Đối phó của chủ thể

Một phần của tài liệu Kỹ nữ trung hoa dưới góc nhìn văn hóa học (Trang 104 - 109)

CHƯƠNG 4: VĂN HÓA ĐỐI PHÓ VÀ LƯU LUYẾN KỸ NỮ

4.1. Văn hóa đối phó với kỹ nữ

4.1.2. Đối phó của chủ thể

Sống trong xã hội phải chịu không ít sự khinh khi, chà đạp của người đời, có những kỹ nữ đã dần chấp nhận vai trò mua vui cho nam giới và cách sống phóng túng xa xỉ. Vì thế họ chìm đắm trong trụy lạc, không muốn hoàn lương. Thậm chí có một số người sau khi hoàn lương, do không chịu nổi sự bó buộc của lễ giáo và cuộc sống nghèo khổ nên lại quay về nghề cũ. Tuy nhiên, vẫn có rất nhiều kỹ nữ đã tiến hành phản kháng lại số mệnh bi thảm phải chịu làm nhục, phải chịu nô dịch ấy.

Thậm chí vì bảo vệ lý tưởng và nhân cách của mình, không ít người đã dâng luôn cả tính mạng còn non trẻ. Đây có thể xem là một biểu hiện của việc kỹ nữ đối phó lại những định kiến xã hội và dư luận đạo đức.

Trước hết, những người kỹ nữ ấy tuy là địa vị thấp kém, nhưng vẫn giữ ý chí cao sạch. Bất luận là hiến nghệ hay hiến thân, họ đều tích cực bảo vệ nhân cách và danh dự của mình, hy vọng có thể nhận được sự cảm thông, tôn trọng và ngưỡng mộ của khách làng chơi. Trong số các tầng lớp nhân sĩ trong xã hội nam giới, phần lớn kỹ nữ thường nảy sinh tình yêu với những sĩ tử văn nhân phong lưu đa tình. Đầu tiên là vì họ ái mộ tài hoa của những bậc trí thức ấy. Sau nữa, đa số các văn nhân thường là người biết thưởng thức và đánh giá nghệ thuật biểu diễn của họ. Có những kỹ nữ đã trở nên nổi tiếng nhờ những lời tán tụng, bình phẩm của văn nhân.

Đặc biệt là có một số kỹ nữ nhờ ảnh hưởng của văn nhân, không chỉ nâng cao trình độ văn hóa và nghệ thuật biểu diễn mà còn học được cách sáng tác thơ từ tản khúc, có thể cùng văn nhân đối đáp. Vì thế, sĩ tử văn nhân trên thực tế đã trở thành người thầy và tri âm của kỹ nữ. Ở Trung Quốc vào thời cổ đại, chuyện văn nhân qua lại với kỹ nữ không những không bị đạo đức dư luận chỉ trích mà ngược lại còn được người ta tán thưởng, ngưỡng mộ. Bản thân những người kỹ nữ này rất ghét các nhà lý học luôn tỏ vẻ chuẩn mực và cũng ác cảm với những kẻ giàu có quyền thế luôn làm theo ý thích. Đối với bọn con buôn thô lỗ tham lam, họ càng không chịu nổi.

Duy chỉ có những sĩ tử văn nhân biết cư xử chừng mực, tính cách phong lưu, lại giàu thơ phú mới khiến họ vui vẻ tiếp nhận. Mối quan hệ này không chỉ khiến cho ý thức chủ thể của kỹ nữ được biểu hiện mà còn khiến cho giá trị làm người của họ được khẳng định. Phần lớn những văn nhân đều tôn trọng nhân cách của kỹ nữ, yêu thương và đối đãi với họ như người tình thì kỹ nữ mới xem họ như là ý trung nhân và trao cho họ tình yêu chân thành.

Một số kỹ nữ tuy là thân thể bị ràng buộc bởi chế độ nhạc tịch, nhưng họ vẫn nuôi khát vọng giải phóng, mong muốn có thể giành được quyền lợi và nghĩa vụ như người bình thường. Dù là dấn thân vào cuộc đời bán dâm không phải chịu sự ràng buộc của lễ giáo, dù ở trong cuộc sống xa hoa không cần lo nghĩ tới việc ăn mặc nhưng họ ý thức được quyền làm người của mình đã bị xã hội vô tình tước đoạt, danh dự làm một phụ nữ đã bị người đời tùy ý chà đạp. Thêm vào đó, việc bồi dưỡng văn hóa của kỹ nữ thường cao hơn những phụ nữ đương thời, điều này giúp cho họ có thể nhận thức sáng suốt hơn về những bất hạnh của mình. Vì thế họ đã tiến hành đấu tranh với tâm lý giải thoát cho mình. Đa số họ đều hy vọng bản thân có thể giống như những phụ nữ bình thường, có thể làm hiền thê lương mẫu, giữ tam tòng tứ đức41, dù phải chịu cuộc sống nghèo khổ, đói rách cũng cam lòng. Vì thế việc có thể hoàn lương, từ bỏ con đường bán thanh sắc trở thành mục tiêu cơ bản của nhiều kỹ nữ. Để thực hiện điều này, họ đã nỗ lực và đấu tranh không mệt mỏi, biểu hiện cụ thể ở ba hoạt động sau:

Thứ nhất là không ngừng hoàn thiện nhân cách bản thân, tìm một ý trung nhân có thể gửi gắm cuộc đời trong số những khách làng chơi, sau đó nhờ sự giúp đỡ của người tình để thoát ra khỏi kỹ viện. Đối với quan kỹ, nếu như được một quan lớn hành chính hay quân sự yêu thích, muốn nạp làm thê thiếp thì việc được miễn tịch hoàn lương của kỹ nữ đó tương đối thuận lợi. Đối với thị kỹ hoặc tư kỹ thì việc

41 Một trong những tiêu chuẩn đạo đức mà lễ giáo xã hội phong kiến đặt ra cho người phụ nữ. Tam tòng bao gồm “vị giá tòng phụ”: chưa lấy chồng thì phải phụng dưỡng cha, “xuất giá tòng phu”: lấy chồng thì phải lo cho chồng, “phu tử tòng tử” chồng chết thì phải nghe theo con trai; Tứ đức gồm “phụ đức”, “phụ ngôn”, “phụ dung”, “phụ công” ý chỉ đức hạnh, lời nói giao tiếp, ăn mặc đi đứng, thêu thùa may vá của người phụ nữ.

hoàn lương chỉ được thực hiện khi họ nhận được sự đồng ý của chủ kỹ viện và phải trả một món tiền chuộc thân đáng kể.

Thứ hai là tranh thủ sự đồng tình ủng hộ của người khác. Một số kỹ nữ trong quá trình biểu diễn nghệ thuật luôn cố gắng phát huy hết mức tài nghệ của mình để giành được sự chú ý, thiện cảm của các danh sĩ phong lưu. Từ đó họ có dịp bộc bạch về số mệnh của mình, nhờ sự thương cảm, giúp đỡ của các danh sĩ này để có thể hoàn lương.

Thứ ba là tích góp tiền bạc, một khi chọn được người tình như ý sẽ tự đưa tiền chuộc thân cho chủ kỹ viện để hoàn lương. Những kỹ nữ chọn cách phản kháng này thường là những người phải chịu sự quản lý và áp bức của chủ kỹ viện. Tuy thu nhập hành nghề mỗi ngày của họ đều đã bị các chủ kỹ viện lấy hết nhưng vẫn có không ít khách làng chơi vì muốn làm vui lòng kỹ nữ nên thường lén cho họ tiền.

Kỹ nữ dành dụm số tiền ấy để chuộc thân và trang trải cho cuộc sống sau này.

Đương nhiên càng là những kỹ nữ tài sắc hơn người, được xem là cây hái ra tiền của chủ kỹ viện thì càng khó được chủ đồng ý cho hoàn lương. Cho dù những ông bà chủ này buộc lòng phải chấp thuận thì cũng đưa ra giá cả thật cao để kỹ nữ khó chuộc thân. Do đó, những kỹ nữ có khát vọng hoàn lương không thể không ứng phó và đấu tranh thật khéo léo. Nàng Đỗ Thập Nương được tái hiện lại trong tiểu thuyết

Đỗ Thập Nương căm phẫn ném hộp châu báu xuống sông” chính là một kỹ nữ điển hình cho việc đối phó khôn ngoan với chủ kỹ viện và khách làng chơi.

Tuy không giữ được trinh tiết nhưng nhiều kỹ nữ vẫn rất xem trọng nghĩa tình, hy vọng có thể thật sự trở thành người phụ nữ được nam giới yêu thương và là người được xã hội thừa nhận. Bất luận là trước khi hoàn lương hay sau khi hoàn lương, họ đều xem việc theo đuổi tình yêu và chính nghĩa là lý tưởng cao cả của mình. Một khi lý tưởng này được đặt ra, họ sẽ quyết tâm giữ vững nó, thậm chí sẵn sàng hy sinh để giữ gìn lý tưởng và nhân cách của mình. Vì thế trong lịch sử phong kiến Trung Quốc đã xuất hiện không ít tiết kỹ và nghĩa kỹ.

Tiết kỹ chỉ những kỹ nữ thủ tiết vì người đàn ông mà họ yêu chân thành, hết lòng hết dạ vì người đó. Đối với kỹ nữ thì mối quan hệ giữa tình dục và tình yêu thường bị tách rời nhau. Chúng chỉ thực sự hòa hợp khi họ gặp được ý trung nhân và bản thân cũng được người đó yêu. Lúc đó, cuộc đời của họ mới có ý nghĩa. Vì thế, một khi chọn được ý trung nhân, những kỹ nữ này sẽ rất trung thành với tình yêu của mình, dù cho chưa được hoàn lương, họ cũng sẽ cự tuyệt không tiếp những người khách khác, thậm chí sẽ chết vì tình. Lẽ dĩ nhiên, những tiết kỹ chưa hoàn lương thường ít hơn tiết kỹ đã hoàn lương. Bởi vì sau khi hoàn lương, để được gia đình và xã hội thừa nhận, kỹ nữ không thể không tự giác yêu cầu bản thân tuân thủ các lễ giáo phong kiến như tam tòng tứ đức. Do đó sau khi được chính thức gả cho người khác, họ vừa có thể trung thành với tình yêu lại vừa có thể tuân thủ nghiêm ngặt đạo làm vợ (chồng chết vẫn thủ tiết thờ chồng, không tái giá hoặc xuất gia làm ni cô đạo sĩ, hoặc là tuẫn táng theo chồng để giữ gìn trinh tiết). Một tiết kỹ điển hình là nàng kỹ nữ Trường An (thời Đường) tên Lý Muội. Nổi tiếng với dáng vẻ xinh đẹp tuyệt thế, lại khéo ca múa nên nàng được tiết độ sứ Đồng Châu bỏ ra mười vạn lượng bạc chuộc về làm thiếp, rất mực yêu chiều. Một lần vì chen vào việc chính sự nên nàng bị chồng phạt giam ở một ngôi nhà riêng, nhờ tiết độ sứ Trương Hầu quản thúc. Trong thời gian bị giam lỏng, Lý Muội nhiều lần bị Trương Hầu bỡn cợt, xúc phạm. Cảm thấy bị ô nhục, lại xót xa cho thân phận hồng nhan bạc mệnh, nàng đã tự thắt cổ chết.

Khác với tiết kỹ, nghĩa kỹ chỉ những kỹ nữ biết lo nghĩ chu toàn cho đại cuộc, hết lòng tuân thủ tiết tháo. Tiết kỹ cũng có thể gọi là nghĩa kỹ, nhưng lý tưởng theo đuổi của nghĩa kỹ lại rộng hơn. Nghĩa kỹ ngoài trung thành với tình yêu, giữ gìn trinh tiết còn rất coi trọng khí tiết dân tộc, tinh thần nhân đạo, lòng yêu nước, tính nghĩa hiệp, đề cao danh dự, đạo nghĩa. Để bảo vệ lý tưởng và nhân cách của mình hay vì biểu dương chính nghĩa, họ cũng sẵn sàng hiến dâng luôn tính mạng.

Như Liễu Như Thị, Đỗ Thập Nương chính là những tấm gương nghĩa kỹ về lòng yêu nước hay sự thủy chung, nghĩa tình.

Không chỉ đối phó với sự khinh khi của xã hội bằng cách thể hiện nhân cách, lý tưởng của mình, các kỹ nữ còn khéo ứng phó với những điều luật của nhà nước áp dụng cho họ. Khi triều đình ban hành lệnh cấm tư kỹ thì họ sẽ hoạt động theo phương thức bán công khai hoặc lén lút (thường ở những nơi mà pháp luật được thực thi nghiêm minh). Còn khi pháp luật trở nên lỏng lẻo thì họ sẽ ngang nhiên công khai hoạt động. Vào thời Tống, vì triều đình có lệnh cấm quan lại và kỹ nữ có tư tình với nhau, thế là các kỹ nữ chuyển hướng đối tượng khách làng chơi sang các văn nhân. Trong thời này, thị kỹ và các văn nhân có mối quan hệ rất mật thiết.

So với những kỹ nữ khác thì cung kỹ và gia kỹ là những người rất khó thoát khỏi số mệnh phải dùng thanh sắc để hầu hạ nam giới. Bởi vì họ chỉ có thể được hoàn lương, lấy chồng khi được sự chấp thuận của hoàng đế hoặc gia chủ. Nhưng rất hiếm khi hoàng đế hay gia chủ đồng ý giải phóng họ. Vì thế, một số cung kỹ hoặc gia kỹ có ý thức tự chủ tương đối mạnh thường không cam lòng âm thầm sống cho qua ngày hay phải đối diện với cuộc sống bị lạnh nhạt, thờ ơ trước mắt. Họ sẽ làm những việc như yêu đương vụng trộm, bỏ trốn hoặc thậm chí là tự sát… để thể hiện rõ sự bất mãn và phản kháng của mình.

Được xem là công cụ mua vui cho nam giới, ngoài hoạt động biểu diễn nghệ thuật, kỹ nữ còn phải phục vụ tình dục theo nhu cầu của họ. Trong quá trình hoạt động tình dục này khó tránh khỏi việc kỹ nữ có thai ngoài ý muốn. Vì thế để có thể tiếp tục hành nghề, bản thân những người kỹ nữ phải tìm đến các cách tránh thai.

Phương pháp tránh thai của kỹ nữ cổ đại cũng rất đa dạng. Chẳng hạn, họ có thể đặt xạ hương vào trong rốn của mình. Theo sử sách ghi chép lại thì hai chị em Triệu Phi Yến và Triệu Hợp Đức là những người thường xuyên sử dụng biện pháp tránh thai này để phục vụ cho hành vi dâm dục của họ. Một số vị thuốc trung y có độc tính cũng được các kỹ nữ Trung Quốc sử dụng trong việc tránh thai, như thủy ngân, thạch tín hay cây mã điền tử, quả hồng… Những loại thuốc này có công năng giết chết thai nhi hoặc phòng ngừa thụ tinh nếu được dùng với lượng nhỏ. Vì thế nhiều kỹ nữ có thói quen cho một lượng nhỏ thủy ngân vào thức ăn hoặc nước uống mỗi ngày để tránh thai. Tuy nhiên việc dùng thường xuyên các loại thuốc này cũng làm

tổn hại đến chức năng sinh đẻ của phụ nữ. Nhiều cô gái thanh lâu vì sử dụng chúng trong suốt thời gian dài mà sau khi hoàn lương vĩnh viễn không thể có con.

Không chỉ bản thân kỹ nữ mà ngay cả nam giới cũng trực tiếp tham gia vào công cuộc tránh thai. Tuy nhiên, kỹ nữ tránh thai là để đáp ứng yêu cầu công việc.

Chẳng thế mà nhiều kỹ nữ khi mới vào nghề thường được các ông bà chủ kỹ viện lén cho uống các loại thuốc ngừa thai. Còn nam giới tránh thai là vì không muốn phải chịu một mối quan hệ ràng buộc từ phía kỹ nữ. Khi quan hệ cùng kỹ nữ, họ có thể sử dụng các loại “bao an toàn” nhằm hạn chế sự xâm nhập của tinh trùng vào cơ thể kỹ nữ. Các loại bao này vào thời cổ đại thường được làm từ bọng đái heo, bong bóng cá hay ruột sấy khô của các loài động vật khác ruột cừu, ruột dê… Riêng hoàng đế hoặc người chủ của gia kỹ thì không những không cần trang bị các công cụ tránh thai mà còn trở thành người quyết định việc kỹ nữ có được phép mang thai.

Chẳng hạn, sau khi quan hệ cùng một cung kỹ nào đó, nếu không thích cho người đó mang thai, hoàng đế sẽ sai thái giám bắt người cung kỹ ấy tắm sạch phần thân dưới bằng nước của hoa phiên hồng (còn gọi hoa nghệ tây). Loại nước này có thể rửa sạch tinh dịch trong cơ thể người cung kỹ. Về sau phương pháp tránh thai này cũng được lưu truyền trong dân gian và được không ít kỹ nữ sử dụng.

Một phần của tài liệu Kỹ nữ trung hoa dưới góc nhìn văn hóa học (Trang 104 - 109)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(161 trang)