Thông qua những dữ kiện lịch sử, văn hóa có thể hiểu hơn về cách nhìn nhận, ứng xử của người Trung Quốc đối với kỹ nữ và từ đó có thể đi sâu phân tích, lý giải những vấn đề văn hóa liên
Trang 1LÊ THỊ THU THỦY
KỸ NỮ TRUNG HOA DƯỚI GÓC NHÌN VĂN HÓA HỌC
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH VĂN HÓA HỌC
MÃ SỐ: 60.31.70
Người hướng dẫn khoa học:
GS TSKH TRẦN NGỌC THÊM
Tp Hồ Chí Minh, tháng 02 năm 2012
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Đề tài “Kỹ nữ Trung Hoa dưới góc nhìn văn hóa học” là một đề tài còn tương đối mới mẻ Để hoàn thành đề tài một cách trọn vẹn, tôi đã nhận được rất nhiều sự hướng dẫn tận tâm và sự giúp đỡ nhiệt tình của các thầy cô, gia đình và bạn bè Những lời chỉ dẫn và giúp đỡ ấy chính là động lực lớn giúp tôi hoàn thành
đề tài này
Trước hết, tôi muốn bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới GS TSKH Trần Ngọc Thêm, người trực tiếp hướng dẫn tôi thực hiện luận văn này Trong quá trình thực hiện đề tài, tôi gặp không ít khó khăn, thiếu sót từ bố cục nội dung cho đến hình thức trình bày Những lúc ấy tôi luôn nhận được những lời góp ý và chỉ bảo tận tình của thầy, giúp cho đề tài của tôi ngày một hoàn thiện hơn Bên cạnh đó, tôi muốn cảm ơn các thầy cô đáng kính khác ở trong và ngoài khoa, gia đình và các bạn bè đã luôn giúp đỡ, ủng hộ và động viên tôi vượt qua những khó khăn và hoàn thành tốt luận văn của mình
Tp Hồ Chí Minh, tháng 02 năm 2012
Lê Thị Thu Thủy
Trang 3MỤC LỤC
DẪN NHẬP 5
1 Lý do chọn đề tài 5
2 Mục đích nghiên cứu 6
3 Lịch sử vấn đề 6
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 11
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 11
6 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu 12
7 Bố cục luận văn 13
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ KỸ NỮ TRUNG HOA 15
1.1 Khái niệm và phân loại kỹ nữ 15
1.1.1 Khái niệm kỹ nữ 15
1.1.2 Phân loại kỹ nữ 16
1.2 Chức năng và phương thức sinh hoạt của kỹ nữ 18
1.3 Kỹ nữ Trung Hoa nhìn từ chủ thể văn hóa 21
1.4 Kỹ nữ Trung Hoa nhìn từ không gian văn hóa 26
1.5 Kỹ nữ Trung Hoa nhìn từ thời gian văn hóa 30
1.6 Tiểu kết chương 1 42
CHƯƠNG 2: VĂN HÓA NHẬN THỨC VỀ KỸ NỮ 46
2.1 Nhận thức về địa vị xã hội của kỹ nữ 46
2.1.1 Nhận thức của khách thể 46
2.1.2 Nhận thức của chủ thể 51
2.2 Nhận thức về vai trò của kỹ nữ trong xã hội 54
2.3 Nhận thức về kết cục cuộc đời của kỹ nữ 60
2.4 Nhận thức về văn hóa kỹ nữ trong mối quan hệ với văn hóa nữ giới Trung Quốc 65
2.5 Tiểu kết chương 2 71
CHƯƠNG 3: VĂN HÓA TẬN DỤNG KỸ NỮ 74
Trang 43.1 Văn hóa tận dụng kỹ nữ của giới cầm quyền 74
3.2 Văn hóa tận dụng kỹ nữ của giới quý tộc và địa chủ 78
3.3 Văn hóa tận dụng kỹ nữ của giới thương nhân 81
3.4 Văn hóa tận dụng kỹ nữ của giới trí thức 89
3.5 Văn hóa tận dụng kỹ nữ của giới bình dân 93
3.6 Tiểu kết chương 3 96
CHƯƠNG 4: VĂN HÓA ĐỐI PHÓ VÀ LƯU LUYẾN KỸ NỮ 99
4.1 Văn hóa đối phó với kỹ nữ 99
4.1.1 Đối phó của khách thể 99
4.1.2 Đối phó của chủ thể 104
4.2 Văn hóa lưu luyến kỹ nữ 109
4.2.1 Trong văn hóa giao tiếp và nghệ thuật ngôn từ 109
4.2.2 Trong nghệ thuật thanh sắc 121
4.2.3 Trong nghệ thuật hình khối 123
4.3 Tiểu kết chương 4 130
KẾT LUẬN 133
TÀI LIỆU THAM KHẢO 140
PHỤ LỤC 151
1 Chức năng của kỹ nữ thể hiện qua đẳng cấp 151
2 Những nàng kỹ nữ nổi tiếng của Trung Quốc 154
3 Hoàng đế Đồng Trị, ông vua “nghiện” gái lầu xanh 160
4 Thần hộ mệnh của kỹ nữ 160
Trang 5DẪN NHẬP
1 Lý do chọn đề tài
Kỹ nữ là một hiện tượng tồn tại rất lâu đời, song hành với các chế độ xã hội loài người, và vượt mọi biên giới quốc gia lãnh thổ Kỹ nữ xuất hiện ở mọi nơi, từ phương Tây sang phương Đông, từ thời phong kiến cổ xưa hay trong xã hội hiện đại, đâu đâu cũng bắt gặp “bóng dáng” của kỹ nữ Kỹ nữ tồn tại cùng những bước thăng trầm trong lịch sử và biến tướng dưới nhiều hình thức khác nhau Tuy nhiên,
từ xưa đến nay, nhiều người chỉ nhìn nhận kỹ nữ ở một vài khía cạnh hay chỉ ở một lát cắt đồng đại chứ chưa đánh giá vấn đề này một cách hệ thống Chính vì thế người ta luôn xem kỹ nữ như một hiện tượng mặt trái trong xã hội với những định kiến chủ quan mà chưa thấy được vai trò, ý nghĩa của kỹ nữ trong tiến trình văn hóa
Trung Quốc là một đất nước có lịch sử lâu đời, có hơn 5000 năm văn hiến với nhiều nét văn hóa khác biệt và độc đáo Từ lâu, nền văn hóa này đã trở thành đề tài hấp dẫn đối với nhiều nhà nghiên cứu Có thể nói, việc nghiên cứu văn hóa Trung Hoa, dù ở khía cạnh nào, cũng đều mang đến cho ta nhiều điều bất ngờ và đáng suy ngẫm Người ta đã từng biết đến diện mạo của Trung Hoa qua các yếu tố văn hóa như ẩm thực, trang phục, hội họa, thư pháp, gốm sứ, giao thông đi lại Thế còn kỹ nữ Trung Hoa, liệu có gì đặc trưng và khác biệt?
Có thể nói, khi nhắc đến kỹ nữ, thì một trong những nước mà người ta hay nghĩ đến nhất là Trung Quốc Tại Trung Quốc, một đất nước có chế độ lễ nghi nghiêm ngặt và những quy tắc đạo đức khắt khe của Nho gia, kỹ nữ xuất hiện rất sớm và đã có lịch sử phát triển lâu đời Đặc biệt là từ đời Thanh trở về trước kỹ nữ
có một vai trò nhất định trong lịch sử phát triển của văn hóa nghệ thuật Trung Quốc, góp phần thúc đẩy sự phát triển văn hóa nước nhà Nếu tìm hiểu văn hóa Trung Hoa
mà bỏ qua dòng văn hóa này thì quả là một thiếu sót lớn
Trang 6Xuất phát từ những lý do trên, luận văn mong muốn hiểu thêm một khía cạnh của nền văn hóa đa dạng Trung Hoa, đồng thời hy vọng đem đến một cái nhìn mới
mẻ, hệ thống về vấn đề kỹ nữ Trung Hoa nói riêng và về kỹ nữ nói chung
2 Mục đích nghiên cứu
Mục đích của đề tài là tìm hiểu, xem xét một cách tương đối khái quát và toàn diện về dấu ấn của kỹ nữ trong nền văn hóa Trung Hoa Thông qua những dữ kiện lịch sử, văn hóa có thể hiểu hơn về cách nhìn nhận, ứng xử của người Trung Quốc đối với kỹ nữ và từ đó có thể đi sâu phân tích, lý giải những vấn đề văn hóa liên quan đến kỹ nữ Trung Hoa hiện còn bỏ ngõ Ngoài ra qua những đặc trưng văn hóa của kỹ nữ Trung Hoa sẽ giúp chúng ta hiểu rõ về một dòng văn hóa đã tồn tại từ rất lâu đời, len lỏi trong những dòng văn hóa khác và ảnh hưởng đến chính những dòng văn hóa đó Mục đích này sẽ là định hướng triển khai trong toàn bộ luận văn
3 Lịch sử vấn đề
Những vấn đề liên quan đến kỹ nữ từ lâu đã thu hút sự quan tâm, tìm hiểu của không ít nhà nghiên cứu Hình tượng kỹ nữ cũng trở thành đề tài của không ít các tác phẩm văn chương Các tài liệu liên quan đến đề tài có thể được chia thành hai nhóm chính: (1) Nhóm tài liệu nước ngoài liên quan đến kỹ nữ Trung Quốc; (2) Nhóm tài liệu tiếng Việt liên quan đến kỹ nữ Trung Quốc Trong từng nhóm tài liệu chính, người viết tóm lược nội dung và trình bày theo thứ tự thời gian xuất bản (từ gần đến xa)
Tài liệu nước ngoài liên quan đến kỹ nữ Trung Quốc:
孔庆东 2008:《青楼文化》世界知识出版社 (Khổng Khánh Đông 2008:
Văn hóa thanh lâu, NXB Tri thức thế giới)
Nội dung của công trình này trước hết đề cập đến tên gọi lầu xanh cùng những luận giải với kỹ viện Hầu như mọi khía cạnh của thanh lâu và cuộc sống ở
đó từ ma lực của lầu xanh, quy củ của lầu xanh cho đến tình yêu chốn lầu xanh, bi kịch lầu xanh… đều được khai thác triệt để Bên cạnh đó, tác giả không những đi
Trang 7sâu phân tích mối quan hệ giữa lầu xanh với gia đình, lầu xanh với giới trí thức, mà còn đánh giá những mặt “công – tội” của lầu xanh
武舟 2005:《中国妓女文化史》 东方出版中心 (Võ Châu 2005: Lịch
sử văn hóa kỹ nữ Trung Quốc, Trung tâm xuất bản Đông Phương)
Ở công trình này, tác giả trình bày nội dung theo 3 phần lớn: Sự xuất hiện và phát triển của văn hóa kỹ nữ (thời Tiên Tần, Tần, Hán, Ngụy Tấn Nam Bắc triều);
Sự hưng thịnh và kìm hãm của văn hóa kỹ nữ (thời Tùy, Đường, Ngũ Đại, Tống, Nguyên, Minh, Thanh); Sự phục hưng và tiêu vong của văn hóa kỹ nữ (thời Cận đại,
Hiện đại, Đương đại) Qua trình bày của tác giả, người đọc có thể hiểu thêm về các loại hình kỹ nữ trong văn hóa Trung Quốc, nguồn gốc cũng như quá trình phát triển của các loại kỹ nữ đó qua các thời kỳ: từ nảy sinh đến phát triển, từ xu thế hưng thịnh đến tiêu vong Ngoài ra, đặc trưng về đời sống, sinh hoạt của kỹ nữ, mối quan
hệ giữa kỹ nữ với xã hội cũng được đề cập tới Điều đáng chú ý trong công trình này là tác giả dùng rất nhiều trích dẫn từ các thư tịch cổ làm cứ liệu thuyết phục cho nội dung của mình
邵雍 2005:《中国近代妓女史》 上海人民出版社 (Thiệu Ung 2005:
Lịch sử kỹ nữ cận đại Trung Quốc, NXB Nhân dân Thượng Hải)
Đây là một tác phẩm chuyên đề lịch sử nghiên cứu về tình hình kỹ nữ Trung Quốc thời cận đại Toàn bộ cuốn sách được phân chia theo trình tự thời gian từ thời vãn Thanh cho đến đầu những năm giải phóng đất nước Trong tác phẩm này, tác giả đã trình bày những vấn đề mấu chốt liên quan đến kỹ nữ như: khái quát về nguồn gốc, chủng loại và kết cục của kỹ nữ cận đại Trung Quốc; đẳng cấp, quy ước ngành nghề trong kỹ viện; sự khống chế, bóc lột và ngược đãi của chủ chứa đối với
kỹ nữ; quan niệm tình dục của kỹ nữ cùng quan hệ với khách làng chơi của họ… Ngoài ra, ông cũng không quên thuật lại tình hình đời sống, phân bố và hoạt động của kỹ nữ ở những khu vực thành thị chủ yếu thời cận đại, cùng những chính sách
và thái độ của giới lãnh đạo đối với kỹ nữ
Trang 8 杜芳琴 - 王政 2004:《中国历史中的妇女与性别》天津人民出版社
(Đỗ Phương Cầm - Vương Chính 2004: Phụ nữ và giới tính trong lịch sử Trung Quốc, Nhà xuất bản nhân dân Thiên Tân)
Công trình này được xem là những nghiên cứu mới nhất trong lĩnh vực lịch
sử phụ nữ hay giới tính của những học giả lịch sử, dân tục học và khảo cổ học Đây
là một sự khảo sát quan hệ giới tính trên nhiều phương diện và biểu hiện đặc trưng diện mạo của người phụ nữ trong quá trình lịch sử kéo dài từ tiền sử cho đến cận đại
của dân tộc Trung Hoa Nội dung trình bày trong 7 phần lớn: Giới tính xã hội thời tiền sử; Chế độ phụ hệ tiếp diễn và chế độ phụ quyền được thiết lập: phụ nữ Hạ Thương Chu và giới tính xã hội; Phụ nữ và chế độ giới tính trung cổ; Ranh giới
“nội ngoại” và kết cấu “trật tự”: phụ nữ thời Tống; Gia pháp thời kỳ Tống Nguyên đến Minh Thanh và quan hệ hai giới; Phụ nữ thời Thanh và quan hệ hai giới; Trung Quốc cận đại: phụ nữ và quan hệ giới tính trong cục diện thay đổi Khác với những
sách viết về phụ nữ trước đây thường đi theo lối mòn là nghiên cứu phụ nữ theo kiểu mẫu “tự do – áp bức – giải phóng”, phụ nữ đơn thuần lệ thuộc vào phạm trù hôn nhân gia đình hay địa vị cao thấp trong xã hội, tác giả lại cố gắng làm sáng tỏ dấu vết của giới tính xã hội và phụ nữ trong lịch sử Phụ nữ vẫn được đặt ở vị trí trung tâm và chủ thể, nhưng xét theo ảnh hưởng từ sự biến đổi lịch sử của những quy định xã hội đối với phụ nữ và quan hệ giới tính Tác giả không ngừng đưa ra nhiều quan điểm mới, góc độ phân tích mới hay hình tượng lịch sử mới trong các chương mục của tác phẩm
1988: Trung Quốc xướng kỹ sử, NXB Thượng Hải Tam liên thư điện)
Kỹ nữ được tác giả nghiên cứu qua 6 nội dung lớn: Dẫn luận; Thời đại vu thuật; Thời đại kỹ nữ nô lệ và quan kỹ nảy sinh; Thời đại gia kỹ và kỹ nữ nô lệ tồn tại song song; Thời đại thịnh hành của quan kỹ; Thời đại tư nhân kinh doanh kỹ nữ
“Trung Quốc xướng kỹ sử” được xem là cuốn sách sử đầu tiên nghiên cứu về kỹ nữ
Trang 9một cách hệ thống và tỉ mỉ Công trình này thực sự là một tài liệu quý giá cho các nhà nghiên cứu không chỉ tại thời điểm lúc ấy mà còn cho cả bây giờ và sau này
Tài liệu bằng tiếng Việt liên quan đến kỹ nữ Trung Quốc:
Tất cả các sách bằng tiếng Việt liên quan đến kỹ nữ Trung Quốc hiện có đều
và khu vực; Lễ tục của con hát; Sáng tạo nghệ thuật của con hát; Chức năng văn hóa trong nghệ thuật dân tục của con hát; Con hát với sự giam hãm của văn hóa phong kiến, Chúng sinh tướng của con hát, Văn hóa con hát: một hiện tượng độc đáo Qua đây, người đọc hiểu hơn những cống hiến lớn lao đối với lĩnh vực văn hóa nghệ thuật Trung Quốc của con hát với tư cách là một quần thể xã hội
Chử Cống Sinh 2004: Lịch sử nô tỳ (Cao Tự Thanh dịch) - Tp HCM:
NXB Tổng hợp
Tác giả trình bày một số vấn đề liên quan đến nô tỳ qua 8 chương: Nô tỳ, cái bướu của xã hội phong kiến Trung Quốc; Đế vương với nô tỳ; Sĩ đại phu với nô tỳ; Nguồn gốc, sự nô dịch và ràng buộc nô tỳ; Các loại nô tỳ; Sự phản kháng của nô tỳ
và sự suy vong của chế độ nô tỳ; Nô tỳ với xã hội giang hồ; Suy nghĩ lịch sử về vấn
đề nô tỳ ở Trung Quốc Trong các nội dung này, tác giả đồng thời kết hợp nghiên cứu giữa lịch sử học với xã hội học, dân tục học và văn hóa học Ngoài ra, ông còn dành hẳn một mục để bàn về mối quan hệ giữa nô tỳ với con hát và kỹ nữ
Từ Quân, Dương Hải 2001: Lịch sử kỹ nữ (Cao Tự Thanh dịch) - Tp
HCM: NXB Trẻ
Trang 10Tác phẩm gồm chín chương: Lịch sử nghề kỹ nữ, Nguồn gốc kỹ nữ, Kỹ viện, Phương thức tiếp khách của kỹ nữ, Gió trăng kỹ viện, Sinh hoạt thường ngày của kỹ
nữ, Tôn giáo tín ngưỡng và tập tục của kỹ nữ, Tài hoa và công nghiệp của kỹ nữ, Số phận bi thảm của kỹ nữ Mỗi nội dung liên quan đến đề mục được tác giả trình bày khá chi tiết thông qua các cứ liệu lịch sử Trên phương diện nhìn nhận nghề kỹ nữ
từ góc độ cấu trúc xã hội, tác giả giới thiệu đến người đọc quá trình nảy sinh, phát triển cũng như đặc trưng đời sống của kỹ nữ Trung Quốc Tuy nhiên nhiều nội dung trong cuốn sách này được tác giả trình bày theo kiểu liệt kê, từ điển hóa chứ chưa phải là nghiên cứu
Lưu Cự Tài 2001: Lịch sử tuyển chọn người đẹp (Cao Tự Thanh dịch) -
Tp HCM: NXB Trẻ
Thông qua nhiều tư liệu mới mẻ về việc tuyển chọn người đẹp trong cung đình từ thời Tiên Tần đến thời Minh Thanh, tác giả đã giải thích cho người đọc biết được việc tuyển chọn người đẹp có từ khi nào, nguồn gốc có từ đâu không… Bên cạnh đó, những quan niệm xã hội, luật tục dành cho nữ giới cũng được nhắc đến trong cuốn sách này
Cố Tĩnh, Tình hình chế độ kỹ nữ thời cổ ở Trung Quốc như thế nào?
Nhóm người dịch: Trần Ngọc Thuận, Đào Duy Đạt và Đào Phương Chi
1999: Lịch sử văn hóa Trung Quốc (tập 1) - Hà Nội: NXB VHTT
Trong bài viết này, tác giả miêu tả đặc trưng kỹ nữ qua từng thời kỳ theo hướng liệt kê lịch đại Người đọc có thể nắm được một số vấn đề liên quan đến kỹ
nữ như kỹ nữ xuất hiện từ khi nào, được nhà nước quản lý và tổ chức ra sao Tuy nhiên, những miêu tả ở đây còn được trình bày một cách tổng quan và rất sơ lược
Ngoài các sách kể trên, còn có rất nhiều bài viết về kỹ nữ mang tính sưu tầm, dịch thuật, giới thiệu được đăng tải trên các trang internet
Rõ ràng, hiện tượng kỹ nữ và văn hóa kỹ nữ đã thu hút sự quan tâm của không chỉ các nhà nghiên cứu mà còn của đông đảo các đối tượng khác Nhưng
Trang 11nhìn chung, đa số các công trình nghiên cứu liên quan đến kỹ nữ đều theo hướng tiếp cận của sử học chứ chưa tiếp cận theo hướng văn hóa học Các tác giả công trình thường có xu hướng miêu tả đối tượng theo chiều lịch đại chứ chưa đi sâu vào phân tích, nghiên cứu kỹ nữ dưới góc nhìn văn hóa học Do đó, trên cơ sở kế thừa những kết quả nghiên cứu của các học giả đi trước, người viết sẽ triển khai đề tài của mình theo hướng tiếp cận khác: tiếp cận theo hướng hệ thống – cấu trúc Với hướng tiếp cận này, người viết có thể xem xét đối tượng dưới khía cạnh văn hóa một cách trọn vẹn, khái quát Từ đó có thể làm rõ đâu là đặc trưng văn hóa của kỹ
nữ Trung Hoa, phân biệt với kỹ nữ ở các khu vực khác Đó cũng xem như đóng góp mới của luận văn
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là kỹ nữ Trung Hoa từ góc nhìn văn hóa học Kỹ nữ Trung Hoa từ xưa đã được nhà nước công nhận, được tổ chức như một nghành nghề kinh doanh, lại được nhà nước bảo trợ và bị đánh thuế hẳn hoi Tuy về sau, kỹ nữ gắn liền với nhiều hiện tượng tiêu cực và thường bị xã hội phê phán, lên
án nhưng từ đời Thanh trở về trước, kỹ nữ đã có những cống hiến không nhỏ trong tiến trình phát triển của văn hóa Trung Quốc Đặc trưng văn hóa của kỹ nữ được chiếu rọi rõ nét trong mọi mặt của đời sống xã hội Những mặt giá trị và phi giá trị của kỹ nữ biểu hiện ở hầu hết các thành tố văn hóa, tiêu biểu nhất là ở văn hóa nhận thức, tận dụng và đối phó
Đề tài giới hạn phạm vi nghiên cứu trong hệ tọa độ như sau:
- Về chủ thể: người Trung Quốc (chủ yếu là người Hán)
- Về không gian: chủ yếu là hai miền Nam Bắc Trung Quốc
- Về thời gian: từ thời cổ đại cho đến hết thời kỳ phong kiến
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Về phương diện khoa học, việc tìm hiểu văn hóa kỹ nữ được xem là một mảng trong nghiên cứu tìm hiểu về văn hóa nữ giới Trung Quốc Để có cái nhìn hệ
Trang 12thống và toàn diện về văn hóa kỹ nữ Trung Hoa, trong quá trình nghiên cứu cần thiết phải đặt đối tượng trong mối tương quan với văn hóa nữ giới Trung Quốc Đề tài không những làm sáng tỏ vị trí của kỹ nữ trong nền văn hóa Trung Hoa, giúp chúng ta nhận ra đặc trưng của văn hóa kỹ nữ Trung Quốc, sự khác biệt so với văn hóa kỹ nữ ở khu vực khác mà bước đầu còn gợi mở những vấn đề lý luận cho nghiên cứu tìm hiểu về văn hóa nữ giới Trung Quốc Kết quả nghiên cứu sẽ góp phần hoàn chỉnh thêm bức tranh về văn hóa Trung Hoa, đóng góp tư liệu cho chuyên đề văn hóa Trung Quốc nói riêng và nghiên cứu về văn hóa thế giới nói chung
Về phương diện thực tiễn, qua những kết quả nghiên cứu trong luận văn hy vọng giúp người đọc có cái nhìn đúng đắn hơn, khách quan hơn đối với kỹ nữ nói chung và kỹ nữ Trung Hoa nói riêng, tránh những thành kiến của xã hội đối với kỹ
nữ như từ trước đến nay Mặt khác, việc tìm hiểu văn hóa của nước láng giềng còn giúp chúng ta tự nhận thức đúng đắn hơn về chính dân tộc mình Thông qua nghiên cứu tìm hiểu về kỹ nữ Trung Hoa, người viết cũng đồng thời muốn gợi mở những suy ngẫm về kỹ nữ Việt Nam
Ngoài ra, với đề tài này, người viết lại một lần nữa góp nhặt thêm chút kiến thức bổ ích về Trung Quốc, đất nước mà mình theo đuổi tìm hiểu bấy lâu, đặc biệt
là ở lĩnh vực văn hóa Kết quả nghiên cứu những mong đóng góp thêm tư liệu tham khảo cho những sinh viên đang học tập, nghiên cứu về Trung Quốc và những ai quan tâm đến đất nước Trung Quốc, văn hóa Trung Quốc, góp phần tăng cường sự giao lưu, học hỏi giữa hai nước vốn là láng giềng lâu đời
6 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu
Đề tài thuộc chuyên ngành nghiên cứu văn hóa học Vì thế để có thể làm bật lên mục đích của đề tài, người viết sẽ sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp văn bản: kết hợp các thao tác phân tích, tổng hợp để xử lý những tài liệu liên quan đến đề tài
Trang 13- Phương pháp hệ thống – cấu trúc: giúp phân tích những đặc trưng của kỹ
nữ Trung Hoa qua từng thành tố văn hóa cụ thể, từ đó có thể đưa ra một cái nhìn hệ thống, bao quát về vấn đề tiếp cận
- Phương pháp so sánh: ứng dụng trong so sánh kỹ nữ Trung Hoa với kỹ
nữ ở các khu vực khác, chẳng hạn Nhật Bản (cùng khu vực Đông Bắc Á), Việt Nam (khu vực Đông Nam Á) hay với phương Tây Từ sự so sánh này có thể làm bật ra đặc trưng của văn hóa kỹ nữ Trung Hoa
- Phương pháp phân tích đồng đại và lịch đại: để tìm hiểu những đặc trưng của văn hóa kỹ nữ Trung Hoa qua từng giai đoạn lịch sử
- Cách tiếp cận liên ngành: sử dụng tư liệu và phương pháp nghiên cứu của nhiều ngành khoa học khác như: lịch sử, văn học, nghệ thuật… để có cái nhìn toàn diện hơn về đối tượng nghiên cứu là kỹ nữ trong văn hóa Trung Hoa nói riêng và kỹ
nữ nói chung
Tài liệu tham khảo bao gồm các công trình nghiên cứu thuộc chuyên ngành văn hóa học và các ngành khác như lịch sử, xã hội học, văn học, kiến trúc, ngôn ngữ học,…; các bài báo, tạp chí, các bài viết trên mạng internet… có nội dung liên quan; các sách lý luận, tập bài giảng về văn hóa học, phương pháp nghiên cứu khoa học; các loại từ điển… Tài liệu tham khảo chủ yếu được viết bằng tiếng Việt và tiếng Hoa, trong đó những tài liệu tiếng Hoa giữ vai trò chủ đạo cho quá trình nghiên cứu Tuy nhiên, nguồn tài liệu liên quan đến kỹ nữ ở trong và ngoài nước cũng không nhiều, tài liệu tham khảo có giới hạn Với trình độ hiểu biết hạn hẹp, trong phạm vi
đề tài, người viết chỉ đưa ra một số vấn đề nhằm làm rõ vai trò của kỹ nữ trong nền văn hóa Trung Hoa Dù đã rất cố gắng nhưng đề tài không tránh khỏi những thiếu sót và còn nhiều chỗ chưa sâu, chưa sát, vì thế những ý kiến đóng góp sẽ giúp đề tài hoàn thiện hơn
7 Bố cục luận văn
Ngoài phần Dẫn nhập và Kết luận, nội dung chính bao gồm 4 chương:
Trang 14Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
Trong chương này, chúng tôi đưa ra những tiền đề cơ bản trong nghiên cứu văn hóa kỹ nữ Đó là việc tiếp cận kỹ nữ qua các vấn đề như: Khái niệm và phân loại kỹ nữ; Chức năng và phương thức sinh hoạt của kỹ nữ; Kỹ nữ Trung Hoa xét theo hệ tọa độ chủ thể - không gian – thời gian
Chương 2 VĂN HÓA NHẬN THỨC VỀ KỸ NỮ
Trong chương này, chúng tôi tiến hành khảo sát những vấn đề liên quan đến
nhận thức về kỹ nữ, xem thử quan điểm của người Trung Hoa đối với hiện tượng kỹ
nữ như thế nào? Địa vị của kỹ nữ nằm ở đâu trong xã hội? Họ đóng vai trò gì trong suốt tiến trình lịch sử văn hóa Trung Quốc? Tại sao kỹ nữ vẫn tồn tại trong một đất
nước có truyền thống gia phong lễ giáo nghiêm ngặt như Trung Quốc?
Thông qua phân tích hành vi, thái độ ứng xử của nam giới đối với kỹ nữ sẽ làm bật lên cảnh ngộ bi thảm của kỹ nữ, và từ đó hiểu sâu hơn về kết cục cuộc đời của họ
Chương 3 VĂN HÓA TẬN DỤNG KỸ NỮ
Ở chương này, chúng tôi đi vào làm rõ mặt giá trị của kỹ nữ trong văn hóa
Trung Hoa Điều ấy sẽ được làm rõ ở phần tận dụng những mặt tốt của kỹ nữ Và đối tượng tận dụng kỹ nữ được khảo sát lần lượt từ giới cầm quyền, quý tộc, quan
lại, địa chủ cho đến giới thương nhân, trí thức và bình dân
Chương 4 VĂN HÓA ĐỐI PHÓ VÀ LƯU LUYẾN KỸ NỮ
Nếu như ở chương 3 những mặt giá trị của kỹ nữ được thể hiện qua văn hóa tận dụng thì chương 4 dành cho hai nội dung trái ngược nhau là nghiên cứu về mặt phi giá trị của kỹ nữ cần đối phó và những giá trị cao mà kỹ nữ để lại tới mức khiến người ta phải lưu luyến
Trang 15CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ KỸ NỮ TRUNG HOA
1.1 Khái niệm và phân loại kỹ nữ
1.1.1 Khái niệm kỹ nữ
Kỹ nữ (tiếng Hán: 妓 女) trong con mắt của người hiện nay thường dùng chỉ những cô gái bán dâm Nhưng xem xét kỹ nữ trong suốt chiều dài phát triển của lịch
sử văn hóa Trung Quốc thì cách hiểu đó chưa hoàn toàn xác đáng
Kỹ nữ còn được gọi là xướng nữ (娼 女), người Hán cũng có khi gọi chung
kỹ nữ và xướng nữ là “xướng kỹ” (娼 妓) Vào thời cổ đại, chữ “kỹ” (viết là 妓1) trong từ kỹ nữ được hiểu là chữ “kỹ” (viết là 伎2 hay 技3) dùng để chỉ những nữ nghệ nhân chuyên biểu diễn nghệ thuật ca múa Đó chính là những ca nhi, vũ nữ thời xưa Còn chữ “xướng” (viết là 娼4) thì được hiểu là chữ “xướng” (viết là 倡5) cũng là từ chỉ những nghệ sĩ biểu diễn ca múa tạp kỹ thời cổ Trương Ấp, người
nước Ngụy trong cuốn Bì Thương giải thích rằng “kỹ là mỹ nữ” Lục Pháp Ngôn, người đời Tùy trong cuốn Thiết Vận thì lại nói: “Kỹ, nữ nhạc dã” (tức là kỹ nữ cũng chính là nữ nhạc – 妓, 女乐也) Những sách tra cứu, từ điển đời sau như Chính tự thông, Khang Hy tự điển, Từ nguyên… cũng đều giải thích “kỹ” là “nữ nhạc” Qua
đó có thể thấy, ý nghĩa đầu tiên và ý nghĩa hiện đại của từ “kỹ nữ” khác nhau rất xa Theo ý nghĩa ban đầu thì kỹ nữ vốn là những nữ nghệ nhân chuyên lo việc múa hát, hoàn toàn không phải là phụ nữ lấy việc bán dâm làm nghề nghiệp Còn theo ý nghĩa hiện đại thì kỹ nữ là những phụ nữ đem bán thân xác của mình đánh đổi lấy tiền của khách làng chơi Trong suốt bề dày lịch sử, hai nhóm kỹ nữ này tuy có sự khác biệt nhưng cũng rất gần nhau Người bán thân có lúc phải bán nghệ và kẻ bán
Trang 16nghệ lắm lúc cũng phải bán thân Vì thế, chúng tôi xin được khái quát định nghĩa kỹ
nữ như sau: Kỹ nữ là những người phụ nữ mưu sinh bằng cách dùng nhan sắc, tài nghệ và cả thể xác của mình để thỏa mãn nhu cầu của nam giới
1.1.2 Phân loại kỹ nữ
Kỹ nữ có rất nhiều chủng loại với vô số tên gọi khác nhau Theo đó thì cũng
có nhiều cách phân loại theo từng tiêu chí thích hợp Để tiện khảo sát xuyên suốt toàn bộ luận văn, chúng tôi đã chọn phân loại chủ thể theo ba tiêu chí dưới đây:
Trước hết, xét theo phạm vi tổ chức và đối tượng phục vụ, chúng tôi chia kỹ
nữ thành hai loại là: công kỹ và tư kỹ Công kỹ là những kỹ nữ chịu sự quản lý của
nhà nước Căn cứ vào khu vực hoạt động và đối tượng phục vụ của họ, có thể phân
ra làm ba loại: cung kỹ, quan kỹ và doanh kỹ
Cung kỹ (宫妓) là những kỹ nữ phục vụ trong hoàng cung, bao gồm những cung nữ chưa có danh phận gì và hàng loạt những vũ nữ ca múa Nhiệm vụ của họ chủ yếu là diễn xuất các tiết mục văn nghệ lúc hoàng đế tiến hành lễ tế, yến hội, các dịp chúc mừng hay cung cấp các hoạt động giải trí thường nhật cho vua chúa và chư hầu, thường không hầu hạ gối chăn
Doanh kỹ (营妓) là những kỹ nữ được sắp xếp cho sống trong kỹ viện của doanh trại quân đội Họ chủ yếu đảm nhiệm việc cung cấp khoái lạc cho tướng lĩnh
và binh sĩ, đồng thời cũng phải phục tùng các kỷ luật trong quân doanh
Quan kỹ (官妓) là những kỹ nữ do nhà nước lập ra thuộc quản lý của quan lại địa phương các cấp Nhiệm vụ của họ là mua vui, cung cấp lạc thú cho quan lại
và các tầng lớp xã hội khác Bên cạnh đó, họ cũng phải tham gia biểu diễn văn nghệ trong những buổi yến tiệc do quan phủ mở ra đãi khách (thường gồm cả việc hầu tiệc mời rượu)
Tư kỹ là những kỹ nữ do tư nhân nuôi dưỡng, ít hoặc không chịu sự quản lý của nhà nước Trong số này bao gồm gia kỹ (家妓), thị kỹ (市妓) và tư kỹ (私妓)
Trang 17Gia kỹ là kỹ nữ do tư nhân nuôi dưỡng trong nhà, chuyên phục vụ múa hát cho chủ, có khi đáp ứng cả chuyện phòng the khi chủ có nhu cầu Những người nuôi gia kỹ đa số là quan lại quý tộc hay phú hào thuộc vào loại gia đình quyền quý, vọng tộc Họ thường tiến hành huấn luyện nghệ thuật nghiêm khắc đối với gia kỹ,
vì thế, gia kỹ trở thành đội ngũ tiêu biểu cho trình độ nghệ thuật cao nhất đương thời Âm nhạc vũ đạo Trung Quốc không những được gia kỹ phát huy làm rạng rỡ truyền thống mà còn được tiếp tục lưu truyền bởi họ
Tư kỹ và thị kỹ là những kỹ nữ được kinh doanh theo hình thức cá thể Đây chính là những kỹ nữ thanh lâu thực sự Thị kỹ là kỹ nữ có đăng ký ghi tên chính thức với nhà nước, lệ thuộc vào giáo phường, tức là hộ “kinh doanh có chứng nhận” Còn tư kỹ là hộ “kinh doanh không có chứng nhận” đúng như tên gọi Đối tượng phục vụ của tư kỹ chủ yếu là thị dân đủ mọi ngành nghề, bao gồm trí thức, thương nhân, quan lại, người du lịch… Chỉ cần có tiền, họ đều không từ chối đón tiếp Vì thế, mặt xã hội mà tư kỹ tiếp xúc tương đối rộng, tuy nhiên trình độ nghệ thuật của họ về tổng thể thì không sánh được với cung kỹ, quan kỹ hay gia kỹ
Cách phân loại theo phạm vi tổ chức trình bày trên là kết quả tổng hợp của chúng tôi từ nhiều nguồn (cả sách lẫn internet), nó có thể được khái quát theo mô hình dưới đây:
Bảng 1 Phân loại kỹ nữ theo phạm vi tổ chức Thứ hai, xét theo trình độ của kỹ nữ, chia kỹ nữ thành ba loại: kỹ nữ cấp cao,
Trang 18Kỹ nữ cấp cao là những danh kỹ có tài sắc hơn người, phong cách lôi cuốn người khác Đa phần những nữ nhạc, con hát, vũ nữ đều thuộc đẳng cấp này Họ ngoài những phẩm hạnh có sẵn, còn thường được bồi dưỡng văn hóa tốt và huấn luyện nghệ thuật nghiêm khắc Một khi có cơ hội giành được sự ngưỡng mộ của quan lại quý tộc hay hoàng đế phong lưu thì họ có khả năng trở thành quý tộc Như
Lý Phu Nhân thời Hán Vũ đế là một trường hợp điển hình
Kỹ nữ cấp trung là những kỹ nữ tuy cũng có nhan sắc, phong cách hơn người nhưng lại kém về kỹ nghệ hay không giỏi ca múa Họ thường bắt đầu cuộc đời kỹ
nữ chủ yếu nhờ vào dáng vẻ xinh đẹp của mình
Kỹ nữ cấp thấp là những kỹ nữ chuyên thỏa mãn nhu cầu của nam giới bằng hành vi tình dục Điều kiện tất yếu của họ là tuổi tác thích hợp, cơ thể khỏe mạnh, còn về dung mạo, bồi dưỡng văn hóa hay đào tạo nghệ thuật thì không có yêu cầu đặc biệt nào
Thứ ba, xét theo chức năng hoạt động, chia kỹ nữ thành hai loại là sắc kỹ và nghệ kỹ Nghệ kỹ chỉ những kỹ nữ hành nghề chủ yếu dựa vào tài nghệ Họ thường
biểu diễn nghệ thuật thỏa mãn nhu cầu của người khác, ít hoặc không bán thân Còn sắc kỹ là những kỹ nữ hành nghề nhờ vào sắc đẹp, thể xác Họ chuyên phục vụ tình dục cho khách làng chơi
Các cách phân loại trên sẽ được vận dụng triển khai trong các chương mục tiếp theo của luận văn Tùy vào nội dung trình bày của mỗi chương mục mà chúng tôi lựa chọn chủ thể phân loại thích hợp
1.2 Chức năng và phương thức sinh hoạt của kỹ nữ
Xét từ chức năng chủ yếu thì có thể tách biệt kỹ nữ ở hai bộ phận Một bộ phận là những nghệ kỹ và nhóm còn lại là những sắc kỹ Nghệ kỹ thường là những nghệ nhân chuyên nghiệp Chức năng chủ yếu của họ là biểu diễn các hoạt động nghệ thuật như âm nhạc, vũ đạo, khúc nghệ, tạp kỹ, hý khúc… Tùy vào những hoàn cảnh cụ thể khác nhau mà việc phục vụ tình dục có lúc nhiều lúc ít, nhưng đây cũng
Trang 19chỉ là chức năng thứ cấp của họ, và hành vi này thường mang màu sắc lãng mạn nhất định Còn sắc kỹ thì lại giống như những kỹ nữ hiện đại, chức năng chủ yếu của họ là dùng sắc đẹp, thể xác để thỏa mãn người khác Phục vụ tình dục thường là biện pháp mưu sinh chủ yếu hay duy nhất của sắc kỹ Trong quá trình phục vụ tình dục, dù có lúc họ cũng tham gia múa hát nhưng đây chẳng qua chỉ là hoạt động hỗ trợ nhằm tạo ra không khí lãng mạn và tăng sức hấp dẫn của bản thân Vì thế, hoạt động biểu diễn nghệ thuật ấy đối với cuộc đời sắc kỹ vẫn là một chức năng thứ yếu
Khu vực nghệ kỹ hoạt động tương đối rộng hơn sắc kỹ Từ trung ương đến địa phương, từ quan phủ, doanh trại đến các thành phố thị trấn, đường lớn ngõ nhỏ… ở đâu cũng có dấu tích của nghệ kỹ Họ bao gồm toàn bộ cung kỹ các triều đại và phần lớn quan kỹ, ngoài ra còn có một số lượng không nhỏ thị kỹ Từ thời Tống, trong các thành thị đã xuất hiện hàng loạt thị kỹ nổi tiếng với tài nghệ xuất chúng, như đời Tống có Trương Tái Tái, Lý Sư Sư, đời Nguyên có Liên Chi Tú, Uông Liên Liên… Phạm vi hoạt động của sắc kỹ tương đối hẹp hơn, đa số họ là những kỹ nữ cấp trung và thấp sống trong kỹ viện ở các thành phố thị trấn
Do chức năng chủ yếu không giống nhau nên cách thức hoạt động của sắc kỹ
và nghệ kỹ cũng khác nhau Nghệ kỹ chủ yếu tham gia vào các lĩnh vực hoạt động nghệ thuật, bắt đầu từ giai đoạn trau dồi nghệ thuật cho đến thể hiện tài năng nghệ thuật Quá trình biểu diễn không chỉ là dịp những sáng tạo nghệ thuật của kỹ nữ được thực hiện, mà còn là dịp đưa đến vinh quang cho cuộc đời làm nghệ thuật của
họ Trong số kỹ nữ thì cung kỹ là những người được hưởng điều kiện nghệ thuật tốt nhất Bởi họ chính là những kỹ nữ được sắp xếp cư trú trong giáo phường ty – vốn
là một cơ cấu dạy và học nhạc vũ “Tuy người đứng đầu giáo phường thường do quan lại đảm nhiệm nhưng người phụ trách huấn luyện thường là nhạc sư, điều này bảo đảm cho cung kỹ có thể nhận được sự huấn luyện nghệ thuật tốt nhất và nghiêm
khắc nhất” [Võ Châu 2005: 132]
Nghệ kỹ phần lớn đều là những cô gái tài sắc vẹn toàn Vì thế, đối với nam giới, họ tràn đầy sức hấp dẫn về tình dục Tuy nhiên nghệ kỹ lại không xem việc
Trang 20phục vụ tình dục là biện pháp mưu sinh chủ yếu hoặc duy nhất, thêm vào đó một bộ phận nghệ kỹ còn phải chịu sự quản thúc của chính quyền hay nam giới, cho nên cách thức sinh hoạt tình dục của họ cũng có sự khác biệt với sắc kỹ Đối với những
kỹ nữ trong hậu cung, mặc dù họ được triều đình chu cấp việc ăn mặc, điều kiện sống có thể nói là ngang hàng với quý tộc, và dù họ đều có khả năng hiến thân cho hoàng đế nhưng hậu cung có đến trăm ngàn mỹ nữ, cơ hội để mỗi cung kỹ hầu hạ chăn gối cho hoàng đế là rất ít Có thể nói nỗi thống khổ lớn nhất của đa số những
kỹ nữ này là quanh năm bị trói buộc ở chốn thâm cung, bị thờ ơ, lạnh nhạt và không được thỏa mãn về tình dục Trong lịch sử đã có không ít những bài thơ cung oán phản ánh điều này Vì thế, đối với mỗi cung kỹ, họ không cho rằng bị hoàng đế chiếm hữu thể xác là một điều sỉ nhục mà ngược lại, đó là niềm ân sủng và vinh hạnh vô cùng lớn lao
So với cung kỹ thì hoạt động tình dục của quan kỹ (gồm cả doanh kỹ) có phần tự do hơn Vào thời Đường, quan kỹ địa phương đều có nghĩa vụ hiến thân cho những trưởng quan hành chính hay quân sự Những người tài nghệ xuất sắc trong số họ thường bị các vị quan tướng đứng đầu chiếm hữu, có khi giữa quan viên
và tướng lĩnh còn xảy ra sự tranh đoạt tình nhân Quan kỹ địa phương được quan phủ chu cấp về vấn đề ăn mặc nên việc họ hiến thân cho quan lại được xem là một nghĩa vụ, thông thường không thu phí Tuy nhiên, có lúc những vị quan này cũng tặng thưởng tiền bạc châu báu cho họ, vừa là thể hiện sự hài lòng của bản thân vừa
để tranh thủ thiện cảm của kỹ nữ
Sinh hoạt tình dục của nghệ kỹ phố phường tương đối phức tạp Nhìn chung, thu nhập của những kỹ nữ này chủ yếu là nhờ bán nghệ Nhiều người trong số họ sau khi lấy chồng thường cùng chồng lập các gánh hát gia đình bán nghệ, vì thế họ không cần thiết phải phục vụ tình dục cho người khác Đa số những kỹ nữ này có thể trải qua cuộc sống vợ chồng bình thường Tuy nhiên, nếu một người quyền cao chức trọng nào đó muốn kỹ nữ đáp ứng nhu cầu tình dục của họ thì dù là đã có chồng, kỹ nữ ấy cũng phải vui lòng phục vụ Hoạt động tình dục của những nghệ kỹ phố phường chưa lấy chồng dù có phần tự do hơn nhưng cũng không phải là tùy
Trang 21tiện Họ cũng có những tiêu chí lựa chọn trong việc hiến thân cho nam giới: có thể
là vì mến mộ tài hoa phong lưu của đối phương, bị ép buộc bởi địa vị quyền thế, hay do không cưỡng lại sức mê hoặc của tiền tài
Nói về phương thức sinh hoạt của sắc kỹ, thì từ thời Đường đến thời Thanh
về cơ bản là giống nhau Họ chịu sự quản lý của chủ kỹ viện và phải dùng nhan sắc lẫn thể xác để mưu sinh Những kỹ nữ lần đầu vào kỹ viện sẽ được các ông bà chủ tiến hành huấn luyện một số kỹ xảo trăng gió cơ bản như cách ăn mặc trang điểm,
cử chỉ lời nói, cách liếc mắt đưa tình, thậm chí là những thủ thuật chốn phòng the Mục đích là khiến kỹ nữ có thể hấp dẫn và mê hoặc nam giới, từ đó tăng thu nhập cho kỹ viện Một số kỹ nữ còn được hướng dẫn học các kỹ năng đàn hát, làm thơ từ, câu đố… để đáp ứng nhiều nhu cầu khác nhau của khách làng chơi Cách thức hoạt động của sắc kỹ chủ yếu có hai kiểu: Một là tiễn khách cũ đón khách mới ngay tại
kỹ viện, đây là phương thức chủ yếu Hai là ra ngoài phục vụ theo lời mời, thường
do những người nổi trội trong sắc kỹ đảm nhiệm
1.3 Kỹ nữ Trung Hoa nhìn từ chủ thể văn hóa
Sự xuất hiện và phát triển của kỹ nữ trên thế giới có thể nói là bắt nguồn từ rất xa xưa Có những ý kiến cho rằng kỹ nữ vốn là những nữ tu chuyên hành dâm hiến tế trong tôn giáo thời cổ đại ở một số nước Trung Cận Đông (bao gồm Ai Cập, Canaan, Phoenica, Babylonia, Assyria, Lydia, Ba Tư, Ấn Độ, Mumidia và Tây Phi)
và Hy Lạp Hành dâm hiến tế có nhiều dạng Nó được giải thích như một nghi lễ mà qua đó phụ nữ hiến dâng trinh tiết của mình cho một vị thần nào đó “Như trong nghi lễ Myletta ở Babylon, mỗi phụ nữ đều phải túc trực ở đền thờ thần Ishtar và chấp nhận giao hợp với người đàn ông đầu tiên ném đồng xu vào lòng cô ta Hay ở đền thờ thần Vệ Nữ nổi tiếng nhất tại Corinth, Hy Lạp, các nữ tu tế thường phục vụ như gái điếm Hành dâm được xem như nghĩa vụ thường xuyên của một tầng lớp nữ
tu nhất định là thông lệ ở Trung Đông” [Nguyễn Thị Lan Anh 2008: 15]
Một học giả người Trung Quốc là Vương Thư Nô trong công trình “Trung Quốc xướng kỹ sử” (cách nay hơn nửa thế kỷ) cũng cho rằng kỹ nữ bắt nguồn từ
Trang 22những nữ thầy tế trong thần miếu, gọi là nữ vu (女巫)6 [Võ Châu 2005: 41] Nữ vu
đã sớm xuất hiện vào thời nguyên thủy, đó là sứ giả giữa người và thần, không phân biệt là nam hay nữ đều có thể đảm nhận Trách nhiệm của họ là cải trang thành thần thánh, vừa hát vừa nhảy múa để trình bày những ý nguyện của con người đến thần linh, đồng thời truyền đạt những lời dạy của thần lại cho con người Vào thời Ân Thương, hoạt động cúng tế của tôn giáo nguyên thủy này rất thịnh hành Phụ nữ làm
bà mo, bà đồng còn được gọi là vu thần (巫神) Nữ vu đã là “thần” thì tất nhiên sẽ khó lấy chồng một cách chính thức Hàng ngày ngoài việc bốc quẻ, nói khoác, thời gian của họ thường nhàn rỗi, do đó khó tránh khỏi nảy sinh chuyện vụng trộm với những thầy mo khác giới hay bỡn cợt với cả các ông chủ nô lệ Bà đồng không phải lao động sản xuất nên có thời gian trang điểm, làm đẹp cho bản thân Các ông chủ
nô lệ tình nguyện tặng quà cho họ, cặp kè với họ, tạo nên quan hệ giữa “gái làng chơi và người chơi gái” Loại bà đồng làm kỹ nữ này đã trở thành một nghề phổ biến trong xã hội Ân Thương, cho nên thời đại này còn được gọi là “thời đại vu xướng” (巫娼时代) Tuy nhiên, kết luận nữ vu là nguồn gốc của kỹ nữ Trung Quốc vẫn thiếu những tài liệu thiết thực đáng tin cậy và lập luận của nó dường như chưa
đủ sức thuyết phục Bởi quan điểm trên xuất phát từ suy nghĩ cho rằng những nữ vu cũng giỏi ca múa giống như kỹ nữ về sau, trong khi đó nguyên nhân cơ bản mà những phụ nữ đời sau làm kỹ nữ không phải là vì giỏi ca múa, mà là vì nhu cầu kinh
tế hay chính trị bức bách Một điểm đáng lưu ý nữa là nữ vu thời Ân Thương trên thực tế là một chức quan, có thể xếp vào hàng quan lại Dù là về mặt kinh tế hay chính trị thì những nữ vu đều có địa vị tương đối cao Như vậy thì, nữ vu không cần phải dựa vào việc bán dâm để sinh tồn Mặt khác, vào thời cổ đại người ta rất sùng bái quỷ thần nên mới tin vào vu thuật, vậy liệu những người đàn ông bình dân có dám bỡn cợt với nữ vu – vốn là sứ giả của quỷ thần? Rõ ràng quan điểm cho rằng nguồn gốc của kỹ nữ có liên quan đến những nữ thầy tế không phù hợp với tình hình xã hội của Trung Quốc
6 Bà mo, bà đồng
Trang 23Vậy thì câu hỏi đặt ra là kỹ nữ xuất thân từ đâu? Do động cơ của kỹ nữ, địa
vị của khách làng chơi hay các nguyên nhân xã hội, chính trị, kinh tế… đều không giống nhau khiến cho nguồn gốc của kỹ nữ cũng trở nên phức tạp Nhìn chung, kỹ
nữ chủ yếu bắt nguồn từ ba tầng lớp trong xã hội
Trước hết, đa số kỹ nữ có nguồn gốc từ những nữ nô lệ, nữ tù binh và những
phụ nữ trong gia đình kẻ phạm tội, con hát… bị bắt làm nô lệ Những phụ nữ này không có tự do thân thể và đa số bị bức làm kỹ nữ Tù binh chính là một trong những nguồn gốc của cung kỹ, quan kỹ và doanh kỹ sau này
Từ thời Hạ Thương thì chế độ nô lệ đã hình thành và phát triển, nguồn gốc chủ yếu của nô lệ là những tù binh bắt được trong chiến tranh Trong số nô lệ thì đàn ông chủ yếu tham gia vào hoạt động lao động sản xuất, phụ nữ chủ yếu làm nô
tỳ, đảm đương những công việc mang tính phục vụ Những người lao dịch trong cung đình hay quan phủ được gọi là quan nô tỳ (官奴婢), còn người phục vụ trong gia đình tư nhân thì gọi là tư nô tỳ (私奴婢) Quan nô tỳ chủ yếu có nguồn gốc từ tội phạm cùng người thân của họ và con cái do nô tỳ sinh ra Còn tư nô tỳ đa số là con cái của những người dân nghèo (bao gồm tự bán mình hay bị ép bán) và con cái
do nô tỳ sinh ra, ngoài ra còn có những người vốn là quan nô tỳ được hoàng đế ban thưởng Những người chiếm giữ tư nô tỳ chủ yếu là quý tộc quan lại, thương nhân
và địa chủ…, số lượng cũng đến hàng chục, hàng vạn người Đương nhiên những tư
nô tỳ được đưa vào quan phủ hay được bổ sung vào triều đình cũng là một trong những nguồn gốc của quan nô tỳ Cả quan nô tỳ lẫn tư nô tỳ đều ít tham gia vào những công việc lao động sản xuất mà chủ yếu làm những công việc phục vụ trong gia đình, quan phủ hay cung đình Ngoài ra họ còn là công cụ giải trí cho vua chúa, quý tộc, quan lại hay địa chủ, thương nhân Những người phụ nữ đảm nhiệm việc mua vui này thường được tô phấn điểm son, ăn mặc áo quần là lượt để phục vụ múa hát và cả hầu hạ chốn phòng the
Thời Ngụy Tấn Nam Bắc triều vẫn còn tàn dư của chế độ nô lệ Thời kỳ này còn lập ra những nơi gọi là nhạc hộ (乐户) và doanh hộ (营户) mà thân phận của
Trang 24những người thuộc nơi ấy cũng gần với nô lệ Nhạc hộ dùng để chỉ hộ tịch của những nghệ nhân chuyên hoạt động ca múa như nữ nhạc, con hát… Họ bị xem là thân phận thấp hèn, không được xếp vào loại lương dân Những phụ nữ trong nhạc
hộ chính là kỹ nữ Doanh hộ chỉ những hộ dân bị đánh chiếm, bị bắt làm tù binh trong cuộc chiến tranh giữa các nước thời kỳ Thập lục quốc, Đông Tấn, Nam Bắc triều Họ được phân bố ở các nơi, chịu sự quản lý của quân đội, thân phận thường thấp hơn bình dân và cũng không có tự do thân thể Nam giới thì tham gia vào các hoạt động lao động sản xuất, lấy sản phẩm cung cấp cho quân đội, còn nữ giới thì thường phải lo việc lao dịch trong quân ngũ Cuộc đời của những phụ nữ doanh hộ này không khác gì doanh kỹ đời Hán về sau [Võ Châu 2005: 49 - 52]; [Từ Quân – Dương Hải 2001: 131 - 138]
Nguồn gốc thứ hai của kỹ nữ là từ những góa phụ hay con gái gia đình bình
dân Những phụ nữ này tuy địa vị xã hội không cao nhưng đều được tự do về thân thể Trong số họ có người vì nguyên nhân kinh tế hay chính trị mà bị bức ép làm kỹ
nữ, có người thì lại vì theo đuổi cuộc sống xa hoa hưởng lạc mà tự nguyện hiến thân Từ sau đời Hán trở đi, việc tuyển chọn những cô gái nhà lành vào cung đã trở thành một loại chế độ Trong số những cô gái được tuyển chọn này, có người là tự nguyện và có người bị ép buộc Ngoài ra, không ít cung nữ các triều đại – đa số được tuyển từ những phụ nữ bình dân, cũng là một bộ phận của cung kỹ
Và cuối cùng, có một bộ phận kỹ nữ xuất thân là con gái gia đình quý tộc
Họ là nguồn gốc chủ yếu của cung kỹ Đối với quan lại quý tộc, nếu như có thể đưa con gái tiến cung và được hoàng đế sủng hạnh, phong cho làm hoàng hậu, phi tử, quý nhân… thì đó là cơ hội cho cả gia đình được thăng quan tiến chức Những phụ
nữ thuộc trường hợp này đương nhiên đều là tự nguyện nhập cung Tuy nhiên không phải bất cứ cô gái quý tộc nào sau khi nhập cung đều được hoàng đế sủng ái,
và phong tước vị Vì thế có một số con gái nhà quý tộc vì không muốn trở thành cung kỹ nên không tình nguyện nhập cung
Trang 25Bên cạnh xuất thân, chức năng hoạt động cũng là một nhân tố quyết định nguồn gốc của kỹ nữ Xét theo chức năng chủ yếu thì kỹ nữ được phân biệt thành sắc kỹ và nghệ kỹ với những yêu cầu tố chất hoàn toàn khác nhau Sắc kỹ thường chinh phục khách làng chơi chủ yếu nhờ dáng vẻ bên ngoài nên chỉ cần là những phụ nữ có chút nhan sắc thì đã có thể làm sắc kỹ Nghệ kỹ thì ngược lại, yêu cầu phải tài sắc vẹn toàn Những cô gái không có khả năng nghệ thuật thiên phú cũng như không được bồi dưỡng về nghệ thuật thường khó lòng trở thành nghệ kỹ Chính yêu cầu tố chất ấy khiến cho nguồn gốc của hai loại kỹ nữ này cũng không giống nhau Nguồn gốc của nghệ kỹ thường nằm ở ba loại: Loại thứ nhất là con gái nhạc
hộ thế tập7 - là nguồn gốc chủ yếu của nghệ kỹ, số mệnh đã định họ chỉ có thể làm
kỹ nữ, nên từ nhỏ họ đã theo cha mẹ bồi dưỡng nghệ thuật thật tốt Loại thứ hai là
vợ và con gái của tội phạm, thường xuất thân trong gia đình quý tộc và có trình độ nghệ thuật nhất định Họ là những nghệ nhân giỏi được tuyển chọn trong số những phụ nữ chưa đăng kí hộ tịch ở quan phủ, thông thường được sắp xếp vào giáo phường ty Loại thứ ba là những cô gái xinh đẹp con nhà lành Nguyên nhân họ trở thành kỹ nữ không giống nhau, có những người sau khi được tuyển vào cung hay nhạc doanh, quan phủ mới bắt đầu học ca múa, còn có những người thì từ nhỏ đã bị cha mẹ hoặc người khác bán làm kỹ nữ nên phải học tập nghệ thuật Đối với loại con gái nhà lành bị bán làm kỹ nữ này, phải là những bé gái còn nhỏ tuổi hoặc là người có tố chất nghệ thuật tương đối cao mới có thể trở thành nghệ kỹ, nếu không thì chỉ có thể làm sắc kỹ Khác với nghệ kỹ, sắc kỹ thường có nguồn gốc từ những
cô gái nhà lành Đó là những thiếu phụ hay thiếu nữ bình dân tự bán mình hay bị bán làm kỹ nữ Thông thường họ không được huấn luyện nghệ thuật, các chủ chứa
có thể cho phép họ vừa tiếp khách vừa học tập nghệ thuật ca múa, nhưng phần lớn đều không có tiền đồ phát triển Ngoài ra, những đối tượng là con gái của sắc kỹ hoặc tú bà nếu không có năng khiếu nghệ thuật hay không được bồi dưỡng nghệ thuật cũng là một nguồn gốc trở thành sắc kỹ [Võ Châu 2005: 131]
7 Từ đời trước truyền cho đời sau, kiểu cha truyền con nối
Trang 261.4 Kỹ nữ Trung Hoa nhìn từ không gian văn hóa
Xét theo hai miền Nam Bắc Trung Quốc thì kỹ nữ phân bố chủ yếu ở vùng duyên hải phía Nam Vào thời kỳ Đường Tống, cùng với sự hưng thịnh của ngành kinh doanh kỹ nữ, đặc trưng địa phương của kỹ nữ ngày càng rõ nét, những danh xưng kỹ nữ nổi tiếng theo vùng miền lần lượt xuất hiện như “Thục8 kỹ” (蜀妓),
“Hàng9 kỹ” (杭妓), “Ngô10 kỹ” (吴妓), “Dương11 kỹ” (扬妓) và “Kinh12 kỹ”(京妓) Đến thời kỳ Minh Thanh, sự phân hóa theo vùng miền của kỹ nữ ngày càng chi tiết
hơn Trong cuốn Thanh Bái loại sao (清稗类钞) của Từ Kha, tác giả phân chia kỹ
nữ cổ đại theo 25 khu vực hành chính như: Kinh sư kỹ, Thiên Tân kỹ, Khai Phong
kỹ, Phụng Thiên kỹ, Tô Châu kỹ, Thượng Hải kỹ, Giang Ninh13 kỹ, Dương Châu
kỹ, Hàng Châu kỹ, Thành Đô kỹ, Hán Khẩu kỹ… [dẫn theo Việt Sở 2011: http://blog.sina.com.cn/s/blog_4c7c414a01017tlj.html]
Nhìn chung từ thời Đường Tống đến thời Minh Thanh, những địa phương nổi tiếng về nghề kỹ nữ phải kể đến là Thành Đô14, Hàng Châu, Nam Kinh, Tô Châu và Dương Châu Kỹ nữ ở các thành phố này đã được người ta gán cho những
lời tán tụng khác nhau, tạo nên đặc trưng vùng miền của kỹ nữ Cụ thể: (1) Kỹ nữ Thành Đô: Thục xuất tài phụ (蜀中才妇 – đất Thục sinh ra những phụ nữ tài hoa)
Kỹ nữ Thành Đô từ đời Đường đã sớm nổi tiếng khắp nơi, nhờ có nhan sắc và tài nghệ hơn người, vì thế mới có lời ca tụng rằng “Thục xuất tài phụ” Người thời Tống có câu nói rằng: “Ca kỹ đất Thục giỏi văn thơ, đại khái là di phong của Tiết Đào”( 蜀 娼 类 能 文 , 盖 薛 涛 之 遗 风 也 ) [dẫn theo Việt Sở 2011: http://blog.sina.com.cn/s/blog_4c7c414a01017tlj.html] Vì kỹ nữ đất Thục tài sắc hơn người nên không chỉ khiến văn nhân say đắm mà công việc làm ăn của họ cũng
rất khấm khá, thậm chí đạt đến mức cường thịnh; (2) Kỹ nữ Hàng Châu: Tây tử kiều
8 Tên gọi cũ của tỉnh Tứ Xuyên
9 Hàng Châu, tỉnh Chiết Giang
10 Vùng phía Nam Giang Tô và Bắc Chiết Giang
11 Dương Châu, tỉnh Giang Tô
12 Kinh đô
13 Thuộc Nam Kinh ngày nay
14 Thủ phủ của Tứ Xuyên, là trung tâm kinh tế văn hóa của vùng Tây Nam và Tứ Xuyên
Trang 27nương (西子娇娘 - những thiếu nữ xinh đẹp ở thế giới cực lạc) Danh tiếng “Hàng
kỹ” bắt đầu nổi tiếng từ sau khi Bạch Cư Dị, Nguyên Chẩn thời Đường nối nhau làm quan ở Chiết Giang Bạch Cư Dị đã có không ít bài thơ ca ngợi kỹ nữ Hàng Châu giỏi ca múa, khéo ứng đối Danh sĩ nổi tiếng thời Bắc Tống là Tần Quán đã có
câu thơ ca ngợi kỹ nữ vùng này rằng: Tây Hồ thủy hoạt đa kiều nương (西湖水滑多
娇娘, có nghĩa là nước Tây Hồ đã tưới tắm nên bao thiếu nữ xinh đẹp) Từ đây, người ta mới ca ngợi Hàng kỹ là “Tây tử kiều nương” Nhà thơ Tô Đông Pha khi đến nhận chức thái thú ở Hàng Châu vô cùng say mê cuộc sống bên các kỹ nữ, thậm chí còn gọi cuộc sống ở kỹ viện Hàng Châu là “địa ngục rượu thịt” “Tây tử kiều nương” sắc đẹp lẫn tài nghệ đều vẹn toàn, khiến cho văn nhân sĩ đại phu như say như ngây, tiêu hồn lạc phách, đắm chìm vào trong đó như được lên thiên đường,
chẳng màng tới chuyện khác; (3) Kỹ nữ Nam Kinh: Tần Hoài kim thoa (秦淮金钗 –
người phụ nữ quý giá của vùng Tần Hoài) Từ “thoa” là một cách gọi bóng bẩy, thường dùng để chỉ người phụ nữ Kỹ nữ ở Nam Kinh bắt đầu hưng khởi vào thời Lục triều và đạt được sự cực thịnh vào thời Minh Nam Kinh là kinh đô nhà Minh ở Giang Nam Đây là một thành phố nổi danh có nhiều kỹ viện, nhất là ở bến Tần Hoài trên Đại Vận hà với những chiếc thuyền gọi là hoa phường (花坊) được sơn sặc sỡ, kết hoa treo đèn lộng lẫy, chuyên phục vụ người ta ăn chơi hành lạc thâu đêm trên đó Đã có nhiều cây bút ghi chép lại những việc xảy ra trong chốn thanh lâu ở Nam Kinh Chẳng hạn, nhà văn thơ nổi tiếng thời Minh là Tào Đại Chương đã
miêu tả trong Tần Hoài sĩ nữ biểu (秦淮士女表) rằng: “Đương thời phụ nữ phấn
son, phỉ thúy uyên ương, hai mươi bốn lầu bày ra ở phố Tần Hoài mà không ai ghi lại sự đẹp đẽ15” (đại ý miêu tả cuộc sống lầu xanh ở bến Tần Hoài rất nhộn nhịp,
hoa lệ nhưng không ai ghi chép lại điều này); (4) Kỹ nữ Tô Châu: Cô Tô thuyền nương (姑苏船娘 – cô gái trên thuyền Cô Tô) Tô Châu từ lâu đã nổi tiếng khắp
Trung Quốc không chỉ bởi cảnh sắc thiên đường mà còn vì những mỹ nữ nghiêng nước nghiêng thành Tây Thi – một trong tứ đại mỹ nhân Trung Quốc, đã sinh ra và
15 Nguyên tác: 当时胭脂粉黛,翡翠鸳鸯,二十四楼,列秦淮之市,无有记其胜者
Trang 28lớn lên ở đây Kỹ nữ Tô Châu nổi tiếng nhất là Chân Nương (真娘) - danh kỹ thời Đường, được không ít các thi nhân ngưỡng mộ Từ Bạch Cư Dị, Trương Hựu hay
Lý Thương Ẩn đều làm thơ ca ngợi nàng Đặc biệt là Bạch Cư Dị rất yêu chuộng
“Tô kỹ”, vì thế càng khiến cho sắc đẹp của gái Ngô nổi tiếng trong thiên hạ Điểm đặc trưng của Cô Tô là trào lưu thuyền kỹ (船妓 - tức kỹ nữ trên thuyền), với những chiếc thuyền hoa được trang hoàng lộng lẫy để đón khách, khiến cho “Cô Tô thuyền
nương” nổi danh khắp nước; (5) Kỹ nữ Dương Châu: Dương Châu sấu mã (扬州瘦
马 – Ngựa gầy ở Dương Châu) Nghề kỹ nữ ở Dương Châu vô cùng hưng thịnh vào
thời Đường và Minh Trong Dương Châu mộng ký (扬州梦记) của Vu Nghiệp viết:
“Dương Châu là nơi thắng địa Mỗi khi chiều tối, trên lầu kỹ viện thường có hàng vạn ngọn đèn lồng bọc sa, sáng rực trên không… Trong hẻm Cửu lý tam thập bộ châu ngọc lóng lánh, trông như cõi tiên” [Từ Quân – Dương Hải 2001: 25] Về tên
gọi đặc trưng của kỹ nữ vùng Dương Châu, Tạ Triệu Chiết có nhắc đến trong Ngũ tạp trở (五杂俎) rằng: “Chỉ có Dương Châu ở giữa thiên hạ, sông ngòi hồ đầm đẹp
đẽ nên con gái phần nhiều dịu dàng xinh đẹp… các nơi khác không sao sánh được Nhưng người Dương Châu quen coi đó là hàng lạ, buôn bán thiếu nữ các nơi, cho trang điểm phục sức đẹp đẽ, dạy các môn cầm kỳ thi họa để đòi giá cao, gọi là sấu
mã (ngựa gầy)” [Từ Quân – Dương Hải 2001: 26] Sấu mã (nghĩa là ngựa gầy) là một cách gọi phiếm chỉ, thường dùng với ý khinh khi, sỉ nhục Thuật ngữ này áp dụng cho kỹ nữ với ý nghĩa rằng kỹ nữ có thể bị người ta tùy ý chà đạp, giày vò giống như là sai khiến một con ngựa nhỏ ốm yếu Sự xuất hiện tên gọi này hoàn toàn xuất phát từ một nhu cầu tâm lý biến thái của giới thương nhân Nghề kỹ nữ Dương Châu đã mở đường cho sự phát triển phổ biến ở các thành phố lớn, hình thành nên “phái Dương Châu” với thế lực hùng mạnh một thời
Như vậy, trong năm thành phố có nghề kỹ nữ hưng thịnh thì tỉnh Giang Tô
đã chiếm đến ba, đó là Tô Châu, Nam Kinh và Dương Châu
Trang 29
H1 Những thành phố có nghề kỹ nữ hưng thịnh 16
16 Nguồn ảnh: http://sq.k12.com.cn/discuz/viewthread.php?tid=436630 (bản đồ Trung Quốc);
http://www.aiutrip.com/mudidi/10021/ (bản đồ tỉnh Tô Châu)
Tp Thành Đô
(Tứ Xuyên)
Tp Hàng Châu (Chiết Giang)
Giang Tô (phóng lớn)
Tp Nam Kinh
Tp Dương Châu
Tp Tô Châu
Trang 301.5 Kỹ nữ Trung Hoa nhìn từ thời gian văn hóa
Sản sinh từ sau khi nhân loại bước vào xã hội văn minh, lịch sử của kỹ nữ gần như cũng lâu đời tựa lịch sử văn minh nhân loại Trong thời kì xã hội nguyên thủy, quan hệ giữa hai giới của loài người là thực hiện chế độ quần hôn, những phụ
nữ tham gia vào quan hệ đó không phân biệt là trinh nữ hay kỹ nữ Cùng với sự tiến hóa của nhân loại và sự phát triển của xã hội, quan hệ hai giới từ quần hôn đã từng bước tiến tới chế độ chuyên ngẫu (tức chế độ một chồng một vợ, riêng tầng lớp đặc quyền của Trung Quốc thực tế là chế độ một chồng nhiều vợ) Song song đó, chế độ mẫu quyền cũng từng bước bị chế độ phụ quyền thay thế, chế độ công hữu nguyên thủy bị chế độ tư hữu thế chỗ Lúc này, người đàn ông bắt đầu tăng cường sự thống trị và nô dịch đối với phụ nữ Họ (những người chủ nô lệ) một mặt yêu cầu vợ của mình phải giữ gìn trinh tiết, mặt khác lại cho phép bản thân có thể tùy ý chiếm hữu những nữ nô lệ Từ đây, lịch sử của kỹ nữ được bắt đầu
Có thể nói, kỹ nữ bắt nguồn sớm nhất là từ những vũ nữ nô lệ Ở Trung Quốc, thời đại này bắt đầu vào thời Hạ, Thương Kỹ nữ được sản sinh là để thỏa mãn nhu cầu mua vui giải trí của những ông chủ nô lệ (mà thiên tử chính là chủ nô
lệ cao nhất) Đương nhiên không phải tất cả những nữ nô lệ đều có thể trở thành kỹ
nữ của họ (đặc biệt là thiên tử, chư hầu), mà đó phải là những người con gái có sắc đẹp và cần có sở trường về ca múa Do vậy, kỹ nữ sớm nhất ở Trung Quốc chính là những nữ nhạc, con hát tiêu khiển cho thiên tử, chư hầu trong cung Người đời sau gọi họ là những cung kỹ Thời Ân Thương, không chỉ thiên tử có nữ nhạc, con hát
mà ngay cả chư hầu, chủ nô lệ hay quý tộc cũng có nữ nhạc “Năm 1905, ở thôn An Dương Võ Quan của Hà Nam đã khai quật được một phần mộ của quý tộc chủ nô lệ đời Thương Ở phía Tây của cái quách phát hiện có 24 bộ xương người nữ Theo các chuyên gia nghiên cứu thì 24 người phụ nữ tuẫn táng theo đều là những nữ nhạc
của chủ nhân ngôi mộ lúc còn sống” [Võ Châu 2005: 17]
Thời Tây Chu, Xuân Thu, Chiến Quốc chính là thời kỳ lễ giáo bắt đầu hình thành Những quan niệm lễ giáo bắt đầu thâm nhập vào đời sống của hai giới đương
Trang 31thời và được trình bày rõ ràng, có hệ thống trong tập Lễ ký - kinh điển của Nho gia
Có thể thấy rằng giai cấp thống trị thời kỳ này đã chú ý đến vấn đề trinh tiết và bắt đầu vận dụng quan niệm lễ giáo để ràng buộc mối quan hệ giữa hai giới Song, “sự ràng buộc này chỉ nhằm vào những người dân bình thường, nhất là phụ nữ Còn đối với giai cấp thống trị, đặc biệt là hoàng đế chư hầu, lễ pháp lại cho phép họ có đa
thê và chơi đùa kỹ nữ” [Võ Châu 2005: 18] Thế nhưng những người thống trị
không bao giờ thỏa mãn với những điều này Đồng thời với đặc quyền được có nhiều vợ, họ chiếm hữu vô số những nữ nghệ nhân chuyên việc múa hát phục vụ cho mục đích vui chơi Đặc biệt là vào những năm rối ren thời Xuân Thu Chiến Quốc, chư hầu vượt quá lễ chế, việc chiếm dụng vô số nữ nhạc và sự đam mê thanh sắc, ca vũ đã trở thành một phong trào lúc đó Chẳng hạn như Sở Trang Vương khi mới lên ngôi, “ham mê thanh sắc, tay trái ôm người đẹp nước Tần, tay phải ấp mỹ
nữ nước Việt” Hay như hậu cung của Ngô vương Phù Sai thì có “cả ngàn cung kỹ” [Từ Quân, Dương Hải 2001: 50 – 51] Từ sau khi Tần Thủy Hoàng thống nhất đất nước, cùng với sự hoàn thiện của chế độ chuyên chế và quan niệm lễ giáo, sự khinh khi lẫn áp bức mà những người phụ nữ Trung Quốc phải chịu đựng càng thêm sâu sắc Giai cấp thống trị một mặt dùng chữ đạo đức trinh tiết để bó buộc một bộ phận phụ nữ, mặt khác lại bức bách một số phụ nữ phải cởi bỏ váy áo, mặc sức cho họ bỡn cợt suồng sã Vì thế, trong nội bộ xã hội chuyên chế Trung Quốc đã thai nghén một quái thai về sự tồn tại song song giữa lễ giáo và kỹ nữ
Lịch sử phát triển của cung kỹ có sự thay đổi lớn nhất từ sau thời Tùy Đường, khi triều đình cho xây dựng cơ cấu giáo phường, giúp cung kỹ tiến tới chế
độ hóa về quy mô số lượng và phương thức hoạt động, tạo điều kiện cho cung kỹ bước vào thời kỳ lịch sử mới Cơ cấu vũ nhạc do nhà nước thiết lập đã có mặt trong các triều đại trước đó Trước thời Đường Huyền Tông, triều đình cho thiết lập cơ cấu chuyên bồi dưỡng nhạc vũ gọi là giáo phường Tục nhạc17 và nhã nhạc18 khi đó đều lệ thuộc cơ cấu tổng là thái thường tự, giáo phường vẫn chịu sự quản lý thống
17 Âm nhạc bình dân
18 Nhạc dùng trong các tôn miếu, triều đình
Trang 32nhất của cơ cấu này Sau khi Huyền Tông lên ngôi, ông cho rằng thái thường tự là
tổ chức lễ nhạc, không thích hợp có tản nhạc tạp kỹ, vì thế vào năm 714 đã thực hiện phân cấp quản lý giữa giáo phường và thái thường, tạo điều kiện cho cơ cấu giáo phường được mở rộng Ông quy định giáo phường không thuộc lãnh đạo của thái thường tự như trước mà trực thuộc triều đình, do triều đình cử quan lại đến giữ chức giáo phường sứ Từ đó thái thường tự chuyên phụ trách những hoạt động ca múa lễ nghi và cúng tế, chỉ dung nạp nam công, không có nữ nhạc Giáo phường phụ trách những hoạt động biểu diễn mang tính vui chơi như tạp kỹ, hài kịch, tục nhạc vũ19, nhận cả nam lẫn nữ nhưng nữ nhạc vẫn chiếm đa số Quy mô của giáo phường cũng lớn hơn thái thường, “thời Huyền Tông, giáo phường ở thành Trường
An đã dung nạp tới 11409 nghệ nhân nam nữ Những nữ nghệ nhân trong giáo phường đều được gọi là cung kỹ” [Võ Châu 2005: 65] Trong lịch sử Trung Quốc,
số lượng cung kỹ của Đường Huyền Tông được xem là nhiều nhất
Chế độ vũ nhạc các triều Ngũ đại Thập quốc và Bắc Tống đều chịu ảnh hưởng của đời Đường, tuy nhiên cơ cấu và quy mô đều không bằng Đầu thời Nam Tống, triều đình đã bãi miễn chế độ giáo phường, đến năm 1144 lại khôi phục Năm
1161, Cao Tông ra lệnh bãi bỏ chế độ giáo phường lần nữa, từ đó về sau triều đình Nam Tống không còn xây dựng chế độ giáo phường Nguyên nhân triều đình Nam Tống bãi bỏ chế độ giáo phường trước hết là do kinh tế túng thiếu Sau đàm phán hòa bình, Nam Tống phải xem Kim là bề tôi, mỗi năm hỗ trợ cho triều Kim một lượng lớn tiền bạc gấm vóc, vì thế trong cung không còn đủ tiềm lực để nuôi dưỡng giáo phường như trước Mặt khác do văn hóa đô thị đương thời rất phồn vinh, nghệ thuật ca múa dân gian dần áp đảo ưu thế của giáo phường, như vậy giai cấp thống trị cũng có cái để thưởng thức nghệ thuật
Sau khi Mông Cổ thống trị Trung nguyên, chế độ vũ nhạc của triều đình vẫn noi theo chế độ triều Hán, ngoài viện lễ nghi Thái thường còn thiết lập thêm hai tổ chức là giáo phường (khoảng vào năm 1261) và nghi phượng (khoảng năm 1283), chủ yếu do nghệ nhân nhạc công quản lý, phục vụ những dịp vui chơi, yến tiệc Kỹ
19 Ca múa thông thường
Trang 33nữ chủ yếu tập trung trong giáo phường ty, còn nhạc công lại tập trung trong nghi phượng ty Quy mô và hình thức của giáo phường đời Nguyên không khác đời Tống mấy nhưng nội dung mang màu sắc tôn giáo khá rõ nét, về mặt phong cách thì lại mang đặc trưng của dân tộc Mông Cổ Điều này có quan hệ mật thiết với việc tôn sùng Phật giáo và Đạo giáo của giai cấp thống trị triều Nguyên Cung kỹ đương thời không chỉ biểu diễn ca múa mà còn phải làm công cụ để quân thần và các tăng đồ thực hiện thuật phòng the20
Thời Minh vẫn xây dựng thái thường tự (đầu Minh gọi là thái thường ty) và giáo phường ty, cả hai đều nghe theo lệnh của bộ Lễ Trong thái thường tự không có
kỹ nữ Còn ở giáo phường ty chuyên phụ trách việc ca múa thì những nghệ nhân đa
số đều là kỹ nữ, ngoài một bộ phận chuyên biểu diễn nhã nhạc, số còn lại chủ yếu là biểu diễn các nghệ thuật dân gian như tục nhạc, tạp nhạc, tạp kỹ Cơ cấu nhạc vũ đầu thời Thanh vẫn theo chế độ của triều Minh, trong cung thiết lập hai bộ là thái thường và giáo phường Mỗi khi triều đình tổ chức yến tiệc chúc mừng cần dùng nhạc, đều do giáo phường ty đảm nhiệm Vào năm Thuận Trị thứ 16, Thanh Thế Tổ
hạ lệnh cắt bớt nữ nhạc, đồng nghĩa với việc xóa bỏ kỹ nữ trong giáo phường ty Như vậy, lịch sử cung kỹ kéo dài đến đời vua Hàm Phong về cơ bản chấm dứt, tam cung lục viện chỉ còn tồn tại trên danh nghĩa
Quân chủ các triều đại đều là những vua chúa đam mê hưởng lạc Họ có thể lợi dụng đặc quyền trong tay thu nạp đông đảo nữ nhạc, con hát phân bố ở các tam cung lục viện cung ứng cho nhu cầu vui chơi, thưởng thức của mình Vì thế, quan lại quý tộc dưới sự thống trị của vua chúa, trên thì đến vương hầu thừa tướng, dưới thì đến sĩ đại phu phú hào, cũng đương nhiên noi theo họ: nuôi dưỡng không ít mỹ
nữ hay các nữ nghệ nhân ca vũ dự trữ trong nhà để cung ứng cho bản thân hưởng lạc Những người con gái này thường có hai sứ mệnh quan trọng là biểu diễn tài nghệ và dâng hiến bản thân khi cần thiết Đa phần họ được gọi với những cái tên như gái hầu, ái thiếp, thanh kỹ, kỹ nữ,… hay cũng có khi được gọi là mỹ nhân, nữ nhạc, con hát… Người ta thường gọi chung họ là gia kỹ
20 Còn gọi là nghệ thuật chăn gối, chỉ quan hệ tình dục
Trang 34Lịch sử phát triển của gia kỹ về cơ bản cũng đồng bộ với cung kỹ Thậm chí
có một số gia kỹ của quan lại bắt nguồn từ nữ nhạc trong cung Chẳng hạn như những gia kỹ sớm nhất được ghi chép trong sử sách chính là 8 nữ nhạc mà Tấn Điếu Công ban tặng cho công thần Ngụy Giáng vào năm 562 TCN [Khổng Khánh Đông 2008: 12] Thời Lưỡng Hán Tam quốc, việc quan lại quý tộc nuôi dưỡng gia kỹ đã phát triển mạnh thành trào lưu Đến thời Lưỡng Tấn Nam Bắc triều, sự phát triển của gia kỹ đã bắt đầu bước vào thời kỳ hưng thịnh Một số quý tộc, quan lại nuôi dưỡng đến hàng trăm hàng vạn gia kỹ, số lượng và quy mô có thể sánh ngang với cung kỹ của hoàng đế Tình hình phát triển này của gia kỹ vẫn được duy trì suốt từ các thời Tùy Đường cho đến Ngũ đại Thập quốc Không chỉ quan lại quý tộc đua nhau mở rộng việc nuôi dưỡng kỹ nữ mà dần dần trào lưu ấy cũng phổ biến ở các sĩ đại phu Đặc biệt là nhà Tùy mặc dù có lịch sử cực kỳ ngắn ngủi nhưng số lượng gia kỹ trong quan lại quý tộc thời này được xem là nhiều nhất trong lịch sử các triều đại phong kiến Trung Quốc
Vào thời Tống, quy mô nuôi dưỡng kỹ nữ của tư nhân đã vượt xa các triều đại trước Do ở thời này, nhà nước bắt đầu có những ràng buộc đối với việc quan lại qua đêm với kỹ nữ Mà quan lại địa phương được trung ương phái đến nhậm chức ở các châu huyện thông thường không mang theo vợ Vì thế, những người yêu thích phong lưu vừa muốn thăng chức trong số họ để “vẹn cả đôi đường” đành phải tự mình nuôi kỹ nạp thiếp Thêm vào đó, triều đình cũng không có những hạn chế về quan phẩm đối với việc tư nhân nuôi dưỡng kỹ nữ, nên vào thời này, phong trào nuôi dưỡng kỹ nữ của quan lại cấp trung và thấp, đặc biệt là của văn nhân sĩ đại phu diễn ra rất rầm rộ Gia kỹ phát triển đến các thời Nguyên Minh Thanh đã ở vào thế suy yếu Bởi vì từ thời Nguyên, lý học Trình Chu được tôn làm triết học duy nhất của đất nước, và đến thời Minh Thanh thì đã là thời đại chuyên chế của lý học Trong thời kỳ của lý học này, lễ giáo phong kiến dần tăng cường sự ràng buộc đối với những quan lại nói chung, triều đình cũng từng bước phổ biến chủ nghĩa cấm dục, vì thế việc nuôi kỹ nữ của quan lại các thời Nguyên Minh Thanh không còn phổ biến như thời Đường Tống Tuy nhiên những quan lớn và quý tộc giàu mạnh lại
Trang 35là trường hợp ngoại lệ, trong nhà họ vẫn không thiếu bóng dáng của kỹ nữ, thê thiếp Họ không những chiếm hữu đông đảo nô tỳ để có thể tùy ý chơi đùa mà còn chiếm đoạt cả vợ và con gái của dân thường Sự phát triển của gia kỹ đời Nguyên còn có một đặc điểm mà các triều đại trước không thể sánh được, đó là hòa thượng dám công khai cả việc nuôi kỹ nữ và nạp thiếp
Trong suốt lịch sử “các triều đại phong kiến Trung Quốc, cung kỹ và gia kỹ đều chiếm một số lượng đáng kể, mà xem xét tỷ lệ nam nữ trong toàn xã hội thì về
cơ bản là bằng nhau Điều này tất yếu dẫn đến trong xã hội có nhiều đàn ông không
lấy được vợ, trở thành độc thân” [Võ Châu 2005: 33] Thêm vào đó, sự thúc đẩy của
thủ công nghiệp, thương nghiệp và sự phát triển bước đầu của kinh tế thành thị cùng những nguyên nhân kinh tế, văn hóa, quân sự khác đã khiến cho trong xã hội xuất hiện rất nhiều người là thợ thủ công, thương nhân, du khách, quân nhân cũng ở vào trạng thái thiếu thốn tính dục Thế là kỹ nữ được sản sinh để thỏa mãn nhu cầu ấy của các tầng lớp xã hội Loại kỹ nữ này chính là sản vật của nền kinh tế hàng hóa đang bước đầu phát triển Bản thân họ được xem là một loại hàng hóa đặc biệt để tiến vào thị trường trao đổi Do vậy thời gian ra đời của họ muộn hơn rất nhiều so với cung kỹ và gia kỹ Trong số họ có lẽ không hiếm những người giỏi tài ca múa nhưng đa số đều xem việc bán dâm là hoạt động chính yếu Hình thức kinh doanh
của loại kỹ nữ này chủ yếu có hai dạng là quan doanh và tư doanh Quan doanh là
nghề bán dâm do quan phủ thiết lập và kinh doanh Kỹ viện quan doanh sớm nhất ở Trung Quốc là do Quản Trọng - thừa tướng nước Tề thời Xuân Thu sáng lập vào giữa thế kỷ 7 TCN “Những ghi chép trong Chiến Quốc sách nói rằng: Quản Trọng khuyên Hoàn Công, lập làng con gái 700 người, thu tiền ban đêm để làm giàu đất
nước” [Khổng Khánh Đông 2008: 10] Loại kỹ viện quan doanh này phát triển đến
thời Hán Vũ Đế thì lập thành chế độ doanh kỹ riêng biệt Từ sau Hán Vũ Đế, chế độ doanh kỹ vẫn được vua chúa các triều đại noi theo, thời Ngụy Tấn Nam Bắc triều kế tục nhà Hán và có chiều hướng phát triển mạnh hơn, mãi đến các thời Đường, Tống
vẫn không hề suy yếu Tư doanh là phương thức kinh doanh của một số phụ nữ vì
Trang 36cuộc sống bức bách hay vì những mục đích khác mà phải bán dâm cho nhiều người đàn ông Những người phụ nữ kinh doanh theo hình thức này chính là tư kỹ
Tuy hình thức quan doanh đã sớm xuất hiện với làng con gái mà Quản Trọng nước Tề thiết lập thời Xuân Thu và doanh kỹ do Hán Vũ Đế thiết lập, nhưng sự phát triển và đi đến phồn thịnh của nó chỉ bắt đầu từ sau thời Đường trở đi Đời Đường là thời đại mà tư tưởng được giải phóng, lễ giáo không còn khắt khe như trước, quan niệm tình dục tương đối phóng khoáng và nhờ đó văn hóa tình dục cũng
có những bước phát triển tiến bộ Từ cung đình đến các thành thị, từ quý tộc cho đến thường dân, không chỉ đàn ông có thể nạp thiếp, cặp kè cùng những phụ nữ khác, góa phụ có thể tái giá, mà ngay cả những chuyện yêu đương vụng trộm… cũng xuất hiện nhan nhản khắp nơi Những quan kỹ chuyên phục vụ quan phủ địa phương và doanh trại đã phát triển phồn thịnh trong thời đại cởi mở này
Thời thịnh Đường, quan kỹ đã khá phổ biến và đều có trình độ nghệ thuật khá cao, có thể vào cung phục vụ khi có yêu cầu “Bất kể là quan lại tiễn người cũ đón người mới, yến tiệc mời khách hay quan viên tụ họp ngâm thơ, du sơn ngoạn
thủy, đều phải lấy kỹ nhạc giúp hứng” [Võ Châu 2005: 72] Thời này đã hình thành
nên một hệ thống quan kỹ rộng lớn, quan kỹ địa phương không chỉ được thiết lập ở cấp châu, phủ mà còn đặt cả ở cấp huyện Trong doanh trại và quan phủ địa phương các cấp đều cho xây dựng mô hình nhạc doanh, chuyên tập hợp và kinh doanh kỹ
nữ Người đứng đầu quản lý nhạc doanh thường được gọi là doanh tướng hay nhạc doanh tướng, nhạc doanh sứ Hộ tịch của những kỹ nữ trong nhạc doanh đều thuộc quản lý của quân trấn sở tại, gọi là nhạc tịch Họ không được tùy ý ra ngoài, cũng không được tùy ý tiếp khách Trách nhiệm của kỹ nữ nhạc doanh là chuyên cung cấp lạc thú cho các tướng sĩ trong quân ngũ, không chỉ là biểu diễn nghệ thuật ca múa mà còn phải hầu hạ chốn phòng the Vì thế, những người nổi trội trong nhạc doanh thường trở thành vật dùng riêng của trưởng quan quân sự hay hành chính Do thời này kỹ nữ được tập trung trong một mô hình chung nhất là nhạc doanh nên không có sự tách biệt rõ ràng giữa doanh kỹ và quan kỹ, cả hai đều được gọi chung
là doanh kỹ Ngoài ra, từ thời trung đến vãn Đường, triều đình bắt đầu lập ra chế độ
Trang 37tiết độ sứ trấn thủ biên cương, quyền quân sự, tài chính lẫn hành chính đều trao cho một người Điều này đã tạo điều kiện cho quan lại lộng quyền ăn chơi hưởng lạc, dẫn đến xu thế phát triển phồn vinh của doanh kỹ Xu thế này vẫn được duy trì trong suốt thời kỳ hỗn chiến Ngũ đại Thập quốc, dù các nước tồn tại không lâu và các cơ cấu tổ chức cũng chưa được hoàn thiện nhất định Đặc biệt, chiến tranh liên miên cũng là tiền đề cho chế độ doanh kỹ thời Ngũ đại có chiều hướng phát triển hơn so với thời Đường
Sau khi Tống Thái Tổ lập quốc, đã bãi bỏ quyền cầm quân, quyền tài chính, quyền tư pháp của chức tiết độ sứ, đồng thời thiết lập chế độ hành chính và chế độ quân dịch mới Chính quyền địa phương hai cấp châu (hoặc phủ - đồng cấp với châu), huyện đều thiết lập chế độ nhạc doanh tập trung kỹ nữ giống như thời Đường Kỹ nữ thuộc nhạc doanh châu hoặc phủ vừa phải phục vụ quan phủ vừa phải phục vụ quân đội, vì thế đều được gọi là doanh kỹ, còn quan kỹ cấp huyện thì không gọi như vậy Quan kỹ địa phương đời Tống vẫn phát triển trên nền tảng của đời Đường Nhưng do thời này lý học phát triển hưng thịnh, khoảng từ thời Nhân Tông, triều đình đã bắt đầu có những quy định và biện pháp xử phạt nhằm hạn chế việc quan lại chơi gái Điều này đã thúc đẩy quan kỹ từng bước dung hợp với thị kỹ Đến thời Nguyên, quan kỹ và thị kỹ về cơ bản đã hòa làm một
Vào thời Nguyên, quan phủ địa phương các cấp và kinh thành đều có kỹ nữ nhập tịch Nhưng việc quản lý và cách phục vụ của quan kỹ thời này đã có nhiều thay đổi Thứ nhất, thời Nguyên đã thực hiện việc phát giấy chứng nhận đăng kí hộ tịch cho quan kỹ địa phương trên toàn quốc Thứ hai là triều đình cho áp dụng chế
độ nghĩa vụ và chế độ mua bán trong kinh doanh Chế độ nghĩa vụ còn gọi là “ứng quan thân” (应官身) buộc những quan kỹ phải phục vụ triều đình hoặc quan phủ khi có yêu cầu Đây là trách nhiệm hàng đầu của kỹ nữ Ứng quan thân của quan kỹ đời Nguyên cũng giống như đời Tống, chỉ giới hạn trong việc ca múa hầu rượu, không được phép hiến thân cho quan lại Chế độ mua bán được lập ra cho phép quan kỹ có thể bán nghệ bán thân cho những khách làng chơi không phải quan lại (văn nhân, thương nhân, thị dân…) để thu tiền, về tính chất không khác gì thị kỹ
Trang 38Việc xử phạt nghiêm khắc các hành vi quan lại thông dâm với kỹ nữ cùng sự hòa trộn giữa quan kỹ và thị kỹ không chỉ hạn chế sự phát triển của quan kỹ mà còn khiến cho họ ngày một mất đi đặc trưng của mình, dần dần bị thị kỹ đồng hóa và thay thế Cho đến thời Minh, quan kỹ địa phương hoàn toàn bị cấm và bãi miễn Minh Thái Tổ cho lập ra kỹ viện quốc doanh mang tính chất thương nghiệp và hạ lệnh cấm quan lại không được phép ra vào kỹ viện, chỉ cho thương nhân đến đó Có thể thấy rằng kỹ nữ tuy là do quan phủ kinh doanh nhưng trên thực tế chỉ phục vụ thương nhân, thị dân, nên phải gọi là thị kỹ
Trước nhà Tùy tuy cũng có sự manh nha của thị kỹ nhưng do văn hóa đô thị phát triển chậm chạp nên ảnh hưởng của thị kỹ chưa lớn Từ sau thời Đường (đặc biệt là trung Đường), kinh tế thành thị ngày một phồn vinh nhờ sự phát triển của thương nghiệp, tạo điều kiện cho văn hóa đô thị hình thành lớn mạnh Lúc này, thị
kỹ mới xuất hiện, tài hoa và sắc đẹp của họ không thể không khiến cho những văn nhân đa tình, các thương nhân nhiều tiền của hay những thị dân nhàn rỗi phải say
mê, ngây ngất Ngoài phục vụ cho nhiều tầng lớp khác nhau trong xã hội, họ cũng phải phục vụ quan phủ khi có yêu cầu Bản thân kỹ nữ và kỹ viện nhanh chóng trở thành trung tâm sinh hoạt giải trí của đô thị, khiến cho văn hóa đô thị vừa hình thành ngày càng xán lạn Thị kỹ phát triển nhộn nhịp từ đầu thời Đường, đến thời thịnh Đường đã có những quy mô nhất định Không những thị kỹ ở Trường An hoạt động vô cùng sôi nổi mà ở các thành thị phồn hoa khác như Lạc Dương, Thái Nguyên, Dương Châu cũng nổi danh không kém Thời Ngũ đại Thập quốc, do chiến tranh liên miên nên kinh tế đô thị gặp phải thiệt hại nghiêm trọng, đa số thị kỹ bị đưa đến các vùng đất chiếm cứ xưng vương của những tập đoàn quân phiệt, hoạt động của họ thời này cũng không có gì đặc sắc, mới mẻ
Sau khi Tống Thái Tổ thống nhất đất nước, kinh tế thành thị được phục hưng nhanh chóng, đội ngũ thị dân ngày càng lớn mạnh và sinh hoạt đô thị càng thêm phong phú đa dạng Đặc biệt là đô thị thời Tống có tính thương nghiệp mạnh hơn đô thị thời Đường Vào thời này, chợ đêm bắt đầu nảy sinh và triều đình cũng không có lệnh giới nghiêm ban đêm như thời Đường Kỹ nữ thời Tống không chỉ phân bố
Trang 39khắp nơi trong nội ngoại thành, mà còn có thể hoạt động suốt đêm Điều này đã khiến cho thị kỹ phát triển điên cuồng trên nền tảng quy mô của thời trung vãn Đường và mang những nét mới đặc sắc Biểu hiện trước hết là vào thời này có sự xuất hiện với số lượng lớn của câu lan kỹ “Câu lan là nơi giải trí, biểu diễn tài nghệ
của con hát thời cổ, về sau biến thành từ gọi chung kỹ viện” [Từ Quân, Dương Hải
2001: 143] Những nữ nghệ nhân sống ở câu lan được gọi là câu lan kỹ (kỹ nữ câu lan) Câu lan kỹ chủ yếu là bán nghệ nhưng cũng có lúc cần phải bán thân Đã có nhiều kỹ nữ câu lan nổi tiếng trong thời này như Lý Sư Sư, Từ Bà Tích, Phong Nghi
Nô, Tôn Tam Tứ, Vương Kinh Nô, Tả Tiểu Tứ, An Nương, Mao Đoàn… Mỗi lần biểu diễn, câu lan có rất nhiều hoạt động như kể chuyện tiểu thuyết, lịch sử, võ thuật, tạp kịch, tạp kỹ, múa, đoán câu đố… Một nét đặc sắc nữa là vào thời Tống,
kỹ nữ ở các tửu lầu, ca quán nhiều đến mức chưa từng có trước đây “Tiếng ca hát cười nói từ tối đến sáng sớm, thường hòa vào tiếng xe ngựa rầm rập Tuy mưa gió
nóng rét, vẫn không hề giảm” [Từ Quân, Dương Hải 2001: 94]
Vào thời Nguyên, thị kỹ không chỉ phát triển mạnh mẽ hơn mà mức độ thương nghiệp hóa của quan kỹ địa phương cũng được nâng cao rõ rệt Trong thời này, quan kỹ và thị kỹ đã dần dung hợp với nhau Thị kỹ đời Nguyên chủ yếu phân làm hai loại: Một loại là câu lan kỹ hoạt động sôi nổi ở thành thị Họ thường là những diễn viên tạp kịch, nghệ sĩ ca múa, chủ yếu mưu sinh dựa vào việc bán nghệ Loại thứ hai là kỹ nữ hoạt động mạnh ở các kỹ viện, quán rượu trong thành thị Dù trong số họ có không ít người tài sắc vẹn toàn, có thể chỉ cần múa hát hầu rượu nhưng đa số họ chỉ dùng sắc đẹp để thu hút khách làng chơi, còn lại chủ yếu kiếm tiền dựa vào việc bán thân Thời Minh đã bãi miễn quan kỹ, chính thức bước vào thời đại do thị kỹ thống trị Đặc biệt là vào khoảng giữa thời Minh, sự phát triển của thị kỹ đã đạt đến đỉnh cao trong lịch sử Trước thời Minh, văn hóa tình dục bị giai cấp thống trị kìm hãm, tuy rằng thị kỹ mất đi (hoặc có rất ít) những khách làng chơi
là quan lại nhưng vẫn còn những thị dân và thương nhân giàu có, hào phóng đủ giúp cho cuộc mưu sinh của họ thịnh vượng Thương nhân và thị dân không tiếc tiền của theo đuổi khoái lạc, do đó càng thúc đẩy việc phát triển và đào tạo kỹ nữ Đồng thời
Trang 40cuộc sống đô thị nhộn nhịp với các hoạt động của kỹ nữ cũng góp phần thúc đẩy sự phát triển của công thương nghiệp và sự phồn vinh của kinh tế thành thị Đến giữa thời Minh, sự ra đời của chủ nghĩa tư bản đã phản đối sự bó buộc truyền thống của
lý học Trình Chu và mở ra trào lưu tư tưởng phóng khoáng về tình dục Trào lưu này được rất đông quần chúng hưởng ứng, khiến cho quan niệm về tính dục của toàn xã hội từ chỗ bị ngăn cấm đến muốn được giải phóng, từ buộc phải khống chế dục vọng đến muốn buông thả dục vọng Tầng lớp thị kỹ đã nhanh chóng hưởng ứng trào lưu này của thời đại và phát triển mạnh mẽ Triều đình cũng lập ra hàng loạt kỹ viện do triều đình trực tiếp kinh doanh quản lý theo chế độ nhạc tịch (kỹ nữ phải đăng ký hộ tịch ở quan phủ) Vào thời này, Nam Kinh là thành thị có nghề kỹ
nữ phồn vinh nhất
Khi quân Thanh xâm lược Trung nguyên, các thành thị hỗn loạn và bị phá hoại đáng kể Đến khi triều Thanh ổn định chính trị, kinh tế thành thị từng bước được khôi phục bình thường, những kỹ nữ mới bắt đầu hành nghề lại như trước Tuy nhiên thị kỹ đầu thời Thanh không phát triển phồn vinh như cuối thời Minh Đến khi Thanh Thế Tông Ung Chính ra lệnh bãi miễn chế độ nhạc tịch, cho phép kỹ
nữ được trở lại làm lương dân thì thị kỹ theo đó cũng kết thúc sứ mạng lịch sử của mình Tuy nhiên pháp lệnh xóa bỏ nhạc tịch này chưa được thực hiện triệt để, vẫn
có rất nhiều thị kỹ chưa chịu bỏ nghề, chuyển từ công khai bán dâm sang hoạt động lén lút Và từ đây kỹ nữ bắt đầu bước vào thời đại mà tư kỹ thống trị
Đối lập với thị kỹ, tư kỹ là những kỹ nữ bán tiếng cười mưu sinh mà không
lệ thuộc vào chế độ nhạc tịch Họ cũng là sản vật của đội ngũ thị dân không ngừng lớn mạnh và kinh tế thành thị không ngừng phát triển Tư kỹ thậm chí ra đời trước
cả thị kỹ nhập tịch và phát triển mạnh ở các thành thị Nhưng họ không phải là con gái nhạc hộ, cũng không phải là nữ tù binh, nữ nô lệ mà đa số đều là con gái nhà lành Những kỹ nữ này tuy cũng có người nổi trội về mặt biểu diễn nghệ thuật nhưng chung quy lại vẫn không bằng quan kỹ Vì thế họ hành nghề chủ yếu là nhờ bán dâm, phương thức hoạt động cũng khác nhau tùy thời đại Trước thời Đường, đặc biệt là vào thời Hán và Ngụy Tấn Nam Bắc triều, dù đã có tư kỹ hoạt động