GHI ÂM LỜI CHÚC TẾT ĐINH HỢl

Một phần của tài liệu Cứu tinh dân tộc Việt - Hồ Chí Minh: Phần 1 (Trang 156 - 159)

VÀ TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP ■ ■

Ngày 5-12-1946, Ngày 5-12-1946, Bác Hồ mòi ông vào Bắc Bộ phủ, Bác ân cần nói

99. GHI ÂM LỜI CHÚC TẾT ĐINH HỢl

Thật là một tin đột ngột làm cho cán bộ và nhân viên Đài tiếng nói Việt Nam cuống cả lên, sau khi được đồng chí Trần Kim Xuyến và đồng chí Trần Lâm phụ trách Đải phổ biến tin Bác Hồ sẽ đến Đài để ghi âm lòi chúc Tết của Bác gửi đồng bào cả nước, sẽ phát vào buổi phát thanh đầu tiên sáng mùng một Tết.

Mọi ngưòi chỉ kịp quét dọn nơi sẽ ghi âm lời Bác và làm nơi tập họp anh chị em đón Bác. Vừa dọn xong, thì đồng chí Xuyến hướng dẫn một ông cụ, dáng đi nhanh nhẹn, mặc bộ bà ba và áo ấm nâu, cổ quàng một khăn len nâu che kín tận cằm, chỉ chừa mũi và hai mắt sáng long lanh. Đó là Bác Hồ vừa vượt một quãng đường dài ngoài tròi tối đen, rất lạnh và mưa phùn.

Đáp lại tiếng vỗ tay hoan nghênh của anh chị em có mặt, Bác chào hỏi mọi người xong, ngồi xuông, bỏ mũ ra và hỏi đồng chí Xuyến:

- Thu ngay ở đây à?

Lúc đó, ở một bàn nhỏ bên cạnh, đồng chí Phan Nghiêm, một kỹ thuật viên trẻ đan.g cắm điện và điều khiển máy. Đây là một máy ghi tiếng vào đĩa mềm hiệu Wilcox, của Việt kiểu ở Pháp tặng Bác trong chuyến Bác dự Hội nghị Phông-ten-nơ-blô, về Bác đã chuyển

cho Đài để dùng trong công việc. Sau khi chuẩn bị xong, đồng chí Nghiêm báo với Bác, Bác liến cầm văn bản bắt đáu đọc lòi chúc Tết đầu tiên trong kháng chiến vối một giọng rõ ràng, dỏng dạc, không nhẩm, không vấp một chữ nào. Đáy là một bài thơ ''Chúc mừng năm mđ":

"Cờ đó sao vàng tung hay trước gió

Tiếng kèn kháng chiến vang dậy non sông Toàn dân kháng chiến, toàn quốc kháng chiến Chí ta dã quyết, lòng ta đã đồng

Tiến lên chiến sĩ, tiến ìên đồng hào!

Sức ta đã mạnh, người ta dă đông

Trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi Thông nhất độc lập nhất định thành công"

Trong 24 năm ỏ cương vị Chủ tịch nước, Tết nào Bác cũng có thơ "Chúc mừng năm mă" gửi đồng bào và chiến sĩ cả nước. Và có lẽ đây là một trong những bài thơ hay nhất - một lời tiên tri chính xác nhất. Đây thực sự là một lời hịch xung trận, mang cả hào khí non sông đất nước vào trận đánh một mất, một còn của toàn dân tộc với kẻ thù xâm lược.

(Theo Lê Quý)

100. CÒN MÀI NHỮNG LỜI TÂM HUYẾT

Cuộc kháng chiến toàn dân đã bước sang tháng tư - tháng 5-1947. Quân Pháp đã chiếm Hà Nội, Hải Phòng và một sô' thành phô', thị xã khác. Ngày 17-2-1947, trung đt)àn Thủ đô rút khỏi Hà Nội. Thực dân Pháp đưa quân xuông thị xã Hà Đông, Chương Mỹ, chuẩn bị tiẻn lén Xuán Mai. Phia Táy, từ cầ u Giấy, chúng đánh ra mạn Phục, làm le đánh chiếm thị xã Sơn Tây.

Bác Hồ vẫn ung dung đặt đại bản doanh ở chùa Một Mái, thuộc huyện Quốc Oai.

Chùa ở lưng chừng núi, suôt ngày đêm tiếng súng, tiếng bom từ các mặt trận xung quanh dồn dập vọng về. Đã có ý kiến đề nghị Bác sớm trỏ lại Việt Bắc để đề phòng những bất trắc có thể xảy ra vì chỗ ở của Bác quá sát mặt trận. Nhưng có nhiều công việc cấp bách đòi hỏi Bác phải hoàn thành trước lúc lên đường trở về hậu phương lớn Việt Bắc. Sau chuyến đi kiểm tra ở Thanh Hóa ngày 20-2-1947, kết hỢp với việc nắm tình hình ở các địa phương, với sự nhạy cảm chính trị của một thiên tài, Bác Hồ đã nhận ra rất sớm nguy

C(1 của một Đảng cầm quyền mà không thường xuyên tự rèn luyện để nâng mình lên ngang tầm với nhiệm vụ, dẫn đến xa ròi quần chúng, mất lòng tin của dân.

Trong bôi cảnh đó, ngày 1-3-1947, từ chùa Một Mái đã ra đòi một văn kiện lịch sử

"'Thưgửi các đồng chí Bắc bộ" của Chủ tịch Hồ Chí Minh, và ngay lập tức nó trở thành tài liệu học tập quan trọng đôl vổi toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta lúc bấy giò.

Trong thư, với những lời lẽ tâm huyết, thân ái nhưng cũng hết sức nghiêm khắc, Bác Hồ đă thẳng thắn vạch ra những thiếu sót, khuyết điểm, kiên quyết chống những biểu hiện quan liêu mệnh lệnh, chủ quan, công thần, xa ròi quần chúng...

Bác đặc biệt nhấn mạnh đến những khuyết điểm về công tác tố chức cán bộ, việc sử dụng con người, biểu hiện ở óc bè phái, óc hẹp hòi:

"Ai hẩu với mình thi dù nói không đúng củng nghe, tài không cỏ củng dùng. Ai không hâu với minh thi dù có tài củng dim họ xuống, họ phải mấy cũng không nghe".

Bác nhấn mạnh: "Đó là một chứng bệnh rất nguy hiểm. Nó làm cho đoàn thê mât cán hộ, kém nhất trí, thường hỏng việc".

Về óc hẹp hòi, Bác phân tích rất chí tình, chí lý:

"Chúng ta phải nhớ rằng, người đời ai củng có chỗ hay, chỗ dở. Ta phải dừng chỗ hay của người và giúp người chữa chỗ dở. Dùng người củng như dùng gỗ. Người thợ khéo thi gỗ to, nhỏ, thắng, cong, đều tùy chỗ mà dùng được.

Tư tưởng hẹp hòi, hành động củng hẹp hòi, thi nhiều thù, ít bạn. Người mà hẹp hòi ít kẻ giúp. Đoàn thể hẹp hòi thi không thê phát triển".

Bác phê phán nghiêm khắc những hiện tượng vô kỷ luật, và đặc biệt là việc xử lý kỷ luật không nghiêm:

“Nhiều nơi các đồng chí phạm lỗi, nhưng không bị trừng phạt xứng đáng, có đổng chỉ bị hạ tầng công tác nơi này, đi nơi khác lại ở nguyên cấp củ hay chỉ bị hạ tầng công tác theo hình thức, nhưng vẫn ở cấp bộ củ làm việc... Có đồng chí đáng phải trừng phụt, nhưng vi tinh cảm nể nang, chỉ phê binh, cảnh cáo qua loa cho xong chuyện. Thậm chi còn có nơi che đậy cho nhau, tha thứ lẫn nhau, lừa dối cấp trên, giấu giếm đoàn thế'.

Bác chỉ rõ:

‘T a i hại hơn nữa, nếu kỷ luật của đoàn th ể lỏng lẻo, những phần tử phản động sẽ (CÓ

cơ hội chui vào hàng ngủ ta đê phá hoại đoàn thể ta".

Bác đặc biệt nghiêm khắc phê phán chủ nghĩa cá nhân, thói địa vỊ:

“Có những đồng chí còn giữ óc địa vị, cô tranh cho đưỢc ủy viên này, chủ tịch kia...

lo ăn ngon, mặc đẹp, lo chiếm của công làm của riêng..., đạo đức cách mạng thểnà.o, dư luận chê hai thế nào củng mặc.

Có những đồng chí hay có tính kiêu ngạo, tự mãn, cho minh là cựu chính trí phạm, là người của Mặt trận thi giỏi hơn ai hết, ai củng không hằng minh, vẫn biết nhà pha đế quốc là nơi huấn luyện, vẫn biết Việt Minh là một đoàn thể gồm những người yếu nước, chăm lo việc nước. Nhưng han rằng ngoài Việt Minh còn biết bao nhiêu ngư(ời hay, người giỏi mà Việt Minh chưa tổ chức được. Vả lại, nếu chính trị phạm, nếu ngưiời của Mặt trận là giỏi hơn ai hết, thi những người không có "'hân hạnh" ờ tù, nhữnig người chưa vào Mặt trận là vô tài, vô dụng cả hay sao?”

Viết đến đây, Bác nhẹ nhàng nhắc nhở:

‘'Mỗi một đồng chí ta phải có thái độ khiêm tốn, càng cựu, càng giỏi, càng phái khiêm tốn, phải có lòng cầu tiến bộ. Tự mãn, tự túc là co mình lại, không cho mmh tiếín bộ thêm”.

Đã hơn nửa th ế kỷ trôi qua kể từ ngày Bác Hồ ngồi trên chiếc ghế đá ở chùa Mệột Mái viết bức thư tâm huyết gửi các đồng chí Bắc bộ và toàn thể đảng viên ta. Dạo ấ\Ỵ, đất nước đang ở tình th ế “ngàn cân treo sỢi tóc'. Kẻ thù mạnh hơn ta gấp nhiều lầm.

Nưóc Việt Nam độc lập còn non trẻ của chúng ta như bị bao vây tứ phía. Quân và dâm

ta với lòng dùng cảm tuyệt vời, thấm nhuần sáu sắc những lời dạy của Bác trong lá thư tâm huyêt, đã vừng bước đi lên giành nhiều thắng lợi.

Điều kỳ diệu là từ đó đến nav và mãi mãi sau này, những lòi tâm huyết của Bác vẫn còn nguyẻn giá trị và là những câu giáo huấn theo ta trong bước đưòng đi lên của cách mạng.

(Theo V. K)

101. “NẾU TÒI CHẤP NHẬN, TÔI LÀ KẺ HÈN MẠT”

Gần nửa đêm một ngàv trung tuần tháng 5-1947. Trong một căn phòng nhỏ chói lòa ánh đèn măng-sông, giữa thị xã Thái Nguyên tiêu thổ kháng chiến, Hồ Chủ tịch tiếp Pôn Muýtx (Paul Mus), cố vấn của Cao ủy Pháp Bô-lae (Bolaert).

Khi được giáo su' Hoàng Minh Giám đưa đến trước Hồ Chủ tịch, Pôn Muýtx vô cùng xúc động, ô n g già cám ơn Ngưòi đã cho gặp và xin phép đọc bản thông điệp không ghi vào giấy của phía Pháp trả lời thư đề nghị ngừng bắn ngày 2-4-1947 của Chính phủ ta.

Nội dung bức thông điệp có bốn điểm:

Một phần của tài liệu Cứu tinh dân tộc Việt - Hồ Chí Minh: Phần 1 (Trang 156 - 159)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(196 trang)