Đó là những câu ca dao, tục ngữ nói về miền Tây, ẩn chứa những phương ngữ, địa danh, nét đời sống vật chất, tinh thần và tính cách của con người miền Tây Nam Bộ.. Ngoài ra, việc sưu tầm,
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN
KHOA VĂN HÓA HỌC _
Học viên: Nguyễn Tuấn Anh
CA DAO, TỤC NGỮ NGƯỜI VIỆT
MIỀN TÂY NAM BỘ DƯỚI GÓC NHÌN VĂN HÓA HỌC
Trang 2MỤC LỤC
MỤC LỤC 2
PHẦN MỞ ĐẦU 4
1 Lí do chọn đề tài 4
2 Đối tượng và mục đích nghiên cứu 5
3 Phạm vi nghiên cứu đề tài 5
4 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 6
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 9
6 Phương pháp nghiên cứu 10
7 Bố cục của luận văn 11
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 12
1.1 Nhận diện ca dao, tục ngữ 12
1.1.1 Ca dao 12
1.1.2 Tục ngữ 15
1.2 Cơ sở sưu tuyển và phân loại ca dao, tục ngữ người Việt miền Tây Nam Bộ 18
+ Chủ thể văn hóa - Người sáng tác, lưu truyền ca dao, tục ngữ 18
+ Không gian văn hóa - Mảnh đất hình thành, lưu truyền ca dao, tục ngữ 21
+ Thời gian văn hóa - Dòng chảy của ca dao, tục ngữ 23
1.2.1 Cơ sở sưu tuyển ca dao, tục ngữ 24
1.2.2 Cơ sở phân loại ca dao, tục ngữ 40
CHƯƠNG 2: CA DAO, TỤC NGỮ NGƯỜI VIỆT MIỀN TÂY NAM BỘ VỀ VĂN HÓA TỔ CHỨC ĐỜI SỐNG 43
2.1 Tổ chức đời sống tập thể 43
2.1.1 Theo huyết thống 43
2.1.2 Theo địa bàn cư trú 47
2.1.3 Theo nghề nghiệp, sở thích 51
2.1.4 Theo hành chính 56
2.2 Tổ chức đời sống cá nhân 60
2.2.1 Tín ngưỡng 60
2.2.2 Phong tục 67
+ Hôn nhân - Tình yêu 67
+ Tang ma 75
+ Lễ Tết và lễ hội 79
2.2.3 Văn hóa giao tiếp - ứng xử 84
2.2.4 Nghệ thuật thanh sắc 88
CHƯƠNG 3: CA DAO, TỤC NGỮ NGƯỜI VIỆT MIỀN TÂY NAM BỘ VỀ VĂN HÓA ỨNG XỬ 94
3.1 Ứng xử với môi trường tự nhiên 94
3.1.1 Ăn uống 94
Trang 33.1.2 Mặc 109
3.1.3 Ở 115
3.1.4 Đi lại 121
3.2 Ứng xử với môi trường xã hội 126
3.2.1 Tôn giáo 126
3.2.2 Giao lưu văn hóa 129
3.2.3 Chiến tranh chống ngoại xâm 133
KẾT LUẬN 137
TÀI LIỆU THAM KHẢO 140
Sách, giáo trình, luận văn 140
Bài viết 144
Trang web 146
PHỤ LỤC 148
Trang 4PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Văn học dân gian, một bộ phận văn hóa dân gian, tấm gương phản chiếu đời thường một cách nghệ thuật, có một vai trò lớn lao không chỉ với đời sống văn học viết mà hơn thế nữa là với cả đời sống văn hóa con người Việt Tiêu biểu đó là những câu ca dao cô đúc đầy cảm xúc, những lời ăn tiếng nói giản dị mà tính đúng rất cao
Bước vào xã hội hiện đại ngày nay, nhiều giá trị cũ trong đời sống văn hóa trở nên lỗi thời lạc hậu đã được thay thế bởi những giá trị mới phù hợp Song, giá trị của ca dao, tục ngữ dân gian dường như vẫn không hề bị nhạt phai, mai một Ngược lại, trong xu thế bảo tồn văn hóa dân gian cội nguồn dân tộc, ca dao, tục ngữ ngày càng được khẳng định vai trò và ra sức giữ gìn Điều này mang một ý nghĩa độc đáo riêng khi nhìn về ca dao, tục ngữ ở vùng đất được mệnh danh là vùng đất mới: Miền Tây Nam Bộ
Là một vùng đất mới, với tinh thần cởi mở, thể hiện chất dương tính cao hơn những vùng miền khác của đất nước, miền Tây Nam Bộ ắt hẳn sẽ
là cội nguồn của những câu ca, lời ăn tiếng nói với những sắc thái giá trị rất riêng phản ảnh đời sống văn hóa của cư dân nơi này Do vậy, tìm hiểu cao dao, tục ngữ vùng đất này có lẽ hứa hẹn nhiều điều hấp dẫn, thú vị
Song, trước hết, một sự phản ảnh có tính hệ thống của những câu ca dao, tục ngữ trong đời sống văn hóa người Việt ở vùng đất phía Nam Tổ quốc dường như là một vấn đề còn bỏ ngỏ Và đây thực sự là một động lực
để người viết thực hiện đề tài này trước khi có những nghiên cứu sâu hơn
về đời sống văn hóa cư dân miệt vườn Tây Nam Bộ mà ca dao, tục ngữ là công cụ tiếp cận nhanh, thực và đầy hiệu quả
Trang 5
2 Đối tượng và mục đích nghiên cứu
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tìm hiểu về ca dao, tục ngữ của cộng đồng người Việt ở miền Tây Nam Bộ Đó là những câu ca dao, tục ngữ nói về miền Tây, ẩn chứa những phương ngữ, địa danh, nét đời sống vật chất, tinh thần và tính cách của con người miền Tây Nam Bộ
2.2 Mục đích nghiên cứu
Từ đối tượng đã xác định, luận văn được thực hiện nhằm:
- Sưu tầm, tuyển chọn những câu ca dao, tục ngữ phản ánh đời sống văn hóa của cộng đồng người Việt ở miền Tây Nam Bộ
- Tổng hợp, phân loại một cách có hệ thống dưới góc nhìn của khoa học văn hóa để có được cái nhìn tổng thể, hệ thống về ca dao, tục ngữ vùng đất này
- Hiểu biết được ít nhiều về đời sống văn hóa của cư dân miền Tây Nam Bộ qua ca dao, tục ngữ
- Luận văn góp tiếng nói chung vào sự gìn giữ lời ca, tiếng nói dân tộc trong thời đại mở cửa, hội nhâp của đất nước Ngoài ra, việc sưu tầm, phân loại ca dao, tục ngữ góp phần hiểu hơn về tổng thể văn học dân gian miền Tây Nam Bộ, mặt khác, lại góp thêm một sắc thái mới trong cách phân loại kho tàng ca dao, tục ngữ Việt Nam
3 Phạm vi nghiên cứu đề tài
Từ đối tượng của đề tài: Ca dao, tục ngữ của cộng đồng người Việt miền Tây Nam Bộ, phạm vi nghiên cứu của đề tài được xác định theo hệ trục toạ độ:
- Chủ thể: Cộng đồng người Việt, chủ yếu là tầng lớp nhân dân lao động ở miền Tây Nam Bộ
Trang 6- Không gian: Miền Tây Nam Bộ, chủ yếu tập trung nhiều ở khu vực nông thôn với không gian đời sống làng quê
- Thời gian: Từ thời điểm có mặt người Việt (khoảng thế kỷ XVII) đến ngày nay
- Khách thể: Luận văn nghiên cứu ca dao, tục ngữ phản ảnh về văn hoá tổ chức đời sống (bao gồm: tổ chức đời sống tập thể và tổ chức đời sống cá nhân) và văn hóa ứng xử (bao gồm: ứng xử với môi trường tự nhiên và ứng xử với môi trường xã hội)
4 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Vấn đề sưu tuyển, nghiên cứu ca dao, tục ngữ Nam Bộ nói chung, miền Tây Nam Bộ nói riêng trước đây, trước hết, có thể đề cập các công trình, giáo trình, sách thuần tuý hoặc thiên về khía cạnh văn học:
- Đoàn Xuân Kiên trong Ca dao miệt vườn [1982] nói về công tác
sưu tầm ca dao, dân ca Nam Bộ đang ở bước đầu
- Bùi Mạnh Nhị với Sen Tháp Mười [1980] sưu tầm và giới thiệu Ca
dao miền Nam về Hồ Chí Minh
- Lưu Nhất Vũ, Lê Giang với Tìm hiểu dân ca Nam Bộ [NXB
Tp.HCM, 1983]
- Sở Văn hóa &Thông tin Đồng Tháp có Trên nền Tháp//Ca dao
1946-1949 [1983] giới thiệu ca dao của Bảo Định Giang
- Bảo Định Giang, Nguyễn Tấn Phát, Trần Tấn Vĩnh, Bùi Mạnh Nhị
với Ca dao dân ca Nam Bộ [NXB Tp.HCM, 1984]
- Đỗ Văn Tân (cb), Vũ Hoàng Đoàn, Đinh Thiên Hương, Cái Văn
Thái, Lê Hương Giang với Ca dao Đồng Tháp Mười [Sở Văn hóa & Thông
tin Đồng Tháp, 1984]
Trang 7- Sở Văn hóa & Thông tin Tiền Giang có Văn học dân gian Tiền
Giang [1985] giới thiệu và sưu tầm văn học dân gian Tiền Giang
- Lê Trí Viễn (cb) Thơ văn Đồng Tháp, tập I [NXB Tổng hợp Đồng
Tháp, 1986]
- Lê Thị Hồng với Ca dao dân ca Kiên Giang [1988] giới thiệu và
sưu tầm các thể loại ca dao dân ca Kiên Giang với nội dung và nghệ thuật
- Trường Đại học Sư phạm TP.HCM, Trường Cao đẳng Sư phạm
Đồng Tháp có Thơ văn Đồng Tháp [tuyện tập I, 1986] giới thiệu, sưu tầm
ca dao về Đồng Tháp
- Nguyễn Phương Thảo, Hoàng Thị Bạch Liên: Văn học dân gian
Bến Tre [1988] giới thiệu, sưu tầm ca dao và dân ca Bến Tre về chủ đề
thiên nhiên, con người, tình yêu nam nữ và gia đình
- Nguyễn Vạn Niên với Ca dao dân ca Châu Đốc [1988] đã sưu tầm,
phân loại và giới thiệu ca dao dân ca vùng đất này
- Thạch Phương (cb) với Địa chí Long An [1989] đã giành một phần
để giới thiệu và sưu tầm ca dao Long An
- Đoàn Tứ, Thạch Phương (cb) với Địa chí Bến Tre [1991] đã giành một phần để giới thiệu và sưu tầm ca dao - dân ca Bến Tre
- Nguyễn Xuân Kính (cb) với Kho tàng tục ngữ người Việt, [NXB
VHTT, 1995]
- Hà Thắng, Nguyễn Hoa Bằng, Nguyễn Lâm Điền với Văn học dân
gian Đồng bằng sông Cửu Long [1997]
- Huỳnh Ngọc Trảng với Ca dao dân ca Nam Kì lục tỉnh [NXB
Đồng Nai, Biên Hòa, 1999]
- Ôn Như Nguyễn Văn Ngọc với Tục ngữ - Phong dao [NXB VHTT
Hà Nội, 2000]
Trang 8- Nguyễn Phương Châm với Luận văn thạc sĩ Ngôn ngữ và thể thơ
trong ca dao người Việt ở Nam Bộ [Viện Nghiên cứu VHDG, 2000]
- Nguyễn Văn Hầu với Diện mạo văn học dân gian Nam Bộ, tập 1-
ca dao dân ca [2004], biên khảo ca dao dân ca Nam Bộ
- Lê Giang với Bộ hành với ca dao [ NXB Trẻ, 2004]
- Chu Xuân Diên (cb) với Văn học dân gian Bạc Liêu [NXB Văn
nghệ Tp.HCM, 2005], v.v…
Bên cạnh đó, có các công trình nghiên cứu ít nhiều đề cập ca dao, tục ngữ trong mối quan hệ tìm hiểu đặc điểm, sắc thái đời sống văn hóa con người Nam Bộ nói chung, miền Tây Nam Bộ nói riêng, có thể kể tên như:
- Nguyễn Hoa với Tính cách người Nam Bộ qua ca dao - dân ca
[1988] biên khảo và sưu tuyển ca dao - dân ca Nam Bộ về tính cách người Nam Bộ
- Nguyễn Thị Mai với Khoá luận Tính cách người nông dân Nam Bộ
trong Văn học dân gian [1989]
- Võ Thị Kim Loan với Khoá luận Tính cách người Nam Bộ qua ca
dao dân ca [1991]; qua đó tính cách người Nam Bộ được thể hiện đó là bộc
trực, hồn nhiên, bình đẳng, ngang tàng, hào hiệp và trào lộng
- Trần Thị Diễm Thúy với Luận văn thạc sĩ Thiên nhiên trong ca dao
trữ tình Nam Bộ [1997], sau phát triển Luận án tiến sĩ với đề tài cùng tên
năm 2002
- Trần Văn Nam với Thử nhìn văn hóa Nam bộ qua lăng kính ca dao
[Thông báo văn hóa dân gian 2001, Viện Nghiên cứu VHDG, 2002, tr 813-827]
- Mai Văn Sang với Đôi nét về “văn minh miệt vườn” trong ca dao
Nam bộ [http://www.vanchuongviet.org/vietnamese/tulieu_tacpham.asp]
Trang 9- Nguyễn Nhân Thống với Đặc sản Nam Bộ qua ca dao, tục ngữ
[http://www.vietnamlife.com/portal/forum_posts.asp]; v.v… và nhiều công
trình, giáo trình, bài viết khác
Như vậy, có thể nói việc sưu tuyển, nghiên cứu ca dao, tục ngữ
người Việt miền Tây Nam Bộ dưới góc độ văn học đã giành được khá
nhiều sự quan tâm trong dòng chảy nghiên cứu ca dao, tục ngữ chung của
dân tộc Những năm gần đây, xuất hiện nhiều công trình sưu tầm văn học
dân gian của vùng này, trong đó bao gồm cả ca dao và tục ngữ Tuy nhiên,
nhiều công trình sưu tầm ca dao, tục ngữ trên chưa có sự tuyển chọn, chắt
lọc cần thiết để bộc lộ rõ tính vùng miền mà thường bao gồm tất cả ca dao,
tục ngữ tồn tại, lưu truyền tại vùng đất này (trong đó, một bộ phận không
nhỏ là ca dao, tục ngữ thuộc phần ca dao, tục ngữ chung của cả nước; phù
hợp với tất cả vùng, miền) Còn nghiên cứu ca dao, tục ngữ qua đó thể hiện
đặc điểm, sắc thái đời sống văn hoá người Việt nơi đây tuy có nhưng chưa
thành hệ thống, chuyên sâu
Do vậy, dưới góc nhìn văn hóa học, việc sưu tuyển, phân loại ca dao,
tục ngữ của riêng người Việt miền Tây Nam Bộ theo hệ thống các thành tố
văn hóa để phục vụ tốt hơn cho nghiên cứu văn hóa từ nguồn tư liệu dân
gian dồi dào là điều còn bỏ ngỏ và nên làm
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Về khoa học, trước hết, luận văn thực hiện việc sưu tầm, tuyển chọn
ca dao, tục ngữ của riêng người Việt miền Tây Nam Bộ, mà nguồn tư liệu
chủ yếu là thành quả của các công trình sưu tầm, tuyển chọn trước đó Đây
là điều mà nhiều công trình đã thực hiện nhưng chưa trọn vẹn vì nhiều lý
do (tập hợp tất cả ca dao, tục ngữ sưu tầm mà không có sự chắt lọc để thể
hiện cái tính riêng của miền Tây, phạm vi sưu tầm hạn chế,…) Thứ hai,
luận văn đưa ra một cái nhìn có tính chất hệ thống của khoa học văn hóa về
ca dao, tục ngữ của vùng Tây Nam Bộ trong điều kiện khoa học thực tại,
Trang 10nhất là trong nghiên cứu văn hóa, dường như chưa có một công trình chính thức nào nghiên cứu toàn diện đến vấn đề này Do vậy, luận văn có thể được xem là tài liệu tham khảo về một trong nhiều cách nhìn có tính chất
hệ thống đối với toàn bộ ca dao, tục ngữ (trong khả năng người thực hiện sưu tuyển được) về miền đất Tây Nam Bộ Qua đó, luận văn có thể được sử dụng để tham khảo về sau đối với giới quan tâm nghiên cứu đời sống văn hóa cộng đồng người Việt miền Tây Nam Bộ
Về thực tiễn, trước thực tại đất nước đang đi vào con đường hội nhập
và phát triển, việc sưu tầm, phân loại ca dao, tục ngữ là một biểu hiện thiết thực trong việc gìn giữ vốn văn hóa dân gian quý giá của dân tộc Nó không chỉ hữu ích với người miền Tây để hiểu biết hơn về chính đời sống văn hóa mình mà còn có tác động tích cực giúp mọi người hiểu biết về mảnh đất miền Tây Nam Bộ bởi ca dao, tục ngữ được tái hiện rất thường xuyên, dễ nghe, dễ nhớ và lâu quên
6 Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu sưu tuyển, phân loại ca dao, tục ngữ theo hệ thống dưới góc nhìn văn hóa học là một đề tài có phạm vi khá rộng, bao quát Do đó,
đề tài sẽ được thực hiện thông qua sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau:
- Phương pháp nghiên cứu liên ngành: được sử dụng để có thể tìm thấy được những cứ liệu trong các ngành, lĩnh vực khác nhau như: văn học, ngôn ngữ học, văn hóa học, văn bản học, v.v…
- Phương pháp nghiên cứu hệ thống - loại hình: vận dụng để có thể đưa ra cái nhìn hệ thống khoa học về ca dao, tục ngữ Đây là phương pháp nghiên cứu quan trọng nền tảng được sử dụng xuyên suốt công trình
- Phương pháp nghiên cứu thống kê - tổng hợp: đem đến cái nhìn chung khái quát từ những yếu tố riêng lẻ của ca dao cũng như tục ngữ
Trang 11- Phương pháp nghiên cứu so sánh, miêu tả: được vận dụng để làm
rõ đặc điểm có tính chất đặc trưng của ca dao, tục ngữ miền Tây Nam Bộ, qua đó thể hiện nét riêng của văn hóa Tây Nam Bộ
7 Bố cục của luận văn
Luận văn ngoài phần mở đầu, kết luận, gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề chung, trình bày các vấn đề: Nhận diện ca
dao, tục ngữ; cơ sở sưu tuyển và phân loại ca dao, tục ngữ người Việt miền Tây Nam Bộ
Chương 2: Ca dao, tục ngữ người Việt miền Tây Nam Bộ về văn hoá tổ
chức đời sống, gồm: Tổ chức đời sống tập thể và tổ chức đời sống cá nhân
Chương 3: Ca dao, tục ngữ người Việt miền Tây Nam Bộ về văn hoá ứng
xử, gồm: Ứng xử với môi trường tự nhiên và ứng xử với môi trường xã hội
Phần Phụ lục, gồm:
Phụ lục 1: Tất cả những tác phẩm ca dao, tục ngữ do người thực hiện
sưu tầm, tuyển chọn giới thiệu sắp xếp theo vần ABC
Phụ lục 2: Ca dao, tục ngữ phân loại theo văn hóa tổ chức đời sống và
văn hóa ứng xử
Trang 12CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 1.1 Nhận diện ca dao, tục ngữ
1.1.1 Ca dao
Ca dao, ca dao - dân ca, dân ca và phong dao là những khái niệm được bàn đến nhiều trong nghiên cứu về văn hoá dân gian nói chung, văn học dân gian nói riêng Ranh giới khu biệt các khái niệm này đôi khi không thật sự rạch ròi, bởi cùng một tác phẩm, trong từng điều kiện tiếp cận, người ta có thể gọi là ca dao hoặc ca dao - dân ca và cũng có thể là dân ca Trong phạm vi đối tượng luận văn nghiên cứu, khái niệm “ca dao” được đề cập trong tương quan với các khái niệm còn lại nhằm có thể nhận diện một cách cơ bản làm cơ sở triển khai các luận điểm nghiên cứu về sau
Trong nhiều bài nghiên cứu về ca dao, các tác giả có hướng xem ca dao là phần lời của bài dân ca, được hình thành từ dân ca Chẳng hạn, tác
giả Triều Nguyên trong Tiếp cận ca dao bằng phương pháp xâu chuỗi cho
rằng: “Ca dao được hình thành từ dân ca Dân ca bao gồm phần lời, phần giai điệu, phương thức diễn xướng và môi trường diễn xướng” [Triều Nguyên 2003: 13] Trong khi đó, trở về quá khứ xa hơn, học giả Dương Quảng Hàm đã có định nghĩa từ nguyên: “Ca dao: gồm ca: hát, dao: bài hát không có chương khúc; là những bài hát ngắn lưu hành trong dân gian, thường tả tính - tình phong - tục của người bình dân Bởi thế ca dao cũng gọi là phong dao.” [Dương Quảng Hàm 1968: 8] Cùng hướng suy nghĩ trên, nhà văn Sơn Nam nhận định táo bạo hơn khi phủ nhận sự tồn tại của khái niệm “ca dao” trong ngôn ngữ bình dân mà cho rằng: “Trong ngôn ngữ bình dân, không nghe nói đến danh từ ca dao Căn cứ vào nhạc điệu, trường hợp sử dụng, họ gọi đó là hát đưa em, hát huê tình, hát đối, hò chèo ghe, hò xay lúa, hò cấy.” [Sơn Nam 2005: 44]
Trang 13Trong chừng mực nhất định, chúng tôi có cách nhìn ca dao gần với
quan niệm của tác giả Chu Xuân Diên trong giáo trình Văn học dân gian
khi ông cho rằng “Ca dao là lời của bài dân ca đã tước bỏ đi những tiếng đệm, tiếng láy… hoặc ngược lại, là những câu thơ có thể “bẻ” thành những làn điệu dân ca… Và ca dao đã trở thành một thuật ngữ dùng để chỉ một thể thơ dân gian.” [Đinh Gia Khánh - Chu Xuân Diên 1977b: 303-304]
Như vậy, cùng với sự phát triển của văn học viết, ca dao là một thể thơ dân gian, dù ranh giới không thật sự rõ ràng nhưng ca dao có một vị trí độc lập tương đối với dân ca và không hẳn thuộc về dân ca như suy nghĩ của nhiều người trước đây Ca dao có thể thêm nhạc điệu, tiếng đệm, tiếng lót, tiếng láy để thành dân ca và cũng có thể tồn tại như một thể hoàn chỉnh để con người có thể thưởng thức với tư cách là đọc giả Do đó, ca dao bao gồm:
- Tác phẩm thơ dân gian thuần túy được lưu truyền trong quần chúng nhân dân với tư cách là sáng tác của tập thể, vô danh (dù thực tế có thể có tác giả, nhưng việc xác định tác giả được xem là không quan trọng và tác giả cũng không có nhu cầu xác lập tác quyền)
- Tác phẩm thơ dân gian thuộc phần lời của bài dân ca (bài dân ca lược bỏ phần âm nhạc, tiếng đệm, tiếng lót, tiếng láy)
Về đặc điểm cơ bản, có thể nói ca dao mang những đặc điểm cơ bản của văn học dân gian, đó là tính truyền miệng - tính tập thể - tính vô danh Đây là những thuộc tính quan trọng của văn học dân gian nói chung và ca dao nói riêng Từ những đặc điểm này, một điểm độc đáo đã nảy sinh ở ca dao, đó là tính dị bản Tính dị bản ở ca dao cho phép tồn tại nhiều bản ca dao khác nhau mà thoạt đầu người thưởng thức tưởng rằng chỉ có một bản, bởi sự khác nhau giữa các bản là không nhiều, và người ta gọi chung đó chỉ
là một tác phẩm ca dao có nhiều bản Bên cạnh đó, ca dao có tính thống nhất - đa biệt [Hoàng Trinh 1998: 337] Chính đặc điểm này cho phép ca dao thuộc về mọi người mà cũng là của một người Bởi nó có thể hợp với
Trang 14nhiều người theo diện rộng mà cũng đúng với tâm tư tình cảm của từng người rất sâu Ngoài ra, ca dao còn mang đậm tính mộc mạc, bình dị; khó
có thể tìm thấy sự giả dối trong ca dao, nó là tiếng vang của tình người, đưa người đến với người, chia sẻ với người và sống với người
Về nội dung phản ánh, ca dao phản ánh khá toàn diện đời sống tâm tư, tình cảm của con người Chính vì vậy mà nhà nghiên cứu Hoàng Trinh đã cho rằng: “Tình cảm trong ca dao là tình cảm mang cái nhân tính, cái nhân
tư tưởng phản ánh thế giới quan, nhân sinh quan và nhận thức của con người
về mọi mặt trong cuộc sống” [Hoàng Trinh 1998: 337] Và cũng theo ông, hạt nhân triết lý của ca dao chứa đựng những truyền thống tư tưởng của dân tộc mà chủ nghĩa nhân đạo cốt lõi là lao động - lẽ phải - tình thương Từ chủ nghĩa nhân đạo cốt lõi này, ca dao đi vào đời sống dân gian trên mọi bình diện, từ đề tài lao động, làm chủ thiên nhiên của con người đến tình yêu nước, yêu thiên nhiên, yêu đôi lứa, tình đoàn kết, lòng nhân ái,…
Về hình thức nghệ thuật, ca dao là một thể thơ dân gian nên trước hết
nó phải là thơ Thơ - ca dao được thể hiện chủ yếu dưới hình thức lục bát và
lục bát biến thể Trong sách Kho tàng ca dao người Việt, có 10.305 bài ca
dao trên tổng số 11.825 bài được sáng tác theo thể lục bát (chiếm 87%) và
trong sách Ca dao Việt Nam, có 973 bài trên tổng số 1.015 bài được sáng tác
theo thể lục bát (chiếm 95%) [Trần Kim Liên 2004: 63 ] Bên cạnh đó, các thể thơ khác cũng được vận dụng, như: song thất lục bát chính thức, song thất lục bát biến thể hoặc phối hợp nhiều thể thơ khác nhau Số câu trong một bài ca dao thường không cố định, ít nhất là 2 câu (thường là 1 cặp 6-8), nhiều thì có thể đến mấy chục câu tùy theo sự diễn tả tâm trạng tình cảm của quần chúng sáng tác để có thể bộc lộ được hết ý, hết tình của mình Tuy nhiên, trong diễn xướng dưới phương thức đối đáp, một bài có thể kéo dài vô hạn định tùy khả năng tiếp nối và bắt vần của những người tham dự
Trang 151.1.2 Tục ngữ
Theo nhà nghiên cứu Hoàng Trinh, cho đến nay, giới tục ngữ học vẫn cho rằng chưa có một định nghĩa nào hoàn chỉnh có thể được thống nhất chấp nhận vì tục ngữ là một thực thể ngôn ngữ kết tinh nhiều mặt: tư duy, tư tưởng, truyền thống, xã hội, ngôn từ (Riêng ngôn từ cũng đã là sự chung đúc của nhiều yếu tố: âm, từ vị, ngữ nghĩa, cú pháp) Song dù vậy,
để có cơ sở trong nghiên cứu, người ta vẫn tạm chấp nhận những định nghĩa chưa hoàn chỉnh
Trong bài viết tìm hiểu về tục ngữ, nhà nghiên cứu Hoàng Trinh tìm cách không đưa ra một định nghĩa nào về tục ngữ nhưng cũng phải chạm đến nó, dù rằng đó là một cách đề cập không chính thức Theo ông “Tục ngữ là những câu cực kỳ bình dị, chắc nịch, răn đời bằng những điều luân
lý sâu xa, hoặc tổng kết ngắn gọn những công việc làm ăn thời tiết [Hoàng Trinh 1998: 289]
Còn trong giáo trình Văn học dân gian, tác giả Chu Xuân Diên đã
định nghĩa “Tục ngữ là những câu nói ngắn, gọn, có ý nghĩa hàm súc, do nhân dân lao động sáng tạo nên và lưu truyền qua nhiều thế kỷ” [Đinh Gia Khánh, Chu Xuân Diên 1977b: 11] Ở một đoạn khác cũng trong giáo trình này, ông lại đưa ra nhận định như một định nghĩa khác về tục ngữ rằng
“Tục ngữ là tri thức thông thường của nhân dân lao động về khoa học tự nhiên và khoa học xã hội [Đinh Gia Khánh, Chu Xuân Diên 1977b: 13]
Nhìn chung, từ những định nghĩa về tục ngữ của các tác giả, nhà nghiên cứu, có thể nhìn nhận một cách khái quát rằng tục ngữ, theo nghĩa
từ nguyên gồm: tục là thói quen có từ lâu đời (nó là “thế tục”, không phải
"thô tục"); ngữ là lời nói Đó là những câu nói ngắn gọn, giàu ý nghĩa (có tính khoa học về tự nhiên và xã hội) có thể trở thành bài học, được sử dụng thường ngày và lưu truyền qua nhiều đời
Trang 16Tục ngữ tuy ngắn gọn nhưng mang nhiều đặc điểm nội dung và nghệ thuật Tuy nhiên, để tìm hiểu những đặc điểm này, cần biết thêm một số khái niệm rất gần với tục ngữ như: thành ngữ, sấm ngữ, ngạn ngữ, phương ngôn, cách ngôn, châm ngôn và danh ngôn Trong đó:
Thành ngữ: là đơn vị chưa thành câu, truyền tải một nội dung chưa hoàn chỉnh
Sấm ngữ: là những lời mang tính chất tương lai khi tiên đoán, tiên nghiệm sự việc sẽ xảy ra
Ngạn ngữ: rất gần với tục ngữ, vì chữ ngạn có nghĩa là lời nói người
xưa truyền lại Trong Văn học Việt Nam sử yếu, học giả Dương Quảng
Hàm đã đồng nhất hai khái niệm này khi cho rằng “tục ngữ còn gọi là ngạn ngữ” [Dương Quảng Hàm 1968: 5] Tuy nhiên, nếu hiểu ngạn ngữ có tính chất “lời hay ý đẹp” thì tục ngữ không hẳn bao giờ cũng là như thế, bởi kho tàng tục ngữ có những câu rất bình thường, chẳng hạn như những câu về thiên nhiên, thời tiết
Phương ngôn: cũng rất gần với tục ngữ, song hạn chế về phạm vi vì chỉ lưu hành trong một vùng nhất định nào đó chứ không thông dụng
Cách ngôn và châm ngôn: với việc hiểu "cách" là phương thức,
"châm" là răn bảo thì cách ngôn và châm ngôn cũng rất gần với tục ngữ, thiên về tính chất giáo huấn, hướng dẫn, khuyên răn trong đời sống
Danh ngôn: là những lời nói hay và đúng đến mức sâu sắc, được truyền tụng, được người đương thời và hậu thế nhắc lại Danh ngôn thường
là sản phẩm của danh nhân (Một lời nói tuy hay, nhưng của một người không nổi tiếng, khó trở thành danh ngôn)
Từ những khái niệm có nét gần với tục ngữ trên, có thể thấy ranh giới giữa tục ngữ với các khái niệm trên đôi lúc không thật sự rõ ràng, có những điểm giao thoa Để có cơ sở tìm hiểu đặc điểm tục ngữ, chúng tôi
Trang 17tạm chấp nhận việc không đề cập đến những khái niệm này mà sử dụng khái niệm tục ngữ với một quan điểm tương đối rộng như phần trên đã trình bày
Về nội dung phản ánh, dân gian thường coi tục ngữ là cái túi khôn của người Việt Nam Sự tinh khôn ở đây không phải là tư tưởng triết lý cao siêu, huyền bí mà là những điều bình dị đời thường góp nhặt nên từ nhiều đời Từ
đó, có thể thấy tục ngữ phản ánh đa diện và khá đầy đủ các mặt khi đưa ra những nhận xét, phán đoán về các hiện tượng tự nhiên, xã hội và đời sống con người Theo tác giả Chu Xuân Diên: “Phần lớn nội dung tục ngữ đều là những kinh nghiệm được rút ra từ việc quan sát và thể nghiệm các hiện tượng xảy ra trong đời sống thực tiễn….” [Chu Xuân Diên (cb) 1993: 1879]
Về hình thức, một trong những đặc điểm nổi bật làm nên tính nghệ thuật của tục ngữ đó là tính biểu trưng, bởi tục ngữ là sự kết tinh của nghệ thuật ngôn từ bình dân, quần chúng mà “ nghệ thuật ngôn từ Việt Nam có TÍNH BIỂU TRƯNG cao Tính biểu trưng thể hiện ở xu hướng khái quát hoá, ước lệ hóa với những cấu trúc cân đối hài hòa” [Trần Ngọc Thêm 1999: 160] Có lẽ cũng bởi tính biểu trưng mà ở nhiều trường hợp, tục ngữ tạo nên rất nhiều nét nghĩa độc đáo, thú vị trong nội dung phản ánh
Xét về vần, có thể xem vần là “chất thơ” của tục ngữ, tạo nên âm hưởng mượt mà cho tục ngữ Song, không phải tất cả những câu tục ngữ trong kho tàng của chúng ta đều có vần Tác giả Phan Thị Đào khảo sát trong công trình Tục ngữ Việt Nam của Nguyễn Xuân Kính và Phan Hồng Sơn biên soạn cho thấy “…1444 câu không có vần (chiếm 33%) trong cuốn sách này 67% số lượng những câu còn lại là có vần.” [Phan Thị Đào 2001: 91] Hơn nữa, sự hấp dẫn cũng như giá trị của câu tục ngữ đôi khi không phụ thuộc vào vần Với những câu tục ngữ có vần, vị trí gieo vần cũng khá linh hoạt Không giống như tên gọi cách gieo vần trong ca dao (vần lưng-yêu vận và vần chân-cước vận), người ta thường xem vần trong tục ngữ có
Trang 18hai loại là vần liền (ví dụ: Một đời cha, ba đời con) và vần cách (ví dụ: Tiếng tốt đồn xa, tiếng xấu đồn ba ngày đường)
Đi cùng với vần là nhịp Nhịp trong tục ngữ cũng rất linh hoạt, song dù linh hoạt đến đâu thì nhịp cũng phải đáp ứng yêu cầu ăn nhập với ý, bởi xét cho cùng, nhịp cũng là một trong những hình thức thể hiện ý Việc xác định sai nhịp có thể dẫn đến tình trạng hiểu sai ý, rồi đến sai nội dung của cả câu
1.2 Cơ sở sưu tuyển và phân loại ca dao, tục ngữ người Việt miền Tây Nam Bộ
Ca dao, tục ngữ là những sản phẩm của hoạt động đời sống tinh thần, mang đậm dấu ấn của con người - chủ thể sáng tạo trong mối quan hệ tương tác với không gian đời sống qua quá trình lịch sử lâu dài; vì vậy, chúng tôi chọn hệ trục toạ độ chủ thể - không gian - thời gian làm cơ sở gốc cho việc sưu tuyển và phân loại ca dao, tục ngữ
+ Chủ thể văn hóa - Người sáng tác, lưu truyền ca dao, tục ngữ
Miền Tây Nam Bộ là một vùng dân cư với nhiều thành phần, nguồn gốc khác nhau, đa dạng về mặt tín ngưỡng và tôn giáo, khác nhau về lối sống, phong tục tập quán, trình độ văn hóa và phong cách làm ăn Ở đây, các tộc người Việt, Khơme, Chăm và Hoa giữ một vai trò quan trọng trong đời sống văn hóa Trong quá trình phát triển, tộc người Việt đã trở thành nhân tố
cơ bản, đóng vai trò chủ đạo trong cả khu vực châu thổ phù sa rộng lớn này
Và người Việt chính là chủ thể sáng tác, lưu truyền ca dao, tục ngữ
Người Việt miền Tây Nam Bộ gồm rất nhiều thành phần, tầng lớp Một bộ phận là những người có tiền của ở xứ Quảng muốn vào Nam chinh phục vùng đất mới để tạo dựng cơ nghiệp Cùng đi với họ là những người nông dân mà thuở ấy gọi là điền nô Một bộ phận được chúa Nguyễn chiêu
mộ đưa vào để khẩn hoang theo chính sách dinh điền nhằm mục đích có thêm đất mới để trấn giữ, mở rộng phía Nam và củng cố thế lực Một bộ
Trang 19phận rất quan trọng là những người dân nghèo khổ, phải tha phương vì mục đích cơm áo, trốn tránh luật lệ hà khắc, hoặc vì sưu cao, thuế nặng mà phải
ra đi làm lại cuộc đời Một bộ phận khác là những người phạm tội tìm cách thoát khỏi luật pháp phong kiến, những tội đồ bị lưu đày cùng với gia đình
họ, những người trốn lính, bỏ ngũ,… Đó là những người ở trong thế bần cùng, khó khăn muốn tìm một cuộc sống mới
Tuy xuất thân từ nhiều địa phương khác nhau; phong tục, tập quán, cách thức làm ăn, thân phận khác nhau nhưng tất cả họ đều chung một mục tiêu lớn là sinh cơ, lập nghiệp, tạo dựng cuộc đời mới Từ mục tiêu lớn này,
họ đã gặp nhau, sống cùng nhau hình thành nên tính cách rất đặc trưng trong con người vùng đất mới này
Những con người nơi đây này hầu hết là là dân “tứ chiếng” Cuộc đời trải qua nhiều sóng gió, vất vả và bất ổn đã tạo ra cho họ nét tính cách ngang tàng Bởi những người dám rời bỏ quê hương, làng mạc ra đi thì ít nhiều trong đầu óc họ cũng có tính phiêu lưu mạo hiểm, dám chấp nhận, đương đầu và vượt qua thử thách Mặt khác, chính công việc mở mang đất mới đầy rẫy khó khăn, hiểm nguy đã góp phần tôi luyện họ thành những con người can trường, gan góc, không chịu khuất phục trước trở ngại thiên nhiên, cũng như mọi thế lực phi nghĩa
Quá trình chung sống, cùng trải qua những khó khăn, vất vả, thành công và thất bại đã giúp họ nhận ra rằng muốn chiến thắng mọi trở lực thì phải
cố kết với nhau thành một khối, phải cưu mang, đùm bọc lẫn nhau Do đó lòng bao dung, tinh thần hiệp nghĩa là nét tính cách tiêu biểu trong con người miền Tây Họ không khuất phục cường quyền, sẵn sàng làm tất cả vì việc nghĩa, bênh vực kẻ yếu, bảo bọc kẻ thất cơ lỡ vận Chữ “nghĩa” được đánh giá rất cao, được lấy làm chuẩn mực trong nguyên tắc ứng xử Ở các đền miếu Nam Bộ nói chung, miền Tây nói riêng, người ta thấy thường có thờ Quan Công Đó là một biểu hiện rõ nét chứng tỏ tinh thần đề cao chữ “nghĩa”
Trang 20Và vùng đất mới rộng rãi giàu tài nguyên đã tạo điều kiện dung dưỡng tính phóng khoáng ở con người nơi này Ở đây, không có sự bon chen vì đất không chật, người không đông; người với người đối đãi nhau một cách rộng rãi, hơn những nơi khác
Tính hiếu khách Nam Bộ có lẽ cũng xuất phát từ tinh thần ấy Người quý người, họ rất dễ mở lòng bởi họ xem đó là một niềm vui, niềm vui được chia sẻ, được tận hưởng những gì thiên nhiên ban tặng, dù cuộc sống nhiều lúc không hề dễ dãi với họ
Một nét tính cách nữa không thể không nói về con người miền Tây,
đó là thái độ dứt khoát, toàn tâm toàn ý trong tư tưởng suy nghĩ để rồi sống
“hết mình” Với họ, “làm ra làm, chơi ra chơi” không có chỗ cho sự nửa vời Dù thiên nhiên ưu đãi nhưng khi làm việc, họ cố hết sức mình, không ngại khó, không ngại khổ (Có lẽ chính vì lao động với tinh thần ấy, họ trở thành chủ nhân của vùng đất mới trù phú nhưng không ít hiểm nguy, khắc nghiệt này) Còn khi chơi, họ chơi “tới bến”, khi nhậu thì phải nhậu “quắc cần câu” Họ không ưa những con người "xìu xìu ểnh ểnh”, làm không phải làm, chơi không ra chơi Với họ, những kẻ "Ăn như xáng thổi, làm như chổi cùn" hay "Ăn như xáng múc, làm như lục bình trôi" thì không thể chấp nhận được
Nhìn chung, dù chất “âm tính” của gốc nông nghiệp vẫn là bản tính nền tảng nhưng người Việt miền Tây Nam Bộ có phần “dương tính” hơn so với các vùng miền khác trong nước Chất dương tính đã tiềm ẩn trong con người họ ngay từ khi họ dấn thân vào Nam mở đất, đổi đời Dù rằng, còn
có những hạn chế trong tư duy, cách sống nhưng tính cách người Việt miền Tây Nam Bộ vẫn rất độc đáo, rất riêng Cùng với đồng bào miền Đông Nam Bộ họ đã gầy dựng nên một tính cách đặc trưng, cái mà mọi người vẫn thường gọi là “đặc tính Nam Bộ”
Trang 21+ Không gian văn hóa - Mảnh đất hình thành, lưu truyền ca dao, tục ngữ
Tác giả Thạch Phương trong
Văn hóa dân gian người Việt ở Nam
Bộ đã nói về vùng đất này: “Đây là
một bình nguyên bát ngát có độ cao
trung bình từ một đến hai mét (những
giồng gò cao không quá năm mét) so
với mặt nước biển Độ chênh giữa đất
và nước ở đây là một điều lý tưởng
đối với nhà nông Đồng bằng rộng lớn
này được tưới tắm bởi một hệ thống
sông rạch dày đặc mà không nơi nào
trên đất nước có thể bì được.” [Thạch
Phương 1992: 45]
Bên cạnh đó, vùng đồng bằng trù phú này còn tiếp giáp với biển, và
sự tiếp giáp này không chỉ ở phần đáy châu thổ (như đồng bằng sông Hồng) mà bao quanh cả ba mặt Đông, Nam và Tây Nam với một chiều dài đến 600 km Để rồi “Qua hàng ngàn năm tranh chấp sông với biển, đồng bằng được hình thành Biết bao nhiêu cù lao sông lớn nhỏ được tạo ra, có những cái quan sát được bằng mắt thường (cù lao Dài, cù lao Năm Thôn,
cù lao Dung,…), có những cù lao cực lớn, đỉnh nằm ở chỗ sông bắt đầu chia nhánh, đáy tỏa dài ra phía biển Đất tỉnh Bến Tre cũng chính là đất cù lao do cù lao Bảo và cù lao Minh hợp thành Cả vùng Trà Vinh, Vĩnh Long, Sa Đéc, Long Xuyên thực ra cũng chính là vùng đất của một cù lao sông khổng lồ nằm giữa sông Tiền, sông Hậu.” [Viện KHXH 1990: 18]
Do đó, yếu tố biển là một yếu tố khá quan trọng trong cấu trúc không gian chung của miền Tây Nam Bộ Nó tạo cho vùng này một địa thế bán đảo
1
Nguồn: http://www.canthopromotion.vn/index.php?option=com_content&task
Trang 22chịu ảnh hưởng của thủy triều qua sự tác động các con sông, rạch với những đợt nước lớn, nước ròng Các miếu Ông và miếu Bà rải rác khắp cả vùng châu thổ đã minh chứng cho nền văn hóa biển của vùng đất này
Về thời tiết khí hậu, Tây Nam Bộ có nhiệt độ và độ ẩm đều cao Số giờ nắng hằng năm trên dưới 2000 giờ “Nhiệt độ trung bình trong năm
270C, cao nhất không quá 300C, thấp nhất không dưới 250C Chế độ gió mùa ở đây tạo nên nhịp điệu mùa rõ rệt: từ tháng 5 đến tháng 10 là thời kỳ gió mùa Tây Nam, là mùa mưa, tập trung tới 80% - 90% lượng mưa cả năm; từ tháng 11 đến tháng 4 là thời kỳ gió mùa Đông Bắc khô khan Mưa tập trung trong một số tháng làm cho 2 mùa kế tiếp nhau, phân biệt nhau rõ rệt: hết mùa khô là đến mùa mưa” [Viện KHXH 1990: 14] Tuy nhiên, những năm gần đây, dưới sự tác động của môi trường chung, cũng như nhiều vùng khác, thời tiết khí hậu của khu vực Tây Nam Bộ dường như không hoàn toàn theo quỹ đạo lịch sử để lại, mà có nhiều sự thay đổi, biến chuyển mặc dù về cơ bản đây vẫn là vùng khí hậu nhiệt đới ẩm với hai mùa mưa, nắng đặc trưng
Từ không gian tự nhiên này, không gian văn hoá đã hình thành và phát triển cùng với sự hiện diện của con người nơi đây Với diện tích khoảng 40.000 km2, miền Tây Nam Bộ, sau nhiều lần thay đổi, đến nay gồm 13 tỉnh, thành phố: Long An, Tiền Giang, Hậu Giang, An Giang, Kiên Giang, Đồng Tháp, Vĩnh Long, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bến Tre, Bạc Liêu,
Trang 23thành ngữ “hùm tha , sấu bắt” khá phổ biến trong lời ăn tiếng nói của nhân dân mãi cho đến ngày nay Ca dao cũng nói nhiều về hai loài này, như:
“U Minh, Rạch Giá thị quá sơn trường Dưới sông sấu lội trên rừng cọp đua.”
Hay: “Cà Mau khỉ khọt trên bưng
Dưới sông sấu lội trên rừng cọp um.”…
Bằng bàn tay và khối óc, con người miền Tây đã biến cải thiên nhiên
có phần khắc nghiệt thành không gian văn hóa phục vụ cho đời sống của mình Những “dòng sông thiên nhiên” đã được biến chuyển thành “dòng sông văn hóa” khi đây là nơi quần cư chủ yếu của con người vùng đất mới Chính ở đây, con người tạo dựng thôn ấp, tổ chức đời sống cộng đồng mình Sông rạch, kênh mương là đường giao thông huyết mạch, là nguồn cung cấp nhiều sản phẩm quan trọng cho đời sống (cho nước tưới tiêu, cho sản vật cá, tôm ), là nơi lập chợ (chợ nổi là một loại hình chợ đặc trưng rất độc đáo của miền Tây Nam Bộ), và cũng có thể là nơi ở (cất nhà ven sông),… Chính những dòng sông, kênh, rạch được lấy làm ranh giới địa phương Chúng dọc ngang chằng chịt như những mạch máu lớn nhỏ trong
“cơ thể Tây Nam Bộ”, người ta quen gọi là “môi trường sông nước”
Ca dao, tục ngữ của người Việt miền Tây Nam Bộ đã khởi hứng và hình thành từ trong môi trường và không gian văn hoá như thế
+ Thời gian văn hóa - Dòng chảy của ca dao, tục ngữ
Năm 1698, Chúa Nguyễn Phúc Chu cho lập phủ Gia Định Và đây
có thể xem là tên gọi đầu tiên chỉ chung cả khu vực Nam Bộ đánh dấu vai trò chủ thể của người Việt Cũng từ thế kỷ 17 và 18, lớp cư dân mới mà chủ yếu là người Việt đã có mặt nhiều nơi, nhưng họ phân bố không đồng đều mà sống tập trung dọc theo bờ các con sông lớn như sông Vàm Cỏ, sông Tiền…, khu vực đất giồng và các cù lao
Trang 24Năm 1808, nhà Nguyễn chia nước làm ba khu vực hành chính lớn, trong đó khu vực phía trong là Gia Định thành (phía ngoài là Bắc thành, khu vực giữa là kinh đô Huế) Năm 1834, vua Minh Mạng tiếp tục đổi tên gọi ba khu vực của đất nước thành Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ Và như vậy, Nam Kỳ có sáu tỉnh nên từ đây có tên gọi "Nam Kỳ lục tỉnh" Đó là các tỉnh: Phiên An (năm 1836 đổi thành Gia Định, tỉnh lỵ là tỉnh thành Sài Gòn), Biên Hòa (tỉnh lỵ là tỉnh thành Biên Hòa), Định Tường (tỉnh lỵ là tỉnh thành Mỹ Tho), Vĩnh Long (tỉnh lỵ là tỉnh thành Vĩnh Long), An Giang (tỉnh lỵ là tỉnh thành Châu Đốc) và Hà Tiên (tỉnh lỵ là tỉnh thành Hà Tiên) Ranh giới tên gọi miền Tây Nam Bộ bước đầu được định hình từ sự phân chia tỉnh thành này, qua đó, miền Tây cơ bản gồm bốn tỉnh: Định Tường, Vĩnh Long, An Giang và Hà Tiên hợp thành Đến năm 1899, Nam
Kỳ được Pháp chia thành rất nhiều tỉnh nhỏ, trong đó miền Tây về cơ bản gồm các tỉnh: Mỹ Tho (Định Tường cũ); Vĩnh Long, Bến Tre, Trà Vinh (Vĩnh Long cũ); Châu Đốc, Long Xuyên, Sa Đéc, Sóc Trăng, Cần Thơ (An Giang cũ); Hà Tiên, Rạch Giá, Bạc Liêu (Hà Tiên cũ)
Cùng với các vùng miền khác trên đất nước, miền Tây Nam Bộ đã trải qua cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp và sau đó là đế quốc Mỹ, góp phần không nhỏ vào trang sử vàng dân tộc
Như vậy, không kể nền văn hóa quá khứ đã nằm trong lòng đất, nền văn hóa mà con người Việt giữ vai trò chủ đạo cùng với những tộc người khác gầy dựng từ hơn ba trăm năm trở lại đây cũng đã rất độc đáo và đặc trưng Trong đó, ca dao, tục ngữ vừa là sản phẩm vừa là tấm gương phản chiếu quá trình lịch sử của vùng đất này
1.2.1 Cơ sở sưu tuyển ca dao, tục ngữ
Từ cơ sở gốc là hệ trục tọa độ chủ thể - không gian - thời gian, chúng tôi tìm hiểu và rút ra bốn đặc điểm có tính chất riêng của ca dao, tục ngữ miền Tây Nam Bộ Đây chính là cơ sở trực tiếp cho việc sưu tuyển, gồm:
Trang 25Hai đặc điểm về nội dung phản ánh: thứ nhất phản ánh địa danh, hình ảnh, cảnh quan và sản vật vùng miền; thứ hai phản ánh nếp sống, sinh hoạt vật chất, tinh thần con người miền Tây Nam Bộ
Hai đặc điểm về hình thức nghệ thuật: thứ nhất phương ngữ Nam
Bộ, thứ hai là sự biến thể về thể loại Về mặt phương ngữ, từ trước đến nay, thuật ngữ “phương ngữ Nam Bộ” là một thuật ngữ được dùng chung khi chưa có một sự khu biệt rõ ràng về phương ngữ của hai miền Đông và Tây Nam Bộ (Đây cũng là một vấn đề cần nghiên cứu, tuy nhiên do phạm vi đề tài, chúng tôi không có điều kiện đi sâu) Do đó, chúng tôi sử dụng thuật ngữ “phương ngữ Nam Bộ” dù chỉ nói riêng về miền Tây Nam Bộ
+ Sự phản ánh địa danh, hình ảnh, cảnh quan và sản vật vùng miền
Đây là cơ sở quan trọng cho phép người thực hiện việc sưu tuyển nhận diện được ca dao, tục ngữ của vùng đất miền Tây Nam Bộ Bởi ca dao, tục ngữ vùng nào cũng phản ánh những địa danh, hình ảnh cảnh quan
và sản vật vùng đó
Về địa danh, đó có thể là sự phản ánh tên của tỉnh, thành miền Tây Nam Bộ cùng với những đặc trưng riêng như:
“Ai về Đồng Tháp mà xem,
Bông sen, bông súng nở chen lúa vàng.”
“Bến Tre ruộng đất phì nhiêu,
Ở đây nhiều lúa lại nhiều dừa khô.”
“Cà Mau hãy đến mà coi
Muỗi kêu như sáo thổi Đỉa lội lềnh như bánh canh.”
“Cần Thơ gạo trắng nước trong,
Đậm tình non nước gợi lòng khách du.”
Cũng có thể là tên huyện, xã,… là những cấp hành chính nhỏ hơn, như:
Trang 26“Ai về Cao Lãnh thì về,
Nước trong gạo trắng dễ bề làm ăn.”
“Ai đi Châu Đốc, Nam Vang,
Ghé qua Đồng Tháp bạt ngàn bông sen.”
“Ai về Giồng Giếng1 qua truông, Gió lạch mưa luồng nhớ mẹ nhớ cha.”
Hình ảnh, cảnh quan được phản ánh với những nét rất đặc trưng, có thể xem là của riêng miền Tây Nam Bộ:
“Người đi có nhớ quê mình,
Nhớ kinh Vĩnh Tế, nhớ tình người xưa.”
“Châu Đốc nổi tiếng nhà bè,
Núi Sam nổi tiếng hội hè quanh năm.”
Hay: “An Bình đất mẹ cù lao,
Thơm hương hoa bưởi ngọt ngào nhãn long, Khách về nhớ mãi trong lòng,
Cù lao nho nhỏ bên dòng Tiền Giang.”
“Ai qua phà Bắc2 mà trông, Trời mây sông nước mênh mông một vùng.”
Về sản vật, miền Tây Nam Bộ thực sự dồi dào, phong phú Có lẽ vì vậy nên khi bàn đến sản vật Nam Bộ thì người ta thường nghĩ đến sản vật miền Tây Nam Bộ là phần nhiều Và lượng ca dao, tục ngữ phản ánh về chúng là rất lớn, chẳng hạn như:
“Ai về Cao Lãnh, Hòa An, Nhớ mua bánh thuốc về làng biếu cha.”
“Ai về thẳng tới Năm Căn, Ghé ăn bánh hỏi Sóc Trăng, Bãi Xàu
Mắm nêm, chuối chát, khế, rau, Tôm càng Đại Ngãi cặp vào khó quên.”
1 thuộc Bình Đại, Bến Tre
Trang 27Hay: “Đất Trà Ôn nổi tiếng đồn con cá cháy,
Đất Vĩnh Trị nổi tiếng nem ngon, Gạo Ba Kè càng dẻo càng thơm, Anh về ở đất Sào Côn,
Nhiều năm vẫn nhớ rượu ngon Lộc Hòa.”
Còn tục ngữ như:
“Bánh tráng Mỹ Lồng, bánh phồng Sơn Đốc.”
“Mắm Châu Đốc, dốc Nam Vang.”
Và: “Hàng chợ Thủ, lụa Tân Châu.”
+ Sự phản ánh nếp sống, sinh hoạt vật chất và tinh thần con người miền Tây
Bên cạnh địa danh, hình ảnh, cảnh quan và sản vật vùng miền được
ca dao, tục ngữ phản ánh thì con người miền Tây với nếp sống, sinh hoạt vật chất và tinh thần cũng được truyền tải khá đầy đủ, có thể khép kín vòng đời của một con người Từ thuở lọt lòng:
“Con lọt lòng mẹ con khóc tu oa,
Cô bác gần xa, ai cũng tới, Vui cười hớn hở, cha tôi mừng, mẹ tôi đỡ,
Mở con mắt chào đời.”
Rồi lớn lên theo lời ru đậm chất miền Tây của mẹ:
“Ví dầu cầu ván đóng đinh, Cầu tre lắt lẻo gập ghình khó đi
Ví dầu mẹ chẳng có chi, Chỉ con với mẹ chẳng khi nào mòn.”
Đến tuổi trưởng thành thì lại phát sinh tình cảm lứa đôi:
“Anh thương em cởi áo vo tròn, Chờ cha mẹ ngủ chun lòn cửa sau.”
Và hẹn ước:
“Anh xa em chưa đầy một tháng
Trang 28Nước mắt lai láng, hai tám đêm ngày Bao giờ cạn rạch Thầy Cai
Nát chùa Phước Hậu em mới sai lời nguyền.”
Sau đó, người ta tính chuyện hôn nhân, chuyện quan trọng của một đời người vì: “Làm ruộng phải có trâu, làm giàu phải có vợ”
Con người đến với nhau như quy luật của tạo hóa:
“Anh về dọn dẹp phòng loan, Mười ba nhóm họ, bữa rằm giao duyên.”
Thành gia thất rồi, người ta tính đến chuyện phụng dưỡng đấng sinh thành:
“Trai nào thanh bằng trai hai huyện, Gái nào thảo bằng gái Tân Châu?
Tháng ngày dệt lụa trồng dâu, Thờ cha nuôi mẹ quản bao nhọc nhằn.”
Rồi thực hiện chức năng bảo tồn giống nòi là sinh con; cứ vậy vòng đời trôi qua Trong quá trình đó thì con người luôn có hoạt động lao động sản xuất vật chất tạo ra của cải, sản phẩm để duy trì và phát triển đời sống:
“Cha chài mẹ lưới con câu, Chàng rể đóng đáy, con dâu ngồi nò.”
Bên cạnh đó, hoạt động đời sống tinh thần là điều không thể thiếu đối với mỗi con người miền Tây:
“Ai về Đồng Tháp mà coi,
Mộ ông Thiên Hộ1 trăng soi lạnh lùng,
Bà con đùm đậu quanh vùng, Tháng giêng ngày giỗ xin đừng ai quên.”
Hay: “Đi qua Thiện Mỹ mới nghĩ chuyện cúng đình,
Ghé thăm lăng Điều Bát vái cha mẹ mình sống lâu.”
Và vui chơi giải trí:
1
tức Võ Duy Dương, sĩ phu yêu nước thời chống Pháp
Trang 29“Ghe bầu dọn dẹp kéo neo, Mấy chú bạn chèo bắt cái hò khoan.”
Cuối cùng, cái chết là sự kết thúc một đời người:
“Chết trẻ khôn ma, chết già lú lẫn.”
Sự phản ánh vòng đời của con người với những nếp sống, sinh hoạt vật chất và tinh thần là nội dung lớn mà ca dao, tục ngữ của bất kỳ vùng nào cũng có; tuy nhiên, sự phản ánh ấy mỗi nơi mỗi khác, miền Tây Nam Bộ cũng vậy Cho nên, người ta có thể căn cứ vào đây mà sưu tuyển ca dao, tục ngữ một khi đã hiểu biết được con người cùng môi trường sống nơi này
+ Phương ngữ Nam Bộ
Như đã nói ở trên, chúng tôi sử dụng thuật ngữ “phương ngữ Nam Bộ” trong khi chủ yếu tìm hiểu đặc điểm phương ngữ ở miền Tây Nam Bộ Đây là dấu hiệu nhận diện và khu biệt đầu tiên về mặt hình thức thể hiện của ca dao, tục ngữ miền Tây Nam Bộ nói riêng, Nam Bộ nói chung Cùng với tiến trình phát triển lịch sử ba thế kỷ của vùng đất này (tính từ thời điểm người Việt xác lập vai trò chủ thể), phương ngữ Nam Bộ được hình thành và phát triển từ chính nếp sống, cách suy nghĩ, nói năng của người Nam Bộ Và nó ngày càng được bổ sung theo sự giao lưu mạnh mẽ của nhiều luồng văn hóa khác nhau với những phương ngữ như: phương ngữ Khơme, Chăm, Hoa… tất cả đã tạo nên hệ thống phương ngữ Nam Bộ vừa mang tính chung của ngôn ngữ Việt mà lại có tính riêng của vùng miền Nhìn chung, phương ngữ Nam Bộ có đặc điểm ngắn gọn, không dông dài, vòng vo, giàu hình tượng, dí dỏm, đậm tính sông nước, toát lên vẻ mộc mạc, chất phác và có sự dung hợp phương ngữ các dân tộc Chúng đi vào
ca dao, tục ngữ cùng với nét đẹp bình dị và đặc trưng như thế
- Tính khẩu ngữ Nam Bộ
Ca dao, tục ngữ vốn bình dị, mộc mạc nên việc sử dụng khẩu ngữ trong sáng tác cũng là điều dễ hiểu Hơn nữa, do tính cách con người Nam
Trang 30Bộ nói chung, miền Tây Nam Bộ nói riêng, vốn không thích câu nệ, rườm
rà, rào đón mà thẳng thắn, dứt khoát, “nghĩ sao nói vậy” nên việc sử dụng khẩu ngữ càng dễ hiểu hơn Tuy nhiên khẩu ngữ của mỗi vùng miền do từng điều kiện hoàn cảnh riêng nên có sự khác biệt nhất định Qua đó, ca dao, tục ngữ sử dụng khẩu ngữ Nam Bộ mang nét riêng của vùng, chẳng hạn như:
“Anh thương em năm bịch bảy bồ, Sao em không thương lại cái đồ bất nhơn.”
Hay: “Phú quý đa nhân hội, bần cùng ông cố nội cũng xa.”
Cả ca dao lẫn tục ngữ đều thể hiện chất liệu khẩu ngữ khá rõ nét, vì thế khi nghe tưởng chừng đó là những lời nói thường ngày của người dân Nam Bộ
Khẩu ngữ là văn nói nên rất ngắn gọn, hình thức câu rút gọn thành
từ, nhóm từ, còn gọi là câu tỉnh lược được sử dụng phổ biến trong đời sống, đặc biệt là nhóm những câu hỏi và trả lời về sự vật, thời gian và địa điểm (cái/con gì? Khi nào? Ở đâu?) Song, việc dùng hình thức câu tỉnh lược không thể hiện được hết cái riêng của khẩu ngữ Nam Bộ, bởi trong ngôn ngữ toàn dân nói chung, hình thức này vẫn thường được sử dụng Cái riêng
ở đây, đó là chỉ ở Nam Bộ, người ta mới gọi đối tượng ngôi thứ ba là ông
ấy, bà ấy, anh ấy, chị ấy,… bằng một tiếng duy nhất “ổng”, “bả”, “ảnh”,
“chỉ”,… Thậm chí ngắn gọn đến mức từ “không” chỉ có một tiếng mà cũng được rút bớt chữ “k” thành chữ “hông” mà không thay đổi nghĩa:
“Sao anh không biết nghĩ suy,
Mê chi sắc đẹp hông nghĩ gì đến em.”
Hoặc từ “dạ” chỉ cần thay dấu “nặng” bằng dấu “hỏi” là “dả” thì sẽ thành một câu hỏi để hỏi lại người nói khi người nghe chưa nghe rõ trong dạng câu hỏi khẳng định/phủ định (có/không) mà trường hợp nếu có câu trả lời thì cũng chỉ cần một tiếng “dạ”
Trang 31Bên cạnh đó, ca dao, tục ngữ còn sử dụng lớp từ riêng không thuộc vốn từ chung toàn dân Chẳng hạn như từ “kỳ”, đây là từ có nhiều nghĩa được sử dụng rộng rãi trong vốn từ của toàn dân, tuy nhiên chỉ ở Nam Bộ, người ta mới có các từ: kỳ khôi, kỳ ghê, kỳ cục, kỳ đời,… Và rất nhiều từ
là của riêng Nam Bộ, như từ “xài” (Sổ tay phương ngữ Nam bộ giải nghĩa:
“Xài 1 Đgt Tiêu Xài tiền, ăn xài 2.Dùng Loại máy này xài rất bền Xài
hàng trong nước” [Nguyễn Văn Ái (cb) 1987: 411]) mà tục ngữ đã có câu:
“Nồi đồng dễ nấu, chồng xấu dễ xài”
Và rất nhiều từ khác như: “té” với nghĩa “ngã”, “xỉn” với nghĩa “say rượu”, “bận” với nghĩa “mặc”,… Có những từ thể hiện rất rõ đặc tính Nam
Đây cũng là hệ quả phát sinh từ tính cách con người nơi đây, thích
cụ thể, rõ ràng mà không chung chung, mơ hồ; cùng với đặc điểm lịch sử là
sự thâm nhập vùng đất mới nên trong con người khai hoang lập ấp, tư duy trực quan, cảm tính rất cao Từ đó nảy sinh hiện tượng “thấy sao nói vậy”
Chẳng hạn như việc đặt tên các loại bánh là dựa theo tính hình tượng rất lớn, bánh phồng là bánh nướng phồng lên, bánh kẹp là bánh dùng kẹp mà nướng, bánh lá dừa là bánh gói bằng lá dừa, bánh xèo là bánh khi đổ nghe xèo xèo, bánh ít có thể là nói trại từ bánh ếch, vì giống hình con ếch,…
Và rất nhiều trường hợp khác, như:
Trang 32Bắc Bộ Nam Bộ (miền Tây Nam Bộ nói riêng)
Mì chính Bột ngọt: vì nó là bột mà có vị ngọt
Dầu hỏa Dầu hôi: vì nó hôi
Quả dưa chuột Trái dưa leo: vì nó kết trái theo kiểu leo giàn
- Tính dí dỏm, hài hước, khoa trương Nam Bộ
Đây cũng lại là hệ quả của tính cách con người miền Tây Nam Bộ với tinh thần lạc quan, yêu đời, mở lòng, phóng khoáng Có thể bắt nguồn từ những khó khăn, gian khổ của đời sống khai hoang lập ấp mà con người nơi đây luôn cần phải lạc quan, mở lòng Lạc quan, mở lòng để cùng vượt qua gian khó và hy vọng vào tương lai Đó là liều thuốc tinh thần quý giá giúp họ sống được, sống vui trên miền đất trẻ mà họ là những chủ nhân mới
Óc hài hước, dí dỏm, sự khoa trương như để làm vui đã thể hiện đậm nét trong ca dao (tục ngữ ít hơn vì tính chất thể loại):
"May không chút nữa em lầm Khoai lang khô xắt lát em tưởng cao ly sâm bên Tàu"
"Thương em nên mới đi đêm
Té xuống bờ ruộng đất mềm hổng đau May đất mềm nên mới hổng đau Phải mà đất cứng ắt xa nhau phen này"
Hay: "Tu đâu cho em tu cùng
May ra thành Phật thờ chung một chùa"
Còn trong chuyện lập gia thất thì ai cũng muốn gặp được người vừa
ý gồm cả đức, tài và sắc, nhưng dân gian vẫn hóm hỉnh mà truyền nhau lời khuyên rằng:
“Chim khôn lựa cành mà đậu, Gái khôn lựa mấy thằng nhậu mà nhờ
Trang 33Lỡ mai chết bụi, chết bờ, Hàng rương khỏi tốn, bàn thờ khỏi thắp nhang.”
Nghĩa vui ở lời khuyên này là lựa chọn cái điều lợi từ một thói quen không hay Thậm chí, cách giải quyết những mâu thuẫn trong đời sống vợ chồng cũng được diễn tả bằng sự hài hước, dí dỏm mà cũng rất tình:
“Mù u ba lá mù u,
Vợ chồng cãi lộn con cu giải hòa.”
Từ sự dí dỏm, hài hước, người ta có thể nghĩ đến chuyện khoa trương, phóng đại sự thật mà không gây hậu quả xấu đến ai:
“Anh than một tiếng nát miễu xiêu đình Cây huệ kia đang xanh lại héo, cá ở ao huỳnh vội xếp vi.” Hay: "Vắng cơm ba bữa còn no,
Vắng em một bữa giở giò không lên"
Có thể nói, sự dí dỏm, hài hước, khoa trương đời thường của người Việt miền Tây Nam Bộ đã đi vào ca dao một cách tự nhiên, tinh tế để rồi đem lại sự hấp dẫn riêng đối với người nghe và trở thành yếu tố đáng chú ý trong sử dụng phương ngữ Nam Bộ Nó không mang lại tiếng cười trào lộng, châm biếm mà nhẹ nhàng, vui tươi, sảng khoái, vừa lòng kẻ nói lẫn người nghe
- Tính dung hợp ngôn ngữ các dân tộc Nam Bộ
Đây là hệ quả của sự cùng chung sống của cộng đồng người Việt với các cộng đồng người Chăm, Khơ-me, Hoa,… Qua quá trình giao tiếp và giao lưu, sự dung hợp ngôn ngữ là điều tất yếu Trong đó tiếng Việt của người Việt (giữ vai trò chủ đạo) là ngôn ngữ trung tâm, do đó nhiều từ ngữ mới được hình thành từ nguồn ngôn ngữ các dân tộc phiên âm theo tiếng Việt
Chẳng hạn như từ “qua” và “bậu” Mặc dù có nhiều giả định về nguồn gốc của hai từ này: “như từ “qua”, theo Lê Ngọc Trụ: wá, (= tôi) Triều Châu,
từ của người lớn tuổi xưng hô thân mật với người thuộc vai em cháu Còn
Trang 34Bình Nguyên Lộc: Tưa, (= tôi) từ của một phụ chi của tiếng Mạ, dùng để tự xưng với vợ hoặc người yêu, hoặc em út”1 Nhìn chung, “qua”, “bậu” là cặp đại từ xưng hô, “qua” là đại từ ngôi thứ nhất, dùng riêng lẻ là từ xưng hô của người lớn tuổi với người nhỏ tuổi, nghĩa là tôi, ta Khi dùng chung với “bậu” nghĩa là anh, là cách xưng hô của chồng với vợ hoặc của người con trai xưng với người yêu Còn “bậu” là đại từ ngôi thứ hai, nghĩa là vợ hay người yêu hay người con gái được mến chuộng Hai đại từ này được dùng với nghĩa thân mật, dù ngày nay hai đại từ này ít phổ biến hơn trước, nhưng trong thơ văn, đặc biệt văn học dân gian, chúng như một cách gọi thể hiện tính vùng miền rất lớn “Qua”và “bậu” tiêu biểu cho ngôn từ Việt hóa ở miền Tây Nam
Bộ với sự hiện diện của những tác phẩm ca dao như:
“Bậu với qua duyên đà thậm bén,
Biết cha mẹ nàng chọn kén nơi nao.”
Thông qua giao lưu trong sinh hoạt đời sống văn hóa, những sản phẩm, vật dụng, đồ dùng người Chăm, Hoa, Khơ-me… như cái “cà ràng” (một loại bếp lò), “cà om” (bình đựng nước), cái “phảng”2 (dụng cụ làm nông), cái “nóp” (vật dụng sinh hoạt)3, … của người Khơ-me, món cà-ri của người Chăm,… cũng góp phần làm phong phú tiếng Việt của miền đất này
1 Phan Tấn Tài, Qua và Bậu trong văn thơ Miền Nam,
http://namkyluctinh.org/a-vhbkhao/pttai-quabau.htm
2 Nghe hò tao bắt nổi xung,
Tao cho một phảng chết chung cho rồi
3
Đó là một vật dụng đan bằng cói (hoặc bàng) thành một chiếc đệm, đúng hơn giống cái
bì thư lớn Chiếc đệm ấy dài khoảng 2 m, ngang 1 m Gập đôi may ở hai đầu, thành ra kín được ba cạnh, còn một cạnh chừa trống như ta xếp phong bì chừa miệng để bỏ thư vào rồi mới dán Có khi người ta còn may thêm đường viền (gọi là lưỡi gà) giống như nắp bì thư, để che kín khi ngủ nhằm chống muỗi, vắt… Vật dụng này đã đi vào lịch sử qua bài hát “Nam bộ kháng chiến” của Tạ Thanh Sơn: “Thuốc súng kém, chân đi không
mà lòng người giàu lòng vì nước Nóp với giáo mang ngang vai nhưng thân trai nào
kém oai hùng”
Trang 35- Tính sông nước Nam Bộ
Đây là hệ quả của sự phản ánh đặc điểm không gian văn hóa, môi trường sống – môi trường sông nước của Nam Bộ mà miền Tây Nam Bộ là tiêu biểu hơn cả Môi trường sông nước một mặt là đối tượng để ca dao, tục ngữ phản ánh, thể hiện; mặt khác đó lại là thứ chất liệu thực để thể hiện nội dung Môi trường sông nước đã làm nảy sinh một hệ thống từ ngữ làm chất liệu nghệ thuật cho sáng tác thơ văn Hệ thống từ ngữ này đi vào ca dao, tục ngữ như một sản phẩm đặc trưng của vùng miền bởi mức độ, tần số phản ánh cùng với những tên gọi rất riêng
Đó có thể là tên những công cụ sản xuất, đánh bắt: câu (câu thượt, câu nhắp, câu rê, cầu dầm, câu cắm, câu giăng…), lờ, trúm, lộp, đó, rọ, bung, xà di,… các loại lưới (xệp, te, đáy, càng chông, vó gặt, lưới rùng, lưới chụp,…),
“Mình về mình sắm cần câu,
Câu con cá bống, nấu rau tập tàng.”
Là phương tiện giao thông, vận chuyển: đò, xuồng, ghe, tắc ráng, phà,…
“Chèo ghe đi bán cá vồ,
Nước chảy ồ ồ chẳng thấy ai mua.”
Là những công trình xây dựng: cầu, nhà trên sông,…
“Anh thương em đưa nón đội đầu,
Về nhà ba má hỏi, đi qua cầu gió bay.”
Là những hoạt động sinh hoạt đời sống và lao động sản xuất: câu, lưới, chèo, đơm,
“Chiều chiều ông Lữ đi câu,
Bà Lữ đi xúc, con dâu đi mò.”
Là hệ động thực vật sông nước dồi dào cùng thực đơn phong phú: tôm, cua, cá, rùa, rắn, lúa nước, bông điên điển, bông súng,
“Đồng Tháp Mười cò bay thẳng cánh
Trang 36Nước Tháp Mười lóng lánh cá tôm
Muốn ăn bông súng mắm kho
Thì vô Đồng Tháp ăn no đã thèm.”
Là những vùng, đơn vị địa lý đặc trưng: bưng, bào, đìa, lạch, kênh,…
“Trong kênh có nhiều cá, ắt nước đục.”
Hoặc chỉ nói về dòng nước cũng muôn hình đa dạng: nước rong, nước ròng, nước đứng, nước lớn,…
“Nước rong nước chảy tràn đồng
Tơ duyên sẵn có chỉ hồng chưa se.”
Và chỉ cần khảo sát một từ “sông” trong cuốn “Ca dao dân ca Nam Bộ”1, tác giả Trần Thị Diễm Thuý nhận thấy hình tượng sông có tần số xuất hiện rất cao 144 lần và việc sử dụng hình tượng sông nước ở đây không nhằm tái hiện hình ảnh một con sông cụ thể nào mà chủ yếu bị chi phối bởi các đặc thù của cảm xúc và mục đích biểu tượng hoá nghệ thuật – Sông trở thành một biểu tượng nghệ thuật khi được sử dụng với nghĩa bóng
ổn định
Vậy nên, không ai có thể phủ nhận tính sông nước là một đặc điểm rất tiêu biểu trong đời sống văn hóa người Việt miền Tây Nam Bộ, được thể hiện qua hệ thống ngôn từ giàu hình ảnh và giàu cảm xúc
+ Sự biến thể về thể loại
Nếu phương ngữ Nam Bộ là dấu hiệu hình thức về mặt từ ngữ với nhiều đặc điểm riêng biệt mà miền Tây Nam Bộ là rất tiêu biểu để nhận diện ca dao, tục ngữ vùng này thì sự biến thể về mặt thể loại (chủ yếu là ca dao) chính là dấu hiệu về mặt cấu trúc, giúp người thực hiện có thêm cơ sở
Trang 37Sự biến thể về mặt thể loại trong ca dao chủ yếu thể hiện ở thể lục bát Có thể nói, số câu lục bát trong ca dao Nam Bộ ít hơn ca dao cả nước nói chung Theo Trần Kim Liên, tỉ lệ câu lục bát chỉ chiếm 79,1%, thấp hơn ca dao Bắc Bộ và Trung Bộ, ngược lại hình thức lục bát biến thể lại chiếm tỉ lệ cao hơn Số câu lục bát biến thể lên đến 26% ( ở miền Bắc chiếm 8%, ở Trung Bộ là 15%) [Trần Thị Kim Liên 2004: 65] Cũng theo tác giả này, ca dao Bắc Bộ sử dụng thể lục bát nhuần nhuyễn, trau chuốt hơn ca dao Trung Bộ và Nam Bộ Ca dao Bắc Bộ tiếp nhận lối ngắt nhịp truyền thống của ca dao Việt Nam (ngắt nhịp chẵn dòng lục 2/2/2, dòng bát 2/2/2/2 hoặc 4/4):
“Nước trong / nước chảy / quanh chùa (2/2/2) Không yêu / ta cũng / bỏ bùa / cho yêu.” (2/2/2/2)
Ca dao Bắc Bộ chịu ảnh hưởng nhiều hơn của ngôn ngữ văn chương bác học Cuộc sống lao động sản xuất của người dân đồng bằng Bắc Bộ nhìn chung ổn định, hiền hoà Thiên nhiên Bắc Bộ dù có sự chuyển đổi bốn mùa khắc nghiệt nhưng cuộc sống lao động và văn hoá tinh thần của con người vẫn được đảm bảo Sinh hoạt văn hoá và thiên nhiên đầy những hình ảnh thơ mộng, lãng mạn, con người có thể trao đổi gửi gắm cảm xúc bay bổng Điều đó được ghi lại trong ca dao Bắc Bộ, lục bát biến thể ít và thiên
về sự co giãn ở dòng lục hoặc dòng bát:
“Người ta chung nón chung tơi Cho em chung thầy, chung mẹ, chung hơi, chung tình.” (6/10 tiếng) Trung Bộ với điều kiện thiên nhiên mang tính khắc nghiệt, con người trải qua nhiều thăng trầm, biến cố trong lịch sử nên chất chứa tâm sự, dồn nén tâm trạng theo khuynh hướng trầm buồn:
“Nốc tôi chật chội chẳng cùng Làm thân con gái, nỏ biết rùng nơi mô.”
Hay: “ Nốc năm mui sóng khó chèo
Muốn kết đôi với bạn, bạn chê nghèo thì thôi.”
Trang 38Trong lao động, nhịp điệu sản xuất của người miền Trung mạnh mẽ, chắc khoẻ Người lên rừng trèo đèo, lội suối, chặt cây, động tác phải nhanh Người đi biển đánh cá phải chống chọi với sóng to gió lớn, hiểm nguy Ngay cả khi làm ruộng, đất cứng vì khô hạn, các động tác cũng phải mạnh, chắc, bền bỉ,… Cuộc đời đầy những thách thức, khó khăn đã làm biến đổi nhịp sống của con người Sự biến thể đột ngột với nhiều cung bậc khác nhau trong ca dao Trung Bộ là biểu hiện nghệ thuật mang ý nghĩa nội dung trên Thể lục bát ở Trung Bộ thiên về sự giãn tiếng ở dòng bát:
“Thương anh nỏ biết mần răng
Cứ lơ lơ, lửng lửng như sao băng giữa trời.” (6/10 tiếng) [Trần Thị Kim Liên 2004: 66]
Còn ca dao Nam Bộ nói chung, miền Tây Nam Bộ nói riêng dù vẫn
sử dụng nhịp một cách linh hoạt, uyển chuyển như ca dao truyền thống để biểu hiện sinh động tâm trạng, tình cảm; song số thanh bằng hoặc thanh trắc được sử dụng nhiều hơn qua đó tạo nhịp điệu man mác, da diết hoặc dứt khoát, mạnh mẽ:
“Chiều chiều ra ngắm Tiền Giang, (B/B/B/T/B/B) Sông bao nhiêu nước, em thương chàng bấy nhiêu.”
(B/B/B/T/B/B/B/T/B) Bên cạnh đó, ca dao miền Tây Nam Bộ còn có kiểu ngắt nhịp khá táo bạo, tự do trên nền thể thơ lục bát truyền thống:
“Năm Thìn / trời bão / thình lình, (2/2/2)
Kẻ trôi / người nổi / hai đứa mình / còn đây, (2/2/3/2)
Tơ hồng / nay đã / về tay, (2/2/2)
Bà nguyệt / ở lại / xe dây / hai đứa mình.” (2/2/2/3) Cũng vì vậy, sự biến thể về số tiếng rất linh hoạt, có khi giãn ở dòng lục:
“Thuyền em đã nhẹ, chèo lẹ khó theo, Khuyên em bớt mái hạ lèo chờ anh.” (8/8 tiếng)
Trang 39Có khi giãn ở dòng bát:
“Rừng thiêng nước độc thú bầy, Muỗi kêu như sáo thổi, đỉa lội đầy như bánh canh.” (6/11 tiếng)
Và có khi giãn ở cả hai dòng:
“Có chồng Gia Hội bà nội không cho,
Để về Chất Đốt ăn mắm kho rặt ròng.” (8/9 tiếng)
Cách ngắt nhịp, biến thể về số tiếng linh hoạt như thế rất phù hợp với tâm thế và tính cách con người miền Tây Nam Bộ, từ đó mới có thể diễn tả được những cung bậc tình cảm; mặc dù như vậy ca dao thiếu sự trau chuốt, song điều này cũng đúng với bản tính phóng khoáng, giản đơn, không quá cầu kỳ của con người nơi đây
Tóm lại, từ cơ sở gốc chủ thể - không gian - thời gian, bốn đặc điểm (hai về nội dung, hai về hình thức) mang tính riêng của ca dao, tục ngữ miền Tây Nam Bộ được rút ra Việc sưu tuyển căn cứ vào những cơ sở đặc điểm trên, nên đó cũng được xem là tiêu chí để sưu tuyển Song, một tác phẩm ca dao hay tục ngữ không nhất thiết phải thể hiện đầy đủ tất cả các tiêu chí mới được sưu tuyển Việc thể hiện một trong hai tiêu chí về nội dung phản ánh là điều kiện tiên quyết, đó là điều kiện cần Và tiêu chí về mặt hình thức nghệ thuật là điều kiện đủ, trong đó tiêu chí về sự thể hiện của phương ngữ Nam Bộ là quan trọng Sự biến thể về thể loại có thể xem
là tiêu chí phụ (đối với ca dao), song cũng rất đáng xem xét Do đó những tác phẩm ca dao, tục ngữ được chúng tôi sưu tuyển là những tác phẩm phản ánh một trong hai hoặc cả hai đặc điểm về nội dung phản ánh, sử dụng phương ngữ Nam Bộ, và riêng với ca dao nếu có hình thức lục bát thì thường là biến thể Đây là vấn đề có ý nghĩa thao tác luận trong sưu tuyển
Tuy nhiên, những cơ sở đặc điểm trên chủ yếu phục vụ cho việc sưu tuyển ca dao Nếu thực hiện sưu tuyển tục ngữ một cách chặt chẽ theo những cơ sở trên thì số lượng tác phẩm tục ngữ của riêng miền Tây Nam
Trang 40Bộ là không nhiều Điều này có thể lý giải được vì tục ngữ là kết quả của
sự tư duy, đúc kết lâu đời, mà miền Tây Nam Bộ với vai trò chủ thể của người Việt thì mới hơn ba thế kỷ, khá trẻ Mặt khác, không ít tác phẩm tục ngữ theo chân lưu dân người Việt vào đất miền Tây mà vẫn có giá trị sử dụng vì tính đắn đắn, sự phù hợp của nó với vùng đất mới Hơn nữa, tục ngữ là sản phẩm tư duy rất cô đọng, hàm súc, do đó tính chung, khái quát rất lớn, nếu đúng với vùng miền này thì cũng có thể đúng với những vùng miền khác Vậy nên, việc sưu tuyển tục ngữ phần nhiều là kế thừa các công trình sưu tầm có trước, kết hợp với những cơ sở có được dưới góc nhìn văn hóa học Qua đó, việc sưu tuyển có sự hạn chế đối với những tác phẩm tục ngữ mang tính chung, khái quát cao, nhưng cũng không loại bỏ hoàn toàn
vì chúng vẫn thuộc về miền Tây Nam Bộ - một phần của Việt Nam
Kết quả là chúng tôi đã sưu tuyển được 1554 tác phẩm ca dao, 431 tác phẩm tục ngữ (Xem phần Phụ lục) Đây chính là nguồn để thực hiện việc phân loại ca dao, tục ngữ dưới góc nhìn văn hóa học
1.2.2 Cơ sở phân loại ca dao, tục ngữ
Dưới góc độ văn học, đồng thời cũng theo truyền thống, người ta thường phân loại ca dao theo tiêu chí nội dung phản ánh, qua đó, ca dao thường được quy lại và xếp vào một số chủ đề cơ bản như: ca dao về thiên nhiên; tình yêu quê hương, đất nước; tình yêu đôi lứa, vợ chồng; lao động sáng tạo và nhận xét
về sự vật, về con người, phê phán, răn bảo trong đời sống
Và tục ngữ cũng thường được phân loại theo nội dung phản ánh Tác
giả Chu Xuân Diên trong Văn học dân gian đã phân tục ngữ thành rất nhiều
loại theo đề tài phản ánh như: tục ngữ về lao động sản xuất, về các hiện tượng lịch sử xã hội, về đạo đức, tôn giáo… [Đinh Gia Khánh, Chu Xuân Diên 1977b: 14] Học giả Dương Quảng Hàm thì lại phân thành: tục ngữ thuộc về luân lý, tâm lý người đời, phong tục và thường thức [Dương Quảng Hàm 1968: 6]