Đối phó của khách thể

Một phần của tài liệu Kỹ nữ trung hoa dưới góc nhìn văn hóa học (Trang 99 - 104)

CHƯƠNG 4: VĂN HÓA ĐỐI PHÓ VÀ LƯU LUYẾN KỸ NỮ

4.1. Văn hóa đối phó với kỹ nữ

4.1.1. Đối phó của khách thể

Từ khi kỹ nữ xuất hiện đã dẫn đến không ít tệ nạn trong xã hội. Quan lại quý tộc một mặt noi theo vua chúa không ngừng mở rộng việc nuôi dưỡng gia kỹ để hưởng lạc mặt khác lại ngày đêm ăn chơi sa đọa, buông thả dục vọng bên kỹ nữ. Họ hoàn toàn sao nhãng việc triều chính, ảnh hưởng nghiêm trọng đến chính trị quốc gia. Bên cạnh đó, hoạt động ngày càng rầm rộ của kỹ nữ cùng hệ lụy kéo theo là nạn buôn con gái nhà lành làm kỹ nữ đã ít nhiều làm cho xã hội rối ren. Vì thế các triều đại buộc phải ban hành và thực thi nhiều chính sách nhằm khống chế việc quan lại chơi gái cũng như kìm hãm sự phát triển của kỹ nữ (đặc biệt là tư kỹ), ổn định trật tự xã hội.

Thời Bắc Ngụy, Tuyên Võ Đế từng hạ lệnh lập nghiêm kỷ cương phép nước, hạn chế quan lại phóng đãng. Thời Tiêu Tề của Nam Bắc triều (420 - 589) nhà nước lập ra quy định “quan lại chưa đạt đến cổng vàng thì không được nuôi dưỡng kỹ nữ” (未登黄门郎不得蓄女妓). Hai vị quan là Vương Hử và Âm Huyền Trí vì chưa đủ điều kiện cho phép mà dám công khai nuôi gia kỹ nên bị miễn quan, tống giam vào tù 10 năm [Võ Châu 2005: 31]. Mặc dù pháp lệnh này đã có tác dụng hạn chế nhất định đối với việc quan lại cấp dưới nuôi dưỡng gia kỹ nhưng đồng thời nó lại khẳng định đặc quyền đối với việc nuôi dưỡng kỹ nữ của quan lại cấp trên. Trên

thực tế hình thức này chỉ nghiêm cấm cấp dưới mà khuyến khích cấp trên, do đó vẫn tạo điều kiện cho trào lưu nuôi dưỡng kỹ nữ thịnh hành.

Vào thời Tống, nhà nước đặt ra quy định là khi quan kỹ phục vụ quan phủ chỉ giới hạn trong việc ca múa hầu rượu, không được trao thân hay hầu chuyện chăn gối, mặt khác lại không cho phép họ phục vụ bán dâm ở chốn thành thị cho những văn nhân, thương nhân, thị dân… Điều này đã có tác dụng hạn chế trào lưu hoang dâm vô độ của quan lại và các tầng lớp khác trong xã hội. Ngoài ra, trong thời này, do lý học hưng thịnh nên việc định tội quan lại cũng trở nên nghiêm khắc hơn.

Khoảng từ thời Nhân Tông của Bắc Tống, nhà nước đã áp dụng những biện pháp xử phạt hành chính để khống chế hành vi quan lại qua đêm với kỹ nữ. Vì thế, quan lại và quan kỹ muốn tư thông với nhau chỉ còn cách là phải bí mật, không để cho triều đình phát hiện. Nhưng dù có trốn tránh thế nào thì những bí mật này cũng bị triều đình phát hiện ra và họ khó tránh khỏi phải chịu những hình phạt nhất định. Mặc dù vẫn có những quan lại, đặc biệt là các văn nhân sĩ đại phu làm theo ý mình, bất chấp tất cả nhưng về cơ bản thì chế độ xử phạt hành chính đã có tác dụng kìm hãm nhất định đối với sự phát triển của quan kỹ địa phương thời Tống.

Trong hơn 1000 năm bắt đầu từ đời nhà Tùy cho đến thời Uông Chính nhà Thanh, các triều đại phong kiến Trung Quốc đều quản lý kỹ nữ theo chế độ nhạc tịch. Theo đó công kỹ (cung kỹ, quan kỹ, doanh kỹ) và thị kỹ phải thực hiện thống nhất việc đăng kí hộ tịch, do nhà nước phân cấp quản lý. Cung kỹ phải chịu sự đóng dấu quản lý của giáo phường ty, doanh kỹ chịu sự quản lý của các trưởng quan quân sự, quan kỹ thì do quan phủ địa phương các cấp quản lý. Những phụ nữ nhập tịch làm ca kỹ nhất thiết đều phải nộp thuế, và phải được quan phủ xét duyệt, cấp cho giấy chứng nhận thì mới được hành nghề. Biện pháp quản lý này không chỉ kiểm soát được số lượng kỹ nữ mà còn góp phần ổn định trật tự xã hội. Đặc biệt là vào thời Nguyên, việc quản lý kỹ nữ càng được thi hành một cách sát sao, chặt chẽ.

Thời này đã thực hiện việc phát giấy chứng nhận đăng kí hộ tịch thống nhất cho kỹ nữ. Thậm chí kỹ nữ nộp thuế, cũng phải cấp phát các chứng từ, để tiện cho việc kiểm tra. Quan kỹ các thời Đường Tống nếu muốn hoàn lương chỉ cần được sự

đồng ý của người đứng đầu quan phủ, không cần phải đăng kí. Thời Nguyên thực hiện chế độ này nghiêm ngặt hơn, kỹ nữ muốn hoàn lương bắt buộc phải làm tờ trình xin sự đồng ý của giáo phường ty. Như vậy, vừa có thể đảm bảo duy trì tính ổn định của số lượng nhạc tịch, từ đó tăng thu nhập tài chính cho quốc gia, đồng thời vừa có lợi trong việc hạn chế quan lại địa phương tùy ý cho phép những cô gái lương thiện làm kỹ nữ hay kỹ nữ hoàn lương.

Bên cạnh đó, thông qua chế độ nghĩa vụ (ứng quan thân) và chế độ mua bán, triều Nguyên đã thực hiện ràng buộc về chính trị và cởi mở về kinh tế đối với kỹ nữ.

Ứng quan thân là trách nhiệm hàng đầu của quan kỹ. Khi quan phủ yêu cầu kỹ nữ đến phục vụ thì họ không thể không đi, những kẻ lẩn trốn hoặc phục vụ không chu đáo đều bị trừng phạt. Những quan kỹ sống ở kinh thành còn phải thực hiện ứng quan thân cho triều đình khi có yêu cầu. Thông thường họ phục vụ theo hai cách:

Một là vào cung tham gia biểu diễn nghệ thuật trong các hoạt động lễ mừng long trọng; Hai là tiếp đãi khách nước ngoài. Chẳng hạn khi sứ giả đến, để thể hiện lòng hiếu khách và thịnh tình của chủ nhà, triều đình thường phái những kỹ nữ cấp cao đến phục vụ họ (bao gồm cả trao thân khi có yêu cầu). Những kỹ nữ xem sự phục dịch này cũng là nghĩa vụ của mình đối với hoàng đế nên không được nhận bất cứ khoản tiền thù lao nào. Còn ứng quan thân của quan kỹ địa phương thì vẫn giống như đời Tống, chỉ giới hạn trong việc ca múa hầu rượu, không được phép hiến thân cho quan lại. Khi thực hiện loại phục vụ này, kỹ nữ thường không được trả tiền thù lao hoặc được trả rất thấp, có lúc còn bị trách tội, xử phạt nên họ thường không nhiệt tình, thậm chí còn oán ghét chế độ ứng quan thân. Vì thế nhà nước đã có cách

“làm dịu tình hình” thông qua chế độ mua bán. Chế độ này cho phép kỹ nữ có thể vừa bán nghệ bán thân cho những văn nhân, thương nhân, thị dân… Thù lao từ việc phục vụ này là nguồn thu nhập chủ yếu cho chi phí ăn mặc của họ. Tuy nhiên họ cũng không được phép lén lút bán thân cho quan lại, những quan lại nào dám tư thông với kỹ nữ một khi bị triều đình phát hiện sẽ bị xử phạt nghiêm khắc. Chẳng hạn vào thời này, hai vị quan huyện là Ngụy Cư Nhân và Trương Nghĩa Nhị chỉ vì lén lút qua đêm với kỹ nữ Trương Giảo Giảo nên bị đánh 50 roi và cách chức. Có

thể thấy triều Nguyên đã rất nỗ lực trong việc ổn định trật tự xã hội. Đương nhiên, chính vì thời này hiện tượng quan lại chơi gái, qua đêm và cưới kỹ nữ về làm thiếp tương đối phổ biến trong xã hội nên triều đình mới áp dụng các biện pháp pháp luật nghiêm khắc để hạn chế. Đồng thời đối với kỹ nữ, nhà nước đã rất khéo léo khi thực hiện các chính sách vừa để cưỡng chế, áp bức nhưng lại vừa xoa dịu, vỗ về.

Cùng với sự phát triển rầm rộ của tư kỹ, hoạt động mua bán con gái nhà lành làm kỹ nữ ngày càng phổ biến trong xã hội. Vì thế một số triều đại đã áp dụng nhiều biện pháp khác nhau để hạn chế tệ nạn này.

Vào những năm 30 của thời Nguyên, triều đình đã bắt đầu áp dụng luật cấm các hoạt động mua bán phụ nữ nhà lành làm kỹ nữ, hoạt động của tư kỹ mới bắt đầu bị hạn chế. Tuy nhiên nạn buôn người vẫn diễn ra. Cho đến những năm 50 triều Nguyên, khi Nguyên Thế Tổ hạ lệnh cấm quan lại quân dân mua bán con gái nhà lành làm kỹ nữ thì hiện tượng này mới dần giảm. Tuy nhiên giai cấp thống trị triều Nguyên chỉ cấm tư kỹ hoạt động, còn lại vẫn duy trì chế độ kỹ nữ nhập tịch. Biện pháp này có hai tác dụng: Một là vẫn có thể tăng cường thu nhập tài chính cho quốc gia; Hai là có thể giữ nguyên số lượng nhất định của kỹ nữ trong cả nước, giúp phần lớn người dân yên tâm lao động sản xuất, không bỏ lỡ nghề sinh sống. Cho dù các chủ nhà chứa muốn mua con gái nhà lành làm kỹ nữ thì cũng phải được sự xét duyệt phê chuẩn nhập tịch của quan phủ và phải nộp thuế.

Thời Minh vẫn kế thừa những quy định pháp luật của triều Nguyên, nghiêm cấm các hoạt động buôn bán phụ nữ lương thiện làm kỹ nữ. Vì thế giai đoạn đầu triều Minh không thấy bóng dáng hoạt động của tư kỹ. Nhưng từ giữa thời Minh về sau, do ham muốn của con người tràn lan, pháp lệnh đó đã trở thành một bài văn suông, hiện tượng mua bán những cô gái nhà lành làm kỹ nữ xuất hiện ngày càng nhiều và tư kỹ lại xuất hiện với số lượng lớn. Đầu thời Thanh, cùng với việc thủ tiêu chế độ công kỹ, giai cấp thống trị còn hạ lệnh cấm đem con gái nhà lương dân làm kỹ nữ. Chẳng hạn, năm Thuận Trị thứ 9, Thanh Thế tổ ban chiếu cấm đem con gái nhà lương dân làm kỹ nữ. Đến đời Khang Hy, lệnh cấm bán con gái nhà lương dân

làm kỹ nữ được quy định rất rõ trong sách Khâm định đại Thanh luật lệ: “Kẻ nào lén bán con gái nhà lương dân làm kỹ nữ thì đóng gông ba tháng, đánh một trăm trượng, bắt khổ sai ba năm. Người biết được mà vẫn mua cũng cùng tội, người trung gian mua bán thì trị tội giảm đi một bậc, người bị bán thì cho về…” Những kẻ chứa chấp, nhận tiền bạc của chủ kỹ viện hay đứng ra che chở cũng bị xử phạt nghiêm khắc “bọn vô lại không có hộ khẩu thì đều đánh một trăm trượng, giám sinh thì lột hết áo mão, nha dịch binh lính thì không cho ăn lương làm việc nữa, láng giềng có ai biết mà giấu diếm thì đánh tám mươi trượng. Kẻ nhận tiền bạc trái phép thì xử theo tang vật nhiều hay ít. Quan địa phương phạm tội thất sát thì giao cho bộ theo lệ nghị tội” [Từ Quân, Dương Hải 2001: 143].

Tuy nhiên, những quy định nhằm cấm bán con gái lương dân làm kỹ nữ nói trên và chính sách phế bỏ nhạc tịch cũng chỉ rơi vào hình thức. Vì bức bách sinh kế, trăm họ cùng đường nên phần lớn đều chọn cách bán con làm kỹ nữ để kiếm miếng ăn trước mắt. Quan lại nhà Thanh cũng hay những điều này nhưng lại không có hành động gì. Họ coi pháp lệnh “cấm bán con gái lương dân làm kỹ nữ” chỉ như một tờ giấy viết chữ suông. Qua đó có thể thấy, cho dù giai cấp thống trị trừ bỏ nhạc tịch cho kỹ nữ nhưng lại không thu xếp được lối thoát cho họ sinh sống sau khi hoàn lương nên kỹ nữ vẫn quay lại nghề cũ. Ngoài ra, dù nghiêm cấm việc bán con gái lương dân làm kỹ nữ nhưng nhà nước lại không chăm lo được đời sống kinh tế của người dân, trên thực tế đã không phá bỏ tận gốc điều kiện xã hội của việc nảy sinh kỹ nữ do đó tư kỹ vẫn thừa cơ phát triển mạnh.

Có thể nói khi trở thành đối tượng được không ít đàn ông say mê, kỹ nữ khó tránh khỏi bị những thê thiếp của nam giới đố kỵ, ganh ghét. Tuy nhiên, do đa số kỹ nữ đều nhận được sự bảo hộ nghiêm ngặt của quan phủ (đối với doanh kỹ, quan kỹ) hay tư nhân (đối với thị kỹ, tư kỹ) nên những người thê thiếp kia dù ghét bỏ thế nào cũng không dễ dàng gây tổn hại đến họ. Mặt khác, sống trong xã hội phong kiến, các thê thiếp của nam giới cũng không có quyền can thiệp vào sở thích của chồng hay ngăn cản chồng qua lại với kỹ nữ. Duy chỉ có cung kỹ và gia kỹ vì trực tiếp

chung sống cùng thê thiếp của nam giới nên phải chịu không ít sự áp bức, hãm hại từ những người phụ nữ này.

Một phần của tài liệu Kỹ nữ trung hoa dưới góc nhìn văn hóa học (Trang 99 - 104)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(161 trang)