1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đề tài PHƯƠNG THỨC KINH DOANHTRUYỀN THỐNG TRUNG HOA dưới góc NHÌN văn hóa

73 356 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phương Thức Kinh Doanh Truyền Thống Trung Hoa Dưới Góc Nhìn Văn Hóa
Tác giả ThS. Phạm Thị Bích Hằng
Người hướng dẫn Giảng viên Khoa Đông Phương
Trường học Trường Đại Học Lạc Hồng
Chuyên ngành Kinh doanh và Quản lý
Thể loại Luận văn tốt nghiệp
Năm xuất bản 2023
Thành phố Đồng Nai
Định dạng
Số trang 73
Dung lượng 779,03 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do đó, nói đến Trung Hoa, người ta nghĩ ngay đến một đất nước “cổ kính”, có một truyền thống văn hóa liên tục và lâu đời, được công nhận là một trong năm chiếc nôi văn hóa của thế giới..

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LẠC HỒNG

-oOo -

PHƯƠNG THỨC KINH DOANH TRUYỀN THỐNG TRUNG HOA DƯỚI GÓC NHÌN VĂN HÓA

Người thực hiện đề tài :

ThS.PHẠM THỊ BÍCH HẰNG Giảng viên Khoa Đông Phương

Trang 2

MỤC LỤC

DẪN LUẬN 3

CH NG I : NHỮNG TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 7

I Những vấn đề chung 7

II Điều kiện tự nhiên liên quan đến kinh doanh truyền thống Trung Hoa 12

III Điều kiện xã hội liên quan đến kinh doanh truyền thống Trung Hoa 18

CH NG II : PH NG THỨC KINH DOANH THỜI PHONG KIẾN TRUNG HOA 31

I Quá trình hình thành ngành kinh doanh của người Hoa 31

II Cách thức tổ chức 38

III Vị trí và vai trò của ngành kinh doanh trong xã hội Phong kiến Trung Hoa 43

IV Một số quốc gia buôn bán với Trung Hoa thời Phong Kiến 47

CH NG III : NHỮNG BÌNH DIỆN V N HÓA CỦA PH NG THỨC KINH DOANH TRUYỀN THỐNG TRUNG HOA 51

I Văn hóa nhận thức về KINH DOANH 51

II Văn hóa tận dụng KINH DOANH 578

III Văn hóa ứng xử trong KINH DOANH 655

KẾT LUẬN 70

DANH MỤC CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO 722

Trang 3

DẪN LUẬN

Người Trung Hoa vốn dĩ rất được kính nể vì những kỳ tích

họ đạt được trong mọi lãnh vực kinh tế Điển hình như nông nghiệp, dù diện tích đất trồng trọt chỉ chiếm 15% tổng diện tích cả nước, nhưng sản lượng nông nghiệp chẳng những cung cấp đủ lương thực cho mọi người dân trong nước mà còn có sản lượng dư để xuất khẩu nữa

Trong lãnh vực kinh doanh, họ cũng là những nhà kinh doanh kiệt xuất, đến nỗi khi họ đến cư trú ở bất kỳ quốc gia nào thì phần lớn đều đóng vai trò chủ chốt và là những đại gia trong làng kinh doanh

Sở dĩ họ có bản lĩnh như thế vì:

1 Người Trung Hoa không chỉ dùng đến những “kinh nghiệm truyền khẩu” theo kiểu “cha truyền con nối” mà họ đã sớm đúc kết thành những học thuyết Bởi vì, người Trung Hoa rất chịu khó ghi chép và có óc hệ thống hoá rất cao

2 Tính cộng đồng được hình thành trên cơ sở gia đình

mở rộng nên rất chặt chẽ và thể hiện rõ nét Do đó, chỉ cần ở đâu có người Hoa là họ nhanh chóng bắt tay nhau để cùng làm ăn

3 Tính nhất quán từ tư duy đến hành vi đều nằm trong một trật tự nhất định

Do đó, nói đến Trung Hoa, người ta nghĩ ngay đến một đất nước “cổ kính”, có một truyền thống văn hóa liên tục và lâu đời, được công nhận là một trong năm chiếc nôi văn hóa của thế giới

Bên cạnh đó, những phát triển vượt bậc của Trung Hoa trong thời kỳ hiện nay khiến cho nhiều nhà nghiên cứu không thể không chú ý đến “hiện tượng Trung Hoa” Trung Hoa nổi lên như một hiện tượng khiến nhiều cường quốc trên thế giới cũng phải e dè Các nhà kinh tế còn cho rằng : thế kỷ XXI sẽ là thế kỷ của Trung Hoa

Trang 4

Trong tiến trình toàn cầu hóa ngày càng mạnh mẽ như hôm nay, và tiến trình ấy cũng là cơ hội để Việt Nam có những bước tiến vượt bậc khi hòa nhập vào cộng đồng thế giới Trong số các nước đang hợp tác đầu tư vào Việt Nam thì Trung Hoa là một đối tác không nhỏ, các công ty của họ đã đầu tư vào Việt Nam ở khá nhiều lĩnh vực Do đó, việc tìm hiểu văn hóa kinh doanh của Trung Hoa để Việt Nam có thể trở

thành đối tác cân sức là điều cần thiết

Đa số người Trung Hoa rất thành đạt trong con đường kinh doanh và có thể nói tài năng của họ chỉ đứng sau người Do Thái Vậy đâu

là nguyên nhân dẫn đến sự thành công của họ? Đi tìm câu trả lời đòi hỏi một công trình nghiên cứu toàn diện về tất cả mọi lĩnh vực : đất nước, con người, văn hóa, kinh tế, chính trị … Trong giới hạn về khả năng và sự hiểu biết, người viết chỉ muốn nghiên cứu một lĩnh vực cụ thể đó là : văn hóa kinh doanh của người Trung Hoa Lĩnh vực này sẽ được phân nhỏ thành nhiều đề tài để thực hiện như :

- Tính tôn ty và tính dân chủ trong các lý thuyết quản trị truyền thống Trung Hoa

- Phương thức kinh doanh truyền thống Trung Hoa dưới góc nhìn văn hóa

- Văn hóa kinh doanh của người Trung Hoa qua tư liệu điện ảnh

Trong đề tài thứ hai, tìm hiểu phương thức kinh doanh truyền thống Trung Hoa dưới góc nhìn văn hóa có nghĩa là vừa tìm hiểu những yếu tố văn hóa chi hối kinh doanh và vừa vận dụng những phương pháp

của ngành văn hóa học để nghiên cứu vấn đề, cụ thể là vận dụng phương

pháp liên ngành, nghĩa là những thành tựu của các ngành khoa học điển

hình như : sử học, nhân học, xã hội học, văn hóa học… và phương pháp

loại hình Tiếp đến, người viết sẽ sưu tầm tư liệu, dùng phương pháp

phân tích và tổng hợp để rút ra những đặc điểm trong văn hóa kinh

doanh truyền thống Trung Hoa

Trang 5

Thực tế đã chứng minh rằng, kinh doanh là con đường làm giàu nhanh nhất Kinh doanh ngày nay bao gồm ba lĩnh vực là sản xuất hàng hóa, buôn bán và dịch vụ, cả ba đều có chung mục đích cơ bản là kiếm lời Nhà kinh doanh tìm mọi cách để thu về lợi nhuận nhiều nhất và nhanh nhất

Do kinh doanh là một hoạt động tìm kiếm lợi nhuận, thiên về vật chất, nên trước đây người ta chỉ biết tìm cách làm cho đồng vốn của mình sinh lãi chứ ít ai nghĩ đến kinh doanh cũng phải có văn hóa Tuy nhiên, sự thất bại của nhiều tập đoàn kinh tế phương Tây khiến người ta phải nhìn nhận lại vấn đề Đồng thời, người ta bắt đầu quan quan tâm đến văn hoá, kết hợp văn hoá với kinh doanh, làm cho cái lợi (kinh tế) gắn bó với những giá trị chân, thiện, mỹ (kinh doanh có văn hoá) là xu hướng chung của các doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển lâu dài

Tuy nhiên, trong thời Phong kiến nói đến kinh doanh ít ai nghĩ đến nó bao gồm ba lĩnh vực sản xuất, buôn bán và dịch vụ, mà thường chỉ nghĩ đến những hoạt động thương mại là chính mà cụ thể là buôn bán kiếm lời Riêng về mặt buôn bán ngày nay cũng không giống ngày xưa, buôn bán ngày nay luôn có những dịch vụ đi kèm như quảng cáo, tiếp thị… mà lúc khởi đầu kinh doanh chỉ gói gọn trong khuôn khổ trao đổi buôn bán mà thôi

Trung Hoa được cho là một quốc gia luôn có sự thay đổi giữa các giai đoạn thống nhất và chia rẽ chính trị, thỉnh thoảng quốc gia này lại bị các nhóm dân tộc bên ngoài chinh phục, một số nhóm thậm chí

đã bị đồng hóa vào bên trong dân tộc Trung Hoa Những ảnh hưởng chính trị và văn hóa từ nhiều thành phần dân tộc của Châu Á tràn tới cùng những đợt sóng di dân liên tục, đã hòa trộn để tạo thành hình ảnh của văn hóa kinh doanh ngày nay

Do đó, tìm hiểu văn hóa kinh doanh của Trung Hoa không phải là một vấn đề nhỏ, hay đơn giản Nó bao gồm rất nhiều khía cạnh

Trang 6

phức tạp, nếu như chỉ nhìn để miêu tả những gì người Trung Hoa thể hiện, thì cách nhìn ấy sẽ rất phiếm diện Do đó, khi nghiên cứu đề tài, người viết phải cẩn thận xem xét từng khía cạnh mà đầu tiên là tìm hiểu phương thức kinh doanh truyền thống thời Phong Kiến Trung Hoa nhằm rút ra những yếu tố chi phối cách thức kinh doanh hiện nay của người Trung Hoa

Bên cạnh đó, đề tài còn nhằm tìm hiểu sự thành công trong kinh doanh của người Trung Hoa để rút ra bài học thực tiễn cho ngành kinh doanh ở Việt Nam Đồng thời, người viết cũng mong muốn đề tài sẽ trở thành tài liệu tham khảo cho những nhà kinh doanh Việt Nam để họ

có được những hiểu biết nhất định về đối tác của mình nếu có giao thương với các công ty Trung Hoa

Đề tài được trình bày trong khoảng 68 trang kể cả phần dẫn nhập và kết luận Nội dung chính được chia thành ba chương :

- Chương 1 Những tiền đề lý luận và thực tiễn Với dung lượng

khoảng 20 trang Trong đó, người viết trình bày những vấn đề chung mang tính lý luận để làm cơ sở cho việc nghiên cứu sâu vào đề tài

- Chương 2 Phương thức kinh doanh thời Phong kiến Trung

Hoa Dung lượng khoảng 20 trang Chương này trình bày những yếu tố

chính yếu mang tính tổng quan về cách thức tổ chức, vị trí và vai trò của ngành kinh doanh truyền thống Trung Hoa cũng như trình bày tổng quan

về một số quốc gia buôn bán với Trung Hoa thời Phong kiến

- Chương 3 Bình diện văn hóa của kinh doanh truyền thống

Trung Hoa Với dung lượng khoảng 20 trang Chương này người viết

trình bày đề tài qua ba vấn đề : văn hóa nhận thức, tận dụng và văn hóa ứng xử trong kinh doanh của người Trung Hoa

Trang 7

CHƯƠNG I : NHỮNG TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ

THỰC TIỄN

I Những vấn đề chung

Để trình bày đề tài một cách rõ ràng, người viết sẽ khởi đi từ những vấn đề chung, đó là những tiền đề giúp hiểu đề tài một cách thấu đáo

Vấn đề trước tiên là phân biệt các loại hình văn hóa Đó là cách thức phân loại văn hóa theo những tiêu chí cụ thể Ví dụ : nếu dùng không gian làm tiêu chí, ta sẽ có loại hình văn hóa Phương Đông và Phương Tây Nếu dùng kinh tế làm tiêu chí, ta sẽ có loại hình văn hóa gốc du mục và loại hình văn hóa gốc nông nghiệp Nếu dùng tôn giáo làm tiêu chí, ta có loại hình văn hóa tôn giáo thế giới và loại hình văn hóa tôn giáo dân tộc …

Trong đề tài này, người viết sẽ sử dụng kết hợp cả hai tiêu chí không gian và kinh tế để xem xét các vùng văn hóa và đúc kết những khác biệt của các vùng văn hóa dựa vào những nghiên cứu của các chuyên gia Phương Đông và phương Tây như những khái niệm văn hoá được hình thành trong khu vực cựu lục địa Á-Âu (Eurasia) Phương Đông = Đông Nam; phương Tây = Tây Bắc

Sự khác biệt văn hóa của các vùng miền trên dựa vào sự khác biệt về điều kiện tự nhiên và điều kiện xã hội Chính sự khác biệt về điều kiện tự nhiên và điều kiện xã hội ấy đã hình thành nên những khác biệt về văn hóa Sự khác biệt ấy được trình bày trong bảng sau :

Vị trí địa lý Phương Đông –

Đông Nam

Phương Tây – Tây Bắc

Trang 8

Cựu lục địa Á Âu Khu vực Cận Đông – Trung

Đông – Viễn đông + những gì không thuộc

Khí hậu Nóng ẩm – sông nước Lạnh khô – băng tuyết

Kinh tế Trồng trọt Chăn nuôi

Đơn vị trao đổi Lúa (thực vật) Bò (động vật)

Phong tục ăn uống Ăn chay Không ăn chay

Lễ hội Cầu mùa (Tây nguyên) Chăn bò (Thụy Sĩ)

Tính chất đô thị Chính trị Công – thương nghiệp

Văn hóa – Văn minh Gắn với văn hóa Gắn với văn minh

Ứng xử với đồ vật

không dùng đến

Trang 9

Ứng xử với môi

trường tự nhiên

Tôn trọng, sống hòa hợp với thiên nhiên

Coi thường – tham vọng chế ngự thiên nhiên Lối tư duy nhận thức Thiên về tổng hợp – coi

trọng các mối quan hệ

Thiên về phân tích, coi trọng yếu tố Nguyên tắc tổ chức

cộng đồng

Trọng tình, trọng đức, trọng văn, trọng nữ

Trọng sức mạnh, trọng tài, trọng võ, trọng nam Cách thức tổ chức

cộng đồng

- Chủ động, thích nghi, linh hoạt (do môi trường, sinh hoạt) Coi trọng lệ

hơn luật

- Tùy tiện

- Có truyền thống tuân thủ các nguyên tắc Coi trọng pháp luật Có kỷ luật

- Cứng nhắc Nguyên tắc ứng xử

với môi trường XH

Dân chủ, trọng cộng đồng Quân chủ, trọng cá nhân

Cách thức ứng xử

với môi trường XH

Dung hợp trong tiếp nhận Mềm dẻo, hiếu hòa trong ứng phó

Độc tôn trong tiếp nhận

Cứng rắn và hiếu thắng trong ứng phó Tuy nhiên, những khác biệt kể trên chỉ mang tính tương đối,

vì trong từng vùng từng miền sẽ lại có những đặc điểm rất riêng và cụ thể Có khi tuy là vùng nông nghiệp có cách ứng xử văn hóa tương thích với loại hình gốc nông nghiệp, nhưng nhiều khi do điều kiện xã hội thay đổi, người ta cũng rất dễ tiếp nhận những cách ứng xử của văn hóa gốc du mục Đó cũng là biểu hiện của quy luật lượng – chất, lượng đổi đến một ranh giới nhất định thì chất cũng sẽ đổi theo; hay như quy luận liên hệ trong triết lý âm dương, đó là : trong âm có dương và trong dương có âm

Theo bảng trên thì vùng văn hóa gốc du mục sau này sẽ phát triển thương nghiệp cả về chiều rộng lẫn chiều sâu Chế độ xã hội trong

Trang 10

vùng nông nghiệp do định cư khá yên ổn, lại theo chủ trương tự cung tự cấp, do đó nhu cầu trao đổi buôn bán không nhiều Dân nông nghiệp thường tận dụng những gì trong môi trường sống để tự đáp ứng những nhu cầu của mình trong những điều thiết yếu như : ăn, mặc, ở, đi lại Trong khi cư dân du mục chỉ có đàn gia súc không thể tự cung tự cấp mọi nhu cầu thiết yếu Do đó, họ cần có sự trao đổi hàng hóa nhằm có đủ những sản phẩm khả dĩ đáp ứng được những nhu cầu cuộc sống Bên cạnh đó, cuộc sống du cư cũng giúp họ nhìn thấy “độ chênh lệch” của các sản phẩm của vùng này so với vùng khác và có thể từ đó đã phát sinh trong họ ý định buôn bán, trao đổi hàng hóa để tìm kiếm lợi nhuận

Mối quan tâm của con người mọi thời dường như chỉ gói gọn trong hai chữ DANH và LỢI Bởi vì, đó cũng là con đường dẫn người ta đến GIÀU và SANG

Tuy nhiên, do con người còn bị chi phối bởi văn hóa dân tộc

và tính cách riêng nên có thể hướng sự coi trọng của mình đến mặt này hay mặt khác Có dân tộc coi trọng danh hơn lợi, có dân tộc trọng lợi hơn danh, nhưng cũng có dân tộc coi trọng cả hai thứ

Người coi trọng danh thường lưu tâm đến những giá trị tinh thần, kẻ coi trọng lợi lại phóng tầm nhìn của mình về vật chất Người Trung Hoa sẽ coi trọng gì?

Theo GS.TSKH Trần Ngọc Thêm, trên thế giới ngoài hai vùng Phương Đông, phương Tây thì có một vùng khá lớn được gọi là vùng chuyển tiếp Tuy vùng này vẫn thường được xếp vào Phương Đông, nhưng khi so sánh với những vùng thuần nông như Đông Nam Á, hay Nam Á thì vùng này có sự khác biệt khá lớn

Đó là sự khác biệt về địa hình : nơi đây có nhiều núi, cao nguyên và sa mạc; và một số khác biệt về văn hóa như chất dương tính

Trang 11

của cư dân du mục : đó là tính trọng nam khinh nữ, thích chinh phục và

sự cứng rắn trong tín ngưỡng mà Islam giáo là một điển hình

Vùng chuyển tiếp ấy lại được chia thành hai tiểu vùng khác biệt là vùng Tây Nam và vùng Đông Bắc Cũng theo GS TSKH Trần Ngọc Thêm, vùng Tây Nam có tâm thức hướng về tâm linh và tương lai

Do đó, nơi đây đã hình thành nên một tôn giáo rất đặc thù : Đạo Hồi hay còn gọi là Islam giáo (x.Bài giảng về văn hóa Trung Hoa)

Sở dĩ Islam giáo có thể tồn tại và phát triển nhanh chóng ở vùng sa mạc mênh mông này, vì nó đã làm được điều mà nhiều tôn giáo lớn không thể làm được, là liên kết mật thiết những tín đồ sống rải rác trong cùng một niềm tin bằng một cách thức rất riêng mà không cần đến những quy định phải đến nhà thờ như Thiên Chúa giáo, cũng không cần phải hội họp tại hội đường hàng tuần như Do Thái giáo, cũng không câu

nệ vào chùa chiền như Phật giáo…Họ chỉ cần mỗi ngày năm lần vào đúng giờ quy định, các tín đồ ai ở đâu thì cứ ở đấy, tạm dừng công việc đang làm rồi quỳ xuống và cầu nguyện vắn tắt với Đức Ala là đủ Chính khi cầu nguyện cùng một giờ mà không cần ở cùng một nơi, các tín đồ đã thực sự liên kết kết mọi tâm hồn với nhau, mà vẫn không bị ràng buộc phải quy tụ cùng một chỗ với nhau Do đó, tín đồ Hồi giáo dù ở bất cứ đâu, họ đều xem nhau là người cùng một nhà

Vùng trung gian thứ hai là vùng Đông Bắc Á bao gồm Trung Hoa, Hàn Quốc và Nhật Bản Do tính chất địa lý và tính cách dân tộc đã hình thành nên khuynh hướng trọng thế tục và hướng về hiện tại Cho nên, nơi đây là mảnh đất màu mỡ cho sự phát triển kinh tế

Tuy Trung Hoa là một trong những chiếc nôi của nền văn minh thế giới, có một bề dày phát triển liên tục hơn 7000 năm Nhưng vùng đất này dường như không quan tâm nhiều lắm đến vấn đề tâm linh Trung Hoa không hề sản sinh một tôn giáo hay tín ngưỡng đúng nghĩa nào Đạo giáo hay Nho giáo thực chất là những học thuyết triết lý hơn là

Trang 12

giáo lý của một tôn giáo Những tôn giáo du nhập vào đây đều mặc lấy thói quen tín ngưỡng của vùng này Ví dụ : Đền miếu Trung Hoa thờ rất nhiều vị, có khi là thần tiên, nhưng nhiều nhất là những danh nhân hay

“anh hùng dân tộc” Trước đền miếu luôn luôn đặt hai con hổ đúc có vai trò là vị thần giữ cửa nhằm đánh đuổi những yêu tinh hay tà ma Điều đó cho thấy tính thế tục khá mạnh trong văn hóa Trung Hoa Bởi nếu trong đền miếu là những vị thần linh thiêng thực sự thì cần chi đến các vị thần giữ đến Các vị thần tiên trong văn hóa Trung Hoa cũng ứng xử như con người (tính thế tục), cũng có “hỉ, nộ, ái, ố, ai, cụ, dục”, nên mới cần đến thần giữ cửa nhằm đánh đuổi tà ma Do đây là vùng trung gian trọng thế tục, cho nên, người Trung Hoa trọng cả danh và lợi Họ cầu danh để tìm lợi và cầu lợi để tìm danh Hai yếu tố này tác động đến người Trung Hoa

và giúp trả lời cho câu hỏi tại sao người Hoa dù định cư ở đâu cũng trở thành tay anh chị, giàu có một cách nhanh chóng

II Điều kiện tự nhiên liên quan đến kinh doanh

truyền thống Trung Hoa

Trung Hoa nằm ở phần nửa phía bắc của đông bán cầu, phía đông nam của đại lục Á - Âu, phía đông và ở giữa châu Á, phía Tây của Thái Bình Dương Địa hình nhìn theo tổng thể : Cao và hiểm trở, 60% diện tích là núi cao trên 1000m Địa hình cao về phía Tây và thấp dần về phía Đông Nửa phía đông của Trung Hoa là các vùng duyên hải, ngoài rìa của các đảo là một vùng gồm bình nguyên phì nhiêu, đồi và núi, các sa mạc, các thảo nguyên và các khu vực cận nhiệt đới Nửa phía Tây của Trung Hoa là một vùng gồm các lưu vực chìm trong những cao nguyên, các khối núi, chúng bao gồm những cao nguyên cao và rộng nhất trên thế giới Cao nguyên Tân Cương phía Tây Bắc cộng với những dãy núi cao

và hiểm trở như Côn Lôn, Thiên Sơn… tạo nên những bồn địa và lòng chảo xen kẽ những ngọn núi ấy; còn địa hình phía Đông thấp hơn bao gồm những bình nguyên và những dãy núi thấp

Trang 13

Trên bản đồ, Trung Hoa là một vùng có rất nhiều cao nguyên, mạch núi, thung lũng, bình nguyên, sa mạc, sông hồ Bên cạnh

đó, bản đồ còn cho thấy địa hình Trung Hoa phía Tây cao, phía Đông thấp giống như hình bậc thang từ Tây hướng sang Đông và thấp dần theo từng bậc

Bậc thang đầu tiên là vùng cao nguyên Thanh Tạng (Thanh Hải – Tây Tạng) ở miền Tây Nam Trung Hoa Cao nguyên Thanh Tạng là vùng đất cao nhất thế giới, độ cao trung bình là 4500m so với mực nước biển, nó được gọi là "xương sống của ngôi nhà thế giới" Cao nguyên này

sở hữu đỉnh núi cao nhất thế giới là Chu-mục-lang-mã với độ cao 8848m Nhiều đỉnh núi trên cao nguyên này có tuyết lớn, chúng chính là nguồn nước cho nhiều sông ngòi Ngoài ra, trên cao nguyên đó còn có nhiều sông hồ và thung lũng

Bậc thang thứ hai là các vùng cao nguyên nội Mông Cổ, cao nguyên Hoàng Thổ và cao nguyên Vân Quý, có độ cao trung bình từ 1000m đến 2000m Cao nguyên nội Mông bằng phẳng rộng rãi, đồng cỏ tươi tốt, là khu chăn nuôi lớn nhất Trung Hoa

Cao nguyên Hoàng Thổ phủ đầy đất vàng, chính giữa có con sông Hoàng Hà – chiếc nôi của văn hóa Trung Hoa chảy ngang Cao nguyên Vân Quý lại là điểm giao lưu của nhiều sông rạch lưu thông, Cao nguyên này sở hữu thác Hoàng Quả Thụ nổi tiếng

Trang 14

Cao nguyên Thanh Tạng, cao nguyên Nội Mông, cao nguyên Hoàng Thổ và cao nguyên Vân Quý được xem là 4 vùng cao nguyên lớn nhất Trung Hoa

Ở tầng bậc thang này còn có thung lũng Tháp Lí Mộc, thung lũng Chuẩn Hát Nhĩ và thung lũng Tứ Xuyên, ba thung lũng này cộng thêm thung lũng Sài Đạt Mộc ở tầng bậc thang thứ nhất, được gọi là 4 thung lũng lớn nhất của Trung Hoa Sa mạc lớn nhất Trung Hoa là sa mạc Tháp Khắc La Mã Can, nằm bên trong thung lũng Tháp Lí Mộc

Tầng bậc thang thứ ba, trải dài từ Bắc xuống Nam bao gồm

ba vùng đồng bằng lớn: đồng bằng Đông Bắc, đồng bằng Hoa Bắc và đồng bằng Trung Hạ du Trường giang có độ cao trung bình dưới 1000m

Ba vùng đồng bằng lớn này là những khu nông nghiệp quan trọng của Trung Hoa Ven các khu đồng bằng này có rất nhiều núi thấp Dãy núi ven biển Đông Nam là nơi tập trung nhân khẩu đông nhất, cũng là khu có nền kinh tế khá phát đạt

Chính sự đa dạng về địa hình tạo điều kiện cho Trung Hoa phát triển cả hai loại hình kinh tế : du mục và nông nghiệp

Tuy nhiên, khi bàn về thương mại Trung Hoa, chúng ta chỉ xoay quanh những yếu tố thuộc điều kiện tự nhiên, nhưng chúng chi phối

và tác động đến khuynh hướng phát triển kinh doanh

Ở đầu cực phía đông, thảo nguyên Á – Âu đổ dốc xuống, đi ngang qua bình nguyên Mông Cổ đến tận các cao nguyên hoàng thổ của Trung Hoa

Ngay từ thời đá cũ, các cư dân sống bằng săn bắn cư trú dọc theo rìa nam của bình nguyên ấy đã săn đuổi hàng đàn ngựa hoang, lừa,

bò rừng và linh dương… thú săn quá nhiều không thể sử dụng hết Họ đã tìm cách thuần dưỡng những thú hoang săn được trở thành đàn gia súc

Trang 15

Đến thời lịch sử, thảo nguyên Mông Cổ đã trở thành “ngôi nhà” cho những cư dân, và là một đồng cỏ mênh mông thuận tiện cho việc chăn thả gia súc

Kinh tế du mục đòi hỏi sự di chuyển liên tục cùng với đàn gia súc Tuy nhiên, với người Trung Hoa cổ xưa, cuộc sống du mục của

họ không liên tục như ở vùng Trung Đông hay phương Tây cổ Họ cũng

có thời gian định cư nhất định vì các di chỉ khảo cổ cho thấy có những xương động vật được thuần hoá lẫn hoang dã và sự hiện diện của loại hình nông nghiệp lúa khô (kê) chứng tỏ họ cũng có thời gian cư trú nhất định Cho đến cuối đời Thương, những bằng chứng khảo cổ cho thấy dọc phía bắc Trung Hoa đều mang dấu ấn sâu đậm của nông nghiệp chăn nuôi

Bình minh nông nghiệp của Trung Hoa xuất hiện từ 7.000 – 2.000 năm trCN Các nhà khảo cổ học đã phát hiện những làng canh tác đầu tiên đại diện cho việc trồng trọt đặc trưng của hai miền Nam và Bắc

Địa điểm Từ Sơn nằm trên vùng đất dọc hai bờ sông ở chân dãy núi Thái Hằng nhìn xuống Trung Nguyên Các khai quật khảo cổ đã tìm thấy hầm, kho trữ, mộ táng cho thấy một tổ chức “làng – xã” đã phát triển tương đối hoàn chỉnh vào thế kỷ 6 TCN

Đồ gốm trong giai đoạn này có hình thù rộng, ba chân hay bốn chân, bình có tay quai, vại có đục lỗ và đế vai xiên, khác rất nhiều so với bình vò rộng miệng, sâu đều của nền văn hoá săn bắn hái lượm Dụng

cụ lao động bằng xương gồm có : vật nhọn dùng để phóng (có chuôi và không chuôi), dùi, rìu … dụng cụ đá gồm : cuốc, búa, cối đá có chân, dụng cụ gặt… Điều đó cho thấy, người Trung Hoa cổ xưa dồn nhiều công sức cho việc làm ra những dụng cụ lao động tương ứng với loại hình kinh

tế trong vùng Người ta còn tìm thấy cây kê họ thảo đuôi chồn được carbon hoá, xương heo, gà, vịt… chứng minh cho một loại hình kinh tế nông nghiệp lúa khô và thuần hoá động vật

Trang 16

Người ta xem xét thổ nhưỡng vùng này và cho kết luận : Ở phương Bắc, đất hoàng thổ xốp, khô, khí hậu khắc nghiệt (quá lạnh và cũng quá nóng), do dó người ta phải trồng kê là loại chịu được hạn

Loại hình kinh tế chính ở vùng này thiên về hình thức “chặt

và đốt” Cư dân Trung Hoa cổ cứ di cư đến đâu thì họ chặt và đốt rừng đến đó Khi khai hoang xong một thửa đất, nhờ tro bón đất, họ có thể trồng trọt khoảng từ 3 - 5 năm, sau đó, họ bỏ đi và lại chặt và đốt để khai hoang một thửa đất mới, cứ như thế cho đến khi hết rừng thì họ lại quay

về vùng đất đã ở trước rồi lại chặt và đốt Với kiểu làm ăn và định cư tạm

bợ như thế, các nhà nghiên cứu đã cho đó là loại hình kinh tế bán du mục

Đây chính là sự khác biệt giữa Trung Hoa và các nước gốc du mục khác

và sự khác biệt đó tạo nên những sắc thái riêng cho văn hóa thương mại của Trung Hoa

Miền nam của đất nước Trung Hoa phì nhiêu nhờ những con sông lớn Do lượng nước dồi dào đã đẩy lùi rừng rú và thú dữ để tạo nên những đồng bằng màu mỡ Người Trung Hoa cổ cư trú ở miền Nam ngay

từ rất sớm đã biết sống định cư, trồng trọt và nuôi gia súc Họ khai phá đất đai, rửa phèn trong đất, tháo nước trong đầm, đào kinh dẫn nước và chống lại hạn hán thiên tai… Mỗi vị hoàng đế sau này khi lên ngôi đều chú trọng đến chính sách canh điền và thuỷ lợi

Đặc trưng nông nghiệp trồng trọt ở đây là lúa nước và cây có hạt… phân tích xương động vật gồm có những động vật đã thuần hoá lẫn động vật hoang dã.Dụng cụ lao động bằng xương có mai, thuổng có tra cán và những dụng cụ trồng trọt khác

Hà Mẫu Độ là đại diện cho miền Nam, nơi có nguồn nước dồi dào, tạo điều kiện thuận lợi cho việc trồng lúa nước và thuần hoá các loại thuỷ sản Địa điểm này thuộc vùng duyên hải phía nam đồng bằng Thượng Hải Các di vật được lưu giữ trong điều kiện ẩm tại lớp thứ 4 thấp nhất của nó, với kiến trúc bằng gỗ và vật dụng cũng bằng gỗ Các di

Trang 17

chỉ về lúa và những gì liên hệ với lúa có niên đại khoảng 5.000 TCN Những ngôi nhà đầu tiên được dựng lên trên những chiếc hố, nối với nhau bằng lỗ mộng và chốt mộng, chứng minh rằng : nơi đây đã đạt đến một trình độ làm mộc khá phát triển ứng phó với môi trường thiên nhiên nhiều đầm lầy và nước

Cuộc khuếch tán nền nông nghiệp lúa nước từ nam Trung Hoa đi theo hướng Đông Bắc, lan sang các bán đảo và quần đảo lân cận vào cuối thời Chu Dòng lúa hạt ngắn tiêu biểu cho duyên hải phía Đông Trung Hoa vì nó chịu được lạnh Cho nên, lúa hạt ngắn đã từ đồng bằng Thượng Hải lan truyền ra các vùng lân cận

Tóm lại, địa hình Trung Hoa có thể xem xét từ hai chiều tây – đông và bắc - nam

Chiều tây-đông là chiều đối lập chủ yếu theo địa hình thấp), lượng mưa (ít-nhiều) và dân tộc (các dân tộc Trung Á - Hán tộc)

(cao-Chiều bắc-nam thì lại là chiều có đối lập về nhiệt độ nóng), lượng mưa (ít-nhiều) Miền bắc khô hạn, còn miền nam là vùng sông nước Từ đây dẫn đến đối lập về kinh tế (chăn nuôi - trồng trọt, nông nghiệp khô - nông nghiệp nước), và về mức sống (nghèo-giàu)

(lạnh-Miền Bắc luôn là nơi trung tâm chính trị, do các triều đình Phong kiến thường chọn đặt kinh đô, nhưng cũng là vùng có chiến tranh liên miên; Vì vậy người dân thường dạt về phương Nam, nơi đây có đất đai màu mỡ, cuộc sống tương đối ổn định, là vựa lúa nuôi sống toàn quốc Cho nên, nó trở thành trung tâm kinh tế và người dân chỉ muốn sống yên bình Thời hiện đại vùng đông-nam phát triển kinh tế rất nhanh Bởi vì, những bờ biển vùng đông nam chính là nơi diễn ra việc buốn bán nhộn nhịp Người Trung Hoa thường dùng thành ngữ “Nam phong Bắc tiệm” (Nam lên như gió, Bắc tiến dần dần) để ám chỉ tình hình kinh tế thời xưa của Trung Hoa

Trang 18

III Điều kiện xã hội liên quan đến kinh doanh truyền thống Trung Hoa

Trước tiên cần phải xác định xã hội mà đề tài muốn nhắm đến chính là xã hội Phong kiến Trung Hoa

Tuy sử sách Trung Hoa cho rằng quốc gia mình đã trải qua thời Tam Hoàng, Ngũ Đế và Tam Đại rồi mới đến các vương triều sau này Các nhà nghiên cứu Trung Hoa cũng không thống nhất với nhau về Tam Hoàng Sử ký Tư Mã Thiên cho rằng, Tam Hoàng là Thiên Hoàng, Địa Hoàng, Nhân Hoàng (Thiên – Địa – Nhân = Tam Tài); trong khi Vận Đẩu Xu và Nguyên Mệnh Bao lại cho ba vị ấy là Phục Hy, Nữ Oa, Thần Nông

Ngũ Đế bao gồm : Hoàng Đế, Chuyên Húc, Đế Khốc, Đế Nghiêu, Đế Thuấn Nhưng sử sách Trung Hoa cũng không thống nhất trong quan niệm về Ngũ Đế Quan niệm trên được lấy theo Sử ký Tư Mã Thiên

Tuy nhiên, một điều chắc chắn rằng, giai đoạn Tam Hoàng, Ngũ Đế và ngay thời kỳ đầu của Tam Đại đều thuộc về thời sơ kỳ Tuy nhiên, người Trung Hoa đã lịch sử hóa những câu chuyện thần thoại viết

về giai đoạn lịch sử này Ở Trung Hoa, thần thoại cũng là lịch sử và lịch

sử cũng mang tính thần thoại Nói như thế là vì những câu chuyện thần thoại của Trung Hoa đều có niên đại rạch ròi khiến người đọc cứ nghĩ là thật Chẳng vậy mà Trung Hoa được mệnh danh là thiên đường của lịch

sử

Thời Tam Đại chính là nhà Hạ, nhà Thương (Ân), nhà Chu Trong các Đại này thì nhà Hạ vẫn còn mang tính thần thoại Các nhà khảo

cổ chỉ mới tìm được những di chỉ của thời nhà Thương và nhà Chu

Theo truyền thuyết, trong thời gian Hạ Vũ trị vì, đã phát minh ra lối tát nước vào ruộng, bắt sống được một số người dân tộc Man

Trang 19

về làm nô lệ Vua Vũ xây dựng thành quách để giữ gìn của riêng và người trong dòng họ Vua Vũ truyền ngôi cho con là Hạ Khải thừa kế Khải lên ngôi, tình thế chưa ổn định, lấy đất An Ấp (thuộc tỉnh Sơn Tây ngày nay)

để đóng đô Những con cháu sau này nối ngôi Khải đều nhiều lần đánh phá lẫn nhau, gây ra các cuộc chiến tranh chinh phạt nhỏ

Kinh tế xã hội lúc thời này khá phát triển, xuất hiện cách thức làm lịch pháp Từ khi lên ngôi, Khải đặt tên nước là Hạ Theo truyền thuyết, đời Hạ đã có 9 cái vạc đồng do Khải cho đúc Như vậy, có thể thời kỳ này đã có đồng và nghề đúc đồng, cũng có nghĩa là giai đoạn này thuộc về thời đại đồ đồng, và các vương quốc thực chất chỉ là những bộ lạc, mà người Trung Hoa đã dùng cách thức tổ chức thời Phong kiến để viết lại những giai đoạn sơ khai này

Những ghi chép của Tư Mã Thiên về thời gian thành lập Nhà

Hạ là từ khoảng 4.000 năm trước, nhưng điều này chưa được chứng thực Một số nhà khảo cổ học cho rằng nhà Hạ có liên quan tới di vật khai quật được tại một vùng ở trung tâm tỉnh Hồ Nam, một bức tượng đồng niên đại từ khoảng năm 2000 TCN Những dấu hiệu sớm của thời kỳ này được tìm thấy trên các bình gốm và mai rùa trông tương tự như những đường nét đầu tiên của chữ Trung Hoa hiện đại, nhưng nhiều học giả vẫn không chấp nhận ý kiến này

Bằng chứng khảo cổ học về sự tồn tại của Nhà Hạ chưa có Chủ yếu, người ta biết đến thời này theo truyền thuyết Nhà Hạ truyền được 17 đời vua, từ Hạ Vũ đến Hạ Kiệt kéo dài hơn bốn trăm năm thì triều đại về tay Thành Thang nhà Thương

Người ta tìm thấy những mảnh xương thú và mai rùa có khắc chữ có niên đại khoảng thế kỷ XIII TCN, người ta gọi loại chữ này là

giáp cốt văn Đây được xem là những bản văn sớm nhất của Trung Hoa

Những hiện vật khảo cổ này cho thấy bằng chứng về sự tồn tại của nhà Thương, có từ khoảng 1600 TCN–1046 TCN và nhà Thương được chia

Trang 20

làm hai khuynh hướng Khuynh hướng thứ nhất, từ đầu thời nhà Thương (1600–1300 TCN) với các bằng chứng tại Nhị Lý Cương, Trịnh Châu và Thương Thành Khuynh hướng thứ hai từ cuối thời nhà Thương hay giai đoạn Ân, gồm rất nhiều văn bản giáp cốt An Dương ở tỉnh Hà Nam hiện nay đã được xác nhận là nơi đóng đô cuối cùng trong tổng số chín kinh

đô của nhà Thương (1300–1046 TCN)

Các nhà sử học Trung Hoa sống ở cuối những giai đoạn này

đã làm quen với khái niệm về những triều đại nối tiếp nhau, nhưng tình hình thực tế chính trị ở giai đoạn đầu trong lịch sử Trung Hoa thì khá phức tạp và rắc rối Vì thế, một số nhà sử học Trung Hoa cho rằng nhà

Hạ, nhà Thương giai đoạn sớm của triều đại nhà Chu và cũng có thể các đại này cùng tồn tại đồng thời với nhau

Cuối thiên niên kỷ thứ hai trước Công nguyên, nhà Chu nổi lên ở châu thổ sông Hoàng Hà, tiêu diệt nhà Thương Nhà Chu khởi đầu thời kỳ cai trị của mình theo hệ thống nửa phong kiến

Vua tiên khởi của nhà Chu là Vũ Vương, và em là Chu Công đóng vai trò nhiếp chính Hai anh em đánh bại nhà Thương tại trận Mục

Dã Để hợp pháp hóa vai trò cai trị của mình, Vũ Vương đã dựa vào khái niệm Thiên Mệnh, đây là một khái niệm sẽ có ảnh hưởng trên mọi triều đại kế tiếp Ban đầu nhà Chu đóng đô ở vùng Tây An, gần sông Hoàng

Hà, họ thực hiện nhiều cuộc chinh phục mở rộng vào châu thổ sông Dương Tử Sự kiện này được xem là đợt di dân đầu tiên từ bắc xuống nam trong lịch sử Trung Hoa

Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu đồng ý với nhau rằng, chế độ

phong kiến Trung Hoa bắt đầu từ thời Tây Chu (thế kỷ XI trước công

nguyên) đến cuộc chiến tranh thuốc phiện (1840) Còn việc buôn bán được xem là một ngành nghề và là một loại hình kinh tế đúng nghĩa thì chỉ được tính từ thời nhà Hán trở về sau

Trang 21

Thời nhà Tần, nhằm củng cố sự tập trung quyền lực của triều đình, Tần Thuỷ Hoàng công bố một loạt những chính sách nhằm duy trì

sự thống nhất lãnh thổ Bên cạnh việc thống nhất chữ viết (thư đồng văn), vua đã đưa ra những quy định để tiêu chuẩn hoá tiền tệ, tiểu chuẩn hóa hệ thống cân đong trọng lượng và đo lường Chứng tỏ, trước thời nhà Tần đã

có các loại tiền tệ lưu hành, có các dụng cụ cân đong do lường, chứng tỏ ngay từ trước khi nhà Tần thống nhất Trung Hoa lần thứ nhất, thì vùng đất này đã xuất hiện loại hình thương mại và trao đổi hàng hóa

Khi áp dụng học thuyết Pháp gia khắc nghiệt, Vua đề ra các luật lệ của đế chế rất chặt chẽ và cứng nhắc, đặc biệt đối với giới quan lại trong triều đình Hình phạt cho tội tham nhũng là tử hình Vua chủ trương tập trung hoá về mặt tư tưởng, tôn Pháp gia là tư tưởng chính thống và sợ rằng bất kỳ một cách suy nghĩ nào khác ngoài Pháp gia có thể dẫn tới việc phá vỡ hay nổi loạn Vì thế mọi trường phái triết học khác bị đặt ra ngoài vòng pháp luật, đặc biệt là Khổng giáo Cho nên đã có sự kiện “đốt sách , chôn Nho” Nhà Tần cũng cư xử rất mạnh tay đối với việc thương mại, xem đó là một cách thức tiêm nhiễm thói ăn bám trong bách tính, nhà Tần cấm ngặt buôn bán và chủ nghĩa trọng thương, đánh thuế nặng đối với thương nhân, và hành quyết các thương nhân vi phạm luật lệ, dù là những lỗi rất nhỏ

Trong thời nhà Hán, khác với một số triều đại trước đã thành công khi cho các nhà buôn giữ các chức vụ quản lý dân sự, Hán Cao Tổ không tin các nhà buôn Do đó, vua cấm không cho các thương nhân tham gia triều chính, giữ các chức vụ liên quan đến chính trị, dù chỉ là một chức quan nhỏ Thay vào đó, ông tin dùng những người thuộc gia đình nông dân giàu có Tầng lớp mới này được gọi là các tiểu quý tộc, họ

đã đưa những đứa con ưu tú nhất của mình vào làm việc triều chính, còn những đứa kém hơn thì ở nhà tiếp tục làm ruộng

Trang 22

Đến triều đại Hán Vũ Đế, vua rất coi trọng việc bang giao với các tiểu quốc ở Tây vực, nhằm tạo uy thế và khuyếch trương sức mạnh Vua đã phong Trương Khiên làm sứ thần sang Tây vực kết bang giao với nước Ô Tôn Cuộc đi sứ của Trương Khiên vô tình đã đánh dấu một cột mốc vô cùng quan trọng, đó là khởi đầu cho việc hình thành con đường tơ lụa trên bộ Do đó, thời Hán Vũ Đế đã lưu danh sử sách biến cố đặc biệt, Trung Hoa có một cuộc thám hiểm đầu tiên vào năm 138 TCN,

do Trương Khiên thực hiện Tuy nhiên, khi tiến lên phía bắc, Trương Khiên bị Hung Nô bắt giữ và được trả về sau 13 năm cầm tù

Hành trình của Trương Khiên đã thất bại về mặt chính trị nhưng lại thành công về nhiều mặt khác Nó mở ra cho Trung Hoa con đường thương mại dài 4.000 dặm sau này sẽ được biết đến với cái tên Con đường tơ lụa Trung Hoa bắt đầu nhập khẩu các ngũ cốc và ngựa, họ trồng cỏ đinh lăng và nho Vũ Đế biết thêm nhiều nguồn gốc của những hàng hóa mà Trung Hoa nhập khẩu Để kiếm thêm lợi nhuận ông yêu cầu các nước lân cận nộp thuế cho mình để được phép bán hàng cho người dân Trung Hoa, và tiến hành các chiến dịch quân sự nhằm buộc họ phải thực hiện những yêu sách của mình

Các cuộc chiến mở mang lãnh thổ, việc cung cấp lương thực cho một quân đội chiếm đóng đông đảo trở thành một gánh nặng cho kinh

tế Trung Hoa Chi phí cho chúng lớn hơn nhiều so với lợi ích thu lại được

từ việc tăng trưởng thương mại theo sau các cuộc chinh phục Để lấy thu

bù chi, triều đình đánh thêm các loại thuế mới trên các tàu và xe buôn bán

mà hai loại hàng mang lại nhiều lợi nhuận nhất trong công nghiệp của Trung Hoa đó là muối và sắt Do triều đình ngày càng can thiệp quá sâu vào thương mại, kinh tế Trung Hoa thay vì phát triển thì lại dần dần rơi suy yếu

Chương Đế nối ngôi Minh Đế và cai trị Trung Hoa từ năm

75 – 88 và Hòa Đế tiếp tục nối ngôi Chương cai trị từ năm 88 - 106 Dù

Trang 23

Hòa Đế là một người tầm thường, nhưng Trung Hoa vẫn tiếp tục được hưởng sự thịnh vượng ngày càng tăng Đại học ở Lạc Dương có đến 240 căn nhà và 30.000 sinh viên Thương mại của Trung Hoa đạt tới tầm cao mới Tơ lụa từ Trung Hoa đã trở nên quen thuộc với những người ở tận vùng Đế chế Roma – lúc ấy cũng đang ở thời vàng son Và đổi lại, Trung Hoa nhập khẩu được các loại hàng hóa từ các nước Phương Tây như : kính, ngọc bích, ngựa, đá quý, mai rùa và vải vóc

Đến TK II, Trung Hoa đã đuổi kịpChâu Âu và ở một số lĩnh vực còn vượt qua trình độ khoa học và kỹ thuật của cả Châu Âu và Tây Á như :

+ Phát minh máy gieo hạt và máy xay lúa, máy bơm nước

+ Phát xe cút kít có bánh, làm hàm thiếc và bàn đạp cho ngựa + Cải thiện cách dùng thảo mộc làm thuốc và biết thêm nhiều về giải phẫu người và sự chẩn đoán sự rối loạn về cơ thể Họ đã biết làm các phẫu thuật nhỏ và thuật châm cứu, và họ biết được những lợi ích của một chế độ ăn kiêng tốt

Sự thống nhất về chính trị mang lại sự thịnh vượng Các nguồn lợi dưới thời nhà Tống lớn gấp ba lần thời nhà Đường, nghệ thuật

nở rộ cùng với sự phát triển dân số Các thành phố - thủ đô văn hóa - trở

Trang 24

nên đông đúc hơn Trung Hoa xuất hiện các khu vườn, trung tâm vui chơi, các tiệm trà hay rượu, các nhà chứa, rạp hát, múa rối, xiếc và tung hứng

Trung Hoa xây dựng một nền công nghiệp sắt lớn làm nền tảng cho một xã hội công nghiệp hiện đại Sản lượng gang hàng năm của

họ gấp đôi sản lượng của Anh vào những năm 1700 Các tàu buôn Trung Hoa có số lượng rất lớn, và ngày càng tăng Số lượng thương mại tăng lên Nhưng Trung Hoa vẫn ở dưới ảnh hưởng của Nho giáo, và các nhà Nho thường không coi trọng thương mại

Do đó khi thu lợi từ thương mại, người ta mua đất để được kính trọng Vì thế cả thương mại tư nhân và doanh nghiệp công nghiệp tư nhân không phát triển Dưới thời nhà Tống, các doanh nghiệp không thuộc nhà nước được phát triển tự do nhưng các nhà buôn vẫn phụ thuộc vào quan chức chính phủ Việc trả cho họ một phần coi như là đóng góp cho hoạt động của chính phủ và quà cáp cá nhân là công việc bắt buộc khi làm ăn Các doanh nghiệp tư nhân trồng trọt và buôn bán nhỏ phát triển nhưng không theo kiểu tích lũy tài sản cần thiết cho sự phát triển tư bản Con đường vào triều chính hay làm việc hành chính trong thời này vẫn chưa mở cho những thương nhân, nếu họ không thuộc những gia đình giàu có

Trung Hoa thời nhà Minh sản xuất đồ sứ, tơ và vải bông Triều đình sử dụng thương mại như một nguồn tài sản Trước hết, triều đình tài trợ cho các phường hội thủ công, đồng thời đưa ra các quy định cấm cạnh tranh cũng như các quy định nhằm phát triển thương mại Tiếp đến, triều đình thu mua các sản phẩm từ các nhà sản xuất và các ngành công nghiệp thường bị ép buộc phải bán hàng cho triều đình với giá rất thấp Tuy nhiên, việc phát triển thương mại bị cản trở bởi những người dân thường không thể tăng khả năng tiêu thụ Bên cạnh đó, triều đình tiếp

Trang 25

tục áp đặt các giới hạn đối với ngoại thương, bao gồm cả việc cấm các lái buôn Trung Hoa đi ra biển

Thương mại tư nhân vẫn hoạt động ngầm vì các nguyên do :

- Quân cảnh và triều đình không thể kiểm soát toàn bộ bờ biển

- Các quan chức và các gia đình học giả địa phương tại các tỉnh ven biển hợp tác với các nhà buôn để chế tạo tàu thuyền phục vụ thương mại

- Buôn lậu diễn ra chủ yếu với Nhật Bản và các nước Đông Nam Á, và nó càng tăng lên khi các mỏ bạc được tìm thấy ở Nhật Bản vào những năm đầu thế kỷ XVI trong khi bạc là hình thức tiền tệ chính ở Trung Hoa, đa số dân đều sẵn sàng chấp nhận mạo hiểm đi thuyền đến Nhật hay Đông Nam Á nhằm bán hàng hóa để đổi lấy bạc hay mời các nhà buôn Nhật Bản tới bờ biển Trung Hoa để buôn bán tại các cảng bí mật

Sau khi thương mại tư nhân với Đông Nam Á được tái cho phép năm 1567, thị trường ngầm không còn tồn tại nữa Tuy nhiên, việc buôn bán với Nhật Bản vẫn bị ngăn cấm, các nhà buôn phải lợi dụng con đường buôn bán với Nhật Bản thông qua Đông Nam Á Tương tự, bạc từ những nhà buôn Tây Ban Nha, Pêru cũng tham gia vào thị trường với số lượng rất lớn, và không hề có một sự hạn chế nào Các giao dịch này diễn

ra ở Manila (Philippin) Nhờ những cuộc giao thương ấy mà số lượng bạc khá lớn chảy vào Trung Hoa tạo cơ hội tiền tệ hóa nền kinh tế và thúc đẩy thêm sự phát triển thương mại

Triều vua Chu Đệ, niên hiệu Vĩnh Lạc, vốn là một người mạnh mẽ nên ông có khả năng tiếp nối chính sách ngoại giao của vua cha Tuy nhiên, những người kế tục Thành Tổ không có nhiều ảnh hưởng trong quá trình đối ngoại, khiến binh lực của đế chế Trung Hoa giảm sút

Trang 26

nhiều sức mạnh Hàng loại những quốc gia như Đại Việt, Mông Cổ… tìm được tiếng nói riêng của mình

Trong thời đại nhà Minh, có một giai đoạn thương mại không được coi trọng Minh Thái Tổ có thành kiến đối với tầng lớp thương nhân Tuy nhiên, thành kiến ấy cũng không hạn chế được số lượng các thương gia gia tăng trong giai đoạn này Trái lại, thương mại còn đạt được nhiều thành quả lớn hơn so với các thế kỷ trước đó và vẫn tiếp tục phát triển Bởi vì các nền công nghiệp ở Trung Hoa thời đó đang trên đà lớn mạnh cần tới sự hợp tác của các thương gia

Tại một số tỉnh, đất đai canh tác lâu ngày không được chăm bón nên sản lượng nông nghiệp kém dần Thêm vào đó, dân cư mỗi ngày mỗi trở nên đông đúc khiến một số dân chúng bỏ quê di cư ra thành thị và tham gia vào thị trường trao đổi và mua bán hàng hoá Tuy nhiên, số đông vẫn chỉ là buôn bán nhỏ lẻ, trong khi chính sách của triều đình lại nhắm đến những thương đoàn và vì thế, những chính sách đánh thuế của Thái Tổ nhằm ngăn cấm thương mại chỉ còn tác dụng gây trở ngại tới các thương gia của triều đình mà mặt hàng chủ đạo chịu thuế nặng nhất chính

là muối, một loại mặt hàng thuộc nhu yếu phẩm Điển hình như việc triều đình ký các giao kèo với những thương gia, trong đó, các thương gia có nhiệm vụ giúp triều đình vận chuyển lương thực đến biên giới Đổi lại, triều đình sẽ căn cứ vào số lượng thực phẩm được vận chuyển để cấp các phiếu mua muối tương ứng cho các thương gia Đương nhiên, các thương gia có quyền bán muối cho người dân Những giao kèo như vậy thường mang lại các khoản lợi lớn cho giới thương gia

Vào thời cai trị của Chu Dực Quân , niên hiệu là Vạn Lịch (1572 – 1620), các thương gia Hà Lan và Anh đã đến bờ biển Trung Hoa

Đi theo các thương đoàn phương Tây còn có các nhà thừa sai Thiên Chúa giáo Trong đó có nhà thừa sai Mathêu Ricci, ông đến Trung Hoa

và lưu trú ở Macao năm 1582 Sau đó, vị này đến định cư ở Nam Kinh,

Trang 27

học tiếng Trung Hoa cũng như văn học kinh điển Trung Hoa Với sự hiểu biết nhất định về văn hóa bản xứ, ông có một cách thức ứng xử rất trân trọng đối với triều đình phong kiến Nhờ đó Ricci được các trí thức và quý tộc Trung Hoa tiếp nhận

Đầu năm 1601, Ricci nhận được giấy phép đến Bắc Kinh, ông mang tặng triều đình cây đàn clavico, một bản đồ thế giới và hai chiếc đồng hồ có chuông báo giờ Ông giới thiệu mình với triều đình là một kẻ thần dân hèn mọn của Vạn Lịch và có hiểu biết về “trời hình cầu, địa lý, hình học và toán học” Ông cố gắng tạo sự chú ý nơi người Trung Hoa về các tiến bộ kỹ thuật của phương Tây Ông nhận được giấy phép hoạt động truyền giáo ở Trung Hoa, đến năm 1610 Trung Hoa có hơn ba trăm nhà thờ Thiên chúa

Tuy nhiên, các vị vua cuối thời nhà Minh đều là những vị vua bất tài, bạc nhược… thêm vào đó Trung Hoa phải chịu tình trạng thời tiết thất thường: trời lạnh, hạn hán và lũ lụt từ việc mưa quá nhiều Bên cạnh đó, tình trạng suy thoái thương mại ở Châu Âu những năm 1620, đã ảnh hưởng khá mạnh đến Trung Hoa Khắp nước Trung Hoa, người dân nổi lên làm loạn

Các vua Thanh không để quyền lực vào tay người Trung

Hoa, họ tìm cách ngăn cản những người Mãn Châu không bị Trung Hoa

hóa Người Mãn Châu ở Trung Hoa bị bắt buộc phải dành cả đời để đi

lính Họ bị cấm tham gia buôn bán và lao động, và cấm lập gia đình với người Trung Hoa

Nhờ hòa bình do người Mãn Châu mang lại, Trung Hoa bước vào kỷ nguyên mới bằng sự thịnh vượng, dân số tăng nhanh và thương mại với Châu Âu phát triển mạnh Một vị vua được coi là vĩ đại nhất của nhà Thanh là Khang Hi (1661 – 1722), vua thành công trong việc cai trị nhờ có trái tim, sự thông minh và trí nhớ tuyệt vời

Trang 28

Dân số Trung Hoa đã tăng gấp đôi từ 1700 và 1794 là 313 triệu người Sự mở rộng trồng trọt ở các tỉnh Giang Tây và Hồ Nam đã tàn phá đa số rừng ở đó Đài Loan lúc này đã là một phần của Trung Hoa,

bị sáp nhập từ năm 1683, và một cuộc điều tra dân số năm 1811 cho thấy

số dân Trung Hoa ở Đài Loan gần hai triệu người Năm 1756 và 1757 quân đội của vua Càn Long đã mở rộng biên giới đến điểm cực tây của mình, và ông cai trị cả Tây Tạng lẫn Mông Cổ

Sản xuất nông nghiệp ở Trung Hoa không tăng kịp với mức tăng dân số, và vì không có lương thực giá rẻ, người dân Trung Hoa không có tiền để mua bất kỳ thứ gì khác

Trung Hoa xuất khẩu trà sang Anh Quốc, làm đồ sứ để xuất khẩu và chế tạo tơ tằm và hàng bông, nhưng lao động đầy rẫy giá rẻ đến mức giống như nô lệ, nó là nguyên nhân cho các thương gia ít đầu tư vào máy móc Các thương gia không có sự liên kết, các thương gia và các doanh nghiệp tư nhân không được bảo vệ Kinh tế không phải là một vấn

đề đáng chú ý của nhóm quan lại Họ không thích quan tâm đến kỹ thuật

mà chỉ thích văn học, nghệ thuật, Nho giáo và tôn giáo

Vào cuối thế kỷ 18, sự thiếu thốn đất đai, tham nhũng trong chế độ quan liêu và quân sự, và sự bần cùng hóa đã tạo ra tình trạng bạo động Người dân thường biểu lộ sự bất bình thông qua các tổ chức tôn giáo, các tổ chức bắt buộc giữ bí mật đối mặt với chính quyền đế quốc thù địch

Một trong những vấn đề lớn ở thế kỷ XIX của Trung Hoa là cách thức đối phó với các nước khác bên ngoài Trước đó, Đế chế Trung Hoa là cường quốc bá chủ ở châu Á Tuy nhiên, trong thế kỷ XVIII, các

đế chế châu Âu dần mở rộng ra khắp thế giới, khi các nước Châu Âu phát triển các nền kinh tế hùng mạnh dựa trên thương mại hàng hải Mặt khác,

đế chế Trung Hoa rơi vào tình trạng tù hãm sau nhiều thế kỷ dẫn đầu thế giới Tới cuối thế kỷ XVIII, các thuộc địa của Châu Âu đã được lập nên ở

Trang 29

gần Ấn Độ và trên những hòn đảo hiện là các vùng thuộc Indonesia, trong khi Đế chế Nga đã sáp nhập các vùng phía bắc Trung Hoa Ở thời các cuộc chiến tranh Napoleon, Anh Quốc từng muốn thành lập liên minh với Trung Hoa, gửi các hạm đội tàu tới Hồng Kông mang theo quà tặng gửi tới vị Hoàng đế, gồm nhiều vật phẩm được chế tạo bởi những kỹ thuật và phong cách nghệ thuật mới nhất của Châu Âu thời kỳ đó Khi các phái đoàn Anh nhận được một lá thư từ Bắc Kinh giải thích rằng Trung Hoa không cảm thấy ấn tượng trước những thành tựu của Châu Âu và rằng triều đình Trung Hoa sẵn lòng nhận sự kính trọng của vua George III nước Anh, chính phủ Anh cảm thấy bị xúc phạm và từ bỏ mọi kế hoạch nhằm thiết lập các quan hệ với nhà Thanh

Năm 1793, nhà Thanh chính thức cho rằng Trung Hoa không cần tới các hàng hóa Châu Âu Vì thế, các lái buôn Trung Hoa chỉ chấp nhận dùng bạc làm vật trao đổi cho hàng hóa của họ Nhu cầu to lớn của Châu Âu đối với các hàng hóa Trung Hoa như tơ, trà, và đồ sứ chỉ có thế được đáp ứng khi các công ty Châu Âu rót hết số bạc họ có vào trong Trung Hoa Tới cuối những năm 1830, các chính phủ Anh và Pháp rất lo ngại về các kho dự trữ kim loại quý của họ và tìm cách đưa ra một phương thức trao đổi mới với Trung Hoa - và cách tốt nhất là đầu độc Trung Hoa bằng thuốc phiện Khi nhà Thanh tìm cách cấm buôn bán thuốc phiện năm 1838, Anh Quốc đã tuyên chiến với Trung Hoa

Hải quân nhà Thanh, gồm toàn các tàu gỗ và không phải là đối thủ của các tàu chiến bọc thép chạy hơi nước của Hải quân Hoàng gia Anh Binh sĩ Anh sử dụng súng có rãnh xoắn và pháo binh vượt trội dễ dàng tiêu diệt các lực lượng nhà Thanh trên chiến trường Trung Hoa bắt buộc phải chấp nhận thua trận và thừa nhận các yêu cầu của Anh Quốc Với Hiệp ước Nam Kinh năm 1842, ký trên tàu chiến Cornwallis, Trung Hoa chấp nhận buôn bán với Anh Quốc Họ đồng ý một mức thuế quan

Trang 30

“đúng mức và ổn định” và mở cửa các cảng ở Quảng Châu, Hạ Môn, Phúc Châu, Ninh Ba và Thượng Hải cho các thương nhân nước ngoài

Cuộc chiến tranh nha phiến lần thứ hai chấm dứt Hiệp ước Thiên Tân được ký kết với các điều khoản bất lợi cho Trung Hoa, như yêu cầu tất cả các tài liệu chính thức của Trung Hoa phải được viết bằng tiếng Anh và một quy định cho phép các tàu chiến Anh được đi lại không hạn chế trên các sông ngòi Trung Hoa

Tóm lại

- Kinh doanh chỉ bó hẹp trong khuôn khổ buôn bán Trong thời phong kiến Trung Hoa đã hình thành và khá phát triển nhất là dưới thời nhà Minh

- Kinh doanh chỉ dành cho những thương đoàn của triều đình, thường dân không được tự do kinh doanh, họ chỉ có thể buôn bán nhỏ Nhưng việc buôn bán của thường dân không được khuyến khích thậm chí còn bị cấp đoán và o ép…

- Chiến tranh diễn ra liên miên ngành kinh doanh Trung Hoa cũng trôi nổi và khó kiểm soát Triều đình chỉ chú trọng đến việc phát triển buôn bán với những nước có bang giao

- Trung Hoa luôn thể hiện mình là một quốc gia phát triển hơn các nước khác Chính tính tự tôn khiến cho việc kinh doanh bị kìm hãm Dân số đông nên các thương gia cũng như triều đình tận dụng nguồn lực trong nước mà không muốn phát triển công nghiệp bằng máy móc

- Người Trung Hoa luôn cho rằng mình đã làm ra được những sản phẩm đáp ứng mọi nhu cầu trong nước mà không cần nhập khẩu hàng hóa từ nước ngoài, cho nên đã làm lệch cán cân thanh toán và

vì thế đã đẩy Trung Hoa vào cuộc chiến tranh thuốc phiện

Trang 31

CHƯƠNG II : PHƯƠNG THỨC KINH DOANH

TRUYỀN THỐNG THỜI PHONG KIẾN TRUNG HOA

I Quá trình hình thành ngành kinh doanh của người Hoa

Sự xuất hiện kinh doanh ở Trung Hoa bắt đầu từ thời nhà Thương Theo sử sách Trung Hoa thì nghề ươm tằm dệt lụa là nghề thủ công đã có từ thời đại này, nhưng nghề ấy chỉ đạt đến đỉnh cao dưới thời nhà Đường

Trong triều đại nhà Thương, nền văn minh đã xuất hiện Dọc con sông Hoàng Hà, người Trung Hoa đã biết đào những con rạch dẫn nước tưới mùa màng Các khu cộng đồng dân cư cư trú đều đã biết đào rãnh thoát nước ra ngoài thành phố Họ biết sản xuất bia từ nguyên liệu hạt kê Họ mở rộng thương mại và sử dụng tiền dưới dạng vỏ ốc Các thương gia đời Thương đã nhắm đến các mặt hàng thiết yếu nhưng không

có ở Trung Hoa như muối, sắt, đồng, thiếc, chì và antimon, họ nhập khẩu chúng từ các nước xa xôi và mang về bán lại cho dân chúng Tới đầu năm

1300 TCN thì nền công nghệ đúc đồng ở Trung Hoa đã rất phát triển Tuy công nghệ đúc đồng xuất hiện ở Trung Hoa muộn hơn so với châu Âu và Tây Á nhưng công nghệ này ở Trung Hoa lại nhanh chóng phát triển và trở thành một ngành công nghệ phát triển nhất thế giới

Ở Trung Hoa vào thời nhà Thương, người ta đã sản xuất ra được 18 loại tơ lụa khác nhau, chứng tỏ đây là một ngành thủ công nghiệp thế mạnh của bản xứ Tơ lụa chẳng những được làm ra nhằm đáp ứng nhu cầu may mặc của người dân mà còn trở thành những cống phẩm hay quà tặng để triều đình thiết lập mối bang giao với các nước trên thế giới Bên cạnh đó, tơ lụa còn trở thành đặc sản của Trung Hoa, một loại hàng hóa thế mạnh nhằm trao đổi buôn bán với nước ngoài

Trang 32

Các triều đình Phong kiến xem tơ lụa là một trong những nghề thủ công chính chỉ đứng sau sản xuất nông nghiệp Theo “Tân Đường thư, Địa lý chí” thì Trung Hoa thời Phong kiến có 28 châu quận sản xuất tơ lụa nhưng chỉ có Tống châu và Bạc Châu là hai nơi đứng đầu trong sản xuất tơ lụa xét về chất lượng lẫn số lượng

Thông qua sự phát triển về tơ lụa, người Trung Hoa phát triển mối bang giao với các quốc gia khác Tơ lụa trước tiên dược dùng làm quà tặng, nhưng sau đó, nó chính là nguồn gốc của quá trình trao đổi, buôn bán giữa Trung Hoa và các quốc gia khác Những mặt hàng biếu tặng sau khi đã chiếm được cảm tình của các quốc gia khác thì lập tức nó trở thành một loại chất liệu may trang phục được ưa chuộng, đặc biệt là thu hút thị hiếu của phái nữ

Khi nhà Tần còn là một tiểu quốc, triều đình vẫn còn giữ được tinh thần thượng võ và tính cách mạnh mẽ của những người có nguồn gốc từ loại hình kinh tế chăn thả du mục Khi đó, nhà Tần là cầu nối thương mại giữa nền văn minh Trung Hoa cụ thể là nhà Chu với các

cư dân du mục thuộc vùng Trung Á Từ lúc này, người ta đã hiểu rằng một nền thương mại phát triển vững chắc sẽ góp phần vào sự giàu mạnh của vương quốc

Vương quốc Tề vốn là một nước có truyền thống mang tham vọng mở rộng và bá chủ thiên hạ Đây là vương quốc được tổ chức tốt, có dân số đông và có quan hệ bang giao với hầu hết các nước khác Nước Tề cũng sản xuất ra nhiều lúa gạo và đã giàu mạnh lên nhờ buôn bán sắt và các loại kim loại khác Do đó, không chỉ nước Tề mà những tiểu quốc đương thời cũng đều nhận thức được những lợi nhuận tiềm tàng trong ngành kinh doanh

Sang thời nhà Tần, Thương Ưởng với tư cách thừa tướng, đã bắt đầu tổ chức vương quốc Tần theo các nguyên lý của Pháp gia Ông thuyết phục vua Tần áp dụng luật pháp cho mọi người dân Với việc này,

Trang 33

ông tìm cách thưởng cho người làm tốt phận sự và xứng đáng hơn là ủng

hộ theo kiểu mối quan hệ Ông thưởng cho những người can đảm ngoài mặt trận Ông không có tính khinh thường thương nghiệp của Khổng giáo

mà khuyến khích phát triển thương mại và lao động Ông khuyến khích chế tạo vải vóc xuất khẩu

Nhà nước Phong kiến Trung Hoa từ thời nhà Hán đến thời nhà Đường đều xem tơ lụa là nguồn thu nhập chính Nhà Đường giữ độc quyền kinh doanh tơ lụa Các mặt hàng này khi nhập hay xuất đều được ghi chép đầy đủ và trình báo cho triều đình

Thời Tần – Hán ngoài những thương đoàn của triều đình, thì xét về cơ bản triều đình cấm người dân buôn bán và thường cư xử o ép đối với các thương gia Bởi vì, nhà Tần cho rằng những người không chịu sản xuất mà chỉ chăm chăm tìm kiếm lợi nhuận từ việc mang sản phẩm từ nơi này đến nơi khác là một cách thức ăn bám xã hội, không thể dung túng cho họ phát triển Còn thời nhà Hán thì lại sợ lợi nhuận từ thương mại bị chia nhỏ dẫn đến thất thu ngân khố Do đó, với những lý do khác nhau nhưng cả hai triều đại này không khuyến khích người dân tham gia buôn bán

Thời Minh – Thanh, thương nhân phần lớn là những trí thức

từ quan về hành nghề kinh doanh Nhờ những tầng lớp kinh doanh trí thức này mà những kiến thức về nghề buôn được tổng hợp, hệ thống hóa

và viết thành sách, như : Hoàng Biện thời nhà Minh viết cuốn “Nhất thống lộ trình đồ ký gồm 8 quyển Đàm Y tử đời Thanh viết bộ “Sĩ thương yếu lãm” gồm 3 quyển

Trong lịch sử thương mại thời phong kiến Trung Hoa, thì triều đại nhà Minh được xem là có những tiến bộ vượt bậc về cải cách kinh doanh, mà quá trình tiền tệ hóa thương mại là một thành tựu to lớn đánh dấu bước tiến vượt bực của Trung Hoa so với các nước khác, sánh ngang với Châu Âu thời kỳ đó Một số nhà nghiên cứu kinh tế còn cho

Trang 34

rằng Trung Hoa thời kỳ này đã bước vào giai đoạn “tiền Tư Bản” hay “Tư

Bản sơ khai” Các nhà sử học cho đến nay vẫn còn tranh cãi về sự "tiến

bộ" khá chậm chạp của chủ nghĩa trọng thương và công nghiệp hoá theo kiểu châu Âu ở thời nhà Minh Vấn đề này đặc biệt đáng quan tâm, nếu ta thấy sự tương đương giữa mức độ thương mại hóa của kinh tế nhà Minh,

ở thời được gọi là "tư bản phôi thai" ở Trung Hoa, với chủ nghĩa tư bản thương nghiệp ở phương Tây Vì thế, các nhà sử học đã tìm cách giải thích tại sao Trung Quốc không thể "tiến bộ" ở mức tương đương với Phương Tây trong thế kỷ cuối cùng của nhà Minh

Vấn đề này thậm chí còn bất thường hơn nếu cho rằng trong thế kỷ cuối cùng của nhà Minh, một nền kinh tế tiền tệ đích thực đã xuất hiện, những cuộc giao thương khá lớn với các nước cũng như sự xuất hiện những cơ sở công nghiệp tư nhân và triều đình, như một số trung tâm dệt may lớn ở phía đông nam Các nhà sử học theo chủ nghĩa Cộng sản ở Trung Quốc, đặc biệt ở thập niên 1970 coi thời nhà Minh là một trong những giai đoạn "tư bản sơ khai", một sự miêu tả có vẻ khá chính xác, nhưng lại không giải thích được sự suy tàn của thương mại và sự tăng cường các biện pháp quản lý thắt chặt thương mại ở thời nhà Minh

Tuy nhiên các học giả hậu hiện đại ở Trung Quốc đã cho rằng quan điểm này là quá đơn giản hóa và ít nhất cũng không chính xác Việc ngăn cấm các tàu đi biển, như được chỉ ra, là với ý định kìm chế cướp biển và đã được dỡ bỏ ở giữa thời Minh do sức ép mạnh mẽ của tầng lớp quan lại, những người đã chỉ ra những ảnh hưởng xấu của nó tới các vùng kinh tế ven biển

Trong thế kỷ XVI những người Châu Âu bắt đầu xuất hiện trên những bờ biển phía đông và tìm ra Macao, vùng định cư đầu tiên của Châu Âu ở Trung Quốc

Trong lịch sử hình thành kinh doanh truyền thống của Trung Hoa không thể không kể đến hai con đường tơ lụa ; con đường tơ lụa trên

Trang 35

bộ tồn tại từ thời Lưỡng Hán đến thời nhà Nguyên; con đường tơ lụa trên biển tồn tại từ thời trung Đường đến thời nhà Minh

Con đường tơ lụa trên bộ đặt nền móng từ con đường khai thông qua Tây Vực của Trương Khiên – người Thành cổ (Hán Trung, Thiểm Tây), một sứ thần trẻ tuổi được vương triều Hán Vũ Đế tuyển chọn di sứ sang tộc Nguyệt Thị nhằm mục đích quân sự – chính trị

Tiểu quốc ở Tây vực mà ông đặt chân đến là nước Đại Uyển, nơi có giống ngựa Hãn Huyết Mã nổi tiếng, tương truyền đây là hậu duệ của giống ngựa trời, có thể chạy hơn nghìn dặm mỗi ngày, mồ hôi của nó

có màu máu Vua Hán Vũ Đế rất thích giống ngựa này và vua đã cử sứ giả mang vàng bạc sang mua loại ngựa nay về Còn vua Đại Uyển lại thích tơ lụa Trung Nguyên Do đó, Trương Khiên đã hứa nếu có cơ hội sẽ trở lại mang tơ lụa đến làm tặng phẩm cho tiểu quốc này

Hành trình đi sứ của Trương Khiên hơn 10 năm và không đạt được mục đích chính trị, nhưng ngược lại ông được hậu thế xem như là người tiên phong khám phá Tây vực, cột mốc đầu tiên trong việc hình thành con đường tơ lụa trên đất liền, khai thông con dường Đông – Tây Sau khi con đường này được khai thông, nhà Hán đã cử rất nhiều phái đoàn đến để trao đổi, mua bán hàng hóa Bên cạnh đó, nhà Hán còn đặt các dịch trạm và lập các nhà kho nhằm đảm bảo lương thực và an ninh cho các thương nhân (x Nguyễn Minh Mẫn, tr.29) Con đường khai thông Đông – Tây đã tạo điều kiện cho tơ lụa Trung Nguyên đến với thị trường Tây Á, Trung Á và Châu Âu Những người từ nhà Hán đến Tây Vực bao gồm các sứ thần và phần lớn là các thương nhân; ngược lại những người đến với Trung Nguyên cũng là những thành phần này là chính

Do con đường tơ lụa có hai ngả Nam – Bắc (x Nguyễn Minh Mẫn, tr.33), nhưng dù theo ngả nào thì cũng vấp phải những khó khăn do điều kiện tự nhiên và xã hội tác động Do đó, các thương nhân thường

Trang 36

sang tay hàng hóa ngay trên lộ trình đường đi Tơ lụa từ Trung Nguyên được đưa đến một đoạn đường nhất định rồi sang tay cho thương lái vùng

đó với một mức giá cao hơn giá ban đầu, các thương lái ấy mang hàng đến một địa điểm khác trên hành trình ấy và lại sang tay kiếm lời, cứ như thế cho đến khi tơ lụa đến điểm cuối cùng giá tơ lụa đã cao hơn nhiều chục lần so với giá ban đầu

Sự phát triển con đường tơ lụa trên bộ còn được đánh dấu bằng tên tuổi của Pháp sư Huyền Trang nguyên tên họ là Trần Huy (Trần Vỹ), ông nuôi ước muốn nghiên cứu kinh Phật từ nguyên bản Ước muốn

ấy được củng cố khi ông được tiếp xúc với pháp sư Ba Pha Mật Đa Na và thúc đẩy Huyền Trang sang Thiên Trúc thỉnh kinh Bên cạnh đó, còn có chuyến đi của Khưu Xứ Cơ…

Thành Trường An được xem là điểm xuất phát của con đường tơ lụa Thành được xây dựng từ thời nhà Hán Phía đông ở mặt Đông Nam và phía tây ở mặt Tây Nam thiết lập được hai chợ nổi tiếng là chợ Đông và chợ Tây, đó chính là bộ mặt thương mại của Trường An thời

đó Tơ lụa tập trung ở hai chợ này để thương nhân các nước trao đổi buôn bán

Trong “Trường An Chí” quyển 8 miêu tả cặn kẽ về chợ Đông và đưa ra con số thống kê là 220 mặt hàng là những đặc sản của cả bốn phương Còn trong quyển 10 viết về chợ Tây và cho biết hàng hóa nhiều vô kể không thể đếm xuể (x Nguyễn Minh Mẫn, tr.71)

Đầu thế kỷ VIII, đế quốc Ả Rập lớn mạnh và thay thế vai trò của vương quốc Ba Tư trong việc giao lưu buôn bán với Trung Hoa Theo

sử liệu, số thương nhân Ả Rập đến Trung Hoa không dưới 10 vạn người Tuy nhiên, giữa người trung Hoa và Ả Rập đã xảy ra chinh chiến, người

Ả Rập đánh thắng nhà Đường và buộc nhà Đường nhượng lại việc kiểm soát tây vực cho người Ả Rập Con đường tơ lụa trên bộ không còn thông

Ngày đăng: 10/12/2013, 18:18

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Địa hình Phức tạp: cao nhất, sâu nhất  - Đề tài PHƯƠNG THỨC KINH DOANHTRUYỀN THỐNG TRUNG HOA dưới góc NHÌN văn hóa
a hình Phức tạp: cao nhất, sâu nhất (Trang 8)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w