NGUYÊN TẮC ĐẠI ĐOÀN KẾT TRONG TƯ TƯỞNG HÔ CHÍ MINH VỀ GIẢI QUYẾT MỐI QUAN HỆ GIỮA CỘNG ĐỒNG CÁC DÂN TỘC VIỆT NAM .... Chương 2:THÁI NGUYÊN VẬN DỤNG NGUYÊN TẮC ĐẠI ĐOÀN KẾT CỦA HỒ CHÍ MIN
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Hà Nội – 2014
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Mã số: 60.31.27 Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Hoàng Chí Bảo
Hà Nội – 2014
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới
sự hướng dẫn khoa học của GS.TS Hoàng Chí Bảo Các công trình nghiên cứu
trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình
nghiên cứu nào
Thái Nguyên, ngày 02 tháng 11 năm 2014
Tác giả
Đinh Thị Hiển
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN 1
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do lựa chọn đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu 3
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 5
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 5
5 Đóng góp mới của luận văn 5
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn 6
7 Kết cấu của luận văn 6
NỘI DUNG 7
Chương 1: TƯ TƯỞNG ĐẠI ĐOÀN KẾT CỦA HỒ CHÍ MINH TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT MỐI QUAN HỆ GIỮA CỘNG ĐỒNG CÁC DÂN TỘC 7
1.1 GIẢI QUYẾT QUAN HỆ DÂN TỘC TRONG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH 7
1.1.1 Một số vấn đề lý luâ ̣n về dân tộc , quan hệ dân tô ̣c và chính sách dân tô ̣c 7
1.1.2 Hồ Chí Minh vớ i dân tô ̣c, quan hê ̣ dân tô ̣c và chính sách dân tô ̣c 10 1.2 NGUYÊN TẮC ĐẠI ĐOÀN KẾT TRONG TƯ TƯỞNG HÔ CHÍ MINH
VỀ GIẢI QUYẾT MỐI QUAN HỆ GIỮA CỘNG ĐỒNG CÁC DÂN TỘC VIỆT
NAM Error! Bookmark not defined
1.2.1 Đại đoàn kết và đa ̣i đoàn kết các dân tô ̣c trong tư tưởng Hồ Chí Minh Error! Bookmark not defined.
1.2.2 Cơ sở, sự hình thành phát triển, vị trí và ý nghĩa của nguyên tắc đại đoàn
kết các dân tộc trong tư tưởng Hồ Chí Minh Error! Bookmark not defined
Chương 2:THÁI NGUYÊN VẬN DỤNG NGUYÊN TẮC ĐẠI ĐOÀN KẾT CỦA
HỒ CHÍ MINH TRONG GIẢI QUYẾT MỐI QUAN HỆ GIỮA CỘNG ĐỒNG
CÁC DÂN TỘC Error! Bookmark not defined
2.1 Cộng đồng các dân tô ̣c tỉnh Thái Nguyên Error! Bookmark not defined 2.1.1 Điều kiện tự nhiên Error! Bookmark not defined 2.1.2 Điều kiện kinh tế-xã hội Error! Bookmark not defined
Trang 52.2 Thực trạng thực hiện nguyên tắc đại đoàn kết của Hồ Chí Minh trong việc
giải quyết mối quan hệ giữa các dân tộc tại Thái Nguyên Error! Bookmark not defined.
2.2.1 Đảng bộ và chính quyền tỉnh Thái Nguyên chỉ đa ̣o vâ ̣n du ̣ng nguyên tắc
đa ̣i đoàn kết trong giải quyết quan hê ̣ dân tô ̣c, phát triển các dân tộc thiểu số
Error! Bookmark not defined
2.2.2 Thành tựu và hạn chế trong việc vận dụng nguyên tắc đại đoàn kết của
Hồ Chí Minh giải quyết quan hệ dân tộc tại Thái Nguyên Error! Bookmark not defined.
2.3 Phương hướng và một số giải pháp chủ yếu để thực hiện vận dụng nguyên tắc đại đoàn kết Hồ Chí Minh trong giải quyết mối quan hệ trong cộng đồng các
dân tộc tỉnh Thái Nguyên Error! Bookmark not defined 2.3.1 Phương hướng Error! Bookmark not defined
2.3.2 Một số giải pháp chủ yếu Error! Bookmark not defined KẾT LUẬN Error! Bookmark not defined
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 11
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do lựa chọn đề tài
Là nhà tư tưởng, nhà văn hóa kiệt xuất của dân tộc, Hồ Chí Minh đã để lại cho chúng ta một di sản vô giá, một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, từ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân tới cách mạng xã hội chủ nghĩa
Tư tưởng Hồ Chí Minh là thành quả quá trình đấu tranh cách mạng hơn 6 thập kỷ của Người, trong đó có 30 năm Người bôn ba nước ngoài, tìm tòi và trải nghiệm thực tiễn, đúc rút và kế thừa những tinh hoa văn hóa của nhân loại và dân tộc, đồng thời hơn 2 thập kỷ từ khi Người về nước, trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam cho đến khi Người ra đi vào cõi vĩnh hằng Trên cuộc hành trình tìm đường cứu nước, Người không chỉ tìm thấy con đường cách mạng vô sản mà còn thấy cả nguồn gốc sức mạnh dân tộc – cách thức thực hiện thành công cuộc cách mạng dân tộc giải phóng, giành độc lập dân tộc và tiến lên chủ nghĩa xã hội Nhận thấy sự nghiệp cách mạng của dân tộc phải là sự nghiệp do dân tộc tự giải phóng, tin tưởng vào sức mạnh to lớn của quần chúng nhân dân, Hồ CHí Minh khẳng định
chiến lược cách mạng Việt Nam phải là chiến lược đại đoàn kết dân tộc:
“Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết
Thành công, thành công, đại thành công”
Tư tưởng, nguyên tắc, phương pháp đại đoàn kết dân tộc trở thành nội dung xuyên suốt, nhất quán trong lý luận và thực hành lý luận của Hồ Chí Minh Và chính Người cũng trở thành biểu tượng , người “nhạc trưởng” của khối đại đoàn kết các dân tộc Việt Nam Đại đoàn kết dân tộc cũng trở thành nội dung căn bản trong tư tưởng chính trị Hồ Chí Minh và trở thành đường lối chỉ đạo chiến lược của Đảng và Nhà nước , là cội nguồn sức mạnh làm nên mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam Nhờ đoàn kết toàn dân theo tư tưởng Hồ Chí Minh mà chúng ta
đã giành được thắng lợi trong cách mạng giải phóng dân tộc, thống nhất nước nhà
và bước đầu xây dựng chủ nghĩa xã hôi Việc giải quyết đúng đắn mối quan hệ dân tộc theo nguyên tắc đại đoàn kết của Hồ Chí Minh đã giúp chúng ta giữ vững ổn định chính trị một cách tích cực, lành mạnh, thực hiện dân chủ, từng bước đưa đất nước phát triển, nhân dân được hưởng quyền làm chủ, hưởng độc lập tự do và hạnh phúc, đoàn kết để đồng thuận xã hội, đồng thuận giữa công đồng các dân tộc
Thực tiễn cách mạng hơn 80 năm qua đã chứng minh giá trị, sức sống của
tư tưởng đại đoàn kết Hồ Chí Minh: lúc nào, nơi nào tư tưởng đại đoàn kết Hồ Chí
Trang 7Minh được quán triệt và thực hiện đúng thì khi đó, nơi đó cách mạng phát triển mạnh mẽ thuận lợi; lúc nào nơi nào xa rời những nguyên tắc đoàn kết Hồ Chí Minh thì khi đó, nơi đó cách mạng gặp nhiều khó khăn, tổn thất Trung thành và kiên định đi theo ngọn cờ đại đoàn kết Hồ Chí Minh, nghiên cứu để kế thừa, vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng của Người là một trong những nhân tố quan trọng giúp chúng ta vượt qua mọi khó khăn, thử thách, hoàn thành nhiệm vụ, góp phần xây dựng thành công một nước Việt Nam to đẹp hơn, đàng hoàng hơn, sánh vai cùng các cường quốc năm châu như điều mà Bác Hồ hằng mong muốn
Tỉnh Thái Nguyên với 8 dân tộc chủ yếu sinh sống được biết đến là trung tâm chính trị, kinh tế của vùng trung du miền núi Đông Bắc, là cửa ngõ giao lưu kinh tế xã hội giữa vùng trung du miền núi phía Bắc với vùng đồng bằng Bắc Bộ Trong những năm gần đây tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh đã có bước phát triển tiến bộ to lớn, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân không ngừng được nâng cao Tuy nhiên đồng bào các dân tộc trong tỉnh cũng đang phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức như: thiên tai, dịch bệnh; kết cấu cơ sở hạ tầng, nhất là kết cấu hạ tầng khu vực nông thôn miền núi vẫn còn thiếu và xuống cấp; chênh lệch mức sống giữa thành thị - nông thôn, giữa đồng bào đa số - thiểu số gia tăng; khoảng cách giàu nghèo ngày một lớn; nảy sinh các vần đề xã hội bức xúc chưa được giải quyết…
Sự nghiệp đổi mới vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh đang mở ra cơ hội phát triển to lớn cho nhân dân cả nước trong đó
có nhân dân các dân tộc tỉnh Thái Nguyên Hiện nay, khi công cuộc đổi mới được triển khai trên quy mô rộng lớn và đi vào chiều sâu, nước ta cũng đang đứng trước những nguy cơ thách thức cần phải vượt qua Việc tập hợp mọi lực lượng, thực hiện tốt chính sách đại đoàn kết dân tộc, kết hợp hài hòa lợp ích cá nhân với lợi ích tập thể, chăm lo lợi ích thiết thực, chính đáng, hợp pháp của các tầng lớp nhân dân, các dân tộc trong tỉnh góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa đang là nhiệm vụ chiến lược trong giai đoạn hiện nay
Tình hình trên đây đòi hỏi Đảng bộ, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và nhân dân các dân tộc tỉnh Thái Nguyên hơn bao giờ hết phải giương cao ngọn cờ đại đoàn kết của Chủ tịch Hồ Chí Minh, thực hiện bình đẳng, đoàn kết, hợp tác, tương trợ, nhằm đem lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân lao động các dân tộc Với mong muốn góp phần nghiên cứu vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn cấp
bách nói trên tác giả đã chọn vấn đề: “Vận dụng nguyên tắc đại đoàn kết của Hồ Chí
Trang 8Minh trong việc giải quyết mối quan hệ giữa cộng đồng các dân tộc tỉnh Thái Nguyên hiện nay”, làm đề tài luận văn thạc sỹ chuyên ngành Hồ Chí Minh học.
2 Tình hình nghiên cứu
Thân thế – cuộc đời – sự nghiệp – tư tưởng của Hồ Chí Minh đã được quan tâm, nghiên cứu từ rất sớm và đến nay đã có hàng trăm công trình, hàng nghìn bài viết của nhiều học giả trong và ngoài nước Là một trong những nội dung quan trọng trong hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh, vấn đề dân tộc và Đại đoàn kết dân tộc trong những năm qua luôn được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm và được các nhà khoa học ở nước ta nghiên cứu từ nhiều khía cạnh và góc độ khác nhau Trong
đó nổi lên là những vấn đề sau:
Một số công trình nghiên cứu về vấn đề dân tộc và đoàn kết dân tộc: Bế Viết
Đẳng (chủ biên), Các dân tộc thiểu số trong sự phát triển kinh tế- xã hội ở miền núi, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996; Vấn đề dân tộc và chính sách dân tộc của
Đảng Cộng sản Việt Nam, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2000; TS Nguyễn Quốc Phẩm
(chủ nhiệm), Giải quyết các quan hệ tộc người ở Việt Nam trong thời kỳ đẩy mạnh
công nghiệp hoá, hiện đại hoá, Đề tài cấp bộ, năm 2001-2002; Xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số ở nước ta trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá , hiện đại hoá - Luận cứ và giải pháp, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội, 2005; GS.TS Hoàng
Chí Bảo, Bảo đảm bình đẳng và tăng cường hợp tác giữa các dân tộc trong phát
triển kinh tế xã hội ở nước ta hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009
Một số đề tài nghiên cứu về vấn đề tư tưởng đại đoàn kết dân tộc của Hồ Chí
Minh: PGS.PTS Trịnh Nhu (chủ biên), Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc và
cách mạng giải phóng dân tộc, Đề tài cấp Nhà nước mã số KX 02 - 12 (1991-1995);
Nguyễn Khánh Bật, Bùi Đình Phong, Hoàng Trang (đồng chủ biên), Tư tưởng đại
đoàn kết Hồ Chí Minh, Nxb Nghệ An, 1995; Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam,
Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc và Mặt trận dân tộc thống nhất, Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996; Uỷ ban Dân tộc miền núi, Học viện Chính trị
quốc gia Hồ Chí Minh, Bước đầu tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc
Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996; PGS Phùng Hữu Phú (chủ biên), Chiến lược đại đoàn kết Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998;
Nguyễn Bích Hạnh và Nguyễn Văn Khoan, Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết
và mặt trận đoàn kết dân tộc, Nxb Lao động, Hà Nội, 1999; Tư tưởng Hồ Chí Minh
về đại đoàn kết với vấn đề phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong thời
kỳ đổi mới, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004; Bác Hồ với đồng bào các dân tộc, Nxb Thông tấn, Hà Nội, 2006
Trang 9Một số luận án , luâ ̣n văn nghiên cứu về vấn đề dân tộc và đoàn kết dân tộc :
Nguyễn Xuân Thông, Tư tưởng đại đoàn kết của chủ tịch Hồ Chí Minh và sự thể hiện
trong cách mạng Việt Nam, thời kỳ 1930-1945, Luận án tiến sĩ Chính trị học, Học viện
Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 1995; Vũ Thị Thủy, Tư tưởng Hồ Chí Minh
về bình đẳng dân tộc và thực hiện bình đẳng dân tộc ở tỉnh Thái Nguyên trong sự nghiệp đổi mới, Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Hồ Chí Minh học, Học viện chính trị
quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2006; Ngô Minh Hoàng, Đoàn kết các dân tộc thiểu số
trong tư tưởng Hồ Chí Minh với việc xây dựng khối đại đoàn kết các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên hiện nay, Luâ ̣n văn Tha ̣c sĩ chuyên ngành Hồ Chí Minh ho ̣c , Học viện
Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2007…
Ngoài các công trình khoa học, các đề tài và luận văn trên, còn có nhiều bài báo khoa học nghiên cứu về tư tưởng đại đoàn kết của Hồ Chí Minh và những vấn
đề liên quan đến đại đoàn kết các dân tộc trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam đã
được đăng tải trên nhiều tạp chí: Quan điểm của Hồ Chí Minh về các tộc người
thiểu số và quan hệ tộc người ở Việt Nam của TS Lê Văn Phụng , Tạp chí Lịch sử
Đảng, số 4/2011; Mấy vấn đề về dân tộc thiểu số ở nước ta của GS TS Hoàng Chí
Bảo, tạp chí Lý luận chính trị, số 5/2007…
Trong những năm gần đây, rất nhiều cuộc hội thảo quốc gia, quốc tế có ý nghĩa quan trọng trong nghiên cứu toàn diện về Chủ tịch Hồ Chí Minh Tiêu biểu như: Hội thảo quốc tế nhân dịp kỷ niệm lần thứ 100 ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí
Minh với chủ đề Chủ tịch Hồ Chí Minh - Anh hùng giải phóng dân tộc Việt Nam,
Nhà văn hóa lớn tại Việt Nam (1990); Hội thảo quốc tế Hồ Chí Minh – Việt Nam – Hòa bình thế giới tại Ấn Độ tổ chức (1991); Hội thảo do Ủy ban Dân tộc và Miền
núi tổ chức với chủ đề Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc ở Việt Nam (1996)
Hội thảo khoa học quốc tế với chủ đề Di sản Hồ Chí Minh trong thời đại ngày nay
tại Hà Nội (2010) Những hội thảo này đều có các tham luận liên quan tới tư tưởng, nguyên tắc và việc vận dụng tư tưởng, nguyên tắc đại đoàn kết Hồ Chí Minh
Nhiều tác giả và công trình của nước ngoài cũng nghiên cứu về Hồ Chí Minh
như: Đồng chí Hồ Chí Minh của S.Afonin, E.Kobelev (1980); Hồ Chí Minh – Giải
phóng dân tộc và đổi mới của Furuta Motoo (1997); Hồ Chí Minh – Một cuộc đời
của GS William J.Duiker, (2000); cũng đều khẳng định giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung và nguyên tắc đại đoàn kết dân tộc của Người nói riêng
Những công trình nghiên cứu trên đã gợi mở nhiều vấn đề quan trọng giúp ích cho tác giả trong nghiên cứu đề tài để có thể kế thừa và vận dụng Tuy nhiên, vẫn còn ít những công trình chuyên khảo, những nghiên cứu có hệ thống nhằm giải
Trang 10quyết mối quan hệ giữa các dân tộc thuộc địa bàn trung du miền núi phía Bắc trên
cơ sở vận dung tư tưởng Hồ Chí Minh để phát triển kinh tế - xã hộc cho đồng bào các dân tộc Đặc biệt, cho đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên biệt
và toàn diện về vận dụng tư tưởng đại đoàn kết dân tộc của Hồ Chí Minh vào việc giải quyết mối quan hê ̣ giữa các dân tô ̣c ở Thái Nguyên Tác giả qua luận văn này hi vọng đóng góp một phần nhỏ bé vào việc đi sâu nghiên cứu theo hướng trên
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu:
Phân tích và luận giải tư tưởng đại đoàn kết các dân tô ̣c của Hồ Chí Minh và vận dụng nguyên tắc đó vào việc giải quyết mối quan hệ trong cộng đồng các dân tộc ở tỉnh Thái Nguyên hiện nay
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:
Để thực hiện được mục đích trên, luận văn tập trung giải quyết những nhiệm
vụ sau đây:
- Nghiên cứu tư tưởng đại đoàn kết các dân tộc của Hồ Chí Minh và làm rõ những quan điểm có tính đi ̣nh hướng trong việc giải quyết mối quan hệ giữa c ác dân tộc - tộc người
- Đánh giá thực trạng việc triển khai vận dụng nguyên tắc đại đoàn kết các dân tộc vào giải quyết mối quan hệ trong cộng đồng các dân tộc theo tư tưởng của
Hồ Chí Minh tại Thái Nguyên từ năm 1997 đến nay
- Đề xuất phương hướng và giải pháp để tiếp tục vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh, phát huy sức mạnh đại đoàn kết các dân tộc ở Thái Nguyên hướng tới phát triển bền vững
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở lý luâ ̣n , phương pháp luận là quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về vấn đề dân tôc và quan hê ̣ dân tô ̣c , các văn kiê ̣n, Nghị quyết của Đảng về chính sách dân tộc
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành phù hợp với đặc trưng Hồ Chí Minh học: lịch sử - lôgíc; quy nạp - diễn dịch; phân tích - tổng hợp, so sánh; khái quát hoá, phương pháp liên ngành, điền dã… để làm rõ nội dung
cơ bản của đề tài
5 Đóng góp mới của luận văn
Luận văn là công trình nghiên cứu có hệ thống về các nguyên tắc đại đoàn kết của Hồ Chí Minh và sự vận dụng tại tỉnh Thái Nguyên trong giai đoạn hiện nay
Trang 116 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Ý nghĩa lý luận : Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần làm sáng tỏ mô ̣t số
nô ̣i dung cơ bản trong tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết các dân tô ̣c , giải quyết quan hê ̣ dân tô ̣c Đồng thời đề xuất một số phương hướng , giải pháp, bài học kinh nghiệm cu ̣ thể nhằm vâ ̣n du ̣ng tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết các dân tô ̣c trong điều kiê ̣n đẩy ma ̣nh công nghiê ̣p hóa, hiê ̣n đa ̣i hóa ở nước ta hiê ̣n nay
Ý nghĩa thực tiễn : Luận văn là tài liệu tham khảo cho công tác dân vận và các tổ chức làm công tác dân tộc ở Thái Nguyên Ngoài ra luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo trong việc nghiên cứu và giảng dạy một số chuyên đề Hồ Chí Minh học, Triết học ở bậc đại học và cao đẳng Luận văn cung cấp một tài liệu tham khảo cho Đảng , Nhà nước và tỉnh Đảng bộ Thái Nguyên trong lĩnh vực công tác dân tộc trên đại bàn tỉnh
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài Phần Mở đầu, Kết luận, và Danh mục tài liệu tham khảo, luận văn có kết cấu gồm 2 chương, 5 tiết
Trang 12NỘI DUNG Chương 1
TƯ TƯỞNG ĐẠI ĐOÀN KẾT CỦA HỒ CHÍ MINH TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT MỐI QUAN HỆ GIỮA CỘNG ĐỒNG CÁC DÂN TỘC
1.1 GIẢI QUYẾT QUAN HỆ DÂN TỘC TRONG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
1.1.1 Mô ̣t số vấn đề lý luận về dân tộc , quan hê ̣ dân tộc và chính sách dân tộc
Đi ̣nh nghĩa dân tộc
Dân tô ̣c là mô ̣t hiê ̣n tượng xã hô ̣i đă ̣c biê ̣t , được đề cập và nghiên cứu trong nhiều lĩnh vực khoa học thuộc khoa học xã hội - nhân văn như: triết học, tâm lý học, lịch sử, xã hội học, dân tộc học, nhân chủng học Vì là đối tượng nghiên cứu của nhiều bộ môn khoa học, mỗi môn khoa học lại tiếp cận, khai thác ở những khía cạnh khác nhau nên khái niệm "Dân tộc" đến nay vẫn còn nhiều ý kiến không thống nhất, cần tiếp tục thảo luâ ̣n
Trong tác phẩm "Chủ nghĩa Mác và vấn đề dân tộc", J.V Stalin định nghĩa
"Dân tộc là một khối cộng đồng người ổn định, thành lập trong lịch sử, dựa trên cơ
sở cộng đồng về tiếng nói, về lãnh thổ, về sinh hoạt kinh tế và về hình thành tâm lý, biểu hiện trong cộng đồng về văn hóa" [47, tr.357] Rất nhiều năm , đi ̣nh nghĩa này đươ ̣c sử du ̣ng như mô ̣t khái niê ̣m kinh điển cả trong và ngoài nước Tuy vâ ̣y, vẫn có nhiều nhà khoa học nước ta cho rằng, định nghĩa trên còn những điểm cần được bổ sung cho phù hợp với thực tiễn nhất là đối với những nước ở phương Đông , thực tiễn Việt Nam Đồng chí Lê Duẩn cũng từng nêu lên quan điểm cho rằng ở Việt Nam dân tộc hình thành từ khi lập nước chứ không phải đến khi chủ nghĩa tư bản nước ngoài xâm nhập vào Việt Nam…
Hiện nay , khái niệm dân tộc vẫn đang được hiểu và sử dụng không thống nhất trong giới khoa học cũng như trên các phương tiện thông tin đại chúng Những nghĩa cơ bản thường được sử dụng nhiều nhất là:
Thứ nhất, dân tộc được hiểu là một cộng đồng dân cư cùng sống trên lãnh thổ quốc gia xác định (nation), dưới sự điều hành của một nhà nước trung ương
thống nhất Theo nghĩa này thì tất cả các cư dân cùng sinh sống trên lãnh thổ nước
ta dù có khác nhau về ngôn ngữ, văn hóa, phong tục, tập quán nhưng có chung nhiệm vụ chính trị là xây dựng và bảo vệ đất nước thì đều thuộc về cộng đồng dân tộc - quốc gia Kiểu cộng đồng này rất phổ biến ở nhiều nước trên thế giới, nhất là các nước ở châu Á như Trung Quốc, Ấn Độ , Thái Lan, Lào Với nghĩa này , khi
Trang 13nói dân tộc Việt Nam, ta phải hiểu đó là để chỉ tất cả các cộng đồng cư dân sống trong nước Việt Nam được hình thành từ thời Hùng Vương, với một thể chế chính trị - xã hội nhất định, với một lãnh thổ, một tiếng nói giao tiếp chung, một ý thức tự giác của mỗi người là thành viên của dân tộc đó
Thứ hai, khái niệm dân tộc dùng để chỉ các tộc người (ethnic) Năm 1979,
nước ta đã công bố Bảng danh mục các thành phần dân tộc Việt Nam gồm 54 tộc người được xác định dựa vào ba tiêu chí: Có ngôn ngữ chung, có đặc trưng chung
về sinh hoạt văn hóa, có ý thức tự giác tộc người; trong đó, ý thức tự giác tộc người
được coi là tiêu chí quan trọng nhất Ví dụ như: dân tộc Tày, dân tộc Thái, dân tô ̣c
Mông, dân tộc Chăm, dân tộc Ê đê
Thứ ba, dân tộc dùng để chỉ những cộng đồng ít người không thuộc thành
phần đa số (ở nước ta dân tộc chiếm đa số là người Kinh, các dân tộc ít người là các dân tôc – tộc người thiểu số) Khái niệm này còn được dùng để đặt tên cho một số
tổ chức thuộc cơ quan nhà nước có liên quan đến các vấn đề của các cộng đồng
thiểu số như: Hội đồng dân tộc của Quốc hội, Ủy ban dân tộc của Chính phủ, các
Ban dân tộc ở các tỉnh, các Trường Dân tộc nội trú ở một số địa phương
Có trường hợp người ta sử dụng khái niệm dân tộc như một danh từ riêng (Người dân tộc - chỉ một người hay một nhóm người thuộc cộng đồng thiểu số cụ thể nào đó Ví dụ: người Tài, người Thái, người Mường…)
Ngoài ra, do đặc điểm cư trú truyền thống của các dân tộc – tộc người ở Việt Nam, các dân tộc thiểu số thường sinh sống ở khu vực miền núi, vùng cao trong khi dân tộc Kinh thường sinh sống ở khu vực đồng bằng, vùng thấp; nên ta thường thấy
thuật ngữ người miền núi, người miền xuôi… Đó cũng là cách nói ý chỉ người dân
tộc thiểu số và người thiểu số
Gần đây trên một số phương tiện thông tin đại chúng ở miền Nam sử dụng thuật
ngữ sắc tộc khi đề cập đến các dân tộc ở Tây Nguyên Cách sử dụng đó theo chúng tôi
nên tránh vì nguồn gốc xuất phát của thuật ngữ này dùng để chỉ các tộc người da màu,
da đen với ý nghĩa miệt thị Dưới thời Mỹ - Diệm ở miền Nam, thuật ngữ sắc tộc dùng
để chỉ các tộc người không phải Kinh hay Hoa cũng với ý nghĩa đó
Như vậy, ở Việt Nam khái niệm dân tộc được sử dụng với nhiều nghĩa khác nhau, ngay giữa các nhà khoa học cũng chưa có sự thống nhất Qua nghiên cứu những tài liệu có liên quan đến đề tài, tác giả luận văn đồng ý với quan điểm của các GS Đặng Nghiêm Vạn, GS Hoàng Chí Bảo về việc xác định nội hàm của khái niệm dân tộc phải vừa bảo đảm tính chính xác, khoa học vừa phù hợp với cách dùng