khá khiêm tốn và hoàn toàn có thể chấp nhận được" Với lực lượng chính trị và vũ trang đủ mạnh, chớp đúng thời cơ, Hồ Chí Minh đã kịp thời lãnh đạo nhân dân Việt Nam làm nên thắng lợi của cuộc cách mạng tháng Tám vĩ đại, một cuộc cách mạng diễn ra trong một thời gian ngắn, ít đổ máu nhất, cũng có thể gọi đó

một cuộc cách m ạng h ò a bình.

Ngày 2-9-1945, tại Quảng trường Ba Đình, Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa Mở đầu bản tuyên ngôn, Ngiíời viết: "Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng

và quyền tự do".

Đó cũng là lời tuyên bô" hòa bình của dân tộc ta trong thời đại mới, bởi quyền cơ bản đầu tiên của mỗi con người, mà chiến tranh là hủy diệt, là chà đạp lên quyền thiêng liêng đó của loài người.

Nhưng chỉ mới ba tuần sau khi Việt Nam tuyên bố dộc lập, núp dưới bóng quân đội Anh, với lực lượng quân

sự hùng hậu, Pháp trở ]ạị gây hấn hòng bắt nhân dân

ta làm nô lệ một lần nữa Trong cuộc xung đột Việt Pháp, Hồ Chí Minh luôn luôn lựa chọn giải pháp hòa bình: sẵn sàng chấp nhận thỏa hiệp, nhân nhượng để tránh một cuộc chiến tranh đau thương cho cả hai dân tộc.

Trang 11

Tháng 10-1945, trong thư gửi những người Pháp ở Đông Dương, Người viết: "Máu của nhân loại đã chảy nhiều, hòa bình - một nền hòa bình chân chính, xây trên công bình và lý tưởng dân chủ, phải thay cho chiến tranh; tự do, bình đẳng, bác ái phải thực hiện trên khắp

vậy, Người đã lựa chọn và kiên trì giải pháp hòa bình;

ký với Pháp H iệp định sơ bộ 6-3-1945 đổi lấy việc rút quán Tưởng về nước Với thái độ xây dựng, không quản ngại bất trắc, hiểm nguy, Người sang tận thủ đô nước Pháp để tìm kiếm hòa bình Rất tiếc là thiện chí đó cũng không được đáp lại Hội nghị Fontainebleau bị tan

vỡ Nhưng không muốn con đường đàm phán hòa bình

bị cắt đứt, Người đã cố gắng ký Tạm ước 14-9-1946, một thỏa ước chỉ nêu nguyên tắc mà chưa cụ thể, vì Người muôn dựa vào đó để tiếp tục mở ra các cuộc thương lượng vào đầu năm sau.

Khi thực dân Pháp tăng cường khiêu khích, đẩy tình hình căng thẳng đến tột độ, ngày 13-12-1946 Hồ Chí Minh vẫn tuyên bố: "Đồng bào tôi và tôi thực sự muốn hòa bình Chúng tôi không muốn chiến tranh Cuộc chiến tranh này chúng tôi muốn tránh bằng đủ mọi cách Nhưng cuộc chiến tranh ấy, nếu người ta buộc chúng tôi phải làm, thì chúng tôi sẽ làm Chúng tôi khòng lạ những điều đang đợi chúng tôi Dù sao, tôi mong rằng chúng ta sẽ không đi tới cách giải quyết ấy"^^\

(1) Hồ Chí Minh Sđd Tập 4, các trang 66-67, 473.

(2) Hồ Chí Minh Sđd Tập 4, các trang 66-67, 473.

Trang 12

Đến khi họ buộc nhân dân ta phải cầm súng kháng chiến, người vẫn không buông ngọn cờ hòa bình, vẫn liên tục viết thư, gửi lời kêu gọi đến chính phủ, Quô"c hội và nhân dân Pháp, kêu gọi họ hãy hướng chính sách của nước Pháp vào con đường chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình Chính J.Sainteny, người ”đôl diện với Hồ Chí Minh", đã thừa nhận: "Nếu Cụ Hồ đạt được mục đích của mình mà không phải đổ một giọt máu nào thì chắc chắn cụ đã là một người hạnh phúc nhất đời rồi"^^\ Chỉ sau những thất bại liên tiếp về quân sự, dặc biệt là ở Điện Biên Phủ, và gặp phải những khó khăn chồng chất về mọi mặt, những ngưối theo đuổi chiến tranh trong chính giới Pháp mới chịu ngồi vào bàn thương lượng với ta tại Genève Vì thiết tha với hòa bình, Việt Nam đã chấp nhận một thỏa hiệp mà nội dung của nó chưa phản ánh đầy đủ những tương quan trên chiến trường Người Pháp rút đi người Mỹ nhảy vào, họ tưởng có thể đè bẹp ý chí hòa bình trong độc lập, tự do của nhân dân Việt Nam Cuối cùng người Mỹ đã phải bỏ ra một thời gian dài gấp đôi người Pháp, với một hao phí khổng

lồ về xương máu và tiền bạc để có thể cay đắng nhận

ra rằng: vũ khí, kỹ thuật đã không thắng nổi ý chí con người Chính lúc họ đang sa lầy ở Việt Nam, với thiện chí hòa bình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tuyên bố: Việt Nam sẵn sàng trải thảm đỏ cho lính Mỹ về nước, nếu

(1) Ơ.Sainteny Một hiệp định không có ngày mai Tạp chí Pỉanère

Action, 3-1970, tr 101 (tiếng Pháp).

Trang 13

Mỹ cam kết tôn trọng độc lập, thống nhất, chủ quyền

và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam.

Tóm lại, Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhân dân Việt Nam rấ t thiết tha với hòa bình, nhưng không phải hòa bình với bất cứ giá nào mà là một nền hòa bình hợp với công lý và dân chủ, hòa bình trên cơ sở độc lập, tự

do, như Hồ Chí Minh đã tuyên bố; "Hòa bình th ật sự quyết không thể tách rời tự do và độc lập thật sự của dàn

Hiện thân của tinh thẩn khoan dung, nhân ái Việt Nam

Khoan dung, nhân ái là thái độ tôn trọng, cách nhìn róng lượng đôl với những giá trị khác biệt với mình (về dàn tộc, tôn giáo, tín ngưỡng, các quan điểm chính trị, triết học, cho đến các phẩm chất cá nhân của mỗi con

n ^ờ i ) Nói cách khác, khoan dung văn hóa là thái độ

h ìi h ò a trong kh ác biệt, để cùng nhau tồn tại và phát tiiển trong hòa bình Nói như cựu Tổng thư ký Liên hợp qaốc, ông Peres de Cueja; "Chúng ta có rất ít thời gian tiên trái đất này, vì vậy chúng ta hãy sông hòa bình víi nhau" Vì vậy, có thể xem khoan dung là cơ sở văn h')a của hòa bình.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: "Dân tộc ta

lẳ một dân tộc giàu lòng đồn g tình và bá c và chính Người đã kế thừa và phát triển tinh thần khoan dung

V ệt Nam lên chất lượng mới một tầm cao mới.

(1 Hồ Chí Minh Sđd, tập 11, tr.543

(2 Hồ Chí Minh Sđd, tập 4, tr.l6 0

Trang 14

K hoan dung H ồ Chí Minh đã kết hỢp được lương tri siêu việt của cá nhân mình với lương tri dân tộc và lương tri thời đại để đạt tới sự hài hòa giữa cá nhân, dân tộc và nhân loại, ở Hồ Chí Minh, hòa bình và độc lập cho dân tộc mình đồng thời phải là hòa bình, độc lập cho tấ t cả các dân tộc; giải phóng dân tộc để đi tới giải phóng xã hội và giải phóng loài người.

K hoan dung Hồ Chí Minh đã kết hợp được giữa

nhân trí, tức giữa tình cảm nồng nàn với lý trí sáng suốt, do đó đã khắc phục dược những nhược điểm, hạn chế của khoan dung truyền thống (như thiên về tình cảm, màu sắc đẳng cấp Nho giáo, lối nhẫn nhục, an phận, chịu đựng của khoan dung Phật giáo ) Khoan dung Hồ Chí Minh được xây dựng trên cơ sở chữ nhăn,

nhưng là một chữ n hân sáng suô"t, có nguyên tắc, lấy công lý, chính nghĩa làm nền tảng, vì th ế mà kiên quyết chông lại những việc, những người xâm phạm lợi ích của cộng đồng, chà đạp lên công lý, dân chủ, quyền được sống, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc của các dân tộc.

K hoan dung H ồ Chí Minh là thái độ trân trọng đối với mọi giá trị văn hóa của nhân loại, là chấp nhận giao lưu và đối thoại bình đẳng để đạt tới sự hòa đồng

và cùng phát triển.

Hồ Chí Minh xa lạ với mọi thói kỳ thị văn hóa Trong khi chống Pháp, người vẫn yêu mến và đề cao văn hóa Pháp; chống Mỹ mà vẫn ca ngợi truyền thống đấu tranh cho độc lập, tự do của nhân dân Mỹ Bản

Trang 15

th ân Người là hình ảnh kết tinh của văn hóa nhân loại Điông và Tây.

Trong một thế giới cộng sinh về văn hóa, có sự giao luíu giữa cái chung và cái riêng, cái đồng nhất và cái dị biiệt, khoan dung Hồ Chí Minh là chấp nhận dối thoại

vể giá trị, truy tìm cái chung, cái nhân loại Hồ Chí Minh đã nói; "Tuy phong tục mỗi dân tộc mỗi khác, nlhưng có một điều thì dân nào cũng giống nhau Ây là dân nào cũng ưa sự lành, ghét sự

Là một nhà ngoại giao biết thương lượng, có đầu óc thực tế, Hồ Chí Minh biết tìm ra mẫu s ố chung cho mọi cuộc đôl thoại Người nói với người Pháp: "Người Việt và người Pháp cùng tin tưởng vào đạo đức tự do, bình đẳng, bác ái, độc lập" "Triết lý đạo Khổng và triết lý phương Tây đều tán dương một nguyên tắc đạo đức: Kỵ sở bất dục, vật thi ư nhân". "Các bạn yêu nước Pháp của các bạn và muôn cho nó độc lập Nhưng chúng tôi cũng phải được phép yêu nước của chúng tôi và muôn cho nó được độc lập chứ! Cái mà các bạn coi là lý tưởng cũng phải là lý tưởng của chúng Chính vì vậy mà lập luận của Người có sức cảm hóa và thuyết phục mạnh mẽ.

Với các tôn giáo, Hồ Chí Minh thành th ật tôn trọng đức tin của người có đạo, khẳng định lối sống cao đẹp, những giá trị đạo đức - nhân vãn của các vị sáng lập, không hề bài bác, phủ định mà khéo hướng lý tưởng

(1) Hồ Chí Minh, Sđd, tập 4, tr.350.

(2) Hồ Chí Minh Sđd, tập 4, tr.65 và 458.

Trang 16

của các tôn giáo vào mục tiêu giải phóng dân tộc và mưu cầu hạnh phúc cho nhân dân.

Đối với nhân dân ta, Người khuyên phải đoàn kết chặt chẽ và rộng rãi: "Năm ngón tay có ngón ngắn ngón dài Trong mấy triệu người cũng có người thế này, thế khác Đôi với những đồng bào lạc lôì, lầm đường, ta phải lấy tình thân ái mà cảm hóa Ngay đối với những người đối lập, Hồ Chí Minh cũng vẫn thể hiện một thái độ khoan dung, độ lượng hiếm có, khi họ đã

ăn năn, hôi cải hay đã lâm vào cảnh bần cùng, th ất thế Văn hóa Việt Nam là một nền văn hóa đa dân tộc Nhờ hiểu biết sâu sắc và có thái độ trân trọng đối với những đặc điểm văn hóa khác nhau của các dân tộc anh

em, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thành công trong việc liên kết các sắc thái ấy để tạo nên tính đa dạng, phong phú, hấp dẫn của nền văn hóa Việt Nam.

Tóm lại, khoan dung văn hóa Hồ Chí Minh là sự thống nhất cả Tâm, Đức Trí, một tinh thần khoan dung được xây dựng trên tầm văn hóa cao, kết hợp được tình cảm với lý trí, nhận thức với hành động, yêu thương với đấu tranh, đó là bước phát triển mới của văn hóa khoan dung Việt Nam.

Ngày nay, trên thế giới, chiến tranh lạnh đã qua

đi, nhưng loài người vẫn đang phải sống trong "một nền hòa bình nóng" Nhiều nơi vẫn đang diễn ra những cuộc chiến tranh, xung đột đẫm máu về dân tộc và tôn giáo

Do thiếu một thái độ khoan dung về văn hóa, họ tự coi

(1) Hồ Chí Minh Sdd, tập 4, tr.490 và 246,

Trang 17

mình là độc tôn, đi tới dị hóa, kỳ thị với tất cả cái gì không phải là mình! Ngược lại, cũng đang có những thế lực mưu toan lợi dụng cái gọi là "bản chất chung của con người" để áp đặt cho các dân tộc khác những giá trị xa

lạ với truyền thông vãn hóa của họ Khi không thuyết phục được, họ sẵn sàng dùng sức mạnh của bom đạn, sắt thép để khuất phục ý chí của một dân tộc Chủ nghĩa khủng bố quốc tế đang đe dọa quyền được sông, quyền

tự do mưu cầu hạnh phúc trong hòa bình, tự do, độc lập, theo lý tưởng và truyền thống vãn hóa của mỗi dân tộc Suốt đời mình, Hồ Chí Minh theo đuổi lý tưởng hữu

ái đoàn kết, hòa bình, thân thiện giữa các dân tộc và Người dã trở thành biểu tượng của tinh thần quô"c tế trong sáng.

"Rằng đây bốn h ể một nhà, Vàng đen trắng đỏ đều là anh em"^^K

Hồ Chí Minh được tổ chức UNESCO suy tôn là "nhà văn hóa kiệt xuất" chính vì " những tư tưởng của Người

là hiện thân những khát vọng của các dân tộc trong vièc khẳng định bản sắc dân tộc mình và tiêu biểu cho vièc thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau" Từ đó, chúng ta cũng có thể nói: Hồ Chí Minh là hiện thân rực rỡ của vàn hóa hòa bình - văn hóa của thế kỷ XXL

PCS, SONG THÀNH

Viện trường Viện H ồ Chí M in h H V C TQ G H C M

(1) Đề cương tác phẩm Nhật ký chìm tàUy lời kết chương XXII

Nguyên tác hiện vẫn chưa tìm lại được.

Trang 18

mà Hồ Chí Minh đã nghiên cứu ở Paris.

Sử gia Mỹ William J.Duiker trong cuốn Hồ Chí M i n h

cho biết như sau: "Một lần Nguyễn Ải Quốc đ ã yêu cầu

J e a n Longuet g iả i thích về học thuyết Mác J e a n Longuet lưỡng lự và nói rằng câu hỏi quá phức tạp và gợi ý Nguyễn Ái Quốc đ ọc bộ Tư bản của Mác Sau đó, Nguyễn

Ái Quốc đ ã tới m ột thư viện g ần Quảng trường Italia

đ ể mượn tác p h ẩ m đồ sộ đó đ ề đọc cùng với một s ố tác p h ẩ m Mác-xít khác, Sau này, trong cuốn tụ thuật của mình, ông k ề lại rằng ông đã dùng bộ Tư bản làm sách gối đ ầ u giường". Sự kiện trên có thể được củng cố thêm khi khảo sát các báo cáo, các bài nghiên cứu của

Hồ Chí Minh, công bô với nhiều bút danh khác nhau,

Trang 19

tr(êr các báo và tạp chí của phong trào cộng sản và công nlnân quôc tế từ nàm 1919 đến năm 1930, chúng ta sẽ có) ĩhể nhận ra rằng Hồ Chí Minh đã ít nhiều chịu ảnh hưởag phương pháp "phân tích sự vật cụ thể trong tình hìinh cụ thể" của Mác Tuy nhiên, điều đáng chú ý ở đây là, theo học phong truyền thông Việt Nam xưa thì thiấu hiểu một học thuyết, một tư tưởng, không phải là đgc và học thuộc mà điều quyết định là phải rút ra được cái ưu điểm, cái tinh túy hay còn gọi là cái "thần" của học thuvết ấy "để rồi thực hành đúng thời của điều đã học"^^^ Theo học phong đó, Hồ Chí Minh rút ra và khẳng định ưu điểm tinh túy nhât của học thuyết Mác bằng chỉ một cụm từ "phương p h á p làm việc biện chứng". Rồi với phương pháp làm việc biện chứng ấy, Hồ Chí Minh

đã phân tích cụ thể các vấn đề của công cuộc giải phóng thuộc địa và đã sớm phát hiện ra nhiều đặc điểm liên quan tới nội dung phong trào cách mạng ở từng nước thuộc địa, từ Viễn Đông tới Ấn Độ, từ Bắc Phi tới Triều Tiên và từ đó, dẫn tới phương pháp hành động Ngay

từ năm 1922, Hồ Chí Minh đã chỉ ra đặc điểm giai cấp của các nước thuộc địa như sau: "Trong tất cả các nước thuộc địa, ở cái xứ Đông Dương già cỗi k ia củng như ở

xứ Đ ahôm ây trề trung này, người ta kh ôn g hiểu đấu tranh g iai cấp là gì, lực lượng giai cấp vô sản là gi cả,

vì một lẽ đơn giản là ở đó khôn g có nề?i kinh doanh lớn về thương rìghiệp hay rông nghiệp, cũng khôn g có

tổ chức công nhân"^'^\

(1> Khổng phu tử, Luận ngữ, thiên 1, chương 1.

(2) Toàn tập, 1, 1995, trang 63.

Trang 20

Còn ở Bắc Phi thì tình hình như sau: "Trong s ố các

d ẫn tộc sống ở B ắ c Phi, người B erbère biết đến nguyèn tắc tư hữu nhưng họ chỉ là thiểu s ố chiêm kh oản g 1 /3 dân s ố Algérie và kh oản g 3 /1 4 đ ấ t đ ai có th ể canh tác dược ở thuộc đ ịa này Quan h ệ ruộng đ ấ t của người Tunisie, người Ả rập, A lgérie và người M aroc nói chung dựa trên cơ sở chủ nghĩa cộng sản nguyên thủy: Theo kinh thán h đ ạo Islam , ruộng đ ất thuộc về Trời, và con người ch ỉ có quyền sử dụng những gì m à an h ta có th ể lấy từ đó bằng sức lao độn g của mình, N hư vậy, ruộng

đ ất là sở hữu của công xã và khôn g bị trưng thu Mỗi người đều được nhận một m ảnh đ ất và được sử dụng toàn bộ sản p h ẩ m của m ản h đ ất đó Nhưng anh ta khôn g được m ua ruộng của người khác K hôn g được bán đất của mình Người giữ ruộng đất đó chết đ i thi ruộng đất lại trở thành sở hữu của công xã Phương thức sở hữu tập th ể đó được g ọi là "ac.sơ” ở A lgérieJ ”aibu" ở Tunisie

và Maroc"^^\

ở Trung Quô"c thì thực trạng xã hội tiền tư bản lại diễn ra một cách khác "Hầu hết tất cả m ọi người nông dăn dù nghèo đến đ âu đi nữa thì trước k ia cũng đều

có được một m ản h đ ấ t đ ể có th ể "kiếm lấy nén hương cúng tổ t i è n ’ Một người nông d ân có từ 10 đến 100

m ẫu có th ể là kè bóc lột, là người bị bóc lột, hoặc là

”trung g i a n ’. Nếu gia đình có khá đông người để cày cấy lấy ruộng đất, thì người nông dân đó, trở thành lớp

"trung gian" Nếu gia đình neo đơn, người nông dân đành

(1) Toàn tập, 1, 1995, trang 253-258.

Trang 21

buộc phải cho thuê rẻ sô^ ruộng đất mà anh ta không thể làm được; thế ỉầ anh trở thành kẻ bóc lột Nếu gia đình quá đông người mà muôn đủ chi dùng, thì ngoài ruộng đất của mình ra, người nông dân còn bắt buộc phải thuê thêm ruộng đất của người khác; thế là anh

ta bị vô sản hóa và chuyển thành người bị bóc lột Năm 1918 có 43.935.478 gia đình nông dân Trung Quôc

ở trong tình trạng không ổn định ảó^^\

Chỉ trong thời gian từ 1919 đến 1924, sự phân tích

cụ thể các nước phương Đông thuộc địa (từ Ân Độ, Trung Quốc, Thổ Nhĩ Kỳ đến Syrie, Triều Tiên, từ Bắc Phi đến châu Phi xích đạo v.v ) của Hồ Chí Minh đã chứng minh rằng, tính cho đến ngày 1-7-1924, khi tổ chức khai thác một hệ thố^ng thuộc địa mênh mông 55.637.000 km^ trải gần khắp hành tinh, chủ nghĩa đế quôc chỉ làm biến dạng tính chất tiền tư bản ở các thuộc địa bằng cách phối hỢp với cách bóc lột thặng dư giá trị mà họ mới áp đặt nửa vời nhằm gia tăng siêu lợi nhuận thuộc địa (Super - Profit colonial) mà thôi Hơn nữa, ngay ở những nơi mà làn sóng ván minh công nghiệp có điều kiện phát triển như ở Nhật Bản thì cuộc đấu tranh giai cấp cũng diễn ra khác với phương Tây Ngay từ cuối nàm 1923, Hồ Chí Minh đã nghiên cứu cụ thể sự khác biật giữa phong trào công nhân Nhật Bản và công nhân phương Tây và nhấn mạnh: ”Khi nói về công nhân nông nghiệp ở N hật Bản thì cản p h ả i nghiên cứu các tổ chức công nhãn nông nghiệp ở phương Tây đ ể so sánh" S^\

(1; Toàn tập, 1, 1995, trang 230-232.

(2) Toàn tập, 1, 1995, trang 217-221

Trang 22

Rồi ngày 24-1-1924 Hồ Chí Minh đã công bố^ rõ ràng trên tạp chí Đời sống thợ thuyền (La Vie Ouvrière) rằng:

‘'Trong cuộc đ ấu tranh giữa tư bản và lao động ở Viễn Đông, có những chuyện thú vị m à ở phương Tây người

ta sẽ kh ôn g hiểu được, nhưng ở đ ây lại là những chuyện hoàn toàn có thực"^^\

Sự phân tích cụ thể tình hình đối với toàn bộ vấn

đề giải phóng dân tộc và giải phóng thuộc địa đã đưa tầm nhìn của Hồ Chí Minh soi rọi vào lịch sử hình thành học thuyết Mác và trong một "Báo cáo về Bắc kỳ, Trung kỳ và Nam kỳ" gửi Quốc tế cộng sản để kiến nghị về chiến lược và sách lược của phong trào cách mạng Việt Nam, Hồ Chí Minh đã thẳng thắn khẳng định rõ như sau: "Cuộc đấu tranh giai cấp (ở Việt Nam) khôn g diễn ra giống như ở phương T ây ”.

Nhưng tại sao lại có vấn đề phương Tây và phương Đông trong khi học thuyết Mác vôn từ bản chất, lấy công cuộc giải phóng nhân loại (như một chỉnh thể thông nhất) làm mục đích? Điều này được Hồ Chí Minh giải thích rõ tàng: "Mác đã xây dựng học thuyết của m ình trên một triết lý nhất địn h của lịch sử, nhưng lịch sử nào? L ịch sử châu Ầu Mà châu Âu là gì? Đó chưa p ìiải

là toàn th ể nhăn loại.

M ác cho ta biết rằng sự tiến triển các xã hội trải qua 3 giai đoạn : c h ế độ nô lệị c h ế độ nông nôj c h ế đô

tư bản; và trong mỗi giai đoạn ấy, d ấu tranh giai cấp

có k h á c nhau Chúng ta p h ả i coi chừng! Các dân tộc

(1) Toàn tập, 1, 1995, trang 233-235

Trang 23

V'ien Đông có trải qua hai giai đoạn đầu không? Từ mhiều t h ế kỷ nay, họ chẳng hưởng được thái bình hay

s a o d ể đ ến mức làm cho người châu Âu khin h rè họ (Lươi nhác, mè muội hàng nghìn năm v.ư.

Để xác định "lý do lịch sử" đã khiến cho "cuộc đấu tiranh giai cấp ở Việt Nam không diễn ra giống như ở pihương Tây", Hồ Chí Minh đã phân tích tổng quát bôi cảnh xã hội và thực trạng giai cấp ở Viêt Nam được Hồ C’hí Minh quan niệm như một thực thể quôc gia hình thành qua lịch sử ngàn nám chứ không phải là Đông D)ương thời bấy giờ - một thực thể thuộc địa gồm 5 "xứ" ghép lại;

'Cuộc đấu tranh giai cấp (ở Việt Nam) khôn g diễn

r a g o n g như ở phương Tây, v ề p h ía người lao động, đó

là sụ kh ôn g g iác ngộ, sự nhẫn nhục vô tổ chức, v ề

p h ía bọn chủ, khôn g có máy móc, ruộng đồng thuộc sở hữu của những đ ịa chủ hạng trung và h ạn g nhỏ và những kể m à ở đó được coi là đại đ ịa chủ thì chỉ là những k ể lùn tịt hèn cạnh những người trùng ten với

h ọ ở chău Ầ u và châu Mỹ; không có tỷ p h ú người An Nam Những tễìi trọc ph ú ở dó thì ở đây chỉ là những

k è thực lợi (rentier) k h á g iả thôi.

Cho nẽĩiy nếu nông dân gần như chẳn g có gỉ thì đ ịa chủ củng k h ô n g có vốn liếng gì lớn; nếu nông dân chỉ sống bằng những c.ải tối thiểu cần thiết thĩ đời sống của

đ ịa chủ củng chẳng có gì là xa hoa, nếu thợ thuyền không biết m ình bị hóc lột bao nhiêu thì đ ịa chủ lại không hề bièt công cụ đ ể bóc lột của họ là máy móc; người thì chẳn g có tờ-rớt (trust) Người thì nhẫn nhục

Trang 24

chịu s ố p h ận của mình, kẻ thi vừa p h ả i trong sự tham lam của mình, Sự xung đột về quyền lợi của họ được giảm thiểu Điều đó, không th ể chối cãi được".

Thế thì phải chăng thực trạng xã hội và thực trạng giai cấp trên đây cũng là xã hội Trung cổ ở Tây Âu?

Hồ Chí Minh giải thích tiếp:

''Nhưng người ta sẽ bảo: th ế là chúng ta ở thời Trung

c ổ à? Ô! S ẽ là quá đ án g nếu so sánh người ”n h à què"^^^ với người nông nô Xã hội An Nam chưa hao giờ có tăng

lữ và th u ế mười p h ầ n trăm H oàng đ ế trị ưì nhưng chẳng

lo cai trị gì Tất nhiên là đ ã có quan lại rồi Nhưng có

th ể so sán h họ với lãnh chúa phong kiến không? Không, Trước hét quan lại được tuyển lựa theo con đường dân chủ: con đường thi cử, mở rộng cho mọi người và mọi người có th ể chuẩn bị thi m à chẳng tốn kém gì, Hơn nữa, quyền lực của quan lại được cân bằng hằng tính

tự trị của xã thôn.

Xã hội Án Độ - China và tôi có th ể nói: Ần Độ hay Trung Quốc về m ặt cấu trúc kinh tế, khôn g giống các

xã hội phương Tây thời trung cổ, củng như thời cận d ại

và đ ấu tranh giai cấp ở đó không quyết liệt như ở đày, Mai đây kh i chủ nghĩa tư bản phương Tây làm thay dổi phương Đông thi đ ấu tranh giai cấp có trở nên quyết liệt không? Đại th ể là có nếu xét gương của N hật Bản,

T hât ra là cój vì sự Tây phương hóa ngày càng tăng

và tất yếu của phương Đông - nói cách khác, chủ nghĩa

(1) Những từ "nhà quê" này được Nguyễn Ái Quốc (Hồ Chí Minh)

viết bằng tiếng Việt.

Trang 25

A/đc sẽ còn đúng cả ở đó Dù sao thì cũng kh ôn g thế

cầ m b ổ sung "cơ sở lịch sử của Chủ nghĩa Mác bằng dách dưa thêm vào đó những tư liệu m à Mác vào thời

m ình củng khống th ể có được"^^\

Xuất phát từ thực tế lịch sử trên đây, Hồ Chí Minh

đề xuất nhiệm vụ vừa lý luận vừa thực tiễn như sau:

"Xem xét lại chủ nghĩa Mác về cơ sở lịch sử của

k h ác hẳn các lãnh tụ cách m ạng k h ác như Stalin và Mao T rạch Đông"^^\ Và cũng từ đó, Hồ Chí Minh phát hiện ra động lực của tiến trình phát triển của lịch sử Việt Nam từ khi tư bản Pháp dùng bạo lực đưa làn sóng văn minh công nghiệp vào Việt Nam như sau;

(1) (2) Toàn tập, 1, trang 465-466.

(3) John Lê Văn Hóa, Tìm hiểu nền tảng vân hóa dân tộc trong

tư tưởng cách mạng Hồ Chí Minh Hà Nội, 2003 trang 35.

Trang 26

''Chủ nghĩa dân tộc là động lực lớn của đ ất nước Chính nó d ã gây nên cuộc nổi dậy chống thuề năm 1908y

nó dạy cho những người cu li biết p h ả n đốiy nó làm cho những người “nhà què" p h ả n dối ngầm trước thu ế tạp dịch và thuế muối, Củng chủ nghĩa dân tộc đ ã luôn luôn thúc dẩy các n h à buôn An Nam cạnh tranh với người P h áp và người Trung Quốc; nó đ ã thúc giục thanh niên bãi khóa, làm cho những nhà cách m ạng trốn sang

N hật B ản và làm vua Duy Tân mưu tính khởi nghĩa 1916.

Chiến tranh (1914-1918) đã làm thay đ ổi chủ nghĩa dân tộc:

1 Chủ nghĩa dân tộc đã hiện đ ạ i h óa khi chuyển

từ giới thượng lưu này sang giới thượng lưu khác Chính thanh niên An Nam ngày nay đang chỉ

đ ạo nó.

2 Chủ nghĩa dân tộc ăn sâu ưào quần chúng nhờ

sự p h á t triển của các p h ầ n tử thàn h thị và nhất

là sự tuyển mộ và trở về của "lính tình nguyện'.

3 Trong chủ nghĩa dân tộc có cả lòng căm g h ét bọn xăm lược Trung Quốc (xưa kia) và người Ản Độ sinh cơ lập nghiệp ở trển đất nước này.

4 Nó có xu hướng hợp p h á p hóa các hìn h thức biểu hiện và yêu sách của nó Một mặt, chính quyền nhượng bộ, m ặt khác, lớp thanh niên từ bỏ phương

p h á p tiến h àn h những cuộc nổi dây bộc p h á t của lớp người đi trước ưà ngày nay, người ta thiên về chiến thuật của những nhà cách m ạng châu Ầu: tuyèn truyền, tổ chức và khởi nghĩa quần chúng Trong khi lớp người già muốn độc lập ngay, thì

Trang 27

lớp trể yêu sách những thiết c h ế chuẩn bị cho dộc

Từ năm 1920, Hồ Chí Minh là người đầu tiên trong lịch sử cách mạng hiện đại đã vận dụng học thuyết Mác với một tầm nhìn sáng tạo mang đầy đủ tính chất một chiến lược đôì với phong trào giải phóng dân tộc Việt Nam "Hồ Chí Minh khôn g chỉ đ ạ i diện cho một giải

p h áp k h á c trong việc giải thoát dân tộc minh khỏi ách ỉĩgoại hang, m à vào lúc đó, là một giải p h á p duy nhất

có th ể có đối với vấn đề đ ấ t nước"^'^\

Nhưng khi Hồ Chí Minh đến Matxccrva (7-1923) với

tư cách đại biểu chính thức duy nhất được Chủ tịch đoàn Quôc tế Cộng sản mời tham dự Đại hội V - QTCS (17

- 6/8-7-1924) thì V.LLê-nin qua đời Trong nội bộ Đảng Cộng sản Liên Xô bắt đầu diễn ra một chuỗi đấu tranh nội bộ (còn kéo dài suôt thế kỷ XX), tranh giành quyền lực phe phái nặng nề Stalin ngày càng tập trung quyền lực, đàn áp thanh trừng những người khác mình, buộc các Đảng Cộng sản và phong trào cách mạng thế giới phải đi theo đường lôi thuyết tả khuynh cực đoan về đấu tranh giai cấp chuyên chính vô sản, Bônsêvich hóa phong trào Cộng sản quôc tế, chính quyền công nông cách mạng thổ địa Học thuyết Mác bị tước mất tính sáng tạo biện chứng và tính thực tiễn Một thực tế lịch sử không thể

tỏ qua là, thuở ban đầu sau khi thành lập QTCS (3-1919), hầu hết phong trào cách mạng, các Phân bộ (Section)

(■) Toàn tập, 1, trang 469.

(2) John Lê Ván Hóa, sđd, trang 28-30.

Trang 28

của QTCS, rồi các Đảng Cộng sản đều phải tìm chỗ dựa

ở Liên Xô và Q.T.C.S chứ không riêng gì Hồ Chí Minh

và phong trào cách mạng Việt Nam Do đó, không có gì

lạ khi QTCS và Liên Xô bắt đầu tác động tới cách mạng Việt Nam về đường lôl và cả về tổ chức nhân sự, muôn thay thế vai trò Hồ Chí Minh, hướng cách mạng Việt Nam theo "đường lối cách m ạng vô sản quốc tế ” do Stalin chi phối Việc "bổ sung" học thuyết Mác cũng như tầm nhìn sáng tạo mang đầy đủ tính chất chiến lược của Hồ Chí Minh ảối với học thuyết Mác, đặc biệt đường lối cách mạng giải phóng dân tộc của Hồ Chí Minh xuất phát từ sự bổ sung và theo như trình bày trong "Báo cáo uề B ắ c kỳ, Trung kỳ và N am kỳ" vừa phân tích trên kia, hoàn toàn không được Stalin và QTCS đồng tình và ủng hộ Và cũng vì thế, các hoạt động của Hồ Chí Minh trước và sau Đại hội V - QTCS, đặc biệt là ý định Hồ Chí Minh mong muốn sớm trở về với cách mạng Việt Nam gặp không ít trở ngại Nhưng "chản lý bỏ xuống nước kh ôn g chìm'\ cuôi cùng, nhờ Dimitri Dakhailôvich Manuinski (1883-1959), một ủ y viên Ban chấp hành QTCS đồng thời là ủ y viên Ban chấp hành Đảng c s Liên Xô, tìm cách tranh thủ Đoàn Chủ tịch QTCS chấp thuận bổ sung Hồ Chí Minh vào ban Phương Đông và cử về hoạt động ở Trung Quô"c Hồ Chí Minh mới có điều kiện bắt tay thực hiện chiến lược đã định Trong quyết định Manuinski trưc tiếp trao cho Hồ Chí Minh có ghi ’’Nguyền

Ái Quốc thay m ặt QTCS, đ ạ i d iện toàn quyền của QTCS tại Viễn Đông\ Từ đó đến năm 1943, đó là chức vụ chính thức mà Hồ Chí Minh đã giữ để hoạt động Ngày 11-11-1924, Hồ Chí Minh đến Quảng Châu và từ đó, trực

Trang 29

tiêp định hướng và lãnh đạo Cách mạng Việt Nam theo chiến lược đã định, từ tuyên truyền, tập hợp lực lượng, đào tạo cán bộ đến xây dựng tổ chức cách mạng, thúc đẩy phong trào cách mạng ở trong nước, xây dựng các quan hệ quôc tế, gắn Việt Nam với thế giới, kết hợp dân tộc với thời đại Toàn bộ hoạt động của Hồ Chí Minh từ 1924 đến 1945 (sử sách đã viết nhiều, chúng tôi xin phép không nói lại) đã trực tiếp dẫn thẳng tới Cách Mạng Tháng Tám 1945 Điều chúng tôi muôn nhấn mạnh ở đây là, tuy là "một cuộc khởi nghĩa quần chúng được chuẩn bị trong quần chúng, n ổ ra trong thành p h ố

Tháng Tám diễn ra hoàn toàn khác quan điểm chính thông mà QTCS bàn định suốt từ 1919 đến 1943.

Cách mạng Tháng Tám diễn ra không trông chờ nhờ cậy vào bất cứ thế lực bên ngoài nào kể cả Liên Xô năm 1945 và "Cách mạng vô sản" ở chính quốc Pháp v.v Cách mạng tháng Tám đã được chuẩn bị chu đáo

cả về đôi nội lẫn đôi ngoại (được đảm bảo tính pháp lý quôc tế) Sự chuẩn bị chu đáo tạo điều kiện chớp thời

cơ Và một khi đã chớp được thời cơ kịp thời đúng lúc thì lực lượng quần chúng, sức mạnh của một dân tộc đã được chính trị hóa theo tư tưởng Hồ Chí Minh "Không

có gì quí hơn độc lập tự do", hoàn toàn đủ sức giành chính quyền mà không phải dùng đến tác chiến quân sự

để lập ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa 2/9/1945.

(1) John Lê Vãn Hóa, sđd, trang 28-30.

Trang 30

Sinh thời, Mác không đưa ra lời giải sẵn nào cho các vấn đề của các thế hệ sau, nhưng đã để lại cho thế

hệ sau "phương pháp làm việc biện chứng" và đặc biệt

là quan điểm thực tiễn Trí tuệ phi thường của Hồ Chí Minh đã sớm nhận diện và vận dụng học thuyết Mác

để phân tích cụ thể vấn đề giải phóng dân tộc theo

"phương p h á p làm việc biện chứng" và quan điểm thực tiễn đó.

ở đây, có thể chú ý thêm rằng tầm nhìn chiến lược của Hồ Chí Minh đã trở thành phong cách và tư duy

Hồ Chí Minh Chẳng hạn, tập hợp toàn dân đoàn kết chống Pháp vừa được hơn một nàm, giữa năm 1947, Hồ Chí Minh thấy cần phải "sửa đổi lối làm việc". Hồ Chí Minh nói thẳng và yêu cầu sửa chữa một thực tế của cán bộ khi vận dụng lý luận đấu tranh giai cấp của Mác vào Việt Nam như sau: "Nghe người ta nói g iai cấp đấu tranh m ình cũng ra kh ẩu hiệu giai cấp đ ấu tranh, m à

k h ôn g xét hoàn cảnh nước mình như th ế nào đ ể làm cho đúng"^'^\

Đó là về quan hệ giai cấp Còn đôi với quan hệ giữa người với người thì một năm trước khi qua đời, Hồ Chí Minh khẳng định: "Hiểu chủ nghĩa Mác ~ L ên ỉn là p h ả i sống với nhau có tình có nghĩa, N ếu thuộc bao nhiêu sách m à sống khôn g cố tình có nghĩa thì sao g oi là hiểu chủ nghĩa Mác - Lênin được!"^^\

(1) Toàn tập, 1, 1995, trang 468-469.

(2) Toàn tập IV, 1984, trang 491.

Trang 31

Tầm nhìn sáng tạo của

HỒ CHÍ MINH

<hi tiêp nhận học thuyết Mác

HOÀNG VÃN LẦN

Không lâu trước khi qua đời (2-9-1969), Hồ Chí Minh

đã trả lời nhà báo người Mỹ Anna Louise Strong về quyết định "đi ra nước ngoài, xem nước Pháp và các nước khác” của mình, như sau:

"Những người Viẽt Nam, trong đó có cả cha tôij thường tự hỏi nước nào có th ể giúp p h á bỏ ách đô hộ của người Pháp Một s ố cho rằng N h ật Bản, những người

k h á c cho rằng nước Anh và một s ố kh ác lại cho rằng nước Mỹ Tôi cho rằng cần p h ả i ra nước ngoài đ ể tự tìm lấy câu trả lời cho mình Sau kh i tôi biết họ được sống ra sao, tôi sẽ trở về giúp đồn g hào m ìn h ”^^\

Đây là điều căn bản quyết định tầm nhìn sáng tạo

và chiến ]ược của Hồ Chí Minh Hồ Chí Minh đã ]ên đường với một hành lý trí tuệ với những thành tô" chủ yếu sau đây:

(1) William J Duiker, Hồ Chí Minh, Hyperion, New York, 2000.

Trang 32

1 Tư tưởng và văn hóa phương Đông, tóm lại là cả một nền văn minh phương Đông mà các sĩ phu yêu nước đầu thế kỷ trước đã gọi là "văn minh tĩnh" để đối chọi với vãn minh phương Tây được

họ gọi là "văn minh động".

2 Truyền thống độc lập của cộng đồng dân tộc Việt Nam với đỉnh cao là tư tưởng "các đế nhất phương" (mỗi bên làm đế một phương) được Nguyễn Trãi (1380-1442) xác định từ đầu th ế kỷ XV và tư tưởng để thắng địch thì cần phải hiểu địch vốn thường được N ^ y ễ n Sinh sắc nhắc nhở để giáo huấn Nguyễn Tất Thành.

3 Kinh nghiệm trong quá trình th ất bại của toàn

bộ các phong trào chống Pháp suốt nửa sau thế

kỷ X IX cho đến đầu thế kỷ XX, bất chấp những hành động oanh liệt, những hy sinh to lớn "trong cuộc đấu tranh tuyệt vọng của một dân tộc bị áp

B ìn h đẳng, B á c ái đươc nghe từ lúc 13 tuổi

Nhưng trong khi đó, bằng cách cản trở văn minh

và tiến bộ của dân tộc An Nam, người P h áp vĩnh

(1) Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb CTQG, HN 1995, tr.412

Trang 33

viễn đặt dân tộc này ra ngoài lể của nền văn minh th ế

Hồ Chí minh đã lên đường tới Pháp đ ể tìm hiểu tận nguồn bí quyết thành công của phương Tây và rất muốn làm quen với nền vần m inh Pháp, muốn tìm xem những gì bí ẩn đằn g sau những chữ Tự do, Bỉnh đẳng,

B ác ái ấy. Và chính sự "tìm hiểu tận nguồn" ấy đã thúc đẩy Hồ Chí Minh tự nguyện gia nhập vào hầu như toàn

bộ dời sông chính trị thế giới đang sôi động trên khắp hành tinh do Chiến tranh thế giới lần thứ nhất cùng với chấn động vạch thời đại của Cách mạng Tháng Mười Nga 1917 Có thể nói cơ sở của sự nghiệp cách mạng sau này của Hồ Chí Minh đã được định hình trong sưô"t

6 năm trường (từ 6-1911 đến 12-1917) Hồ Chí Minh liên tục xuyên các đại dương, các châu lục để khám phá thế giới cũ, phát hiện thế giới mới ấy.

Trong thời gian đi thăm nước Pháp, ngày 12-7-1946,

Hồ Chí Minh trong một cuộc họp báo có nhà báo hỏi:

"Thưa Chủ tịch, chúng tôi nghe nói Chủ tịch đã tuyên

bố rằng Chủ tịch có xu hướng cộng sản, nhưng có phải Ngài cho rằng nước Việt Nam chưa có thể cộng sản hóa được trước một thời hạn là 50 năm không?" Hồ Chí Minh đã trả lời như sau: "Tất cả ĩĩiọi người đều có quyền nghiên cứu mồt chủ nghĩa R iẽng tôi, tôi đ ã nghiền cứu chủ nghĩa Các Mác Cách đăy 2000 năm, Đức chúa Giè-su

(1 Phan Thị Minh, Phan Châu Trinh qua những tài liệu mới, Nxb

Đà Nẵng, 3-2001.

Trang 34

d ã nói là ta p h ả i yèu mến các kè thù của ta, Điều đó đến băy g iờ vẫn chưa thực hiện dược.

Còn k h i nào chủ nghĩa Các M ác được thực hiện thì tôi không th ể trả lời được, Muốn cho chủ nghĩa cộng sản thực h iện được, cần p h ả i có đ ất kỹ nghệ, đất nông nghiệp và tất cả m ọi người đều được p h á t triển h ết k h ả năng của mình, ơ nước chúng tôi, những đ iều kiện ấy chưa có

ở đây, có điều cần nhấn mạnh là, ở thời điểm bấy giờ, việc Hồ Chí Minh tiếp nhận học thuyết Mác hoàn toàn không phải là biệt lệ, ngay cả đô"i với người Việt Nam Cách mạng Tháng Mười Nga (7-11-1917) thắng lợi

đã trực tiếp dẫn tới sự ra đời của Quố^c tế cộng sản và các Phân bộ của QTCS: tấ t cả đã lôi cuốn các quốc gia, các dân tộc khắp hành tinh chúng ta vào một cao trào cách mạng mang tính thế giới Trong tình th ế đó, việc tiếp nhận học thuyết Mác đã trở thành một hiện tượng phổ biến không những ở các nước châu Âu và Bắc Mỹ

mà còn ở các quô"c gia cũ và mới phân chia theo điều ước Versailles (1919) nằm trong hệ thông thuộc địa thế giới từ châu Á sang châu Phi, châu Mỹ la tinh nữa Nhưng ở đây, điều cũng không thể không nhấn mạnh

là, chính do xuất phát từ tư thế và hành lý trí tuệ, hành trang tinh thần (còn được bổ sung bằng quá trình khám phá thế giới cũ, phát hiện th ế giới mới vừa nèu) trên đây, mà, cách tiếp cận học thuyết Mác của Hồ Chí Minh - khác với nhiều nhân vật lịch sử cùng thời - đã

(1) Bảo Cứu quốc số 292, ra ngày 15-7-1946.

Trang 35

mang tính chất sáng tạo - chiến lược, và chính điều này s-ẽ quyết định con đường phát triển thắng lợi của cách mạng giải phóng dân tộc ở Việt Nam.

Đại hội thành lập Quốc tế Cộng sản (3-1919) đã xác định khẩu hiệu chiến lược "Vô sản tất cả các nước và các dân tộc bị áp bức đoàn kết lại" Nhưng việc thực thi khẩu hiệu đó đã gặp khó khàn ngay cả trong phong trào cộng sản, gây ra bởi một quan niệm truyền thông

có tính chất phân biệt đối xử giữa chính quô"c và thuộc địa, về màu da, có khi còn được mệnh danh là giữa "văn minh" và "lạc hậu" Ây là chưa kể tới chủ trương cho rằng, cách mạng vô sản ở chính quô"c thành công đã, rồi sẽ quay lại giúp cho sự thắng lợi của cách mạng giải phóng thuộc địa v.v Tóm lại là, việc giải phóng các dân tộc thuộc địa phụ thuộc vào - hay nói cách khác là phải chờ đợi - sự thành công của cách mạng vô sản ở chính quôc Nhưng chờ đợi đến bao giờ? Trong một cuộc trao đổi chính trị vào lúc 21 giờ ngày 19-12-1919 tại nhà luật sư Phan Văn Trường, sô" 6 Villa des Gobelins

ở Paris, Hồ Chí Minh đã nhận xét: "Từ 60 năm qua dân An N am đ ã chờ đợi sự thay đổi Nếu trong dân

có mấy người lèn tiếng đ ể làm cho n hà cầm quyền cấp trển biêt các điều khẩn cầu và tình cảnh khốn đốn của

họ đ ể yểu cầu các biện p h á p kh ắc phục, thì người ta trả lời họ bằng lao tù, lưu đầy và án tử hình Nếu ta chi trông chờ vào lòng tốt của chính phủ P háp đ ể thay đổi tình trạng hiện nay thì p h ả i trông đợi khôn g biết đến bao gíờ!., Họ khôn g muốn coi ta là giống người Sống bị nhục m ạ và bạc đ ãi trên trái đ ất này thì thật

là vô ích Hễ người ta còn tước đoạt của chúng ta các

Trang 36

công quyền và quyền chính trị thì người ta sẽ còn coi chúng ta như những kề thù, như những nô Rồi tới tháng 5 năm 1921, dưới đề mục Đông Dương trên tạp chí L a Revue communiste s ố 15 (5-1921), Hồ Chí Minh đã trực tiếp đề xuất quan điểm của mình về các vấn đề trên:

”C h ế độ cộng sản có áp dụng được ở châu Á nói chung và ở Đông Dương nói riêng hay không? Đó là vấn

đ ể m à chúng ta đang quan tâm hiện nay.

Muốn hiểu vấn đề, chúng ta p h ả i xem xét tình hìn h hiện nay ở lục đ ịa châu A về m ặt lịch sử và đ ịa lý.

B ây giờ chúng ta hãy xét những lý do lịch sử cho p h é p chủ nghĩa cộng sản thâm nhập vào châu Ả d ễ dàn g hơn là ở châu Ảu.

Người châu Á m ặc dù bị người phương Tây coi là lạc h ậ u - vẫn hiểu rõ hơn hết sự cần thiết của một cuộc cải cách toàn bộ xã h ội hiện nay Và đây là lý do tại sao.

Gần 5000 năm trước đây, H oàng đ ế (2679 năm trước CN) đ ã thi h àn h c h ế độ tỉnh điền: chia mỗi vùng đ ất trồng trọt bằng cách vạch ra hai đường dọc và hai đường ngang N hư th ế là thành chín p h ầ n bằng nhau, Mỗi người cày ruộng được lĩnh m ột trong tám p hần , còn p h ầ n

ở giữa thì tất cả tám người đều cùng làm và sản p h ẩ m thì được dùng vào những việc thuộc lợi ích công cộng Các đường vạch p h â n giới dọc và ngang được dùng làm mương d ẫn nước tới.

(1) Báo Cứu quốc số 292, ra ngày 15-7-1946,

Trang 37

Triều d ạ i nhà H ạ (2205 trước CN) m ở đầu c h ế độ

la o động nghĩa vụ.

K hổn g Tử vĩ đ ạ i (551 trước CN) khởi xướng thuyết

Đ ại đồn g và thuyết Giáo sự bình đẳn g về tài sản Ngài

n h ấn m ạn h : Cảnh tượng thái binh trèn th ế giới này chỉ xuất h iện kh i th ế giới đ ại đồng, Người ta khôn g sợ thiếu

m à chỉ sợ kh ôn g đồn g đều Sự đồng đều sẽ xóa bỏ sự nghèo k h ó v.v.,.

Đồ đ ệ của N gài là M ạnh Tử đ ã k ế tục học thuyết

củ a N gài và đ ã vạch ra một k ế hoạch chi tiết về tổ chức sản xuất và tiêu dùng Sự bảo dưỡng và p h á t triển

là n h m ạn h của trễ em, g iáo dục và lao động nghĩa vụ

củ a người lớn, lẽn án nghièm k h ắc thói ăn bám, chăm

lo sự nghỉ ngơi của người cao tuổi, khôn g một diều nào trong các điều ấy bị bỏ qua trong luận thuyết của M ạnh

Tử Thủ tièu sự bất bình đẳn g về hưởng thụ, phú c lợi

kh ôn g p h ả i chỉ cho một s ố đông m à cho hết thảy mọi người, đó là chính sách kinh tế của vị minh triết ấy

T rả lời một câu h ỏi của nhà vua M ạnh Tử nói một cách thẳng thắn rằng: Lợi ích của d ân chúng là trước hết, Thứ đến là lợi ích của quốc gia Còn lợi ích của

n h à vua thì kh ôn g đ ản g kể!

Về tài sản tư hữUy luật p h á p An N am cấm mua bán toàn bộ đ át đữi Hơn nữa, một p h ẩ n tư đ ấ t trồng trọt bắt buộc p h ả i đ ể làm của chung, Cứ ba năm người ta

ch ia lại ruộng đ ấ t đó Mỗi người d ân trong xã thôn được nhận một phần , Điều dó khôn g h ề ngăn cản một s ố người trở nẽn g iàu cóy vì còn ba p h ẩ n tư đất đai k h ác

Trang 38

có th ể mua bán, nhưng nó có th ể cứu nhiều người k h ác thoát k h ỏi cảnh bần cùng'^^\

Trong "Những lý do lịch sử cho phép chủ nghĩa cộng sản thâm nhập vào châu Á de dàng hơn là ở châu Âu",

Hồ Chí Minh nêu lên "thuyết đại đồng", phép tỉnh điền, chế độ công điền ở Việt Nam, tư tưởng nhân chính của Mạnh Tử Như vậy là, thấm nhuần giá trị sâu sắc của

tư tưởng và văn hóa phương Đông, từ quá khứ phương Đông cũng như từ quá khứ dân tộc Việt Nam, từ "chủ nghĩa truyền thông được thể thức hóa"*'^^ được coi như một nguồn lực dân tộc, Hồ Chí Minh đã đem tấ t cả đôi chiếu với tư tưởng và văn hóa phương Tây ngay ở nơi

mà Phan Chu Trinh (1872-1926) đã thực hiện cuộc ăối

thoại thứ giữa hai nền văn minh phương Đông và phương Tây Kết quả là Hồ Chí Minh, đã cùng một lúc gặp nhân loại cũ của thế giới cũ và phát hiện ra nhân loại mới của thế giới mới để rồi kiên định suô"t đời đứng

về phía nhân loại mới nhằm tìm đường giải phóng và phát triển cho dân tộc và nhân loại cần lao Rõ ràng

là, ngay khi tiếp cận với học thuyết Mác, bằng một tầm

(1) Toàn tập, I, tr.33-35.

(2) John Lê Vãn Hóa, Tìm hiểu nền tảng văn hóa dân tộc trong

tư tưởng cách mạng Hồ Chí Minh Trường Đại học Tổng hợp

Northwestern, xuất bản tại Ư.M.I.Michigan - USA, 1989, Nguyễn Việt Long dịch, Nxb Hà Nội, 2003, tr.27.

(3) Cuộc đối thoại thứ nhất được thế hệ Nguyễn Trường Tộ thực hiện ở nửa sau thế kỷ XIX Cuộc đối thoại thứ hai được thế

hệ các sĩ phu Đông Kinh nghĩa thục và các sĩ phu Duy tân đầu thế kỷ XX thực hiện Cuộc đối thoại thứ ba do Nguyễn

Ái Quốc thực hiện trong quá trình tiếp nhận học thuyết Mác.

Trang 39

nhìn sáng tạo, Hồ Chí Minh đã có thể xác định cho mình một chiến lược hành dộng để thực hiện lý tưởng giải phóng và phát triển Cho đến khi "từ biệt thế giới nàv" (2-9-1969), tầm nhìn, ý chí và tài trí phi thường của Hồ Chí Minh đều thống nhất về chiến lược đó, và

đã chuyển hóa thành tình cảm "ham muôn, ham muốn

tộ t bậc"^^^ của một đời người.

Mặc dù thời bấy giờ, các tác phẩm của Mác về các

x ã hội tiền tư bản chưa ấn hành và mặc dù không dùng khái niệm tiền tư bản nhưng dựa vào một năng lực phân tích so sánh lịch sử giữa "châu Á đau khổ" và "châu Âu văn minh" ngay từ năm 1921, Hồ Chí Minh đã nhận ra tính chất tiền tư bản của xã hội châu Á và của xã hội Việt Nam Và chính tại đây, ngay khi đặt vấn đề xác định chiến lược giải phóng và phát triển thì Hồ Chí Minh đã lập tức trực tiếp phát hiện ra khoảng cách về

cách đó còn là tổ chức xã hội dân sự với những thiết chế thuộc thời đại tư bản chủ nghĩa mà xã hội Việt Nam chưa đạt tới, cũng tức là những thiết chế (của làn sóng vãn minh công nghiệp) xác lập "điều kiện cơ bản"

về dân quyền và quyền con người:

"Cái thiếu đối với chúng tôi, m à trách nhiệm của chúng tôi p h ả i nói lên đây đ ể những đồng ch í của chúng ta thực tâm muốn giúp đỡ những người lao động lật

đ ổ ách của những kè bóc lột đ ể cho những đồng chí

(1) Toàn tập, IV, Nxb Sự thật Hà Nội 1984, tr 100.

(2) Toàn tập, I 1995 tr.464.

Trang 40

đó có th ể giúp đ ờ chúng tôi một cách có hiệu quả Cái

m à chúng tôi thiếu đ ế trở thành cộng sảriy là những điều kiện cơ bản n hất đ ể hàn h động:

vô sản ở các nước công nghiệp Tây Âu và Bắc Mỹ, có thuộc địa khắp hành tinh là chủ thể đóng vai trò quyết định tiến trình phát triển Thắng lợi của cách mạng chính quôc là điều kiện tiên quyết cho công cuộc giải phóng thuộc địa Nhận thức rõ nhược điểm của cách mạng phương Đông cũng như của Việt Nam là sự cô lập trong khi tư bản chính quôc thì liên kết thành hệ thông,

Hồ Chí Minh tìm chỗ dựa quôc tế và ra sức liọc hỏi nhiều từ tư tưởng phương Tây trong đó có học thuyết Mác Nhưng với hành lý trí tuệ, với ý thức thường trực

về bản thân lịch sử và nguồn lực của dân tộc như đã trình bày ở trên, ngay trong khi tìm chỗ dựa quôc tế ở phong trào cộng sản và phong trào công nhân, Hồ Chí Minh vẫn tự xác định được niềm tin bất di bất dịch vào cách mạng giải phóng dân tộc và chủ trương rằng cách mạng ở chính quôc và thuộc địa có tác dụng tương hỗ

(1) Toàn tập, I, tr.33-36

Ngày đăng: 12/05/2021, 19:43

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w