Tài liệu Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh: Hành trình thơ văn - Hành trình dân tộc giới thiệu một số điểm chủ yếu về văn thơ của Bác Hồ - Nhà văn hóa lớn của dân tộc và thế giới. Tài liệu giới thiệu những tri thức cơ bản về tác giả, tác phẩm, những nhận xét đánh giá dựa vào các công trình nghiên cứu đã được số đông người thừa nhận. Tài liệu gồm 2 phần, mời bạn đọc cùng tham khảo phần 1 sau đây.
Trang 1V Ă N
H À N H
T R Ì N H DẬN
T Ộ C
J ilỊ
DX.015524
Trang 5M ưc LỤC
II Nh cách mạng và từ cuộc đòi hoạt động
Trang 7LỜI NÓI ĐẦU
Trẽn hàih trình hướng tới một nhận thức biện chứng và tom diện nền văn học hiện đại Việt Nam, cảm nhận đỉợ những giá trị trong di sản gần và xa của dân tộc, niững giá trị được kết tinh, những đỉnh cao của văn cìương - học thuật dân tộc là niềm vui khám phá cm Igười làm công tác nghiên cứu văn học,
là cảm hứngthim mỹ của người Việt Nam, m ang trong lòng niềm tụhio dân tộc suốt đả bốn nghìn năm Tác giả cuốn sáci nuốn làm một tổng hỢp những gi ông đã thâu nhận, t'cỉ luỹ trong hơn 40 năm cầm bút, đồng thời là kết qiả "ỉỉa sự nhận thức lại vấn đề dưới ánh sáng công cutc ¿ổi mới.
Và, theo iài h trinh xuyên suốt th ế kỷ, nền văn học Việt N am th éh X X đã có những khởi động quan trọng nhăm hướng’^^ỚI sự gần gũi và gắn bó với những vấn đề chung của ứ ế ỊÌỚi hiện đại N hà học giả đã bỏ nhiều tâm huyết đêdụig lại chân dung của một trong những con người lôi ạc đã làm vẻ ưang cho nền văn học thê kỷ này - đó chíiĩK h nhà cách mạng, ưị lãnh tụ vĩ đại của dán tộc ta - Ciủtịch Hồ Chí Minh.
Trang 8N guyễn Á i Quốc - H ồ C hí M inh: H à n h tr ìn h
th ơ vă n - H à n h tr ìn h d â n tôc Cuốn sách này muôn làm sáng tỏ chân dung văn học Hồ Chí Minh trong tầm vóc của một Anh hùng dân tộc và Danh nhân văn hoá, người đứng ở đỉnh cao nền văn thơ cách m ạng Việt Nam, người gắn một cách tuyệt ười cả hai phương diện văn hoá và cách mạng, cả hai yêu cầu cách m ạng hoá
và hiện đại hoá.
Hy vọng cuốn sách này sẽ giúp các nhà nghiên cứu, sinh viên và học sinh hiểu sâu hơìi về phương pháp sáng tác, quan niệm thẩm m ỹ và nhân cách của nhà văn hoá lớn Hồ Chí Minh.
NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Trang 9ỉ NGƯỜI GIẢỈ QUYẾT NHỦ>JG SO LE LỊCH sử
Đã xuít hiện và diễn biến một tình thê khủng hoảng lốn tt'oag đời sông chính trị và đòi sông văn học dân tộc Viậ Nam những năm đầu thê kỷ XX
Tự lực :ứu nước hay tìm sự cầu viện ở nước ngoài? Cầu viện tiì nhằm vào ai? Những đồng chủng, đồng bang hav ihững “người tôt” của phương Tây? Chọn cách hành động ôn hoà hay bạo lực? Chọn chính thể dân chủ ha' quân chủ?
Một cu')c khủng hoảng làm lay động dữ dội đời sống tinh tiần của cả dân tộc Và văn học, cũng như các hình thu ý thức khác, cũng chứa đựng và diễn biến tinh thần nột cuộc biến động như vậy
Trước sĩ xâm lăng và ách đô hộ của thực dân, ngay khi tiếng síng của chiến thuyển Tây dương nổ vào những thôr làng, và nhằm vào da thịt “ngưòi bản xứ”, văn học đã thổi bùng và không lúc nào nguội tắ t một niềm căm tiù lốn Niềm căm thù đó như rừng rực như thiêu đốt trtng thơ văn Nguyễn Đình Chiểu:
Bữa thóợ bòng bong che trắng lốp,
muốn tới ăn gan;
Ngày xen ống khói chạy đen sì, muốn ra cắn cổ.
( )
Bởi ngìĩ rằng: Tấc đất ngọn rau ơn chúa, vun
Trang 10trống cho n.ước nhà ta Bát cơm manh áo ĩiỢ đời, măc
mớ chi ông cha nỏ.
( V ã n t ê n g h ĩ a RĨ o á n ( ỉ i u ộ r ) ' ’
Một ngôn từ không cần “lịch sự”, không cần che giấu sự khinh ghét còn thấy ngay ở cả một bài ai điếu trong thơ văn “khuyết danh” dành cho một võ quan
“mắt xanh lè”, “mũi thò lõ”:
Khôn nạn thân ông Đ jnẹ cha nó!
(Vêin tế Francis Garnier)
Niềm căm thù ấy càng bốc m ạnh trong thơ của biết bao chí sĩ buổi đầu th ế kỷ XX:
N ghĩ lắm lúc bầm gan tím ruột Vạch trời kêu mà tuốt gươm ra Cũng xương củng thịt củng da Củng hòn máu đỏ con nhà Lạc Long
(Bài ca Á td Á ca)'“
Cơm xào thịt giặc mới no Bát cơm nêm giọt m áu thủ mới cain'^‘
Căm th ù và chối bỏ, phủ nhận đến mức kịch liệt:
Thà đui mà giữ đạo nhà Còn hơn có mắt ông cha không
Dẫn theo Nguyễn Đình Chiểu, Toàn tập, tập ỉỉ, h^b Đại học và Trung học chuyên nghiệp, 1982, trang 26, 28.
Bài ca Á tê Á ca (1905-1906); Khuyết danh, in tronỊ Văn thơ cách mạng Việt Nam đầu thê kỷ XX của Đặng Thai Mai Nxh V'ã;i hóa^
1961, tr 273.
Dẩn theo Hoài Thcinh: Phan Bội Châu, Nxh Va/7 h()o, 1)78 tr 5Ỡ
Nguyễn Đinh Chiếu: Dương Từ Hà Mậu.
Trang 11Thâtn 'hí đến mức cực đoan, đến mức tấ t cả những
gì của Tâ' dương, hoặc gắn với Tây dương đều bị tẩy chay - từ văn minh cơ khí đến xà phòng, chữ Quốc ngữ
Cùng ‘ới niềm căm thù lốn, là một tấm lòng yêu nước nồagnàn Có dễ chưa bao giờ trong lịch sử, khái niệm Nưố( lại ngân vang thông thiết như vậy Có phải bây giò sự hật mất nước là quá phũ phàng, sự th ất bại
và những hảm họa mà kẻ thù gây ra là quá lốn, đã xúc phạm /ào những cõi thâm sâu của ý thức dân tộc
Và dân tộc là một khái niệm không trừu tưỢng v ẫ n là non sông gìni ^^óc, là truyền thông tô tiên, là văn minh lâu đòi ^hưng lần này có thêm một sự cụ thế hoá và tha thiết hJn tl’ong hình ảnh người dân Một lòng yêu nưốc gắii dân, nước vối dân quấn quýt với nhau, từ người nônị dân trong thơ văn Nguyễn Đình Chiểu:
Việc CIÔC việc cày, việc bừa việ c cấy, tay vốn quen làm;
Tập khên tập súng, tập mác tập cờ, măt chưa từng ngó
(Văn tô nghĩa sĩ c ầ n Giuộc)
])ân tnng quan hệ VỚI Nước, và Dân trong một khái niệm đưỢc nỏ rộng hơn, càng có gì gắii bó xương thịt hơn vào đầu th( kỷ XX;
Trang 12Dân là dân nước, nước là nước dân
Nước là cảnh sắc quê hương, hình sônẹ th ế núi Nước còn là cái gì sống động, biêt cảm xúc, và đang cựa quậy:
Hồn cô'quốc, vẩn vơ vơ vấn Khôn tim đường dò nhắn hỏi han Bâng khuâng đỉnh núi chân ngàn Khỏi tuôn kh í uất, sóng cuồn trận đau
(Hải ngoại huyêt thư)
Ngoài muôn dặm mơ màng chiếc bóng Khách bồ đào giấc mộng tha hương Trong vời một giải N am bang
Nghìn năm nước cũ tìm ph ương hồn về
(Hải ngoại huyêt thư)
Nước mất khác nào một con người hồn ròi khỏi xác Nhưng hồn chưa dứt hản; và do vậy điều khẩn thiết là phải đưa hồn về:
Than ôi! Cái vạ chết lòng Xác kia chất đó còn mong nỗi gi!
Anh em chữa thuốc chi cho sống'?
Xin đem ngay máu nóng đ ổ vào
Kề tai gọi giật cho mau Thị phi, họa phúc cùng nhau giãi bày
Mõ chuông là cái lưỡi này Lôi đinh trên ngọn bút này nổi lên
(Gọi hồn quôi; dân)
Như vậy, niềm căm giận và lòng yêu nưốc ở buổi
Trang 13đầu thê^y XX này không những là sự tiếp tục mà còn
có mặt lông thiết hơn, cụ thế hơn so với nhữnẹ gì đã có trong ti^ ển thống văn thơ,
Théihiíng, khác với nhiều giai đoạn trước đây, sự tiếp tụ(và có mặt sâu hơn của tình cảm vêu nước đó giò đây hòng còn đủ nữa đê giải quyết các yêu cầu mới của lịch ử
Mộtiiềm căm thù lớn không thôi, chưa đủ Vì cùng với căm hù còn phải hiểu đúng và hiểu kỹ kẻ thù Vì việc nhn mặt kẻ thù, không thể chỉ dừng lại ỏ bộ mặt tàn bạo'ua mấy viên quan “khai hoá” và cai trị, mà còn là, à phải là sự nhận thức vê “phương thức sản xuất tư>an chủ nghĩa’’ trong “tính tất yếu” của sự ra đời và s diệt vong của nó, trong “tính chất bên trong, còn ẩn íấu của phương thức ấy”, vì nói như Ảngghen,
“sự phê ihán” đòi hỏi không chỉ dừng lại ở “những hậu quả tai lại của nó”, mà phải “nhằm vào chính thực chất củ&nó”'”
Một 'hí yêu nước lớn và có ít nhiều đổi mới, do tác động củ thòi đại, cũng chưa đủ Vì cùng với lòng yêu nước, ch quỊ^ết tâm hi sinh, còn phải biết tìm cho ra con điíòng vi cách thức để cứu nước
Một ự kết hợp giữa căm thù và yêu nưốc, hai trạng thểii lớn ủa tình cảm, tìm được sự thể hiện thông thiết
và trọn \?n ở Phan Bội Châu — người mà văn thơ đã gây bao chấr động trong đời sông tinh thần của dân tộc suôt mấy chự năm đầu thế kỷ, làm sục sôi bao nhiệt huyết
Trang 14và gây kinh sỢ cho đê quôc — vần không đủ nữa.
Tiêng nói của con tim, sự dồn nén và bùng nó củỉ cảm xúc bên troiig, niềm >’êu ghét dâng lên ỏ' cun^ bậ( cao, là điều mà vãn thơ qua nhiều giai đoạn lịch sử đt
có khả năng phô diễn Nhưng qua mấy nghìn năm dướ chế độ phong kiến, trong cùng khuôn khổ một phươnị thức sản xuất, và trưốc một kẻ thù vẫn chỉ là đôi thủ
là khuôn m ặt quen thuộc củ, dân tộc ta, do huy độnị được sự đồng tâm và chí quyết tâm, nên đã nhiều pher đẩy lui hoặc đánh ngã được kẻ thù Chủ nghĩa anl hùng và kinh nghiệm giữ nước quen thuộc đủ cho tí đứng vững và tồn tại, nhưng là tồn tại trong phươnị thức sản xuất cũ Còn lần này, tình thê đã đôi khác Lần này cuộc chiến đấu của dân tộc đứng trước một đò hỏi mối: không chỉ lật đổ ách của kẻ thù bên ngoài, mí còn phải đuổi kịp thòi đại, phải đưa dân tộc lên vị tr người đồng thời với nhân loại tiến bộ Và kẻ thù cũng lí một khuôn m ặt với tiềm lực và những trang bị khá( trước, một kẻ thù đến từ xa; và sự so sánh m ạnh - yếu hơn - thua giữa địch và ta trước mặt là so sánh giữỉ
“mã tấu ”, “dao phay” với “thuốc súng”, “chiến thuyền'
có thê đưa lại những thắng lợi cục bộ; nhưng cán bar
và sâu xa là sự so sánh về phương thức sản xuất Xỉ hội Đứng trước so sánh này thì chê độ phong kiếr trong tình trạng quá kéo dài ở đất nưốc ta, và cô lậỉ trưốc sự phát triển của cách mạng khoa học kỹ thuậ trên thê giói, quả phải đứng trước một tình thê chec leo, nguy hiểm
•Tất cả sự nhận thức đó, chưa phải là điều mí những ngitòi yêu nước và cách mạng của chúng tí
Trang 15trong tai thập niên đầu thê kỷ đã có thê hiểu và phân tích nổ.
-k *
Hìr.h th ế mới của lịch sử - bối cảnh mà một bộ phận lởn nhân loại đang trải qua lúc này, đó là chủ nghĩa tư bản đang trên đường đi vào thời kỳ đê quôc chủ nghĩa Hình thê đó đã được những nhà khoa học vĩ
đại cia giai cấp vô sản phân tích, từ 1848, tï’ong Tuyên
ngôn của Đảng Cộng sản: ‘‘Nhờ cái tiến mau chóng
công cụ sản xuất và làm cho các phương tiện giao thông trỏ nên vô cùng tiện lợi, giai cấp tư sản lôi cuôn đến cả những dân tộc dã man nhất vào trào lưu văn minh Giá rẻ của những sản phẩm của những giai cấp
ấy là những trọng pháo bắn thủng tất cả những bức vạn 1/ trường thành, và buộc những ngưòi dã man bài ngoạ] ương ngạnh nhất cũng phải hàng phục Nó buộc
tất CL các dân tộc phải theo phương thức sản xuất tư
sản, lếu không sẽ bị tiêu diệt; nó buộc tất cả các dân tộc phải du nhập cái gọi là vản mmh, nghĩa là phải trỏ thanh tư sản
Cũng như nó đã bắt nông thôn phụ thuộc vào thanh thị, những nước dã man hay nửa dã man phụ thuộc vào các nước văn minh; nó đã bắt những dân tộc nông iân phải phụ thuộc vào những dân tộc tư sản, băt phươig Đông phải phụ thuộc vào phương Tây, ”*'*
Mác-.Mighen Tuyển tập, tập ỉ, Nxb Sự thật, H 1970, tr 73.
Trang 16Điều rõ rànẹ là dầu muõn hay không, một bộ phận lớn của nhân loại, và bây gaò là phương Đông, sớm hay muộn rồi cùng bị cuôn vào guồng quay của chủ n^hĩa
tư bản Và do vậy sự đối đầu cúa một dân tộc còn ỏ
trình độ lạc hậu, và trong tình trạng cô đơn, riêng lẻ,
dù kiên cưòng đến đâu cũng không đủ nữa Tình thê
đối đầu đó, giò đây phải tìm thấy sức mạnh ở sự liên
minh quốc tê, với những lực lượng cách mạng trên thê giới - một sự liên minh, mà ngay từ giữa th ế kỷ XIX, Mác đã nêu lên như một rnệnh lệnh của thòi đại: “Vô sản toàn thê giới liên hiệp lại!”
Khủng hoảng trong đời sông cách mạng của dân tộc đầUí thê kỷ là một khủng hoảng về đường lối, một
sự trống thiếu về lý luận, về tri thức cách mạng
Thực ra không phải những nhà cách mạng đầu thế
kỷ đã không có sự nhạv cảm trước những yêu cầu này
Và không phải họ không đủ nghị lực, kiên tâm, đủ can đảm và lòng tin để tìm tòi và theo đuối Nhưng họ đã không vượt qua nổi những hạn chê của lịch sử và bản thân Phan Bội Châu đã rong ruổi đi tìm, đã dám chấp nhận mọi hi sinh, đã từng ước mong và thề nguyên:
“Sao cho Tố quốc chúng ta có ngày tái tạo, cho nòi giống chúng ta muôn thuở yên vui Thời Phan Bội Châu đây nếu có bị quân thù chặt đầu, bắt hêt cả vỢ con mà giết đi, đào mả cha ông mà vứt đi, thì cũng vẫn tươi cười nơi chín suôi””' Nhưng mục tiêu mà phan Bội Châu đi tìm, sức mạnh mà ông cầu viện cũng vân mới
Văn thơ Phan Bội Châu chọn lọc Chiừiìig Thâu, Xuà'i Hà Mai
Giaĩìg hiên S(ìọn: Nxb Văn học; H 1967; tr 51.
Trang 17chi lầ l ấ y kinh nghiệm cứu niíớc theo cách ôn hoà
hoặc ho động; và “cứu nước” có nghĩa là phải tô chức
ngay, l;m ngay một hành động cấp bách, cụ thê nào đó: xúc tiêi NÌệc mua sắm vũ khí, cử người đi học, đưa người nưốc, gây một sô" biên động Chứ chưa phải
là một lường lôi chiến lược, một quá trình vận động và
tổ chứcquần chúng lâu dài; càng chưa phải là nhu cầu trang b lại toàn bộ sự hiểu biêt về chính trị, kinh tế, xã hội làrr cãn cứ cho một cuộc cách mạng, đế “cách mạng hoá” cả một dân tộc, và trước hết là đội tiền phong của
họ Mặ khác, nếu như các kinh nghiệm của Trung Hoa, cia Nhật Bản, của những người cùng màu da, cùng “cồng ván”, “đồng chủng" nêu có được phân tích
và thàu nhận kỹ, thì may lắm cũng chỉ đến được thành công :ủi Cách mạng Tân Hợi; còn mặt trái của nó, như
ở Nhàt 3ản, là xu hướng bành trướng của chủ nghĩa đê quốc - :hì Phan Bội Châu không thế nào thấy được, hoặc Iid chỉ thấy ỏ mặt ngoài
Pia:i Bội Châu là người cũng đã thấy sự chiến đấu đơn cộc của dân tộc là không đủ nữa Nhưng bước chân
ra ng)à: phạm vi rong ruổi của Phan Bội Châu cũng mới
ở mấ; nước lân bang; nơi đó, người tôi cũng có, nhưng ít
ỏi, và bị hạn chế; còn tâm địa hùm heo - vốn là bản chất của ciủ nghĩa đế quốc, ông chưa thê thấy được
Pian Bội Châu cũng là ngưòi thấy việc xác định
một ý tưởng, một đưòng lối là cần Nhưng tầm cao
nhất, trong hoàn cảnh Phan Bội Châu có thể vxíơn tới được.chỉ là triêt học thê kỷ Ánh sáng của phương Tây,
mà Fian Bội Châu nhận đưỢc gián tiếp qua Tân thư
Thứ ý luận đó của giai cấp tư sản đang lên quả có ý
Trang 18ns;hîa lịch su tiên bộ, nhiing lúc này đã bi lí.ic hậu
thòi dại hơn nữa, cũng đã bị chính giai cấp tư san Ị)hản bội
Cuộc khủng hoáng ti'ong đòi sông linh thần của dân tộc còn tiếp tục là một thử thách, một, gánh nặng cho lịch sử
*
Lịch sử đã nêu câu hỏi, ắt phải có cơ sở đê trả lòi Lịch sử chỉ đặt vấn đề khi nó có khả năng giải quyêt, Lịch sử cần một kiểu người Trong 1Ô1 tăm và náo động, trong đau thương và hào khí, trong cực nhục và
vĩ đại của những tháng năm giao chuyền iỊÌữa hai thê
kỷ, con người ấy đã nhận vào mình tấ t cả âm vang bão táp Nhưng hãy còn quá sớm cho một cuộc tìm đưòng,
\hi tiếng súng chiến hạm Rạng Đông chừa aố Và sẽ là quá muộn, là thiệt thòi, khi cánh cửa trô ra thời đại mới đã mở, mà người lính lại bị cầm tù
Đó là bi kịch của cả một thê hệ, mà ngLíòi lĩnh sứ mệiih tiên phong, cũng là ngùời kết thúc, là Phan Bội Châu
Chủ nghĩa aiih hùng - đó là cái vôn rấ t nực dồi dào của dân tộc ta Lớp trước đến lớp sau, dâ;i tộc không thiếu những người dám hi sinh, xả thân Cliỉ riêng hơn
chục năm kháng Pháp, Phan Bội Châu đã :ó thê dựng được cả một cuôn sử — Việt Nam nghĩa liệt (^òn lịch
'' Việt N a m nghĩa liộL s ử g lu chuyện 50 liệt ,KĨ vù 3 tậịi tic liệt s ỉ h i sinh
trong khoáng hxtìì l năm từ 1906 đến 1907.
Trang 19sử lâu đii thì càiiỵ nhii chính Phan Bội Chán từng noi,
trong ptón đầu tiếu thuyết TriiníỊ Quaníỉ tãin sử: "ỏi!
Rực rỡ iiêt bao! Tô tiéu ta vĩ đại, hiên hách biết là nhường lào Theo dõi chuyện của các bậc tiên liệt ngày xư; ta sẽ tiiơng Iihớ tới tô tiên ta sinh ra trong thời đó, ỉhông một ai là không anh hùng Dòng dõi anh hùng và 'lậu thân của ftnh hùng, chính là chúng ta thì chúng tasao có thê quên được”*”
Mặt diác trong so sánh VỚI lịch sử, phấm chất anh hùng củ; ngiiòi ehiên sĩ buổi đầu thê kỷ XX, khônef hoàn toàn chỉ là sự lặp ]ại ngiiời xưa Cả bước chân và tẩm mắt của họ đã ít nhiều được mở 1'ộng, Một hình ảnh Tăng Bạ Hô thật dũng liệt và khí phách biêt bao qua lời ai đifu của Đặng Thái Thân: "Người há sanh làm giỡn với ĩòi sao'.^ cám binh một độ, bỏ nước hai múơi năm; đã khóc VỚI Xiêm, đã khóc vói Tàu, đã khóc VỚI
Nga; đùig dùng sang khóc lớn bên Đông; ai dè gió phất trời thu ìăm cốt vê chôn trời đất Huế
Ta cia biêt chêt là cái ẹi vậy Đọc sách năm châu, kêt giao 'ài chục ban; hoặc đánh bàng kiỡi, hoặc đánh bằng bú hoặc đánh bâng não; khăng khăng chỉ độc đánh băig săt; thề quyèt máu trôi dất nóng, cờ đào rõ mặt giônç da vàng”'-’
Thê ihùng sao nưốc lại mất, và việc tìm đưòng cứu nước còn muôn trùng bê tắc“’
Đó lẻ bi kịch của một thời đại
" U ẩ n ẩ ị á uia ỉ i u x ì i h 7'nuc khciììg; V án tlui cá('ỉi m ạ n g Viẹt N a m đíìu
t h ế k ỷ .S'ár/ĩ đá dan, tr 300.
Trang 20Đòi hỏi cấp bách cua lịch sử lúc nàv là một trí tuệ cách mạn^, như một sản phấm của thòi đại Sự khép kín trong thành cao hào sân (mà cao sâu nào có hiệu lực
gì trước thuốc súng và chiên thuyên Tíìy diiơng), hoặc việc tìm đường Đông du đêu là vô hiệu Phần trông thiếu ngay ỏ những đầu óc tiêu biêu nhất — như Phan Bội Châu, do hạn chê của lịch sử và bản thân, - đó là tri thức cách mạng kiêu mới, là sự phân tích căn rễ và thực chất những nỗi khô khi đã biết bản thân nỗi khổ; là sự phân tích kẻ thù từ chính sào huyệt kẻ thù
Giữa cơn bối rôi và náo động ấy của thòi đại, anh thanh niên Nguvễn Tất Thành vẫn một sự lặng lẽ trong đôi m ắt không ngừng suy nghĩ, tìm hiểu “Khi tôi
độ 13 tuổi, lần đầu tiên tôi được nghe ba chữ: tự do, bình đang, bác ái Đôi với chúng tôi, ngưòi da trắng nào cũng là người Pháp Người Pháp đã nói thế Và từ thuở
ấy, tôi rất muôn làm quen với nền văn minh Pháp, muôn tìm xem những gì ẩn đằng sau những chữ ấy”*’' Như nhiều lớp cha anh cùng thòi, anh đã đi Phải đi Cuộc hành trình đã đưa anh về phía Nam, dọc đất nước Chưa phải là các cuộc đi để “bày mưu tính k ể’,
“chiêu tập lực lượng” mà để sống, vào đời, nghĩ suy, tìm phương kê hành động Và rồi cuộc chia tay vói người thân, với đồng bào, Tổ quốc, quê hương cũng đã diễn ra
ở phía Nam, nơi không có những cột mộc biên ải, mà chỉ có tiếng còi tàu và hơi gió mặn của đại dương
Theo Oxip Manđenxtaìn, háo Lua nhỏ, Hố39, ngciy 23-12-1923, oản dịch của Marian Ttìkaxôp, Văn hóa ngliộ thuật cũng là một ,Tiặt
trận, Nxh Văn học, H 1981, tr 477.
Trang 21Aội cuộc hành trình kéo dài bảy năm ti'ên các đại
dươig, đên những miền xa nhất của lục địa; và phần đất châi Au, neíay “mâu qiiôc" một trong nhữnẹ nơi phát tích :ủa chủ nghĩa tư bản, và là sào huyệt của chủ nghĩa
đê qiốc hiện đại, cũng chính là cội rễ những đau khố và
bi kị:h của phương Đông, sẽ là nơi anh dừng chân
ilột loạt những điều “vỡ nhẽ” đã đến với anh, trong quá :rình đi, và không ngừng nghĩ suy, tìm hiếu
Dến VỚI những ngôi nhà chọc trời ỏ Niu Yóc anh cũng đồng thòi len lỏi vào những ngõ hẻm lầy lội của khu riáclem
írỏng ỏ' những thủ đô văn minh châu Âu, anh biết cách ghé và dừng chân nơi các bến tàu đầy phu phen, thuyìn thợ của Anh, Pháp, của châu Phi và An Độ
"'lêng súng Cách mạng tháng Mười bị bưng bít, nhưig anh không ngừng lắng nghe chân lý là ỏ đâu, tronr những cuộc tranh cãi, luận chiến nơi tụ họp của công nhản, và trong các hội thảo của Đảng xã hội Pháp lúc rày đang đi vào phân hoá
'Sản yêu sách 8 điểm"'^\ trang viêt đầu tiên của
anh, đại diện cho một dân tộc đã mất tên gọi trên bản
đồ, kn đầu tiên cất lên, tại một cuộc họp quốc tê, như một '.iếng kêu cứu, hoặc ít nữa, như một tiếng nói hiện diện, Sự thức tỉnh của những lục địa chưa được gọi là
“văn mmh” rồi đây hắn sẽ tìm thấy trang đầu của nó ỏ chínl tiếng nói của nguòi thanh niên, lúc này còn chưa
ai biet đến tên tuổi ấy
7ừ năm 1920, Luận cương ưề các vấn đề dân tộc ưà
Gửi Igày Ĩ8'6’Ỉ9Ỉ9; đăng trên háo Nhản đạo, 18-6-Ĩ919.
Trang 22thuộc địa của Lênin"' đã tlẻn vóì anh như một cấm
nang thần kỳ Đê từ đó đẽn VỚI anh sự nhận thức chủ nẹhĩa đê qiiôc như một con đỉa có hai \’0Ì: sụ sáníĩ tó thực chất của văn minh khai hoá, cùa só phận và con đườnẹ Síiải thoát cho hàng triệu người da màu đau khổ, trong đó có đồng bào quê hương anh Từ nàm 1920 sẽ bắt đầu xuất hiện tên gọi Nguyễn Ai Quốc, cùng nhiều tên khác, ỏ diễn đàn chính trị phương T-ây - dấu hiệu một chất lượníỊ chiến đấu mới của dân tộc đã được khơi dậy từ ngoài Từ năm 1920, sẽ bắt đầu một ẹiai đoạn mói của lịch sử dân tộc - eini đoạn mà các quá trình cách mạng cũng đồng thời gắn với yêu cầu khoa học gắn VỚI quá trình khoa học hoá trong nhận thức, trong tuvên truyền, tô chức, hành động Một quá trình rất mực khẩn trương, trải nhiểu phen tập dượt, chịu I’ất nhiều hi sinh, nhưng khoa học về thời cơ cách mạng trên toàn bộ đất nước đòi hỏi tuyệt đôi phải được chọn đúng, và dưới sự chỉ dẫn của một trí tuệ tỉnh táo, biêt nhìn xa trông rộng - đó là Nguyễn Ai Quôc - Hồ Chí Minh
Từ năm 1920 lịch sử đã chuyên trang, và một cuộc bàn giao lịch sử đã diễn ra Klii ỏ trời Tây trên đât Pháp,
Nguyễn Ai Quôc đến với Luận cương của Lênin thì phía
bên này phương Đông, Phan Bội Châu sau khi nguội tắt hết mọi phương sách cứu nước trên đất Trung Quôc đã tìm đến Đại sứ quán Liên Xô Và bốn năm sau, nêu bên kia, trong bí mật và im lặng Nguyễn Ái Quôc hăm hơ
>!> ỈẨĩuin viêl 5-6'ĩ920, tìiììk hờy tọi Đại hội Qiiỏc từ Cọììịỉ sáu len 2 nởrti Ỉ920, đâng trèn bão Nhản dạo, rác sô ra nịỊòy 16 và Ỉ7'7’ Ĩ920.
Trang 23báng tàu ang Nga, thì bên nàv Phan Bội Châu trớ về nưốc, tron;- thân phận tù tội.
Nội dxng chính trị trực tiê]x sự phân tích khoa
học về Xí hội, n h ữ n g con sô- n h ữ n ^ m ấ u chuyện,
những sụ kiện, những luận cứ không thê chôi căi, đưỢc rút n từ đòi sông thực ỏ nhiểu lục địa và từ các kho tư liố.1 của các thư viện lốn ỏ châu Au đó là những gì mà Nguyễn Ái Quôc đã có thê cung cấp nhằm đừí tói những kêt luận sắc sảo và đanh thép, vạch trần :ái gọi là ‘Văn minh’\ “khai hoá”, lên án chủ nghĩa thự’ dân, như một quái trạng không thể dung tha của liơiiíĩ tâm, của lịch sử T hế là lần đẳu tiên xuất hiện qua tác phẩm Nguyền Ai Quôc, bàng một phong cáci mới tiếng nói của dân tộc Việt Nam như một bộ plận hỢp thành của văn học cách mạng hiện đại, vối nỗ dung thâm đượm tính khoa học cách mạng của giai cíp vô sản Để từ đó, và cùng VỚI nó Iihững tên quan :ai trị, những ông chủ Ihực dân, không phải chỉ hiện ri trong sự đôi lập V01 dân thuộc địa - đang bị coi như Iiìi giông thấp hèn, mà trong sự đôi diện VỚI
cá đồng lào chính quôc cùng đang bị phân đôi, và
trong đôì ứioại VỚI cả lương tâm n h ả n loại
Dẫu kiông trực tiếp, do khoảng cách không gian,
và dẫu s\ cấm đoán, xuyên tạc của thực dân, những
trang văn Nguyễn Ái Quốc vãn cứ có con đường riêng
để (ìên vớ con tim hàng triệu ngữòi lao khổ dang chò đ(ỉi, và trtóc hêt ỏ bộ phận thanh niên của dân tộcđ<inf lỉỊ]a( khát tìm đường
Tên g(i Nguyễn Ái Quốc, cùng những trang Người
Trang 24ở đó, không chỉ có sự nhận thức Mà từ nhận thức đòi hỏi đưa tới dần dần một khoa học tổ chức và hành động Không phải sự hành động nhất thời Mà là hành động nhằm tiến tới tổ chức lại toàn bộ quần chúng, và trưốc hết là đội tiên phong của họ Một khoa học tố chức tiến hành kiên trì nhiều năm tháng, mà điếm nhảy vọt là sự thành lập Đảng Cộng sản Đông Dương năm 1930.
Một khoa học tổ chức động đến từng đơn vị, từng tê bào xã hội Suốt 30 năm, người cách mạng mang mấy chục tên gọi đã đi khắp các lục địa, nhiều lần về gần biên giới Tố quốc, nhưng phải đến tháng 2-1941, Người mới về được Pác Bó, khi những khả năng bên trong của cách mạng và khoa học tổ chức cách mạng đã có điều kiện chín muồi
Người cùng khố (Le Paria) sô đầu ra ngáy l-4-192ik 5000 tờ được
chuyến về Tòa soạn; 200 tờ đưỢc hí m ật chuyến về nưiic Đến 1924, ra đưực 38 sô.
Bản án chế độ thực dân Pháp đưíỉc viết ớ Pháp rái róc từ 192 đến
J925; bán in đẩu tién ở Phap nám 192Ỏ; ở Việt Nam nẵm Ì94ê báu dịch tiếng Việt đầu tiên Nhà xuất bản Sự thật, in năm 1960.
Trang 25Đó là cuộc đi d à i nhất so VỚI mọi cuộc đi của bất cứ anh hùng chí sĩ nào đầu th ế kỷ Một cuộc đi cần đến 30 năm Vì phải đên 30 năm thì đất nước mới có thời cớ cách mạng Phải đên 30 năm mới làm cho khả năng cách mạng hoá cả một dân tộc thành hiện thực, cần một nhận thức sâu sắc tình hình thê giới và trong nước mối cho phép Nguyễn Ái Quôc phán đoán, xác định và đón bắt thời cơ cách mạng Cũng suô't 30 năm, Nguyễn
Ái Quốc không lúc nào ròi vũ khí tiếng nói, và chữ viết
- nhằm tuyên truyển tn thức cách mạng Và đó chính
là sức mạnh cuôn hút trên những trang ngắn mà dồn nén tri thức và cảm xúc của Nguyễn Ái Quốc, là phẩm chất nghệ thuật của ván học cách mạng trong buổi đầu
ra đời Một phẩm chất vô cùng quý giá, như cơm ăn, nước uông, như chất men, như ánh sáng Nếu không có
nó, con ngưòi bị mù tôi; nếu chưa tìm được nó, thì con ngưòi, dẫu có hi sinh dũng liệt đến đâu, cũng đành thúc thủ
Việc đánh giá văn học trong tương quan đồng đại, đòi hỏi được xem xét trên khả năng thâm nhập và thể hiện những vấn đê có ý nghĩa thòi đại vốn từ lâu đã đặt
ra cho nhiều nền văn học dân tộc Đôi với văn học Việt Nam lúc này, yêu cầu đó buộc người viết phải nhanh chóng vưdn tới một tầm nhìn tiên tiến, một trí tuệ khoa học, như là khỏi điểm, là chỗ dựa để vxíỢt ra khỏi những hạn chê của dân tộc và địa phương N hất là khi
Trang 26dân lộc ấy địa phương ấy vần còn như raiLbô'n cưỡng r;i
khỏi íỊuồnẹ quay của một phươneí' thức sả;n x u â t mới: nói cách khác, trong lâu dài lịch sử vầ.i (Chiừ.a thoát ra
<.hoi đưỢc sự phong bê của một chê độ vừai cô hu, vừa kiêu ns^ạo một cách mê muội trong sự iùiig bá 1 những
mô hình của "thiên triều” phviơng Bắc và c h ín h sách
bê quan toả cảng
Văn thơ yêu nước xư'a nay vôn vần là clhiếc’ cầu nôi dân và nước, con ngừòi và dân tộc Một sự gắn nối tìm được những hình thức thiết tha nhất vào đầu thê kỷ Nhưng sự phát triển lịch sử sẽ cho thấy riê n g sự gắn nôi ấy vẫn chúa đủ Đê chiến thắng kẻ ihù là chủ nghĩa thực dân, còn cần những sự gán nôi niới, ‘vói th ê giới, vói nhân loại, VỚI thòi đại Yêu cầu gắn nôi này hay nói cách khác, việc đứa dân tộc lên một t;ỉm cao mới của lịch sử, là mục tiêu th ật sự mói mẻ mà v^ăn thơ yêu nước cũ không làm nổi Sứ mệnh đó đã ch u y ên giao sang tay một giai cấp mới, mà người đại diện không có thê là ai khác, ngoài Nguyễn Ái Quô’c, là người đã đặt chân lên sào huyệt của chủ nghĩa đê quôc, cũng là ngưòi đã có mặt ỏ trung tâm cách mạng vô sản th ê giỏ] hiện đại trên phần đất phương Tây
Có sông nơi sào huvệt của chủ nghĩa đê quôc mới có hoàn cảnh nhận thức đúng vê kẻ thù, mới xác định đưỢc rõ ai là bạn, ai là thù Nhưng cũng phải sông ỏ nơi
là trung tâm cách mạng vô sản, mới có ánh sáng tìm ra phương án giải quyết bi kịch lịch sử
Nói cách khác, đó là khả năng khắc phục sự so legiữa dân tộc và thòi đại
Một sự so le đã xuất hiện từ lâu, khi đ ất nước trỏ
Trang 27thành con mồi ồ I’ÓI v’cW vòng lay lông ỉá cua chủ nglìĩa
đế quôc Thảmhoạ dó đã gảy nên một ti'ạng thái bi
đời sống tinh th.n của cá một dân tộc
Có thể là trn s từng trận, và nhất thời, nhứnẹ nông binh, vối trarg Ị ’'hoả mai bắn bàng rơm con cúi’’ hoặc
“gươm đao ren lằng lưỡi dao phay” giành đưỢc phẩn thắng; nhưnr tiê chung, và lâu dài, sự so le vể lực lượng, sẽ làmcb nghĩa quân thất bại Sự lạc hậu của cả một phương tiứ sán xuất, cả một cơ sơ kinh tê và khoa học kỹ thuật rc đây sẽ làm cho cái thê tự kiêu ấu trĩ của “văn mim )ông Á”, của các loại “thiên tn ều ” phải nhường chồ do nột mặc cảm tự ti không tránh khỏi
Từ nỗi kliêi nhược của một \n Triíởner đoàn sứ bộ
ần đầu xuất kiing:
Từìgcv đi sứ đến Tây Kinh Thả' vệc Âu Châu luống giật ?vình'^’
đến niềm chia chát khi nhìn về mình của Cao Bá Quát:
Nhc vin nhá chữ buồn ta Con y ị ¡11 còn biết đâu là cao sáu TánGii từ vượt con tàu
Mớiìa ’ vũ trụ một màu bao la Giậm nil khi ở xó nhà
Vărvh/ơìig chữ nghĩa khéo là trò chxĩi'-'
Vlặc C'ám y sẽ còn tiếp tục, và đến mức đôi khi còn
PỊiũỉỉ Thanh GiỊ-i.
Cao Bớ Quáiỉ.- F Anh Iiíĩữ khúc hận Theo Trúc Khê: ( ’an Ba
Quát,Nx6.
Trang 28trơ thành một ám ảnh nơi Phan Chu Tỉinh, trong Thi
gửi, toàn quyền Bô (1906): ‘T han ôi! Nứ(Jc Nam bây gi
dân khí hèn vếu, dân trí th ì mờ tối, ví VỚI các nước châi
Àu, châu Mĩ, cách xa không biết bao nhiêu dặm đườĩiỄ Công việc ngày nay ai có thề dạy ta thì ta xin làm họ trò, ai có thể nuôi ta thì ta xin làm con, nhờ ai dạy d' nuôi nấng, dìu dắt ôm ấp lấy nhau, mong cho giông nc
còn sinh tồn ở trên mặt địa cầu này thôi”"’ Hoặc tr^
thành một nỗi day dứt đay nghiên, khi nhìn người, rc
lại nhìn mình, trong Cáo hủ lậu văn:
Khỏi làng m ắt chửa thấy xa Lại toan mai m ỉa hai nhà Khang Lương
ơ nhà chân chửa ra đường Lại toan ngang dọc bốn phương giang ho )
Người sao trời rộng đất dài
Ta sao co quăp một nơi th ế mà Người sao nhảy thắng bay xa
Ta sao chen chúc xó nhà với nhau Người sao làm chủ hoàn cầu
Ta sao nô lệ cúi đầu làm tôi Người sao sáng sủa đầy trời
Ta sao hồn tối như người đi đêm Lấy gương thử ngắm mà xem
Ra g ì mặt m ủi mà đem khoe đời^^’
Đi xa hớn, và dừng lại lâu hơn nơi “đất khách qui
Vãn thơ cách mạng Việt Nam Sđd, tr 207 - 208.
Bản dịch của Ngổ Vì Lâm, đăng trên Đáng cỏ tùng báo Sí> tÕ8; n ngày l ỉ ' 7 ’1907; Sách Văn thơ cách mạng Việt Nam Sđd, tr 265.
Trang 29ngưa” Nẹuyên Ai Quốc vẫn không rơi vào tự ti dân tộc, hậm chí cũng không giảiTi sút niềm tự hào vê' lịch
sử dai tòc khi Nguyễn Ai Quốc dựng nên nhữneí cuộc gặp ỊỠ giữa Hai Bà Trưng và Khải Định, hoặc Varen
và Pian Bội Châu Nhưng đất nước đang trong tình trạní cấp cứu - đó là điểu tác giả cần phải nói trước hết cho ¿ồng bào, và (lồng thòi cho cả nhân loại; và sự tự cứu íẽ là không đu, nêu không có sự đồng tình, sự ủng
hộ, sỊ liên minh của những người lao khổ ngoài biên giới :juốc gia; nếu việc đón bắt các cơ hội cách mạng trên sự sụp đố dây chuyền của chủ nghĩa đê quốc là khônạ kịp thòi Một hiện trạng tinh thần mới đòi hỏi xuất hiện trong thơ văn: ý thức giai cấp và tình cảm quôc tê; đó sẽ là cái làm thăng bằng trở lại siỊ so le và thiêr lệch trong tình cảm và ý thức của một dân tộc đang tìm đường
Chính văn thd Nguyễn Ái Quôc là nơi chứa đựng tinh :hần ấy, đê đưa dân tộc vào vị trí người đồng hành cùng nhân loại tiến bộ
*
★ -k
Đã xuất hiện và diễn biến một tình thê khập khiễng trong đòi sôiig văn học những năm đầu thê kỷ, đặc biệt lừ sau Thê chiên thứ nhất, do những biến động trong đời sông kinh tê xã hội Cùng vỏi xu hướng phát triên nền kinh tê tư sản trong khuôn khổ chê độ thuộc địa và sự phát triển của đời sống thành thị, đã hình thành những nhu cầu, những thị hiếu mối trong
Trang 30đòi sòn^ văn hoá, tm h thán của con ngùòi, tl'ùO'C hò
trong các ^lai t ầ n ^ t i ’u n g kĩu thuộc la n g lỏỊ) tièu l.i
san Nhủno' nhu cầu dó sẽ tìm được hìnlì ìhửc phô diỏi trong sự xuảt hiện khuynh hướng láns^ mạn, mà ngừc khai sinh là Tan Đà, và cuôn tiêu thuyêt có ý nghĩa m
đầu là Tô Tám Đời sông thành thị và sự ngoi lên củ
hệ ý thức tư sản gây rạn võ những nền nếp linh thầ:
cô truyền, - và vấp phải sự chông đôi của hệ ý thứ phong kiến, cũng là cơ sỏ làm xuất hiện khuynh hướn phê phán hiện thực, mỏ đầu vối những sáng tác củ 'N^guyễn Bá Học, Phạm Duy Tôn và Iihững trang đầ của Tú Mỡ, Nguyễn Công Hoan những năm 20 H? vhưynh hướng này rồi sẽ phát triến đê trỏ thành h¿
trào liiu- bao choán diễn đàn văn học công khai, từ sa
1930 qua phong trào Thơ mới, văn XUÔI Tự lực vă đoàn, và tiêu thuyết của các tác gia hiện thực
ĐỜI sông thành thị làm nảy nỏ nhu cầu đọc, và vă chương lần đầu tiên xuất hiện như một sân phâm hàn hoá Việc viẻt văn dần dần hình thành như một nghi
Sẽ có sự chuyên môn hoá đê làm xuất hiện mòt đội ng
ngữòi viết - tìm đến hoạt độiig thơ ván như m(
phương tiện kiêm sông, một nghề nghiệp Đấy là th( điểm có câu thơ Tản Đà:
Còn non, còn nước, còn trảng giỏ Còn có thơ ca bán phô phườìĩg^^^
Là thòi điểm mà hàng loạt tác phẩm trong gia tí dân gian và cổ điển của dân tộc sẽ đưỢc in và thàn sản phẩm bán mua nhộn nhịp trên các phô phường H
Trang 31NỘI feai Gòr
Đí là n:i€ing hiện UìỢnsỊ mói dã cliỗn ra trên dòi sô"n^ lao chí- nỉỊÔn luận, văn học từ những năm 20 trong3ự châp nhận cua chẻ độ thuộc địa
Tjiê Iihiing, trong mạch ngầm của đời sónẹ tinh thần dân tộc, vẫn âm ỉ và tuôn chảy một dòng vãỉi học yêu ntóc và cách mạng, đèn từ nhiều nẹiiồn; ngxiồn của các sĩ phu Nho sĩ, tửc là tầng lớp trí thức phong kiến yêu nước, tiêp lục phong trào Đòng du Đông kinh nghĩa thục; Iguồn của lớp thanh niên trí thức thuộc các tầng lớp tiéa tư san đón điiỢc nhiều luồng gió mới của phương Tây; 'à nẹi-ion của quần chúng trong hàng loạt thơ ca xuất Hện dồ;i dập qua các cao ti'ào cách mạng Rồi cùng tiếng '.úng cùa Cách mạng tháng Mưòi và sự th ất bại của C£C phor.g trào yèu niiớc chu\’ên từ khuynh hướng quân (hủ sang khuynh hướng dân chủ tư sản - đã hình thành một khuynh hướng mới mà sự trông dợi khao khát Ung ngne tiếng vọng các hoạt động của Nguyễn Ai Quôc từ phúcing Tây dội về là nhữnẹ dấu hiệu đầu tiên
Và và) nửa sau nhữug nãm 20, đã bát đầu xuất hiện
một ming th í m ang nội dung inỏi đó, nó là tiêng UÓI của
những tô chúc cách niạns^ đầu tién theo khuynh hướng
vô sán dưới anh hương của Cách mạng tháng Mưòi, và vối va tiò chi’ đạo tô chức của Nguyễn Ai Quốc Có cái
gì giôrg và k!iác giữa hai luồng văn học công khai, hoặc nửa cóig khai và bí niật kia“;* Một bên xuất hiện như sự đáp ứỉg các nhu cầu của dòi sôiig thành thị, của nhu cầu tư ỉản hoá, chông lại đạo đức phong kiên, nhàm giái phóng :on ng-.íời cá nhân, trong khuôn khô chê độ thuộc địa Ví một bèn vẫn tiêp tục các yêu cầu cơ bản của dan
Trang 32Lộc, giành độc lập cho đất nước, tự do cho nhân dân v; hướng Tô quốc đi vào chủ nghĩa xã hội.
Hai yêu cầu của lịch sử cùng tồn tại NhưiiÊ trong tìn h cảnh và số p h ận khác nhau
Một bên tran h thủ được hoàn cảnh công khai, nh(' vào ảnh hưởng của phong trào cách mạng, hũặc dưói ấ Ị
lực của lớp công chúng trung lưu thành thị đã tiếr hành đưỢc một sự cách tâii về hình thức: phá võ' câv văn biền ngẫu, đổi mới và hiện đại hoá ngôn ngĩỉ, di nhập các thê loại mới như kịch nói, văn xuôi (gồm đ{ các loại kí, truyện và tiểu thuyêt), làm thay đối diệr
m ạo thơ ca Từ đó, những thói quen, n h ữ n g nền nốỊ
sáng tạo và thương thức, tiếp nhận văn thơ không còr theo những quy phạm cũ
Và một bên, chỉ có thề lưu hành bí mật trong S Ị
cấm đoán và truy lùng của chính quyền thực dân Car chú ý ở dòng văn học này, ngay từ đầu th ế kỷ, đã có b( phận phải viết, cho ra mắt và lưu hành ở nước ngoài
Có khi suốt mấy chục năm nó chưa hề đưỢc trở về vớ công chúng Tố quốc, hoặc chỉ có thề được lưu truyềr một cách không chính thức, và luôn luôn phải chịu S(
phận truy đuổi Và đó cũng là một dấu hiệu đáng nhc của văn học cách mạng trong thòi đại đê quôc chỉ nghĩa - văn học, không chỉ là sản phẩm của dân tộc mí còn là của thòi đại Nhằm vào công chúng cơ bản lỉ tuyệt đại đa số nhân dân còn bị k im hãm trong tố tăm, và do sự cấm đoán của chính quyền thực dân luồng văn học đó phải sao cho dễ lưu hành, truyềr tụng; dòng vản học đó phải mang hình thức đại chúiiẾ trong hình thức, văn phong, ngôn ngữ, và các thê loạ
Trang 33quen dùng So VỚI văn học công khai, nó chưa có điêu kiện, hoặc ỉiả chưa thấy cần thiết có sự phá võ hoặc loại bó các hình thức cũ.
Không iể ván học của quần chúng, ngay một sô tác giả là cMến sĩ cách mạng cũng không trán h khỏi chịu
sự “h ạn chê” này Một hạn chế có tính lịch sử, và nằm trong mục đích tự giác: nhằm sao cho nội dung cách mạng đạt đươc sự thâm nhập vào các tầng lốp quần chúng đông đảo
Như vậy, đã có sự xuất hiện một tình hình xem ra
có vẻ mâu thuẫn Văn học hỢp pháp, công khai, không
có điều kiện đặt trực diện những vấn đề cơ bản của thời đại, hoặc có lúc chủ tâm né tránh, thì mang những đôi mới trong hình thức; còn vãn học cách mạng trực tiêp phô diễn nguyện vọng cơ bản của quần chúng, thì về hình thức, lại chưa thể hoặc không đặt yêu cầu phải hướng tới sự cách tân
Nhưng hãy thử đào sâu thêm một tầng nữa Mọi nhu cầu giải phóng con người vê mặt tình cảm, về tình yêu và hôn nhân tự do, vê đòi sống gia đình, V V , đều
là những nhu cầu chính đáng; và chính vì có nhu cầu
đó, nên ti’ong vàn mạch dân tộc, phải có chỗ cho sự tuôn chảy một dòng văn thơ Dòng văn thơ đó đã tìm được sụ hiện diện trong hoàn cảnh công khai; và cái hình thái đấu tranh mới - cũ mà nó gợi ra quả cũng đã
có một âm vang nhất định trong đòi sống tinh thần một lốp người Nhưng nếu một mặt cần trân trọng những đóng góp của nó, thì mặt khác, cũng cần nhận
rõ cái vấn đề cũ và mới đó quả không thể có hướng giải quyết và giải quyết triệt để, nếu không được đặt trong
Trang 34một yêu cầu giải phóng lớn và bao trùm , là vấn dê giai cấp và dân tộc Đất nước còn bị nô lệ, nhân d ân còn bị cầm tù trong xiềng xích và đói rách, thì nói chi đến việc giái phóng tình cảm, tinh thần Hoặc có chăng chỉ là trong một phạm vi thật hạn hẹp, và cũng chỉ cho một
số người ít ỏi Và nếu nhu cầu giải phóng tìn h cảm cần đưỢc phô diễn trong một hình thức bi thiết, lâm li; trong hưỏng khơi sâu vào đòi sống tâm lý; trong những khô thơ đưỢc giãn rộng, hoặc dài ngắn không đều; trong hình thức văn xuôi được nới lỏng ra khỏi các khuôn khổ cũ — có dẫn đến sự thay đổi hình thức, thì nhu cầu cơm áo, tự do, quyền sông con người lại cần một hình thức khác: gọn ghẽ, đơn giản và thô mộc như cách nói, cách nghĩ thường ngày, quen thuộc của quần chúng nhân dân
Sự cách tân là cần thiết, nhưng cần dựa chắc trên nhu cầu và trình độ của quần chúng đông đảo Sự đối mới hình thức không thể xa ròi yêu cầu biểu đạt các nội dung cơ bản của thời đại Một cách giải quyêt đúng và triệt để mâu thuẫn đó chỉ có thế tìm thấy trong ba phương châm: dân tộc, khoa học, đại chúng, như được
đúc kết trong Đề cương ưề văn hoá Việt N am nàm 1943
của Đảng Cộng sản Đông Dương
Từ nhu cầu đích thực và cơ bản có ý nghĩa thòi đại
đó, ta sẽ thấy trong thơ văn Nguyễn Ái Quôc nhữiig câu trả lòi thoả đáng và thích hỢp Nguyễn Ái Quốc đã \T£t với phong cách hiện đại sắc sảo, chủ yếu cho công chúng chính quôc ở phương Tây Nguyễn Ái Quốc đã viết trong
ý thức học tập cách viết của Anatôn, Phớràngxri, Anphôngxơ Đôđé, Lỗ Tấn, Tônxtôi, những truyện kí,
Trang 35tiểu phẩm “hiện thực” lên án chủ nghĩa thực dân
Nhưng chính ngưòi viết VỚI phong cách hiện đại ấy rồi
đây củng sẽ là ngLíời rát mực gian dị troiig cách chọn lời,
chọn chữ cho một áng văn chính trị như Đường Kách
mệnh (1927), hoặc chọn thê vãn sao cho thích hỢp với
đông đảo quần chúng như trong N hật ký chim tàu
(19c0) Người biêt viết cho một công chúng chọn lọc
bằriĩ cách huy độneí rộng răi cái vốn văn hoá của nhân loại, cũng là ngiíời biết viêt cho một dân tộc trên chín
mưa lăm phần trăm sô dân còn mù chữ Người có khả năriỊ huv động cái vôn tri thức của dân tộc và nhân loại,
ngúỉi nám vững nguyện vọng cơ bản của nhân dân,
cunr đồng thời là ngưòi có biệt tài vận dụng các hình thứ( phô diễn, chuyên chơ, từ văn, thơ đến kịch, tranh ảnh 0 Nguyễn Ái Quốc, những nội dung sâu xa luôn tìm tược sự phô diễn ỏ hình thức giản dị Và đó có thê
xem là đặc sắc, là biệt tài Phong cách này sẽ được Ngu'ễn Ái Quôc vận dụng và phát triến trong những
năn vê nước làm báo Việt Nam độc lập chuấn bị Tổng
khỏ: nghĩa; và sau 1945, trên lất cả các dạng loại văn thơ, ^ii cho các giới đồng bào cũng chỉ riêng tác giả
mới cao đươc và làm chủ được một lối văn như vậv.• • • • • ^ Troig cách thức đưa nội dung chính trị vào văn chương,
tron; > êu cầu tuyên truyền trực tiêp các nhiệm vụ cách mạnỊ, trong cách chọn câu chữ thể loại và lôi phô diễn sao ho linh hoạt, sát hỢp vối các loại công chúng khác nhai ta nhận ra ở ván thơ Hồ Chí Minh một cách giải quye có Mệu quá, và tôì ưu những khủng hoảng và so le đăt n kKá căng thang, ít ra là trong mía đầu thế kỷ XX của 'ăn học Việt Nam hiện đại Và đó cũng chính là
Trang 36mục tiêu mà Đảng cộng sán Đông Dương đã hiướng tới trong ba phương châm: dân tộc, khoa học, đạii chúng
đưỢc nêu trong Để cưcĩiiq văn hoá Việt Nam năim 1943,
cùng với quá trình chuẩn bị cho ngà\' Tổng khơi nghĩa
*
Như vậy là qua văn thơ, Nguyễn Ái Quốc đã đưa
ại một cách giải quvết đúng đắn và thích hỢp hai yêu cầu đặt ra cho văn học Việt Nam hiện đại; yêu cầu cách mạng hoá và hiện đại hoá nội dung và hình thức văn chương Hai yêu cầu vốn xen cài, khăng khít; không phải cách mạng hoá là chỉ nhằm vào nôi dung, và hiện đại hoá chỉ nhàm vào hình thức Có thê nói cả nội dung
và hình thức đều nhằm vào hai quá trình trên Và chính Nguyễn Ái Quôc là người thực hiện được sự gắn nối đó một cách trọn vẹn Hiểu các yêu cầu cơ bản của lịch sử, nói tiếng nói đích thực của nhân dân, nắm vững những biện pháp miêu tả vừa mới mẻ, vừa giản
dị, thích hợp vối mọi loại công chúng, Nguyễn Ái Quôc
đã đem lại cho văn chương không chỉ các phẩm chất mới, mà cả những hình thức mới, và kích thước mới Một nội dung hiện đại chân chính bao giờ cũng là một nội dung cách mạng; và một hình thức hiện đại chân chính bao giờ cũng là hình thức chuyên chở tôt nhất nội dung cách mạng Một hình thái hiện đại trong ý nghĩa chân chính của nó, không phải là đặt trong, sự so sánh với những gì thê giới có, mà là xét trong sự kêt hỢp những yêu cầu cấp bách n h ất của thời đại với cách
Trang 37phô dổn tiêp nhận quen thuộc trong truyền thống dân tộc và:ó hiệu quả nhất đôi với quần chúng nhân dân.Ttòi đai đê quốc chủ nghĩa đã thực hiện một sự cưỡng :hè triệt đê ‘‘bắt các dân tộc nônẹ dân phụ thuộc vào nhữr.g dân tộc tư sản, bắt phương Đông phải phụ thuộc "ào phương Tây" Sự cưỡng chê đó quả có hiệu lực vốmhủng mức độ khác nhau, ơ khu vực văn học công kiai, nhằm tạo một thê giối “theo hình ảnh của mình”' Sụ phát trien của các khuynh hướng lãng mạn, liện thực cùng nhiều khuynh hướng hiện đại khác tong văn học công khai từ những năm 30, trưốc hết nhi một sản phâm của chính cơ sở kinh tế, xã hội: nhưng ìồng thời có m ặt như sự sao chép, sự mô phỏng, dưới hn.h thức thu gọn, và sơ lược sự phát triển của mấy tb kỷ văn học phương Tây Đó là sự thế hiện xu hưống uôc tê hoá đòi sông văn học trên cơ sỏ ý đồ chủ quan c a giai cấp thống trị ơ nơi mà sự phát triển tư bản ch nghĩa hàng mấy th ế kỷ đã tạo nên một sự phát tiên văn học lần lượt hoặc xen cài của nhiều khuynl kưống, nhiều trường phái, thông qua đấu tranh pứ‘C tạp, thì ở các nước thuộc địa, chính quyển thông ti c.hỉ cho phép một sự tiếp nhận có tính chất áp đặt, hoc mô phỏng, chủ vếu trên các phần tiêu cực, hoặc vôiạa Đó là điểu ngay từ 1942, Ngxiyễn Ái Quốc
đã vạch-õ trong sự phân tích “chính sách ngu dân” của tliực dá iPháp đôi với Đông Dương; “Có học lịch sử nước Php đi nữa, thì người ta không hể đả động đến chươnglóii về cách mạng Ngưòi ta cấm học sinh đọc
Tuyên r3n của Đảng Cộng sản.
Trang 38tác phẩm của Huy^ô Riítxô và Môngtetxkiơ Nói tóm lại, trường học th ật tương xứng với chê độ cíñ khai sinh
ra nó""’ Và e^ần nua thê kỷ sau trong một dịp trò chuyện VỚI bạn bè nưốc ngoài, Hồ Chủ Tịch đã kế:
“Chúng nói rằng nhân dân chỉ cần thứ văn hoá loại hai Và vì th ế chúng gửi sách sang đây không phải Huygô và Anatôn Phơrăngxơ, mà là Klốt Farrê và sách của cái ông tên ông ta là gì nhỉ, à hiện nay đang là Bộ trưởng Bộ trưởng Bộ Văn hoá của Đờ Gôn A - à Manrô Chúng rấ t quảng cáo cho ông cố nhiên sức sống của dân tộc, cùng nhu cầu nội tại của bản thân văn học, không phải không có sức cưỡng lại trong những phạm vi nhất định mọi sự áp đặt của chính quyền thực dân Và những m ặt giá trị mà nó đạt đưỢc
là nằm trong mạch văn dân tộc, và vượt ra ngoài ý đồ chủ quan của giai cấp thông trị Nhưng kết quả đạt được của nó chỉ có giới hạn, và không thể cưỡng nối xu thê chung
Song song với quá trình quôc tê hoá theo lối cưỡng chê đó của chủ nghĩa thực dân là một quá trình khác, quá trình quôc tê hoá chủ động, tự giác, thuận theo sự phát triển của lịch sử, do những người cách mạng tạo nên Và chính Nguyễn Ái Quôc là người đi đầu, cũng là người tiêu biểu Với văn thơ Nguyễn Ái Quôc - Hồ Chí
'' Đây "công lf’ của thực dãn Pháp ỏ Đông Dưđng; Nxb Sự thật: H 1962,
tr.73.
" Dẫn theo Rut Bersatxki: Một CIIỘC gặp gỡ VỚI Chú tịch Hồ ('hí Minh;
Sách Cách đường xích đạo hai bước, Nxh, Nhà văn Liên Xô, Matxctva; 1967; Vãn hóa nghệ thuật cùng là một mặt trận, Sđcỉ, tr 516.
Trang 39Minh văn học Việt Nam hiện đại đã đi vào quỹ đạo văn hoc cách mạng th ế giối như một bộ phận hợp thành
Với văn thơ Nguyên Ai Quốc — Hồ Chí Minh, vãn học Việt Nam đã tim đưỢc một toạ độ thích hợp đ ế đón nhận và giải quyết các vấn đề của dãn tộc và thời đại
Đó là hiện tượng chỉ có thế diễn ra khi đất nước bị cuôn vào guồng chuyên của đế quốc, và đã nhanh chóng tìm đưỢc lốì thoát ở chủ nghĩa Mác-Lênin, ở con đường Cách mạng tháng Mưòi Đó cũng là hiện tượng góp phần chứng minh sự xuất hiện của văn học hiện thực
xã hội chủ nghĩa như là một hiện tượng thế giới Nó có mặt ở bất cứ nơi nào có hoàn cảnh xuất hiện những tiền đê cho một cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, theo hướng tiến lên chủ nghĩa xã hội
II NHÀ CÁCH MANG VÀ TỪ c u ộ c ĐỜI
HOẠT ĐỘNG CÁCH MẠNG
Một cuộc đời phong phú, sôi động Ngxíòi đã sôiig giữa dòng thác cuộn xoáy của một thời đại đầy biến cô Người chứng kiến cuộc “giao ban” của hai th ế kỷ sôi sục nliững cuộc tìm kiêm, không nản lòng, không sỢ hi sinh của bao thê hệ cha anh, nhưng đểu bất lực và th ất bại Ngưòi từng trải hai cuộc chiến tranh thê giới, lôi cuốn
cả nhán loại vào vòng binh lửa, mà các chiên binh và díin thường không phải chỉ bỏ thây trên đồng đất quê hương mình Người đã đi qua hai cuộc cách mạng có
Trang 40tầm thê giối, một ở phần đất châu Âu mênh mông, và một chính ngay trên Tổ quôc.
Không phải Người chỉ sông và chứng kiên, Người còn tham dự và tác động 0 cuộc cách mạng thứ nhất vào tháng 11-1917, Nguyễn Ái Quốc là ngươi dân sô' một của phương Đông lòng đầy ngưỡng vọng, tìm đường đến nơi phá vỡ một mắt xích của chủ nghĩa đê quôc, bất chấp bao ngăn trở bủa vây ơ cuộc cách mạng thứ hai, vào tháng 8-1945, Người là nhân vật khai lôi
mỏ đưòng, dẫn cả một đội quân đông hàng triệu tiên công vào thành trì của chủ nghĩa thực dân đang tan rã.Một cuộc đòi hành động - có hưống đúng, và không bao giờ ròi mục tiêu 0 thời điểm 1919, khi còn trong thân phận ngưòi dân mất nưốc, trong vị trí người thanh niên đi tìm đường, qua con mắt của Acnu (Arnoux), sau này là Chánh m ật thám Đông Dương;
“Con người thanh niên mảnh khảnh và đầy sức sông này có thể là ngưòi sẽ đặt cây chữ thập cáo chung lên nền thông trị của chúng ta ở Đông Dương”'” Và ở thòi điểm 1969, đúng tròn nửa th ế kỷ sau, khi Người vĩnh biệt đồng bào, đồng chí ra đi, cả một sự nghiệp lớn đã được tạo dựng, không chỉ trên phần đất Đông Nam châu Á, trong lời của đồng chí Gớt Hôn, Tổng bí thư Đảng Cộng sản Mĩ; “Người là nhà kiên trúc và tạo hình, tạo nên quá trình cách mạng th ế
Theo Hồng Hà: Thời thanh niên của Bác Hồ; Nxb Thanh niên; 1976;
tr 81.
Một lânh tụ ở bưóc ngoặt lịch sử; Hồ Chủ Tịch trong lòng nhẫn dân
thế giới, Nxh Sự thật, H ỉ 980, tr 143.