CHƯƠNG 2: VĂN HÓA NHẬN THỨC VỀ KỸ NỮ
2.4. Nhận thức về văn hóa kỹ nữ trong mối quan hệ với văn hóa nữ giới Trung Quốc
Để có thể hiểu rõ mối quan hệ giữa văn hóa kỹ nữ và văn hóa nữ giới, trước hết cần làm rõ khái niệm về văn hóa nữ giới. Có thể thấy rằng, trong suốt lịch sử loài người, văn hóa nữ giới và văn hóa nam giới luôn tồn tại song song, chịu sự ảnh hưởng và tác động qua lại lẫn nhau. “Văn hóa nữ giới chính là phạm trù văn hóa chỉ các thành quả và phương thức hay các hoạt động sống được triển khai một cách chủ động hay thụ động của nữ giới trong mối quan hệ phụ thuộc với nam giới” [Võ Châu 2005: 12]. Trong hoạt động sống của nữ giới thường bao gồm ba tầng quan hệ: quan hệ với tự nhiên, quan hệ với xã hội (trong đó có quan hệ với nam giới) và với quan hệ bản thân mình. Ba tầng quan hệ này đã quy định phương thức hoạt động sống của quần thể nữ giới, bao gồm: phương thức hoạt động tự nhiên (chỉ quan hệ giữa nữ giới với tự nhiên), phương thức hoạt động xã hội (tức quan hệ giữa nữ giới với nam giới và xã hội), phương thức hoạt động tinh thần (chỉ quan hệ giữa nữ giới với chính bản thân họ).
31高聪: quý tộc thời Nam triều [baike.baidu.com].
Từ khi loài người tiến vào xã hội văn minh, quần thể nữ giới của dân tộc Trung Hoa đã bước vào thời kỳ lịch sử lâu dài của chế độ nam tôn nữ ty. Họ không chỉ phải chịu sự kìm hãm và nô dịch của nam giới một thời gian dài mà còn tự kìm hãm, nô dịch bản thân từ thế hệ này sang thế hệ khác. Vì vậy xét theo đặc trưng cơ bản, văn hóa nữ giới Trung Quốc mang tính thấp kém, bị xem thường.
Xét về mặt lý luận, quần thể nữ giới Trung Quốc từ khi bước vào xã hội nô lệ đã bắt đầu đi theo khuynh hướng “thấp kém”. Đặc trưng này hình thành vào thời Chu và được đánh dấu bằng những quan niệm thực tế. Chẳng hạn trong Kinh Thi của Tư Can viết rằng: “Người sinh con trai thì mới được nằm trên giường, mặc quần áo và sinh con trai; người sinh con gái thì chỉ được nằm đất, không được mặc quần áo và lại tiếp tục sinh ra con gái” [Võ Châu 2005: 15]. Những quan niệm như thế này không chỉ phản ánh tình hình thực tế tồn tại trong nữ giới đời Chu mà còn trở thành những căn cứ có tính kinh điển giáo dục nữ giới đời sau. Vào thời Hán, cùng việc xác lập lễ giáo với sự xuất hiện “Liệt nữ truyện” của Lưu Hướng và “Nữ giới” của Ban Chiêu, lý luận nam tôn nữ ty cũng có bước phát triển mới và dần trở thành một hệ thống hoàn chỉnh. Về sau, trải qua quá trình diễn dịch, sửa chữa của các nhà nghiên cứu nữ học các thời cộng thêm sự củng cố của các nhà lý học, nhà nghiên cứu văn hóa hai giới nam nữ Trung Quốc, lý luận ấy liên tục phát triển với cấu trúc ổn định tuy có hơi lệch lạc và không bị tổn hại suốt thời gian dài.
Theo sự phát triển đổi thay của xã hội và sự điều tiết của cả hai giới nam nữ, quần thể nữ giới Trung Quốc đã phân hóa thành các loại hình không giống nhau.
Đồng thời sự khác biệt trong cách sống cũng hình thành nên những kiểu mẫu văn hóa nữ giới khác nhau, thậm chí còn sinh ra những hình mẫu phụ nữ đòi tự tôn tự cường, tự do giải phóng. Tuy nhiên xét về chỉnh thể thì đặc trưng thấp kém, bị xem thường của nữ giới Trung Quốc vẫn chưa được thay đổi hoàn toàn. Mãi đến khi lịch sử bước vào thế kỷ 20, dưới sự công kích của cách mạng xã hội và phong trào giải phóng phụ nữ, kết cấu vững chắc nam tôn nữ ty của Trung Quốc mới bắt đầu lung lay và dần dần bị phá vỡ. Song truyền thống văn hóa nữ giới dân tộc đã kế thừa lâu đời cùng những di truyền của nó với các loại hình khác nhau đến nay vẫn thẩm thấu
vào nhiều lĩnh vực đời sống của phụ nữ đương đại, tiếp tục nảy sinh những tác động hoặc chính hoặc phụ, hoặc ẩn hoặc hiện đối với hiện thực tồn tại của nữ giới.
Nhìn chung lịch sử phát triển của văn hóa nữ giới Trung Quốc chủ yếu hình thành trên năm khuôn mẫu cơ bản: văn hóa thục nữ (淑女), văn hóa tỳ nữ (婢女), văn hóa kỹ nữ, văn hóa ni quan (尼冠) và văn hóa nghịch nữ (逆女). Năm khuôn mẫu này cùng song hành phát triển và ảnh hưởng lẫn nhau trong suốt thời kì lịch sử tương đối dài. Văn hóa kỹ nữ tuy chỉ là một trong những khuôn mẫu cơ bản này, nhưng trong quá trình phát triển của mình, nó có ít nhiều mối liên hệ với các loại văn hóa nữ giới khác. Vì thế việc tìm hiểu bốn khuôn mẫu văn hóa còn lại sẽ ít nhiều giúp hiểu sâu hơn về văn hóa kỹ nữ.
Trước hết là về văn hóa thục nữ. Thục nữ chỉ những cô gái hiền lương, bao gồm phần lớn những phụ nữ có thân phận tự do trong xã hội thế tục. Bất luận là họ sống trong gia đình bình dân hay quý tộc, chỉ cần có thể giữ gìn trinh tiết thì có thể xếp vào hàng thục nữ. Do khác biệt về hoàn cảnh sống và các giai đoạn cuộc đời nên xã hội đã có sự phân chia những cô gái hiền lương này thành nhiều nhóm khác nhau. Theo đó, các thục nữ cổ đại còn có vô số tên gọi khác nhau. Chẳng hạn, những cô gái trước khi kết hôn còn giữ gìn sự trong trắng, một lòng phụng dưỡng cha mẹ thì gọi là “hiếu nữ”. Những phụ nữ sau khi lấy chồng biết an phận thủ thường, giúp chồng dạy con, hiếu kính cha mẹ chồng thì được gọi với các tên “hiền thê”, “lương mẫu” hay “hiếu phụ”. Còn những phụ nữ sau khi chồng qua đời vẫn không tái giá hay tuẫn tiết theo chồng hoặc những người chính trực trọng nghĩa, hi sinh chống bạo tàn… thì có thể nhận được bảng phong của triều đình là “tiết phụ”
hoặc “liệt nữ”. Những phụ nữ không may có chồng chưa cưới chết, họ tự sát theo chồng hoặc thủ tiết khóc tang theo gia đình chồng vẫn được gọi là trinh nữ. Riêng con gái của quý tộc, quan lại nếu nhận được lệnh phong của triều đình thì thường được gọi là mệnh phụ. Trong số này, hoàng hậu là người tôn quý nhất, nhất định phải qua sắc phong và có thể xem là mẫu nghi thiên hạ. Có thể thấy rằng, văn hóa thục nữ chính là chủ thể và là nhóm chính tông của văn hóa nữ giới Trung Quốc.
Trong quá trình phát triển lâu dài của xã hội văn minh, tuy chịu sự kìm nén của văn hóa nam giới nhưng nó lại nhận được sự tôn sùng của xã hội nam giới nhiều nhất.
Như vậy, xét từ đặc trưng cơ bản thì văn hóa thục nữ được xem là loại hình văn hóa nữ giới thủ tiết mẫu mực.
Văn hóa nữ tỳ bắt nguồn từ xã hội nô lệ và kết thúc trong xã hội phong kiến.
Nó là một loại hình thái văn hóa “dân đen” được hình thành dưới sự áp bức bóc lột của chế độ đẳng cấp phong kiến và chế độ nô lệ cổ đại. Bất luận là nữ nô trong xã hội nô lệ hay là nữ tỳ trong xã hội phong kiến thì đều không có quyền tự do về thân thể, cũng không có tư cách làm chủ độc lập. Họ sống chỉ để lao dịch theo lệnh chủ.
Do vậy, xét theo đặc trưng cơ bản thì văn hóa nữ tỳ là nhóm văn hóa nữ giới theo kiểu lao dịch.
Văn hóa ni quan là đại biểu của văn hóa nữ giới mang màu sắc tôn giáo Trung Quốc. Tuy ra đời chậm hơn các nhóm còn lại nhưng nhờ những đặc trưng riêng, văn hóa ni quan vẫn được phổ biến trong xã hội và lưu truyền đến hậu thế.
Thuật ngữ ni quan chỉ những nữ tín đồ như ni cô của đạo Phật hay đạo cô của Đạo giáo. Họ xem việc tham gia vào các hoạt động tôn giáo là nghề nghiệp chính của mình. Đây là một tầng lớp đặc biệt của nữ giới Trung Quốc. Nhưng mỗi cá nhân trong tầng lớp này không phải là ni cô, đạo cô ngay từ lúc mới sinh ra hay theo dạng kế tục mà đều là những người vì trốn tránh số phận bi thảm trong xã hội hiện thực mới phải xuất gia, ẩn thân nơi cửa phật đạo quán. Vì thế nếu xét theo đặc trưng bản chất thì văn hóa ni quan là loại hình thái văn hóa nữ giới kiểu ở ẩn. Còn nếu xét theo thân phận xã hội thì về cơ bản ni quan gần với thục nữ, cũng được xếp vào nhóm dân lương thiện. Tuy nhiên, cách sống của hai nhóm này có nhiều điểm khác biệt: Một là những thanh quy giới luật32 của Phật Đạo nghiêm khắc hơn lễ giáo phong kiến. Yêu cầu của lễ giáo đối với thục nữ cùng lắm chỉ là để kiềm chế tình cảm. Còn những yêu cầu mà giới luật của Phật Đạo dùng cho ni cô và đạo cô lại là cấm dục triệt để, phải đoạn tuyệt với tất cả những ham muốn của trần thế. Chính vì thế sau khi xuất gia, tuy họ có được những điều kiện ăn mặc tối thiểu và môi trường
32 Những quy tắc mà tăng ni, đạo sĩ cần phải tuân thủ
sống yên tĩnh, đồng thời thoát khỏi sự áp bức của đàn ông cùng trách nhiệm phải sinh đẻ giáo dục con cái, nhưng lại phải chịu sự dằn vặt, dày vò trong cuộc đấu tranh giữa thể xác và tinh thần, phải trải qua cuộc sống không nam không nữ trong suốt thời gian dài. Mặt khác do những giáo lý Phật Đạo ở một mức độ nhất định có khuynh hướng bình đẳng nam nữ. Thêm vào đó những người sau khi xuất gia theo đạo phải thực hành chế độ phân chia tu hành theo hai giới nam nữ riêng rẽ. Những điều này khiến cho ni cô và đạo cô trở thành một tầng lớp tự do, độc lập tương đối trong số nữ giới Trung Quốc. Họ (đặc biệt là những đứng đầu trong số họ) không những có thể theo các hòa thượng, đạo sĩ học hỏi giáo lý, truyền đạo mà còn có thể tự do đi lại bên ngoài, đến nhiều nơi khác nhau và trực tiếp qua lại với nam nữ trong xã hội thế tục… Có người thậm chí có thể ra vào chốn cung đình, quan phủ hay tham gia vào các hoạt động chính trị.
Văn hóa nghịch nữ được xem là loại hình thái văn hóa nữ giới kiểu vượt quy củ. Nó mang sắc thái không cam chịu nhún nhường đến độ nhu nhược, muốn thử tự tôn tự cường. Khái niệm “vượt quy củ” dùng để chỉ tư tưởng và hành vi của một cá nhân chống lại những quan niệm giá trị và chuẩn mực xã hội theo luật định mà bản thân anh (cô) ta buộc phải tuân thủ. Chẳng hạn như phạm tội trái pháp luật, vi phạm đạo đức, không giữ đúng bổn phận… đều bị xếp vào vượt quy củ. Tuy nhiên, văn hóa nghịch nữ chỉ bàn tới tính vượt quy củ của những phụ nữ cổ đại thông qua việc khảo sát một số tư tưởng và hành vi của họ bị thành viên trong xã hội cho rằng trái nề nếp, nhưng thực chất lại có ý nghĩa tiến bộ mang tính vượt mức. Trên thực tế, xã hội cổ đại Trung Quốc không có tầng lớp nghịch nữ nào theo luật định. Họ đều được giao cho một thân phận xã hội nhất định như là thục nữ, nữ tỳ, ni cô, đạo cô, kỹ nữ… Chỉ khi những tư tưởng hay hành vi của họ vượt quá những “chuẩn tắc xã hội” mà chế độ phong kiến xây dựng dành cho nữ giới thì mới hình thành nghịch nữ.
So với các nhóm nữ giới ở trên thì kỹ nữ là tầng lớp bị xã hội khinh rẻ nhất.
Cuộc sống của họ cũng là cuộc sống không bình thường nhất. Những cô gái con nhà lành lẽ đương nhiên đều xem cuộc sống của kỹ nữ là thấp hèn. Ngay cả những nữ tỳ
có thân phận dân đen, địa vị xã hội cũng thấp ngang với kỹ nữ nhưng phần lớn trong số họ đều rất khinh khi cuộc đời bán tiếng cười của kỹ nữ, thậm chí bản thân người kỹ nữ cũng xem thường chính họ.
So với văn hóa thục nữ giữ gìn trinh tiết, văn hóa nữ tỳ chuyên lao dịch, văn hóa ni quan lánh đời ở ẩn và văn hóa nghịch nữ vượt quy củ thì văn hóa kỹ nữ trên thực tế là một loại hình thái văn hóa nữ giới mang kiểu bệnh trạng33. Đặc trưng điển hình nhất của văn hóa kỹ nữ chính là sự thấp kém, hèn mọn. Cái thấp kém của nó đã thấp đến độ bất luận là nam hay nữ trong xã hội đều khinh khi kỹ nữ và ngay bản thân kỹ nữ cũng tự xem thường mình. Cái hèn mọn của nó đã xuống dưới mức không có danh dự, tư cách làm chủ và bất cứ người nào cũng có thể bỡn cợt mua vui. Chính vì điểm này đã hình thành nên đặc trưng bệnh trạng của văn hóa kỹ nữ, tạo nên sự khác biệt với các loại văn hóa nữ giới khác, đồng thời cũng gắn liền với các loại văn hóa nữ giới khác.
Qua những gì trình bày ở trên, chúng tôi xin được khái quát điểm khác biệt của văn hóa kỹ nữ với các loại văn hóa nữ giới khác trong bảng dưới đây:
Tên gọi Văn hóa
thục nữ Văn hóa
tỳ nữ Văn hóa
kỹ nữ Văn hóa
ni quan Văn hóa nghịch nữ
Chủ thể văn hóa
Những phụ nữ hiền lương giữ gìn được trinh tiết
Nữ nô
(trong xã hội nô lệ) và nữ tỳ (trong xã hội phong kiến)
Những phụ nữ dùng tài nghệ hoặc thân xác để thỏa mãn nhu cầu của nam giới
Ni cô (của đạo Phật) hay đạo cô (của Đạo giáo)
Những phụ nữ chống lại chuẩn mực xã hội, phản đối chế độ phong kiến
Thân phận xã hội
Lương dân, có thân phận tự do
Tiện dân, thân phận bị ràng buộc (mất quyền
Tiện dân, thân phận gần như nô lệ, bị cả nam giới
Lương dân, có tự do, độc lập tương đối
Bị xem như tiện dân
33 Trạng thái không bình thường về sinh lý hoặc tâm lý.
tự do thân thể, không có tư cách làm chủ độc lập)
lẫn nữ giới khinh khi
(chỉ bị ràng buộc bởi thanh quy giới luật) Mối
quan hệ với nam giới
Biết phục tùng, nghe theo sự sắp đặt của nam giới.
Nhận được sự tôn sùng của xã hội nam giới nhiều nhất
Là nô lệ của nam giới và phải chịu sự áp bức bóc lột của họ
Là công cụ mua vui, nô lệ tình dục của nam giới.
Nhân quyền và sự tôn nghiêm bị xã hội nam quyền tước đoạt gần hết
Thoát khỏi sự áp bức của nam giới, đạt dc sự bình đẳng nam nữ ở một mức độ nhất định
Chống lại sự áp bức của nam giới, bị xem là những kẻ vượt quy cũ, không phục tùng
Đặc trưng hình thái
Là loại hình văn hóa nữ giới thủ tiết mẫu mực, nhóm chính tông của văn hóa nữ giới Trung Quốc.
Là loại hình văn hóa nữ giới theo kiểu lao dịch.
Hình thái văn hóa nữ giới mang kiểu bệnh trạng
Loại hình văn hóa nữ giới mang màu sắc tôn giáo (kiểu ở ẩn).
Hình thái văn hóa nữ giới kiểu vượt quy cũ