Bài viết trình bày xác định tỷ lệ viêm nha chu, tình trạng nha chu và mối liên quan giữa bệnh béo phì và viêm nha chu sau khi kiểm soát các yếu tố như tuổi, giới tính, trình độ học vấn, các thói quen nha khoa, thói quen hút thuốc lá và bệnh đái tháo đường típ 2 trên bệnh nhân đến khám tại Viện Y Dược học dân tộc Tp. Hồ Chí Minh.
Trang 1MỐI LIÊN QUAN GIỮA BỆNH BÉO PHÌ VÀ ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TÍP 2
VỚI TÌNH TRẠNG NHA CHU TRÊN BỆNH NHÂN ĐẾN KHÁM
TẠI VIỆN Y DƯỢC HỌC DÂN TỘC TP HỒ CHÍ MINH
Phạm Anh Vũ Thụy*
TÓM TẮT
Mục tiêu: Xác định tỷ lệ viêm nha chu, tình trạng nha chu và mối liên quan giữa bệnh béo phì và viêm nha
chu sau khi kiểm soát các yếu tố như tuổi, giới tính, trình độ học vấn, các thói quen nha khoa, thói quen hút thuốc
lá và bệnh đái tháo đường típ 2 trên bệnh nhân đến khám tại Viện Y Dược học dân tộc Tp Hồ Chí Minh
Đối tượng - Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang thực hiện trên 484 bệnh nhân trên 18 tuổi
(130 nam và 354 nữ, tuổi trung bình: 47,18 tuổi) đến khám lần đầu tại Viện Y Dược học dân tộc Tp Hồ Chí Minh từ tháng 1 đến tháng 6 năm 2015 Đặc điểm nhân khẩu xã hội học, thói quen nha khoa và hút thuốc lá được thu thập qua bảng câu hỏi tự điền Bệnh nhân được đo các chỉ số nhân trắc (chiều cao, cân nặng, chu vi vòng eo và vòng hông), được xét nghiệm đường huyết lúc đói và tình trạng đái tháo đường típ 2 được xác định Tình trạng nha chu gồm độ sâu túi nha chu (PPD), mất bám dính lâm sàng (CAL) và chảy máu nướu khi thăm dò (BOP) được khám Tình trạng béo phì được chẩn đoán dựa vào chỉ số BMI, vòng eo (WC), hay tỷ số eo/hông (WHR) theo tiêu chí chẩn đoán béo phì của Tổ chức Y tế Thế giới cho người Châu Á trưởng thành (WHO, 2000 và 2008)
Kết quả: Tỷ lệ viêm nha chu trên đối tượng béo phì dựa vào BMI, WC và WHR lần lượt là 38,9%; 35,4%
và 38,0%; cao hơn có ý nghĩa thống kê so với trên đối tượng không béo phì tương ứng là 22,1%; 23,9%; 22,8% (p≤0,001) Các chỉ số lâm sàng trên đối tượng béo phì cao hơn có ý nghĩa thống kê so với đối tượng không béo phì (p<0,05) Trong mô hình hồi quy đa biến, nam giới có số chênh viêm nha chu so với nữ giới là 1,87 khi béo phì dựa vào BMI (p<0,05) Người trên 45 tuổi có số chênh viêm nha chu là 3,29; 2,84 và 3,10 so với người dưới 45 tuổi lần lượt khi béo phì dựa vào BMI, WC và WHR (p<0,001) Số chênh viêm nha chu của đối tượng đái tháo đường lần lượt là 2,16; 2,03 và 2,20 so với đối tượng không đái tháo đường khi béo phì dựa vào BMI, WC và WHR (p<0,001) Số chênh viêm nha chu của đối tượng béo phì dựa vào BMI, WC và WHR lần lượt là 3,24; 1,75 và 2,69 so với đối tượng không béo phì (p<0,001)
Kết luận: Tỷ lệ viêm nha chu cao hơn và tình trạng nha chu trầm trọng hơn trên nhóm béo phì so với nhóm
nhóm không béo phì Có mối liên quan giữa béo phì (BMI, WC và WHR) với viêm nha chu sau khi kiểm soát các yếu tố như tuổi, giới tính, trình độ học vấn, số lần chải răng, khám răng định kỳ, thói quen hút thuốc lá và tình trạng đái tháo đường típ 2
Từ khóa: Béo phì, chỉ số khối cơ thể, vòng eo, tỷ số eo/hông, đái tháo đường típ 2, viêm nha chu
ABSTRACT
ASSOCIATION OF OBESITY WITH TYPE 2 DIABETES AND PERIODONTAL STATUS IN PATIENTS
REPORTING AT THE TRADITIONAL MEDICINE INSTITUTE, HO CHI MINH CITY
Pham Anh Vu Thuy * Y Hoc TP Ho Chi Minh * Supplement of Vol 20 - No 2 - 2016: 286 - 291
Objectives: To examine the prevalence of periodontitis, periodontal status and the association of obesity with
periodontitis and type 2 diabetes after controlling the confounding factors such as age, educational level, dental habit, smoking habit in patients who first visited at the Traditional Medicine Institute, Ho Chi Minh City, Vietnam
* Bộ môn Nha chu, Khoa Răng Hàm Mặt, Đại Học Y Dược Tp HCM
Tác giả liên lạc: TS Phạm Anh Vũ Thụy ĐT: 0916810874 Email: pavthuy@hotmail.com
Trang 2Methods: A cross sectional study was conducted on 484 adult patients (130 males, 354 females, mean age:
47.18 years old) who first visited at the Traditional Medicine Institute, Ho Chi Minh City from January to June,
2015 The socio-demographic characteristic, dental habits and smoking habit were investigated by the self-administered questionnaire Anthropometric index (height, weight, waist circumference and hip circumference), the fasting plasma glucose level were measured and the type 2 diabetes condition was determined Periodontal status including pocket depth (PPD), clinical attachment loss (CAL) and bleeding on probing (BOP) were examined Obesity were assessed by body mass index (BMI), waist circumference (WC), waist to hip ratio (WHR) using the World Health Organization criteria for adult Asians (WHO, 2000 and 2008)
Results: The prevalence of periodontitis in obese subjects for BMI, WC and WHR were 38.9%; 35.4% and
38.0%, respectively; those were significantly higher in non-obese subjects with 22.1%; 23.9%; 22.8% respectively The clinical parameters in obese group were significantly higher compared to those were in non-obese group In multiple regression analysis, males had the odd ratio of 1.87 for periodontitis compared to females by BMI Subjects with age more than 45 years had the odd ratio of 3.29; 2.84 and 3.10 for periodontitis compared to subjects less than 45 years by BMI, WC and WRH, respectively The odd ratios for periodontitis of type 2 diabetes subjects were 2.16; 2.03 and 2.20, compared to non-type 2 diabetes subjects by BMI, WC and WRH, respectively The odd ratios for periodontitis in obese subjects by BMI, WC and WRH were 3.24; 1.75 and 2.69 respectively, compared to non-obese subjects
Conclusion: The prevalence of periodontitis was higher and periodontal status was more severe in obese
subjects compared to non-obese individuals Obesity by parameters BMI, WC and WHR were associated with periodontitis after adjustment for confounding variables such as age, gender, education, dental habit, smoking habit and type 2 diabetes status
Keywords: Obesity, body mass index, waist circumference, waist to hip ratio, type 2 diabetes, periodontitis
ĐẶT VẤN ĐỀ
Béo phì đang được xem là vấn đề sức khỏe
bùng phát nhanh nhất trên toàn thế giới, với một
tỉ người đang bị dư cân hoặc béo phì theo ghi
nhận của Tổ chức Y tế Thế giới(10) Tỷ lệ béo phì
gia tăng theo tuổi, nhanh nhất ở người độ tuổi 45
trở lên, ở nữ cao hơn ở nam và ở thành thị cao
hơn ở nông thôn(2,11) Tỷ lệ người béo phì tăng
nhanh gắn liền với tăng nguy cơ tử vong cũng
như nguy cơ mắc các bệnh lý mạn tính, thường
gặp nhất là các bệnh tim mạch, tăng huyết áp,
đái tháo đường típ 2 và hội chứng rối loạn
chuyển hóa(3) Bệnh đái tháo đường là nguyên
nhân gây tử vong đứng hàng thứ 6 trong số các
nguyên nhân hàng đầu gây tử vong; đứng hàng
thứ 4 trong số các nguyên nhân gây tử vong do
các bệnh không lây nhiễm và là nguyên nhân
đứng hàng thứ 2 gây mù lòa ở người trưởng
thành(1) Bệnh nha chu là bệnh nhiễm trùng răng
miệng rất phổ biến và là nguyên nhân dẫn đến
mất răng Có nhiều bằng chứng cho thấy rằng
bệnh béo phì là nguy cơ của viêm nha chu vì các tác nhân tiền viêm tiết ra từ tế bào mỡ có ảnh hưởng đến các phản ứng của mô nha chu với mảng bám vi khuẩn(12,16) Tác động của bệnh béo phì sẽ làm trầm trọng tình trạng viêm nha chu thông qua các cytokin tiền viêm, điển hình như TNF-α, IL-6(3) Bên cạnh đó bệnh đái tháo đường cũng được xem là yếu tố nguy cơ đối với sự phát triển bệnh nha chu(4) Nhiều nghiên cứu cho thấy
tỷ lệ viêm nha chu và mức độ trầm trọng bệnh nha chu ở người đái tháo đường cao hơn ở người không đái tháo đường(5,6,8,9)
Với mong muốn được đóng góp thêm những hiểu biết về mối liên quan giữa các bệnh răng miệng với bệnh béo phì và đái tháo đường nói riêng, cũng như trục nghiên cứu về mối quan hệ giữa các bệnh răng miệng và bệnh toàn thân nói chung tại Việt Nam, nghiên cứu này được thực hiện nhằm đánh giá mối liên quan giữa bệnh béo phì và đái tháo đường với bệnh nha chu trên
Trang 3bệnh nhân đến khám tại Viện Y Dược học Dân
tộc Tp Hồ Chí Minh
ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu cắt ngang trên 484 bệnh nhân từ
18 tuổi trở lên đến khám, tư vấn và điều trị tại
phòng Khám thừa cân béo phì và Khoa khám
lâm sàng, Viện Y Dược học Dân tộc Tp Hồ Chí
Minh từ tháng 1 đến tháng 6 năm 2015 Bệnh
nhân đang hay đã điều trị nha chu trong vòng 3
tháng trước nghiên cứu hay đang mang mắc cài
chỉnh nha hay là phụ nữ đang mang thai hoặc
đang cho con bú không được tham gia nghiên
cứu hay mắc bệnh đái tháo đường típ 1 được
loại khỏi mẫu nghiên cứu
Bệnh nhân tham gia nghiên cứu được thu
thập những thông tin liên quan đến nhân khẩu
xã hội học (tuổi, giới tính và trình độ học vấn);
thói quen nha khoa (khám răng định kỳ, số lần
chải răng, dùng chỉ nha khoa và dùng nước súc
miệng); và thói quen hút thuốc lá qua bảng câu
hỏi tự điền Một sinh viên Răng Hàm Mặt năm
thứ 6 đã được tập huấn, hướng dẫn cho tất cả
bệnh nhân trước khi bệnh nhân tự điền vào bảng
câu hỏi
Tình trạng nha chu gồm chỉ số mảng bám PlI
(Loe và Silness, 1964), chỉ số nướu GI (Loe và
Silness, 1963), độ sâu khe nướu khi thăm dò PPD,
độ mất bám dính lâm sàng CAL và tình trạng
chảy máu nướu khi thăm dò khe nướu BOP của
các răng hiện diện trên cung hàm (ngoại trừ răng
khôn) của tất cả bệnh nhân trong nghiên cứu này
được khám bởi cùng một Bác sĩ Răng Hàm Mặt
đã được tập huấn và định chuẩn Tiêu chí chẩn đoán viêm nha chu trong nghiên cứu này dựa vào độ sâu túi khi thăm dò và độ mất bám dính
lâm sàng của Hội Nha chu Hoa Kỳ (AAP) và
Trung tâm kiểm soát và phòng ngừa bệnh Hoa
Kỳ (CDC), 2007 Viêm nha chu được xác định khi có ≥ 2 vị trí tiếp cận không cùng trên 1 răng
có mất bám dính lâm sàng ≥3mm và có độ sâu túi ≥4mmhoặc có 1 vị trí có độ sâu túi ≥5mm
Bệnh nhân được yêu cầu nhịn đói, mặc quần
áo mỏng, nhẹ, không mang giày dép và đứng trên một mặt phẳng khi đo các chỉ số nhân trắc gồm chiều cao, cân nặng, chu vi vòng eo và vòng hông; và được đo bởi một điều dưỡng có kinh nghiệm tại Khoa Chỉ số BMI (tỷ số giữa cân nặng (kg) và bình phương chiều cao (m2)) và tỷ
số eo hông (tỷ số giữa chu vi vòng eo và chu vi vòng hông) được tính Theo Tổ Chức Y tế Thế
giới (WHO, 2000 và 2008), chẩn đoán béo phì
dựa vào BMI khi BMI25kg/m2, dựa vào vòng eo (WC) khi WC ≥80cm đối với nữ; ≥90cm đối với nam và dựa vào tỷ số eo hông (WHR) khi WHR
0,85 đối với nữ; 0,90 đối với nam(13,15,18,19)
Bệnh nhân được xét nghiệm đường huyết lúc đói (nhịn ăn ít nhất 8 giờ trước khi xét nghiêm) Chẩn đoán đái tháo đường típ 2 khi nồng độ đường huyết lúc đói ≥7,0mmol/l(1) Chẩn đoán xác định tình trạng đái tháo đường típ 2 của bệnh nhân được thực hiện bởi các Bác sĩ tại Khoa Khám lâm sàng Viện Y Dược học dân tộc
Tp Hồ Chí Minh
KẾT QUẢ
Tỷ lệ viêm nha chu và tình trạng nha chu trên nhóm béo phì hay không béo phì
Bảng 1 Tỷ lệ viêm nha chu
Béo phì dựa vào BMI BP(+) 118 (38,9) 185 (61,1) 2,25 <0,001
BP(-) 40 (22,1) 141 (77,9) (1,48 – 3,42) Béo phì dựa vào vòng eo BP(+) 130 (35,4) 237 (64,6) 1,74 0,001
BP(-) 28 (23,9) 89 (76,1) (1,08 – 2,81) Béo phì dựa vào tỷ số
eo/hông
BP(+) 119 (38,0) 194 (62,0) 2,08
0,001 BP(-) 39 (22,8) 132 (77,2) (1,36 – 3,17)
Kiểm định Chi bình phương; Có ý nghĩa thống kê khi p<0,05
Trang 4Bảng 1 cho thấy đối tượng béo phì dựa vào
chỉ số BMI, WC và WHR có tỷ lệ viêm nha chu
lần lượt là 38,9%; 35,4% và 38,0%; trong khi các
tỷ lệ này tương ứng trên nhóm đối tượng không
béo phì lần lượt là 22,1%, 23,9% và 22,8%; thấp hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm béo phì
(p<0,01)
Bảng 2 Tình trạng nha chu
Béo phì dựa vào BMI BP(+) 2,58 (0,53) <0,001 2,61 (0,55) <0,001 7,14 (2,38 – 10,7) 0,02
BP(-) 2,21 (0,75) 2,25 (0,74) 4,76 (1,79 – 10,12) Béo phì dựa vào vòng eo BP(+) 2,51 (0,60) <0,001 2,55 (0,61) <0,001 6,55 (2,38 – 10,7) 0,17
BP(-) 2,23 (0,74) 2,24 (0,70) 5,36 (1,79 – 10,12) Béo phì dựa vào tỷ số eo/hông BP(+) 2,55 (0,55) <0,001 2,57 (0,56) <0,001 6,55 (2,38 – 10,7) 0,24
BP(-) 2,26 (0,76) 2,30 (0,75) 5,36 (1,79 – 10,12)
(*) Kiểm định t; (**) Kiểm định Mann Whitney U; Có ý nghĩa thống kê khi p<0,05
Tình trạng nha chu ở bảng 2 cho thấy giá trị
trung bình chỉ số PPD và CAL của các đối tượng
nghiên cứu trên nhóm béo phì cao hơn có ý
nghĩa thống kê so với nhóm không bị béo phì
khi đối tượng nghiên cứu béo phì dựa vào chỉ số
BMI, WC và WHR (p<0,01) Trị số chảy máu
nướu khi thăm dò trên nhóm béo phì cũng cao
hơn nhóm không béo phì nếu phân loại béo phì
dựa vào BMI, WC và WHR Tuy nhiên sự khác
biệt có ý nghĩa thống kê chỉ thấy khi phân loại
đối tượng nghiên cứu béo phì dựa vào BMI
(p=0,02)
Tỷ lệ viêm nha chu và tình trạng nha chu
trên nhóm đái tháo đường và không đái
tháo đường
Đối tượng nghiên cứu mắc đái tháo đường
trong nghiên cứu này có tỷ lệ viêm nha chu
48,3%, cao hơn có ý nghĩa thống kê so với tỷ lệ này trên đối tượng không đái tháo đường là 26,0% (p<0,001) Giá trị trung bình các chỉ số nha chu trên đối tượng đái tháo đường đều cao hơn đối tượng không đái tháo đường, cụ thể chỉ số
độ sâu túi nha chu, mất bám dính lâm sàng và chỉ số chảy máu nướu trên nhóm bệnh nhân đái tháo đường lần lượt là 2,72; 2,76 và 8,33; trong khi các trị số này tương ứng trên nhóm không đái tháo đường là 2,33; 2,35 và 5,36; thấp hơn có
ý nghĩa thống kê so với nhóm đái tháo đường (p<0,001)
Mối liên quan của béo phì và viêm nha chu
Bảng 3 Mối liên quan giữa béo phì và viêm nha chu
0,07 Nam 1,87 (1,16 - 3,03) 1,47 (0,93 - 2,31) 1,64 (1,03 - 2,61)
≤45 tuổi 1
<0,001
>45 tuổi 3,29 (2,10 - 5,16) 2,84 (1,85 - 4,37) 3,10 (1,98 - 4,81)
<0,001 ĐTĐ(+) 2,16 (1,40 - 3,34) 2,03 (1,32 - 3,12) 2,20 (1,43 - 3,38)
<0,001 BP(+) 3,24 (2,01 - 5,20) 1,75 (1,05 - 2,90) 2,69 (1,69 - 4,26)
Trong mô hình phân tích hồi quy đa biến sau
khi kiểm soát các yếu tố tuổi; giới tính; trình độ
học vấn; số lần chải răng; các thói quen nha khoa như khám răng định kỳ, dùng chỉ nha khoa, dùng nước súc miệng và thói quen hút thuốc lá,
Trang 5Bảng 3 cho thấy người trên 45 tuổi có số chênh
viêm nha chu là 3,29; 2,84 và 3,10 so với người
dưới 45 tuổi lần lượt khi béo phì dựa vào BMI,
WC và WHR (p<0,001) Nam giới có số chênh
viêm nha chu so với nữ giới là 1,87; 1,47 và 1,64
khi béo phì dựa vào BMI, WC và WHR (p<0,05)
Số chênh viêm nha chu của đối tượng đái tháo
đường lần lượt là 2,16; 2,03 và 2,20 so với đối
tượng không đái tháo đường khi béo phì dựa
vào BMI, WC và WHR (p<0,001) Số chênh viêm
nha chu của đối tượng béo phì dựa theo BMI,
WC và WHR lần lượt là 3,24; 1,75 và 2,69 so với
đối tượng không béo phì (p<0,001)
Phân tích hồi quy đa biến logistic, sau khi
kiểm soát các yếu tố: tuổi, giới tính, trình độ học
vấn, số lần chải răng, khám răng định kỳ, dùng
chỉ nha khoa, dùng nước súc miệng và thói quen
hút thuốc lá OR: Tỷ số chênh; KTC 95%: Khoảng
tin cậy 95%; Có ý nghĩa thống kê khi p<0,05
BÀN LUẬN
Nhiều nghiên cứu đã cho thấy tuổi là một
yếu tố nguy cơ của viêm nha chu, tỷ lệ mắc và
độ nặng của bệnh nha chu tăng theo tuổi(12) Kết
quả trong nghiên cứu này tương đồng với
nghiên cứu của Phạm Anh Vũ Thụy (2011) trên
người Việt Nam(14), tại Braxin của Pataro và cs
(2012)(12) Cơ chế về mối liên quan giữa tuổi và
viêm nha chu có thể là do mất bám dính mô nha
chu có thể được tích lũy theo thời gian hoặc có
thể do sự tiếp xúc lâu dài hơn với các yếu tố gây
bệnh(7,12) Trong khi đó, nghiên cứu của Hoàng Ái
Kiên (2014) không cho thấy có mối liên quan
giữa tuổi và viêm nha chu, điều này có thể do
tiêu chí chẩn đoán viêm nha chu trong hai
nghiên cứu khác nhau(5) Chúng tôi cũng thấy là
người nam có xu hướng bị viêm nha chu nhiều
hơn người nữ Mô hình hồi quy cho thấy có ý
nghĩa thống kê về mối liên quan giữa giới tính
và viêm nha chu khi xét béo phì dựa vào BMI
Nhiều nghiên cứu trên thế giới cũng cho thấy
nam giới có nguy cơ viêm nha chu cao hơn nữ
giới(16,19) Kết quả trong nghiên cứu này tương
đồng với nghiên cứu Saito và cs (2005)(16) hay của
Hoàng Hải (2005)(6) về mối liên quan dương tính
giữa đái tháo đường và viêm nha chu Trong mô
hình đa biến giữa béo phì và viêm nha chu có kiểm soát yếu tố đái tháo đường, kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy có mối liên quan có ý nghĩa giữa béo phì dựa vào chỉ số BMI, vòng eo
và tỷ số eo/hông với viêm nha chu; tương đồng với các nghiên cứu về mối liên quan này của nhiều nghiên cứu trên thế giới như nghiên cứu của Khader và cs (2009)(8), Pataro và cs (2012)(12) Trong một nghiên cứu trước đây trên bệnh nhân người Việt, chúng tôi cũng nhận thấy tỷ lệ viêm nha chu cao hơn và tình trạng nha chu cũng trầm trọng hơn theo mức độ béo phì dựa vào chỉ
số BMI(13) Tuy nhiên nghiên cứu của Torrungruang và cs (2005)(17), thì lại cho rằng không có mối liên quan giữa béo phì và viêm nha chu khi thực hiện trên một dân số nghiên cứu tại Thái Lan Mặc dù bản chất sinh học trong mối liên quan giữa béo phì và viêm nha chu cần được làm sáng tỏ hơn trong tương lai, nhưng có thể nó liên quan đến khả năng miễn dịch và các phản ứng viêm ở người béo phì Tình trạng béo phì làm thay đổi hệ thống miễn dịch của kí chủ, làm tăng tính nhạy cảm với bệnh và khiến người béo phì dễ có nguy cơ bị viêm nha chu Các cytokin gây viêm như TNF-α, IL-6 được mô mỡ tiết ra có thể xuất hiện và tăng trong dịch nướu của người bị béo phì, làm tăng các phản ứng viêm phá hủy mô nha chu Ngoài ra chất ức chế hoạt hóa plasminogen-1, sản sinh ra từ mô mỡ nội tạng, được cho là đóng vai trò quan trọng trong quá trình viêm nướu và làm giảm lượng
máu đến mô nha chu của người béo phì
Đây là nghiên cứu cắt ngang thực hiện trên một nhóm đối tượng bệnh nhân đến khám tại một Bệnh viện nên có một số hạn chế như cỡ mẫu chưa đủ lớn, mẫu nghiên cứu được chọn không đại diện cho dân số chung khi xét mối liên quan giữa béo phì, đái tháo đường và bệnh nha chu Ngoài ra, một số bệnh toàn thân khác
có thể liên quan đến viêm nha chu như bệnh tim mạch, tăng huyết áp, rối loạn lipdid, loãng xương, viêm khớp dạng thấp… chưa được kiểm
Trang 6soát Tuy nhiên kết quả của nghiên cứu này có
thể được ứng dụng trong việc tầm soát và điều
trị bệnh nha chu trên bệnh nhân đái tháo đường
típ 2, béo phì tại các Phòng khám, Bệnh viện và
Viện nghiên cứu Răng Hàm Mặt cũng như các
Bệnh viện, cơ sở Y tế có khám, tư vấn và điều trị
bệnh nhân đái tháo đường cũng như béo phì
KẾT LUẬN
Trong nghiên cứu này, chúng tôi nhận thấy
tỷ lệ viêm nha chu cao hơn và tình trạng nha chu
trầm trọng hơn trên nhóm béo phì so với nhóm
nhóm không béo phì Tỷ lệ viêm nha chu cũng
cao hơn và tình trạng nha chu cũng trầm trọng
hơn ở nhóm đái tháo đường típ 2 so với nhóm
không đái tháo đường Có mối liên quan có ý
nghĩa giữa béo phì dựa vào BMI, WC và WHR
với viêm nha chu sau khi kiểm soát các yếu tố
như tuổi, giới tính, trình độ học vấn, số lần chải
răng, các thói quen nha khoa như khám răng
định kỳ, dùng chỉ nha khoa, dùng nước súc
miệng và thói quen hút thuốc lá với tình trạng
đái tháo đường típ 2
LỜI CẢM ƠN:Tác giả chân thành cảm ơn Ban Giám Đốc, ThS
Tạ Thị Phước Hòa, Trưởng Phòng Chỉ đạo tuyến, Nghiên cứu
khoa học, Hợp tác quốc tế và BS CK1 Trần Thị Hương Lan,
Trưởng Phòng khám Thừa cân Béo phì, Viện Y Dược học Dân tộc
Tp Hồ Chí Minh, đã hỗ trợ và tạo mọi điều kiện thuận lợi để
chúng tôi thực hiện nghiên cứu này Cảm ơn ThS Trần Huỳnh
Trung và BS Nguyễn Thị Xuân Ngọc đã tham gia khám và thu
thập số liệu
TÀI LIỆU THAM KHẢO
classification of diabetes mellitus" Diabetes Care, 36(1),
pp.dc13-S067
(2007), Thừa cân-béo phì và một số yếu tố liên quan ở người trưởng
thành Việt Nam 25 - 64 tuổi Nhà xuất bản Y học, Hà Nội,
tr.13-14
general health: Relationship and management" Indian J
Endocrinol Metab, 16(1), pp.88-93
4 Genco R J, Williams R (2010), Periodontal disease and overall
health: a clinician's guide Professional Audience
Communications
đái tháo đường típ 2 Luận văn Thạc sĩ Y học, Đại Học Y Dược
Tp Hồ Chí Minh
đái tháo đường típ 2" Tạp chí Y học Tp Hồ Chí Minh, 15, tr.123
- 130
“Effects of human aging on periodontal tissues” Spec Care in
Dentist, 29(4), pp.149-155
association between periodontal disease and obesity among
adults in Jordan” J Clin Periodontol, 36(1), pp.18-24
(2014), “Associations between measures of central adiposity
and periodontitis among older adults” Community Dent Oral
Epidemiol, 42(2),pp.170-177
10 Ng M., Fleming, T., Robinson, M., et al (2014), “Global, regional, and national prevalence of overweight and obesity in children and adults during 1980–2013: a systematic analysis
for the Global Burden of Disease Study 2013” The Lancet,
384(9945),pp.766-781
11 Nguyễn Thị Xuân Ngọc (2014), “Mối liên quan giữa béo phì
và tình trạng nha chu trên bệnh nhân đến khám tại Viện Y
Dược Học Dân Tộc Tp Hồ Chí Minh” Khóa luận tôt nghiệp Bác
sĩ Răng Hàm Mặt, pp.1 - 35
12 Pataro A L, Costa F O, Cortelli S C, et al (2012), “Association between severity of body mass index and periodontal
condition in women” Clin Oral Invest, 16(3), pp.727-734
13 Phạm Anh Vũ Thụy, Trần Huỳnh Trung (2015), “Tình trạng răng và nha chu trên bệnh nhân đến khám béo phì tại Viện Y
Dược học dân tộc Tp Hồ Chí Minh”, Tập chí Y học TP Hồ Chí
Minh; 2: 294–302
14 Pham AVT, Ueno M, Shinada K, et al (2010), “Periodontal disease and related factors among Vietnamese dental
patients” Oral health Prev Dent, 9(2), pp.185-194
15 Phan Phước Duyên,Võ Thị Diệu Hiền và cs (2011), “Nghiên cứu tình trạng thừa cân - béo phì ở người 30-60 tuổi tại xã
Triệu Trung huyện Triệu Phong tỉnh Quảng Trị” Nội Tiết Đái
Tháo Đường, 6, tr.45-56
16 Saito T, Shimazaki Y, Kiyohara Y, et al (2005), “Relationship between obesity, glucose tolerance, and periodontal disease in
Japanese women: the Hisayama study” J Periodontal Res,
40(4), pp.346-353
17 Torrungruang K, Tamsailom S, Rojanasomsith K, et al (2005),
“Risk indicators of periodontal disease in older Thai adults” J
Periodontol, 76(4), pp.558-565
18 World Health Organization (2000), “The asia pacific perspective: redefining obesity”, pp.16-26
19 World Health Organization (2008), “Waist Circumference and Waist – Hip Ratio”, Report of a WHO Expert Consultation, Geneva, 8 – 11/12/2008
Ngày nhận bài báo: 29/01/2016 Ngày phản biện nhận xét bài báo: 13/02/2016 Ngày bài báo được đăng: 25/03/2016