Nhận thức về kết cục cuộc đời của kỹ nữ

Một phần của tài liệu Kỹ nữ trung hoa dưới góc nhìn văn hóa học (Trang 60 - 65)

CHƯƠNG 2: VĂN HÓA NHẬN THỨC VỀ KỸ NỮ

2.3. Nhận thức về kết cục cuộc đời của kỹ nữ

Có thể nói, đối với kỹ nữ thì sắc đẹp chính là tài sản và tuổi thanh xuân chính là thời hoàng kim của họ. Thế nhưng, dù sắc đẹp của người kỹ nữ có thuộc dạng khuynh quốc khuynh thành, dù đãi ngộ trong cuộc sống của người kỹ nữ đó có xa hoa đến thế nào thì khi đối diện với những năm tháng vô tình trước mắt, họ cũng không có cách nào giữ cho mình mãi ở tuổi thanh xuân. Kỹ nữ chỉ có thể hấp dẫn nam giới bằng vẻ quyến rũ của mình trong một khoảng thời gian rất hữu hạn. Một khi tuổi cao và nhan sắc tàn phai, họ khó tránh khỏi bị nam giới thờ ơ, lạnh nhạt và dần bị quên lãng. Cho nên câu nói “hồng nhan nữ tử đa bạc mệnh” (红颜女子多薄 命 – những người con gái xinh đẹp thường bạc mệnh) miêu tả không sai số phận của người kỹ nữ. Vậy thì sau những năm tháng hoàng kim bán tiếng cười cho thiên hạ, cuộc đời của những kỹ nữ sẽ đi về đâu, quãng đời còn lại của họ phải trải qua như thế nào? Nhìn chung, kết cục cuộc đời của kỹ nữ có thể diễn ra theo bốn xu hướng sau:

Thứ nhất là hoàn lương, trở thành thê thiếp của nam giới. Đây được xem là kết cục tốt đẹp nhất của cuộc đời kỹ nữ. Việc hoàn lương lấy chồng không những mang lại chỗ nương tựa cho quãng đời sau này của họ mà còn có thể giúp họ thoát khỏi thân phận kỹ nữ thấp hèn, trở thành dân lành (thậm chí là trở thành quý tộc) và sống cuộc đời bình thường như bao người khác. Vì thế kết cục này trở thành lý tưởng theo đuổi cao nhất và là mục tiêu cạnh tranh của đa số kỹ nữ. Tuy nhiên, việc

biến mục tiêu thành hiện thực ngoài nhờ vào tố chất trời sinh và sự nỗ lực của bản thân kỹ nữ còn chủ yếu được quyết định bởi sự yêu ghét hay sự ban ơn của nam giới (khách làng chơi hoặc người chủ). Ngoài ra, do sự khác nhau về địa vị và hoàn cảnh cụ thể của nam giới (người chủ hoặc khách làng chơi) nên kết cục này của kỹ nữ dù trở thành hiện thực cũng phân ra những mức độ tốt xấu khác nhau.

Những người may mắn nhất là được thăng lên làm quý tộc nhờ giành được sự sủng ái của nam giới, chẳng hạn như Lý phu nhân, Triệu Phi Yến. Đương nhiên, họ có thể từ địa vị kỹ nữ trở thành quý tộc chủ yếu là nhờ hoàng đế say mê tài sắc của họ. Nhưng sau đó, địa vị của người kỹ nữ ấy còn được vững chắc hay không phụ thuộc vào việc liệu họ có thể sinh được con trai và con trai họ có được kế vị làm hoàng đế. Trong lịch sử Trung Quốc, những người xuất thân kỹ nữ như Triệu Cơ - mỹ nữ Hàm Đan nổi tiếng (mẹ của Tần Thủy Hoàng) hay Biện hoàng hậu Tào Ngụy (mẹ của Tào Phi)… đều nhờ con trai của mình lên ngôi hoàng đế mới củng cố được địa vị quý tộc. Còn như Triệu Phi Yến, dù đã trở thành hoàng hậu của Hán Thành Đế nhưng vì không có con lại hoang dâm vô độ nên đến thời Bình Đế bị phế xuống làm thứ dân, về sau thì tự sát.

Không có cơ hội trở thành quý tộc nhưng việc được làm vợ của quan lại hay gả cho dân lành cũng là một kết cục may mắn của kỹ nữ. Những người thuộc nhóm này chủ yếu là cung kỹ, quan kỹ và doanh kỹ, còn gia kỹ, tư kỹ hay thị kỹ thì lại rất hiếm có khả năng này. Một ví dụ điển hình cho trường hợp này là danh kỹ Diêu Ngọc Kinh thời Lưu Tống. “Nàng được gả cho một vị quan nhỏ tên Vệ Cảnh Du, quan hệ vợ chồng rất tốt. Về sau khi chồng chẳng may chết đuối, nàng vẫn giữ trọn đạo làm vợ, thủ tiết thờ chồng và phụng dưỡng cha mẹ chồng chu đáo” [Võ Châu 2005: 198]. Nhóm may mắn sau cùng là những kỹ nữ được nam giới nạp làm thiếp hay được phong làm thiếp. Trong số này cũng có quan kỹ, doanh kỹ nhưng đa số vẫn là gia kỹ, tư kỹ và thị kỹ. Riêng trường hợp gia kỹ được phong làm thiếp thường là phải có ích trong việc sinh con trai.

Tuy việc kỹ nữ hoàn lương lấy chồng là một kết cục tốt đẹp nhưng nó còn kèm theo một số hạn chế nhất định. Thứ nhất là lý tưởng này phải được thực hiện lúc kỹ nữ còn trẻ tuổi, dung mạo xinh đẹp và còn có thể gặp được lang quân như ý.

Nếu để đến khi “hoa tàn nhị rữa” thì chẳng còn ai ngó ngàng tới. Thứ hai là bản thân cung kỹ và quan kỹ không có quyền hoàn lương lấy chồng. Cung kỹ phải được hoàng đế phê chuẩn cho rời khỏi cung, quan kỹ phải được trưởng quan hành chính hay quân sự cho phép miễn hộ tịch thì mới có thể hoàn lương. Riêng thị kỹ thì phải có đủ tiền chuộc thân (bất luận là do kỹ nữ tự mình tích cóp hay là do người tình chi trả) mới được miễn hộ tịch và rời khỏi kỹ viện. Bên cạnh đó, tuy nói là hoàn lương lấy chồng nhưng kỳ thực thông thường họ chỉ có thể làm thiếp, rất hiếm trường hợp được làm vợ.

Kết cục thứ hai của kỹ nữ là nhan sắc tàn phai, không ai ngó ngàng tới. Đây là cảnh ngộ khốn khổ mà mỗi kỹ nữ đều lo lắng, sợ hãi nhưng không cách nào tránh được. Những kỹ nữ sống ở doanh trại hay các kỹ viện thành thị khi đối mặt với hiện thực tàn khốc này, thường phải nghĩ đến việc tìm một con đường mưu sinh khác. Đa số sắc kỹ sẽ chọn trở thành chủ kỹ viện, kinh doanh kỹ nữ. Thông thường những tú bà tương lai này sẽ tìm mua các bé gái nhận làm nghĩa nữ rồi đào tạo thêm các loại hình nghệ thuật, chuẩn bị hành trang để sau này tự mở kinh doanh riêng. Ban đầu họ có thể để cho nghĩa nữ tự chống đỡ rồi từng bước mở rộng quy mô kinh doanh.

Những kỹ nữ tuy lớn tuổi nhưng vẻ ngoài vẫn còn mặn mà, thướt tha thì có thể vừa làm chủ kinh doanh vừa đứng ra tiếp khách. Còn những người vừa không có tài sản, không nuôi dưỡng nghĩa nữ lẫn điều kiện để chuyển qua làm chủ thì đành lui về giúp việc trong lầu xanh để mưu sinh. Khi đó, họ sẽ trở thành đầy tớ, người quản lý nô tỳ, hay người hầu hạ cho danh kỹ ở kỹ viện.

Khác với sắc kỹ, nghệ kỹ dẫu sao vẫn còn có cuộc đời nghệ thuật dài hơn ở phía trước. Sau khi rời công việc diễn xuất, họ có thể trở thành những người thầy chuyên đào tạo, bồi dưỡng nghệ thuật cho kỹ nữ. Tuy vậy, không phải ai cũng may mắn chọn được con đường này. Bản thân cung kỹ rất khó có tự do từ bỏ cuộc đời kỹ nữ hay gả cho người khác. Một khi bị thất sủng, họ sẽ bị quên lãng chốn thâm cung,

sống cô đơn cho đến cuối đời. Khi ấy, họ chỉ có thể gửi hy vọng vào việc xuất cung, hoặc đành ôm một nỗi niềm ai oán cho đến chết ở trong cung. Đối với gia kỹ, khi tuổi đã lớn và nhan sắc phai tàn, họ không chỉ bị quên lãng mà còn mất đi địa vị của mình, phải làm những công việc phục vụ trong nhà hoặc bị bán đi. Gia kỹ Tường Phong của Thạch Sùng29 là một minh chứng cho điều này. Nàng vốn là kỹ nữ được Thạch Sùng sủng ái nhất trong hết thảy trăm ngàn gia kỹ, nhưng khi bước vào tuổi ba mươi, ông ta chẳng còn hứng thú xem nàng biểu diễn ca múa hay muốn nàng cùng đối ẩm, chuyện trò… như trước kia. Gia kỹ được chủ yêu chiều nhất còn chẳng được đoái hoài thì những gia kỹ bình thường khó tránh khỏi số mệnh bị lãng quên cũng là điều dễ hiểu.

Kết cục thứ ba của cuộc đời kỹ nữ là trực tiếp làm vật hy sinh. Trong suốt lịch sử Trung Quốc, có những kỹ nữ không chỉ trao thân hiến nghệ cho nam giới mà còn phải hiến dâng luôn cả sinh mạng của mình. Họ có thể bị nam giới tùy ý giết hại bất cứ lúc nào. Như trường hợp nàng ca kỹ xinh đẹp mà Tào Tháo rất muốn giết đi vì chê nàng ta tính cách không tốt. Ngặt nỗi người kỹ nữ đó có giọng hát không ai bì được. Thế là Tào Tháo đã chọn ra hơn một trăm mỹ nữ cho huấn luyện nghệ thuật, đợi đến khi một người trong số họ có thể đạt trình độ sánh ngang người kỹ nữ kia thì có thể mang nàng ra giết. Một số quan lại quý tộc khác cũng có lối hành xử tàn bạo với kỹ nữ không thua kém gì Tào Tháo, như trường hợp Vương Khải30 thẳng tay sai người đánh chết một gia kỹ chỉ vì nàng ta thổi sáo quên mất một điệu nhỏ. Hay như Thạch Sùng mỗi khi thiết yến tiệc thường ra lệnh cho kỹ nữ đến bên hầu rượu cho khách, nếu khách không chịu uống hết thì người đẹp mời rượu kia sẽ bị mang ra chặt đầu... Tuy nhiên, điều tàn khốc hơn cả là có một số hoàng đế, quý tộc dù đã thành thây ma nhưng vẫn còn phong lưu háo sắc, khi chết còn bắt một số kỹ nữ tuẫn táng theo. Đặc biệt là vào thời Xuân Thu Chiến Quốc, việc tuẫn táng nữ nhạc đã thịnh hành thành một trào lưu. Tập tục tàn nhẫn này tồn tại mãi cho đến đời Hán. Ngoài ra, không ít vua chúa còn buộc kỹ nữ cả đời phải giữ lăng và mua vui

29 Thạch Sùng (石崇; 249-300): quan nhà Tây Tấn, nổi tiếng là nhân vật xa hoa giàu có [vi.wikipedia.org].

30 Là em của Văn Minh hoàng hậu, thời Tấn Vũ đế, giữ chức Hậu tướng quân trong triều (là đồng liêu của Thạch Sùng).

cho người chết. Như trường hợp Tào Tháo trước khi chết đã lập di chúc lệnh cho những ca kỹ sau khi an táng ông phải đến đài Đồng Tước ở. Vào buổi tối ngày mùng 1 và 15 hàng tháng phải đến trước mộ của ông múa hát. Những ca kỹ này tuy có thể sống và múa hát phục vụ người chết nhưng không có tự do, thực tế cũng không khác gì những kỹ nữ chết vì tuẫn táng.

Kết cục thứ tư của kỹ nữ là xuất gia làm ni cô hay đạo cô. Phật giáo từ đầu những năm Đông Hán đã truyền vào Trung Quốc và đến thời Nam Bắc triều đã hưng thịnh. Nhiều chùa chiền được lập ở vùng rừng núi không chỉ thu nhận đông đảo nam giới làm tăng lữ mà còn có không ít nữ giới làm ni cô (đặc biệt là từ Tây Tấn trở đi). Đồng thời trong thời gian này, Đạo giáo cũng từng bước hình thành và phát triển. Đến thời Nam Bắc triều đã có ảnh hưởng tương đối lớn, nữ giới cũng có thể nhập đạo làm đạo cô. Kỹ nữ tìm đến con đường tu hành khi chán ngán cảnh ngộ số mệnh của mình, cảm thấy đời người thật vô vị hoặc đơn giản chỉ là để tìm một nơi cư trú, có thể sinh sống qua ngày. Đối với họ, cuộc sống có phần được bảo đảm hơn khi xuất gia làm ni cô hay đạo cô. Vì thế không ít kỹ nữ đã chọn kết cục này.

Ví dụ, cung kỹ Tiêu Thị (萧氏) nổi danh thời Đường Đức Tông về sau xuất gia đến động Tung Nam tu hành, hay danh kỹ đời Nguyên là Lý Chân Đồng (李真童) về sau cũng trở thành đạo cô. Trong suốt các triều đại phong kiến Trung Quốc, không ít chùa miếu nổi tiếng dành cho ni cô và đạo cô được hoàng đế hoặc vương công quý tộc thành lập đã trở thành chốn dung thân của đa số cung kỹ, gia kỹ. Chẳng hạn như trong đạo quán An Quốc do công chúa Ngọc Trinh thời Đường xây dựng có rất nhiều nữ đạo sĩ vốn là những cung kỹ rất giỏi ca múa. Việc kỹ nữ xuất gia xuất phát từ ý nguyện của bản thân họ nhưng cũng có không ít người là do phục tùng lệnh của chủ, không có chọn lựa nào khác mới phải xuất gia. Như thời Bắc Ngụy, quý tộc Nguyên Ung có tới 500 danh kỹ, sau khi ông ta chết, các kỹ nữ này đều được lệnh phải nhập đạo.

Gia kỹ vốn là tài sản tư hữu nhưng tại sao khi những người chủ sắp chết lại không đem kỹ nữ bán đi mà bắt họ phải xuất gia? Chúng ta có thể phần nào hiểu rõ

nội tình khi xem xét tâm lý và hành vi của Cao Thông31. Cao Thông chỉ có hơn 10 kỹ nữ xinh đẹp. Khi ông ta sắp chết đã ra lệnh cho những kỹ nữ này phải tự thiêu các đốt ngón tay và nuốt than đỏ, sau đó thì xuất gia làm ni cô. Việc đốt ngón tay và nuốt than mục đích là để hủy hoại ngón tay và cổ họng của người kỹ nữ, khiến cho họ không thể tiếp tục đàn ca múa hát. Có thể thấy, ý đồ của Cao Thông khi ra lệnh cho kỹ nữ xuất gia không phải là vì sắp đặt cuộc sống sau này cho họ mà là yêu cầu họ phải vì ông ta giữ gìn trinh tiết, không để người khác có cơ hội chiếm hữu hay thưởng thức “món đồ chuyên dụng” của mình.

Ngoài bốn kết cục cơ bản nêu trên, còn có một số kỹ nữ bị ruồng rẫy, bỏ rơi khi lớn tuổi, đành phải chọn kết cục trở thành ăn xin, lang thang khắp nơi sống qua ngày hoặc bỏ trốn lưu lạc giang hồ để thoát ly bể khổ. Nhìn chung cả hai kết cục này đều rất thê thảm, đáng thương.

Một phần của tài liệu Kỹ nữ trung hoa dưới góc nhìn văn hóa học (Trang 60 - 65)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(161 trang)