Nghiên cứu văn hóa đã trở thành một bộ môn khoa học có ý nghĩa, nghiên cứu tác phẩm văn học dưới góc nhìn văn hóa cũng là một trong những vấn đề mà nhà nghiên cứu sử dụng để làm hiểu rõ
Trang 1-
NGUYỄN THỊ TÙNG LÂM
TÁC PHẨM LÝ VĂN SÂM DƯỚI GÓC NHÌN VĂN HÓA HỌC
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
TP HỒ CHÍ MINH – 2010
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
NGUYỄN THỊ TÙNG LÂM
TÁC PHẨM LÝ VĂN SÂM
DƯỚI GÓC NHÌN VĂN HÓA HỌC
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
CHUYÊN NGÀNH : VĂN HỌC VIỆT NAM
MÃ SỐ : 60.23.34
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS PHAN THU HIỀN
TP HỒ CHÍ MINH - 2010
Trang 3Tôi xin chân thành cảm ơn Quý Thầy Cô ở Trường Đại học Khoa học
Xã hội và Nhân văn Tp Hồ Chí Minh đã giảng dạy và tạo điều kiện học tập cho chúng tôi trong thời gian học Cao học
Xin chân thành cảm ơn nhà nghiên cứu Bùi Quang Huy đã đem đến cho tôi những kiến thức về nhà văn Lý Văn Sâm
Tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Phan Thu Hiền, người đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài
Cuối cùng, xin chân thành cảm ơn các bạn đồng học lớp cao học Văn học Việt Nam khóa 2007 Trường Đại học KHXH & NV đã hỗ trợ rất nhiều trong lúc tôi làm cũng như trình bày luận văn
TP Hồ Chí Minh 09/2010
Nguyễn Thị Tùng Lâm
1
Trang 4Nhà văn Lý Văn Sâm (1921 – 2000)
Trang 51 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 3
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8
4 Phương pháp nghiên cứu 9
5 Đóng góp của luận văn 10
6 Kết cấu luận văn 10
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 11
1.1 Hướng tiếp cận văn hóa học – văn học 11
1.2 Lý Văn Sâm với văn hóa Nam Bộ 17
Chương 2: KHÔNG GIAN VĂN HÓA NAM BỘ TRONG TÁC PHẨM LÝ VĂN SÂM 32
2.1 Miền sơn cước 32
2.2 Làng quê đồng bằng 49
2.3 Không gian đô thị 55
Chương 3: THỜI GIAN VĂN HÓA NAM BỘ TRONG TÁC PHẨM LÝ VĂN SÂM 59
3.1 Hình tượng người lưu dân hòa nhập với văn hóa bản địa 59
3.2 Quá trình giao lưu với phương Tây 65
Chương 4: TÍNH CÁCH VĂN HÓA CON NGƯỜI NAM BỘ TRONG TÁC PHẨM LÝ VĂN SÂM 75
4.1 Con người anh hùng nghĩa hiệp 75
4.2 Con người nhân ái 82
KẾT LUẬN 94
TÀI LIỆU THAM KHẢO 98
PHỤ LỤC 107
Trang 62 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1 Trong giảng dạy và học tập hiện nay, việc tìm hiểu nhà văn, đánh giá tác phẩm về khía cạnh xã hội vẫn còn nặng về khía cạnh xã hội học chứ chưa quan tâm thỏa đáng đến vấn đề văn hóa - một khía cạnh cơ bản của tác phẩm Văn hóa và văn học có mối quan hệ mật thiết với nhau Nghiên cứu văn hóa đã trở thành một bộ môn khoa học có ý nghĩa, nghiên cứu tác phẩm văn học dưới góc nhìn văn hóa cũng là một trong những vấn đề mà nhà nghiên cứu sử dụng để làm hiểu rõ hơn về tác phẩm Tác phẩm văn học là công trình sáng tạo của nhà văn, luôn mang đậm dấu ấn văn hóa của thời đại nhà văn đang sống Cho nên nhìn văn học dưới góc độ văn hóa sẽ mang tính lịch sử cụ thể tránh được tình trạng chủ quan, phiến diện, áp đặt Ngược lại muốn nhìn một nền văn hóa ở thời điểm nào đó trong quá khứ ta có thể dựa vào tác phẩm văn học, chính vì thế mà nghiên cứu văn học dưới góc nhìn văn hóa là điều cần thiết
2 Từ lâu nói đến Nam Bộ, trái tim mỗi người dân Việt Nam lại ngân lên những tiếng yêu thương, tự hào bởi đó là vùng đất đặc biệt về nhiều phương diện của tổ quốc Trải qua hơn ba chục thập kỷ khai phá xây dựng, tộc người Việt cũng như các tộc người anh em đã tạo dựng cho vùng đất một nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc, giàu sắc thái phương Nam Nam Bộ là mảnh đất màu mỡ cho nhiều nhà văn, nhà thơ gieo mầm văn chương Chính những yếu tố riêng của văn hóa Nam Bộ là nét mới lạ độc đáo làm nên sức hấp dẫn để các nhà văn, nhà thơ không ngừng khám phá Nhiều người cầm bút viết về con người và vùng đất Nam Bộ như: Phú Đức, Phi Vân, Bình Nguyên Lộc, Sơn Nam, Lý Văn Sâm… Mỗi người có mỗi vẻ khác nhau đã tạo nên bức tranh đa dạng về vùng quê Nam Bộ
Trong thời kỳ chiến tranh, các nhà nghiên cứu không có điều kiện theo dõi hết tất cả các nhà văn và có lẽ chính vì thế có ít người biết đến tác phẩm của Lý Văn Sâm Những tác phẩm của ông cũng là sự thể hiện hành trình sáng tạo của một người nghệ sĩ cách mạng sáng tạo nghệ thuật trên tình
Trang 7yêu đất nước, tình yêu con người, tình yêu đôi lứa… Ông viết bằng trái tim yêu thương, đồng cảm, chia sẻ, xót xa đau đớn, mất mát chia li trong cuộc sống Lý Văn Sâm có sự nghiệp văn học vô cùng phong phú, khối lượng tác phẩm đồ sộ và có nhiều thể loại khác nhau như truyện ngắn, truyện dài, kịch, kí… ông được xem là nhà văn có những đóng góp nhất định cho nền văn học miền Nam lúc bấy giờ Văn xuôi có nội dung phong phú, có nhiều bài nghiên cứu về nội dung cũng như nghệ thuật trong tác phẩm của ông nhưng để hiểu
rõ hơn về sự nghiệp văn chương cũng như tác phẩm của Lý Văn Sâm nên nghiên cứu tác phẩm của ông dưới góc nhìn văn hóa Ta thường hay đứng ở góc nhìn xã hội học để nghiên cứu tác phẩm nên bỏ qua một khía cạnh vô cùng quan trọng ở góc nhìn văn hóa Một tác phẩm văn học bao giờ cũng là một thực thể văn hóa Bởi vậy chỉ có thể là đúng và đầy đủ tác phẩm khi biết đặt cái nôi văn hóa, nơi nó sinh thành Chính vì vậy mà ta nghiên cứu tác phẩm Lý Văn Sâm dưới góc nhìn văn hóa
Lý Văn Sâm không chỉ là một nhà văn tài hoa qua những trang truyện ngắn, kịch, ký mà còn là một nhà cách mạng Cả một đời làm chính trị, viết văn, nhà văn cứ mải miết đi, mải miết cống hiến, viết được bao nhiêu truyện ngắn, truyện dài ông cũng không nhớ hết Bởi lẽ ông viết là để cho người khác nhớ, cuộc đời và trang văn luôn chứa chan bao hoài niệm và khát vọng nhân văn Đọc tác phẩm của Lý Văn Sâm thiên nhiên phương Nam hiện ra với vẻ hoang sơ, kỳ vĩ, con người Nam bộ anh hùng nghĩa hiệp, nhân ái
Ngày 14/9/2000 Lý Văn Sâm đi vào cõi vĩnh hằng trở về với đất mẹ Trong nền văn học Việt Nam đã mất đi người nghệ sĩ tài hoa, đất nước mất đi người con ưu tú Lý Văn Sâm - một người cả đời chứng kiến bao đau thương của đất nước bị bom đạn giày xéo trong cuộc hai chiến tranh lớn của dân tộc
và cũng vui sướng hạnh phúc khi đất nước dần dần đổi mới Giữa cuộc sống hôm nay, chúng ta nhắc tới Lý Văn Sâm là nhắc tới một tấm lòng với văn chương nghệ thuật, tha thiết với đời và nặng lòng với cuộc sống Yêu mến những trang văn của Lý Văn Sâm, quý trọng tấm lòng của một con người
Trang 8trăn trở với lẽ phải lớn của cuộc đời Dù có nhiều người nghiên cứu về tác phẩm của Lý Văn Sâm nhưng chưa có công trình nghiên cứu cụ thể nào về
“Tác phẩm Lý Văn Sâm dưới góc nhìn văn hóa học”, đó là lí do chúng tôi
chọn đề tài này Hi vọng với luận văn này sẽ giúp chúng ta góp phần làm rõ thêm về những đóng góp của Lý Văn Sâm trong tiến trình Văn học Việt Nam hiện đại
đưa ra những nhận xét tinh tế: “Lý Văn Sâm nhận xét tỉ mỉ, diễn đạt sâu sắc,
ông rất thành công trong loại truyện tả chân mới (néo – réalisme)” [60:290]
Bên cạnh đó còn chỉ ra hạn chế: “Ở Lý Văn Sâm truyện dài không phân tách
tâm lí vững và truyền cảm như truyện ngắn, có lẽ rằng hơi truyện ngắn mới
là sở trường của ông” [60:298] và còn nhận định: “Truyện ngắn của ông đi sâu vào tâm lí hơn của Khanh (Vũ Anh Khanh) Đánh địch, ông đánh vào tâm não con người qua nhát cuốc tâm lí thật sâu, để rồi người đọc tác phẩm của ông thấy rõ hình tượng của con người khói lửa Nam Bộ trong giai đoạn ấy” [60:279] Thế Phong còn đánh giá về thiên nhiên Nam Bộ trong tác phẩm
của Lý Văn Sâm: “Khung cảnh thiên nhiên bàng bạc chất thơ như ánh trăng
hằng đêm vẫn tỏa sáng trên các nẻo đường thôn dã Còn núi rừng, vẫn uy nghi, hùng vĩ mà không xa lạ, và khác hơn, lại ấp ủ tâm tình người đời” [60:
373]
Năm 1969, Nguyễn Văn Sâm trong bài viết về nhà văn Lý Văn Sâm nhà nghiên cứu chủ yếu tìm hiểu về mặt tư tưởng yêu nước, tranh đấu trong sáng tác của Lý Văn Sâm Nguyễn Văn Sâm cũng có những nhận định về tác
phẩm của Lý Văn Sâm: “Nhìn chung giọng văn họ Lý nhẹ nhàng, bay bướm,
trôi chảy, gợi cảm và đi thẳng vào tâm tư người đọc nên ông thành công
Trang 9trong sự diễn đạt và là tác giả được yêu chuộng lúc ấy (1949 – 1950) sau Vũ Anh Khanh (…)” [60:301]
Năm 1985, tác giả Hoàng Phủ Ngọc Tường trong bài viết “Những
cuốn sách tôi đã đọc hồi còn bé”, nhà văn kể lại những kỷ niệm thời còn bé đọc những cuốn sách của Lý Văn Sâm rất say sưa, xem đó là quyển sách
quý: “Những quyển sách đó phù hợp với trình độ tiếp thu của tôi ở từng lứa
tuổi, đã nói với tôi một cách dịu dàng về lòng nhân hậu biết yêu thương con người, tình yêu lẽ phải dần dần đi đến tình cảm yêu quý đối với tổ quốc và nhân dân của mình” [60:337]
Năm 1986, Minh Vũ nêu lên được tâm sự gửi gắm của Lý Văn Sâm qua tác phẩm “Ngoài mưa lạnh”, tấm lòng của nhà văn giành cho quê hương đất nước trong những năm chiến tranh, thôi thúc lớp thanh niên lên đường
đánh giặc vì tiếng gọi của non sông đất nước: “Nó như một tiếng chuông
trong trẻo giữa trọc âm xô bồ, hỗn độn Đối với những người đang khắc khoải, trông đợi, hi vọng cái gì đẹp đẽ nhưng còn chưa thật rõ ràng, thì tiếng chuông ấy tiếp tục hướng con người tới một cái gì đó tốt đẹp hơn”[60:343]
giúp người đọc thêm yêu mến cuộc đời và trang văn của Lý Văn Sâm
Năm 1987, Thạch Phương nêu lên quan niệm về văn chương, cách viết truyện của Lý Văn Sâm, xem Lý Văn Sâm là nhà văn của quê hương, của tình yêu Thạch Phương đã chỉ ra đề tài, các giai đoạn sáng tác của Lý Văn
Sâm đặc biệt điều mà Thạch Phương muốn nhấn mạnh: “Có đặt những trang
viết giàu nhiệt tình về làng xóm, quê hương, về cuộc kháng chiến của dân tộc, cùng những trăn trở, băn khoăn của Lý Văn Sâm vào hoàn cảnh Sài Gòn
bị tạm chiếm – nơi mà những trò bán nước đang được sơn phết lòe loẹt bằng những từ ngữ “quốc gia”, “tự trị”, nơi mà bộ máy chém chiến tranh tâm lí cùng đám bồi bút đang vẩy bùn nhơ vào chính nghĩa của cuộc chiến đấu chống ngoại xâm của nhân dân ta thì mới thấy hết giá trị và ý nghĩa của nó”
[60: 335]
Trang 10Trong năm 1988, Sơn Nam đã khẳng định được tài năng và sự dũng cảm của Lý Văn Sâm, lần đầu tiên một người miền Nam viết truyện ngắn
được đăng trên Tiểu Thuyết thứ Bảy, ở Hà Nội, năm 1941: “Lý Văn Sâm đã
là nhà văn, với ý nghĩa trọn vẹn của hai tiếng ấy Anh giới thiệu cho ta những khoảnh khắc của cuộc sống mà bấy lâu nay chưa ai phát hiện rõ nét Không cường điệu, thừa tính thuyết phục” [60:362] và nhấn mạnh “Nếu không có Lý Văn Sâm văn học ta chịu một thiệt thòi lớn, không gì bù đắp nổi” [60:363]
Năm 1989, Nguyễn Văn Y đánh giá Lý Văn Sâm là “nhà văn từng một
thời được tuổi trẻ hết sức ngưỡng mộ vì về truyện ngắn, về loại truyện viết cho tuổi trẻ, Lý Văn Sâm quả là một cây bút có giá trị vào bậc nhất lúc bấy giờ” [60:367] Lý Văn Sâm đạt được như vậy vì: “Truyện của ông được độc giả đương thời mến chuộng, và ông nghiễm nhiên chiếm một chỗ ngồi đặc biệt trên văn đàn ở miền Nam giai đoạn 1945 – 1954” [60:367] và “Ngòi bút điêu luyện của ông đã ít nhiều khơi gợi trong lòng người tình yêu quê hương đất nước, nỗi xót xa ngậm ngùi cho thân phận con người trong nghịch cảnh”
[60:369]
Năm 1992 có nhiều bài viết về Lý Văn Sâm, tiêu biểu là Hoàng Văn Bổn, Xuân Sách, Khôi Vũ Cũng trong năm này, có thể nói công trình nghiên cứu của Bùi Quang Huy đã có cái nhìn khái quát khá rõ nét về cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của Lý Văn Sâm vì Bùi Quang Huy có một thời gian dài tiếp xúc với tác giả Nhà nghiên cứu cũng nhận định về Lý Văn
Sâm: “một người nghệ sĩ, ở đâu và bao giờ, ông vẫn giữ cốt cách, tâm hồn
đa cảm, phóng khoáng và giàu lòng nhân ái Lý Văn Sâm đã để lại những dấu ấn không thể phai mờ trên văn đàn Việt Nam và tồn tại dài lâu trong lòng người” [60:370] Giọng văn của Lý Văn Sâm bao giờ cũng là lời tâm
tình, thiết tha, nồng nàn về quê hương, đất nước, về lẽ sống còn của dân tộc Bùi Quang Huy đã đánh giá về cuộc đời, con người Lý Văn Sâm trong hành trình cách mạng, đồng thời có nhận xét xác đáng về văn chương, nghệ thuật
Trang 11của Lý Văn Sâm qua những tác phẩm toát lên vẻ đẹp tài năng nhân cách Chính vì vậy Lý Văn Sâm được đánh giá là “một trong hai cây bút xuất sắc nhất ở miền Nam” những năm 1945 – 1954 Nhà nghiên cứu Bùi Quang Huy
cũng đã nhận xét: “Khi viết truyện đường rừng, Lý Văn Sâm không hoàn toàn
hư cấu Đất và người phương Nam hồi ấy đã cung cấp cho nhà văn không ít những nguyên mẫu thật sự hấp dẫn Những nguyên mẫu ấy phù hợp với lí tưởng của nhà văn, hoặc chí ít cũng là gợi ý khi sáng tác người viết có dịp thể hiện ước mơ, khát vọng của mình” [60:221] Đồng thời nhà nghiên cứu
còn nói đến “Truyện đường rừng” của nhà văn: “Lý Văn Sâm gửi gắm những
gì anh quan sát ấp ủ, những nhân vật mang dáng dấp anh hùng thảo khấu nhưng hành động lại mang tính cách Nam Bộ trọng nghĩa khí, phảng phất tính huyền thoại dân dã nhưng cũng đậm nét hiện thực đời sống” [60:381]
Năm 1998, khi đọc tập truyện ngắn “Kòn Trô”, Lữ Quốc Văn nhận
xét: “Toàn tập gồm 9 truyện ngắn xoay quanh bối cảnh: Rừng miền núi Đông
Nam bộ Ngoài đỉnh cao – mây mù – thác nước… còn cá sấu hung dữ; voi rừng phá làng… có cung – nỏ và cả súng đạn… những huyền thoại ngoài rừng thẳm trải dài trong thời gian” [60:398]
Năm 1999, Huỳnh Văn Tới nêu quan điểm nghệ thuật của Lý Văn
Sâm: “Muốn làm văn phải hòa mình trong xã hội… Phải tạo cho mình và
người đọc mình những quan niệm mới về nhân sinh Ngồi không tưởng tượng viển vông làm sao có được những tác phẩm hợp với cảm quan của một xã hội đang rầm rộ tiến lên theo lịch sử” [60:418] và với “Lối văn ngắn gọn, mạch lạc và bình dị, ẩn ngôn đa ý, hóm hỉnh, mang phong cách Nam Bộ… dễ dàng chinh phục mọi người” [60:417]
Nhà văn Lý Lan thích văn chương Lý Văn Sâm ở “ngôn ngữ dân
miền Đông Nam Bộ, vừa chân chất hồn nhiên, mà cũng thực tế, hóm hỉnh”
[60:419] và còn mến nhân cách Lý Văn Sâm Lý Lan đã cảm nhận ở một
hướng khác về tác phẩm của ông: “Đọc “Sương gió biên thùy” không thể bỏ
quyển sách xuống mà quên đi vì lẽ nó đầy dẫy những chi tiết độc đáo thú vị”
Trang 12và “Đối với bạn đọc trẻ bây giờ, có lẽ những truyện ngắn của nhà văn Lý
Văn Sâm vừa cổ điển, vừa tân kỳ: Mới vì những điều lạ lùng, thú vị mà tác giả kể một cách hồn nhiên và cổ vì phảng phất không khí của thời hồng hoang dã sử Những câu truyện ấy làm người ta quên ngay cụ già tám mươi,
mà chỉ thấy một thanh niên đầy hào khí Đồng Nai với những trang viết “tình rất chân, thần rất phóng khoáng”” [60:421] Lý Lan không chỉ nói đến mặt
nội dung mà còn chú ý đến mặt nghệ thuật trong sáng tác của ông
Điều đặc biệt là trong năm này, nhà nghiên cứu Bùi Quang Huy đã ra mắt bạn đọc Lý Văn Sâm toàn tập, gồm 3 tập, tổng cộng 1613 trang in Bên cạnh đó Bùi Quang Huy còn giới thiệu và sưu tầm những bài viết, những bài nghiên cứu, bài phỏng vấn của nhiều tác giả khác tiêu biểu về Lý Văn Sâm
qua cuốn “Trang sách hồng mở giữa đời hoa” Bùi Quang Huy đã giành cả
tâm huyết của mình để tìm hiểu về cuộc đời và văn chương của nhà văn Lý Văn Sâm, cho ta thấy được chân dung của một nhà văn tài hoa, đã sống hết mình cống hiến cho cuộc đời Với công trình của Bùi Quang Huy, giúp bạn đọc hiểu thêm về cuộc đời và tác phẩm của nhà văn Lý Văn Sâm Nhà nghiên cứu đã giới thiệu cuộc đời của Lý Văn Sâm ở những thời điểm quan trọng, không hề hư cấu, cả cuộc đời của Lý Văn Sâm hiện lên thật sống động và chân thực Trong công trình nghiên cứu này, Bùi Quang Huy còn tập hợp nhiều bài viết của tác giả khác, giúp cho người đọc hiểu thêm về cuộc đời và
sự nghiệp sáng tác văn học của Lý Văn Sâm
Năm 2004, trong Từ điển Văn học (Bộ mới), Trần Hữu Tá có bài viết
về cuộc đời của Lý Văn Sâm, nêu một số tác phẩm của Lý Văn Sâm có giá trị như: các tập truyện ngắn “Kòn Trô”, “Ngoài mưa lạnh”, “Sương gió biên thùy” Trần Hữu Tá có những nhận định quý giá về tập “truyện đường
rừng” của Lý Văn Sâm: “Đề tài hấp dẫn nhất là truyện đường rừng Khác
với các nhà văn lãng mạn viết loại truyện này trước năm 1945, Lý Văn Sâm dựng lại những cảnh ông rất quen thuộc, những con người mà ông đã từng gắn bó” Về nghệ thuật: “Ông có giọng kể bình dị, duyên dáng, xúc động
Trang 13Cốt truyện thường giàu tính xung đột Ông chú ý lọc lựa chi tiết, rất đời thường nhưng li kỳ, lôi cuốn” [56:928] Ở cuối bài nghiên cứu này, Trần Hữu
Tá nhận định về Lý Văn Sâm: “là một trong những nhà văn miền Nam tiêu
biểu của nửa cuối thế kỷ XX, Lý Văn Sâm đã có những đóng góp xứng đáng cho nền văn học hiện đại của dân tộc” Chính bài viết này làm cho Bùi
Quang Huy và Hoàng Văn Bổn bớt trăn trở vì tên tuổi của nhà văn đã được ghi nhận trong công trình cấp quốc gia
Vì vậy kế thừa những người đi trước tạo cơ sở cho chúng tôi tìm hiểu
và giải quyết những vấn đề một cách toàn vẹn hơn, ngoài ra luận văn này muốn phát triển và đóng góp thêm những nội dung còn bỏ trống
3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đối tượng khảo sát của luận văn là 29 truyện ngắn, 6 truyện vừa và truyện dài, 8 ký, 3 kịch, 5 tạp văn (xem bảng phụ lục) Các tác phẩm có tính chất khảo cứu của Lý Văn Sâm đăng trên các báo cũng được phân tích để làm rõ hơn những nội dung khảo sát của luận văn Qua các tác phẩm của Lý Văn Sâm, luận văn sẽ đi vào những biểu hiện văn hóa, cũng như những đặc điểm tính cách con người mang bản sắc đặc thù của vùng Đông Nam Bộ
Sự nghiệp sáng tác của Lý Văn Sâm khá phong phú nhưng ở luận văn này đề tài chỉ tập trung những vấn đề tìm hiểu tác phẩm Lý Văn Sâm dưới góc nhìn văn hóa
Ngoài ra, chúng tôi còn tham khảo những sáng tác của ông để hiểu rõ hơn văn phong cũng như tư tưởng của Lý Văn Sâm Đồng thời cũng tìm hiểu những bài nghiên cứu về Lý Văn Sâm nhằm xác định hướng đi mới của mình, tránh sự trùng lặp Để tiện so sánh, chúng tôi cũng tham khảo những tác phẩm của các nhà văn khác viết về đề tài Nam Bộ
4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
4.1 Phương pháp hệ thống
Trang 14Để có cái nhìn cụ thể và logic về tác phẩm của Lý Văn Sâm dưới góc nhìn văn hóa, người viết sẽ đặt các nội dung theo hệ thống xuyên suốt trong các tác phẩm của Lý Văn Sâm, từ đó mà phân tích, khái quát, làm rõ vấn đề
4.2 Phương pháp so sánh
So sánh sáng tác của một số nhà văn theo hướng đồng đại cũng như lịch đại, nhất là các nhà văn viết về cùng đề tài Nam Bộ để làm nổi rõ những đặc điểm của nhà văn Lý Văn Sâm
4.3 Phương pháp thi pháp học
Sử dụng phương pháp này để rút ra một số đặc trưng trong thế giới nghệ thuật của văn xuôi Lý Văn Sâm, mặt khác làm bật lên những đặc điểm sáng tác của ông so với các nhà văn Nam bộ khác
4.4 Hướng tiếp cận văn học từ góc độ văn hóa
Vận dụng kiến thức của các ngành khoa học khác có liên quan (chẳng hạn như văn hóa học, xã hội học…) để nghiên cứu tác phẩm của Lý Văn Sâm
Đối chiếu với đời sống văn hóa và con người trong thực tế để thấy được những nét hiện thực, những đóng góp của Lý Văn Sâm đối với văn hóa và con người Nam Bộ
5 ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN
Qua luận văn này, chúng tôi nghiên cứu tác phẩm Lý Văn Sâm dưới góc nhìn văn hóa muốn đem đến một cái nhìn tổng thể toàn bộ sáng tác của
Lý Văn Sâm về mảnh đất Nam Bộ để góp phần làm rõ hơn những đóng góp của nhà văn Chúng ta thấy được tấm lòng của nhà văn luôn hướng về quê hương, đất nước và người dân với khát vọng tự do và đấu tranh cho độc lập
tự do Thông qua các sáng tác của Lý Văn Sâm cũng đã tái hiện văn hóa, con người Nam bộ trong cuộc sống sinh hoạt, lao động và chiến đấu, tính cách và tình cảm của họ
Hi vọng với luận văn này, góp thêm tiếng nói khẳng định giá trị của ngòi bút Lý Văn Sâm, góp thêm một cách nhìn tổng quát, hệ thống hơn về
Trang 15nhà văn Lý Văn Sâm Sự đóng góp của ông đối với văn học đô thị miền Nam giai đoạn 1945 – 1954 và đối với nền văn học nước nhà
6 KẾT CẤU LUẬN VĂN
Văn hóa là một hệ thống, chính vì vậy nghiên cứu tác phẩm của Lý Văn Sâm là xét trên không gian văn hóa, thời gian văn hóa và chủ thể văn hóa Ngoài phần dẫn nhập và kết luận, luận văn sẽ được chia thành bốn chương Chương một sẽ là tiền đề để nghiên cứu chương hai, chương ba và chương 4
Chương 1: Những vấn đề chung
Chương 2: Không gian văn hóa Nam Bộ trong tác phẩm Lý Văn Sâm Chương 3: Thời gian văn hóa Nam Bộ trong tác phẩm Lý Văn Sâm Chương 4: Tính cách văn hóa con người Nam Bộ trong tác phẩm Lý Văn Sâm
Trang 16Chương một NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 1.1 Hướng tiếp cận văn hóa học – văn học
Loài người từ khi xuất hiện cho đến nay, đã sáng tạo và để lại những giá trị vật chất và tinh thần vô cùng lớn lao Xét từ khía cạnh nào thì những giá trị vật chất và tinh thần ấy cũng là giá trị văn hóa Những giá trị văn hóa
ấy chứa đựng trong đó biết bao những tinh hoa tốt đẹp, những quy luật phát triển, những giá trị kỹ thuật, mĩ thuật, những tiếng nói chuẩn mực mà loài người cần phải nhận biết, làm cơ sở cho hoạt động sáng tạo phát triển văn hóa
Văn hóa là một phạm trù hết sức rộng lớn và phức tạp, là một khái niệm mở Hiện nay có đến hàng trăm định nghĩa khác nhau về văn hóa
Unessco đưa ra định nghĩa về văn hóa như sau: “Văn hóa là tổng thể sống
động các hoạt động sáng tạo trong quá khứ và hiện tại Qua các thế kỷ hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành nên một hệ thống các giá trị, các truyền thống và các thị hiếu – những yếu tố xác định tính riêng của từng dân tộc”[37:10]
Từ nhiều định nghĩa, chúng ta thấy văn hóa chính là bộ mặt tinh thần của xã hội, nó phản ánh mọi mặt đời sống của một dân tộc Muốn tìm hiểu bản sắc của một dân tộc thì không có cách nào khác hơn là phải đi khảo sát
văn hóa của dân tộc đó: “Bản sắc văn hóa của mỗi dân tộc bắt nguồn từ
trong sức sống, khả năng sinh tồn của dân tộc ấy Văn hóa là cái có tính chất nội sinh, vì vậy bản sắc văn hóa cũng là vẻ đẹp tự nhiên, là thuộc tính của mỗi nền văn hóa” [120:45]
Văn hóa là sản phẩm của một cộng đồng người được hình thành và phát triển suốt chiều dài lịch sử Trong ý nghĩa đó, mỗi dân tộc dù ở trình
độ văn minh nào thì cũng đều có nền văn hóa riêng của dân tộc mình
“Không có dân tộc nào lại không có văn hóa và cũng không có văn hóa nào lại không gắn liền với cuộc sống của một dân tộc cụ thể Dân tộc là cội
Trang 17nguồn vĩnh cửu, là mảnh đất vô biên của văn hóa Nền văn hóa ấy biểu hiện cụ thể trong đời sống vật chất cũng như tinh thần, trong cuộc sống lao động và chiến đấu của họ trước sức mạnh của tự nhiên và kẻ thù” [83:45]
Văn hóa là một khái niệm có thể nhìn từ nhiều góc độ khác nhau, do
đó mà có nhiều định nghĩa khác nhau Nhưng dù là nhìn từ góc độ nào đi nữa thì một định nghĩa về văn hóa cũng phải nêu được những quan niệm về giá trị đã hình thành trong lịch sử có liên quan với con người Các nhà nghiên cứu tiêu biểu ở mọi quốc gia đang phát triển đều thừa nhận văn hóa
là toản bộ những gì do con người tạo ra, do đó nó là thước đo của trình độ phát triển
Nói văn hóa học thực ra là phải nói đến con người Bất kỳ tác phẩm văn học nào cũng thể hiện con người và hoạt động của nó trong không gian
và thời gian xác định Con người trong văn học của mỗi thời kỳ lịch sử lại
có một diện mạo riêng chịu sự quy định của quan niệm về con người con người lí tưởng trong thời đại ấy Con người với tính cách là một thực thể văn hóa bao giờ cũng tồn tại trong ba mối quan hệ căn bản: quan hệ với môi trường tự nhiên, quan hệ với xã hội và quan hệ với chính bản thân mình
Văn học từ trong bản chất của nó là nhân học lấy con người làm đối tượng trung tâm để phản ánh và khắc họa Trong khi đó, bản chất của văn hóa là hướng đến tinh thần nhân bản, nhân văn và mục tiêu duy nhất là xây dựng con người và cả văn hóa lẫn văn học đều lấy chân – thiện – mỹ làm thước đo trình độ phát triển Nội hàm của văn hóa được mở rộng, các yếu tố văn hóa (cái hay, cái tốt, cái đẹp, cái thiện…) được đề cao như hiện nay, vì cần xác định cái bản chất của văn hóa là thước đo nhân bản trong con người
và khơi dậy trình độ phát triển của chính bản thân con người Nói cách khác, con người tạo ra văn hóa và văn hóa tác động trở lại, xây dựng con người theo định hướng của một nền văn hóa Tất cả những yêu cầu đó của văn hóa cũng là cái đích mà văn học cần vươn tới vì đối tượng của văn học
Trang 18là con người Đề cao cái chân, thiện, mĩ trong con người lại là bản chất của một nền văn học đã khẳng định tính nhân học của mình
Nói đến văn hóa là nói đến con người Con người trong vai trò chủ thể sáng tạo, con người ở đây là con người văn hóa chứ không đơn thuần là con người trong cơ thể sinh học Văn chương phản ánh con người, cuộc sống Đời sống vốn muôn màu, muôn vẻ, phát triển và biến đổi không ngừng nghỉ Con người trong cuộc sống hàng ngày, cùng với mối quan hệ kinh tế, chính trị, xã hội… cũng rất đa dạng, phong phú, phức tạp, đó chính
là nguồn tư liệu vô tận cho văn học khai thác, hình thành và sinh sôi Văn chương dầu có miêu tả bất cứ điều gì thì cũng suy cho cùng chỉ nói đến con người Con người là nhân vật trung tâm của văn học Từ cổ chí kim, những áng văn chương bất hủ hết thảy đều nói về con người, những thân phận với tâm tư tình cảm, những niềm vui, nỗi buồn, hạnh phúc và bất hạnh… mà họ gặp phải trong cuộc sống thường ngày
Văn học miêu tả con người, con người là trung tâm Con người trong văn học vừa có ý nghĩa cá nhân, vừa mang tính khái quát Miêu tả một nhân vật cụ thể nào đó nhưng tác phẩm văn học đồng thời cũng nói lên tình cảm, tâm tư, nguyện vọng, ước mơ… của cả một cộng đồng, một thế giới nhân vật cùng chung cảnh ngộ với nhân vật đó Văn học hướng tới con người, quan tâm đến số phận con người, miêu tả cuộc sống, cuộc đấu tranh không mệt mỏi của con người với tự nhiên, với xã hội và với chính bản thân con người trong tiến trình lịch sử phát triển của mình như nhà văn Mácxim Gorki từng khẳng định: “Văn học là nhân học”
Văn hóa và văn học có mối quan hệ mật thiết Văn học là nhân tố quan trọng bậc nhất, văn học của một dân tộc góp phần làm nên bản sắc văn hóa của dân tộc đó Những tác phẩm văn học có giá trị, được cộng đồng chấp nhận, trường tồn cùng thời gian thì đó cũng là sản phẩm văn hóa của dân tộc Một tác phẩm văn học độc đáo là một tác phẩm có tính chất dân tộc sâu sắc Như vậy văn hóa chính là cái nôi nuôi dưỡng cho văn học Về
Trang 19phần mình, văn học lại góp phần quan trọng trong việc tôn tạo, bổ sung những giá trị văn hóa làm cho đời sống văn hóa ngày càng phong phú hơn Văn học luôn có những tác động tích cực đến văn hóa Văn học như tấm gương phản chiếu đời sống xã hội và văn hóa dân tộc Các tác phẩm văn học có thể giúp người ta nhận thức rõ hơn về hiện thực cuộc sống, ý thức sâu sắc hơn về cộng đồng, về dân tộc, về truyền thống lịch sử Văn học cùng với các hình thức nghệ thuật khác cũng chính là nơi giữ gìn các giá trị văn hóa cổ xưa Nhà văn bao giờ cũng có công lớn trong việc xây dựng các giá trị văn hóa, định hướng những chuẩn mực thẩm mĩ tiên tiến để hình thành tính nhân văn trong phẩm chất con người
Văn học đồng thời cũng là một bộ phận của văn hóa, giữa văn học và văn hóa có mối liên hệ khắng khít Hơn thế nữa, đó là mối quan hệ biện chứng đa chiều… trong quá trình phát triển và bảo tồn Giáo sư Phan Ngọc
đã nhấn mạnh: “Văn hóa trước hết là văn học và đối với người Việt Nam
thì gần như chỉ là văn học” [78:37] Trong công trình nghiên cứu “Tìm về
bản sắc văn hóa Việt Nam”, tác giả Trần Ngọc Thêm đánh giá tầm quan
trọng của văn học đối với văn hóa: “Nhìn vào Tiếng Việt, có thể thấy đúng
là nó phản ánh rõ hơn đâu hết linh hồn, tính cách của con người Việt Nam
và những đặc trưng cơ bản của nền văn hóa Việt Nam” [107: 287]
Công trình “Bản sắc Việt Nam qua giao lưu văn học” của tác giả Nguyễn Bá Thành có sự quan tâm nhiều hơn đến mối quan hệ giữa văn học
và văn hóa: “văn học nghệ thuật là một phương tiện bảo tồn, lưu giữ và
phát huy bản sắc văn hóa dân tộc” [98:125] Qua đó tác giả muốn chứng
minh vai trò, vị trí quan trọng của văn học văn hóa: “Văn học nghệ thuật có
một vị trí quan trọng trong nền văn hóa dân tộc không chỉ vì tính chất đa năng của nó mà còn vì nội dung phong phú của nó Văn học nghệ thuật hay văn chương có một khả năng to lớn trong việc phản ánh đời sống xã hội, phản ánh hiện thực Có thể nói, văn học nghệ thuật là một phương tiện, tối
Trang 20ưu để lưu giữ, bảo tồn và phát triển các giá trị văn hóa của dân tộc…”
[98:127]
Trong công trình nghiên cứu của mình về “Mối quan hệ giữa văn hóa
và văn học”, Đỗ Thị Minh Thúy bàn về mối quan hệ giữa văn hóa và văn
hóa học: “Nói đến vị trí văn học trong văn hóa là nói đến hai mặt của một
vấn đề Thứ nhất, bản thân văn học trong văn hóa là một bộ phận của văn hóa, nó chịu sự chi phối mang tính quyết định của văn hóa Thứ hai là nói đến tính đại diện cho văn hóa của văn học, sự tác động tính cực trở lại của văn học đối với văn hóa” [111:100]
Mỗi một dân tộc dù ở trình độ văn minh nào thì cũng có trình độ văn hóa riêng của dân tộc mình Chính vì vậy ta có thể nói rằng khi nói đến văn hóa của một dân tộc, thường người ta hay nghĩ đến văn học của dân tộc đó
Vì giữa văn hóa và văn học luôn có mối quan hệ mật thiết với nhau Văn hóa là mảnh đất sản sinh, là môi trường cho văn học tồn tại và phát triển Bất cứ một tác phẩm văn học nào muốn được công chúng chấp nhận, dễ đi vào lòng người thì nó phải mang tính dân tộc, gần gũi với văn hóa dân tộc Văn học có chức năng phản ánh hiện thực sẽ tác động, bổ sung, tôn tạo những giá trị văn hóa
Có nhiều cách khác nhau để tiếp cận một tác phẩm văn học, một giai đoạn văn học, một tác giả văn học và tiếp cận ở góc độ văn hóa cũng
là một trong những điều cần thiết Bởi vì giữa văn hóa và văn học có mối
quan hệ qua lại như nhà nghiên cứu Trần Đình Sử đã viết: “Nội dung văn
hóa trong văn học mang tính chất toàn bộ Nó bao gồm mọi phương diện văn hóa cụ thể như chính trị, kinh tế, pháp luật, tôn giáo, thị hiếu, ẩm thực, trang phục, tập quán, cử chỉ… Đọc bất cứ tác phẩm văn học nào ta đều có thể bắt gặp vô vàn biểu hiện văn hóa trong đó” [92:8]
Văn hóa và văn học có mối quan hệ qua lại với nhau, muốn tìm hiểu nội dung của văn học Nam Bộ, hay văn hóa và con người Nam Bộ thì trong văn học Nam Bộ đã phản ánh bức tranh văn hóa Nam Bộ và ngược lại từ
Trang 21văn hóa Nam Bộ ta cũng thấy mối liên quan với con người Nam Bộ Từ đó đối chiếu với đời sống văn hóa và con người trong thực tế để thấy được những nét hiện thực, những đóng góp của Lý Văn Sâm đối với văn hóa và con người Nam Bộ Văn hóa Nam Bộ đã đem đến cho tác phẩm của Lý Văn Sâm có thêm nhiều màu sắc sinh động, hấp dẫn người đọc bởi tính kỳ
lạ độc đáo và đậm chất nguyên sơ, hoang dã, kỳ vĩ của xứ Đồng Nai Ngược lại, chính tác phẩm của Lý Văn Sâm đã làm hiện lên một cách khá hoàn chỉnh bức tranh văn hóa Nam Bộ đa dạng và đậm chất nhân văn để độc giả có thể hiểu và yêu mến thiên nhiên và cuộc sống con người nơi đây
Ở tác phẩm của Lý Văn Sâm ta sẽ thấy bức tranh thiên nhiên hiện ra với những đỉnh núi cao, những cánh rừng hùng vĩ đậm chất nguyên sơ, những thác nước dữ dội, mưa nắng thất thường… Con người Nam Bộ hiền lành, anh hùng nghĩa hiệp và có lòng nhân ái
Hiện nay, việc đánh giá tác phẩm, nhìn nhận thành công của nhà văn
ở dưới góc độ văn hóa còn khá mới mẻ Phần lớn sự nghiên cứu tác phẩm chỉ ở mức độ nêu giá trị hiện thực tác phẩm, hoặc là những bài nhận xét, những bài viết về kỉ niệm với nhà văn Lý Văn Sâm Vì vậy việc nghiên cứu tác phẩm ở góc độ mối quan hệ văn hóa – văn học có một ý nghĩa thực tiễn rất quan trọng Ở hướng tiếp cận này giúp ta hiểu thêm về các tác phẩm của
Lý Văn Sâm, những vẻ đẹp độc đáo về thiên nhiên, tính cách con người, văn hóa Nam Bộ nơi đây
Văn học là biểu hiện của văn hóa, trong các tác phẩm văn học ta sẽ tìm thấy được hình ảnh văn hóa hiện lên dưới ngòi bút được nhà văn tái hiện Đọc các tác phẩm của Bình Nguyên Lộc với văn hóa ẩm thực, tính hiếu khách, trọng lễ giáo của văn hóa truyền thống Nam Bộ hiện lên Lý Văn Sâm là nhà văn có vị trí quan trọng trong nền văn học Nam Bộ giai đoạn 1945 – 1954 Đó là cây bút gắn bó với mảnh đất thiên nhiên và con người Nam Bộ nói chung và Đông Nam Bộ nói riêng Cả cuộc đời mình sinh ra và chiến đấu, cống hiến hết mình cho quê hương Nam Bộ Lý Văn
Trang 22Sâm có một sự nghiệp văn học phong phú, từ truyện ngắn, truyện dài, ký, kịch, … từ thời kháng chiến chống Pháp cho đến chống Mỹ phần lớn viết
về văn hóa Nam Bộ Một số tác phẩm tiêu biểu về thiên nhiên Nam Bộ hoang sơ, hùng vĩ như: “Kòn Trô”, “Xác Mu Mi trên núi đá”, “Rồng bay trên đỉnh núi Gia Nhang”, “Thần Ngư Động”… Ông viết về con người Nam Bộ anh hùng, trọng nghĩa, nhân ái như Kòn Trô, Châu Phiên, Cả Tiễn, Răng Sa Mát, Răng Sa Bang, Phong… Những tác phẩm ấy đã thực sự là những sáng tác có giá trị gắn liền với tên tuổi của nhà văn Bên cạnh đó những trang ký của ông đã bộc lộ những cảm xúc, những hoài niệm về tình bạn, tình đồng chí giữa nhà văn với Trần Hữu Trang, Nguyễn Phương Danh, nhà báo - liệt sĩ Dương Tử Giang…
Việc tiếp cận văn hóa học – văn học rất có ý nghĩa, Trong cuốn “Lí
luận văn học”, nhà nghiên cứu Huỳnh Như Phương đã viết: “Tiếp cận văn
hóa học vừa giúp ta nhận thức sâu hơn tính cộng đồng loại hình của các hiện tượng văn học, vừa giúp ta xác định đặc trưng của từng loại hình trong cái bộn bề phức tạp của nó Tất nhiên nó là những bổ sung cần thiết chứ không thể thay thế cho những cách tiếp cận khác” [88:49] Vậy tiếp
cận văn hóa học – văn học là điều cần thiết và có ý nghĩa khi nghiên cứu tác phẩm Lý Văn Sâm dưới góc nhìn văn hóa
1.2 Lý Văn Sâm với văn hóa Nam Bộ
Nhà văn, nhà báo, nhà cách mạng Việt Nam – Lý Văn Sâm sinh ngày 17/2/1921 Ông sinh ra ở quê ngoại - ấp Ông Lình, làng Tân Thuận, quận Tân Uyên, tỉnh Biên Hòa (nay là tỉnh Đồng Nai), quê nội ở làng Bình Long, thuộc tổng Phước Vinh hạ, là một trong những làng cổ người Việt ở Đồng Nai Ông sinh ra và sống những năm tháng ấu thơ ở vùng quê nghèo của mảnh đất Tân Uyên – vùng đất gắn bó sâu đậm trong Lý Văn Sâm với rất nhiều kỷ niệm không thể nào quên được
Trang 23Cha của Lý Văn Sâm là một viên chức kiểm lâm tên Lý Văn Huề mất năm 1943 Mẹ là bà Đặng Thị Út có thời gian đi buôn bán nhỏ còn ở nhà nội trợ và mất năm 1942 Lý Văn Sâm là con đầu Thuở nhỏ, Lý Văn Sâm sống với cha mẹ ở miệt rừng, nhiều năm trong tuổi thanh niên cũng gắn bó với núi rừng Chính vì thế mà thiên nhiên, con người vùng đất đặc biệt ấy thường là nguồn cảm hứng trong sáng tác của Lý Văn Sâm Tuổi
thơ của nhà văn trải qua êm đềm ở quê ngoại, tâm hồn của nhà văn “đã
thấm sâu vào bóng núi, hình cây, tiếng chim, lời suối” [60:204] Lý Văn
Sâm lớn lên giữa vùng thiên nhiên rộng lớn, kỳ vĩ, phóng khoáng, bên những người thân yêu mộc mạc nên đã ảnh hưởng nhiều đến văn chương của ông
Sau khi cha mất, Lý Văn Sâm về vùng Mã Đà – Trị An để gánh vác
sự nghiệp cha để lại làm ông chủ lò than Ngày xưa, Mã Đà là nơi ở của các dân tộc người S’Tiêng và người Châu Mạ, nơi đây được xem là cõi
ma thiêng nước độc Trong tạp văn “Mã Đà sơn cước”, Lý Văn Sâm viết:
“Mã Đà vốn là quê hương lâu đời của những loài cây cổ thụ có tên và không tên, của những vạt rừng già mênh mông không vết chân người, của những con suối chảy xiết như suối Mã Đà, suối Mã Sô, suối Đạt Bo, suối
La Mách… Mã Đà còn là đất thánh của các giống dã thú lạ lẫm với con người như hà mã, Voi, Cọp, Beo…” [8:391] Chính cái tình yêu quê
hương miền rừng núi này đã ảnh hưởng sâu sắc đến tâm hồn nhà văn:
“Quanh tôi chỉ có rừng và thác, trước mặt tôi giấy bút là bạn Tự nhiên
tôi cần phải viết để quên buồn, chớ không phải để gởi đăng báo” [60:42]
Lý Văn Sâm trải qua những năm tháng ở núi rừng hoang sơ, thiên nhiên hoang dã để rồi từ chính thực tế ông đưa vào trong tác phẩm chứ không phải do ông tưởng tượng ra hay qua sách vở Ông sáng tác về cuộc sống của chính bản thân và của những người chung quanh mình, sống với dân tộc thiểu số, nghe tiếng kêu của các loài thú rừng và những hình ảnh
đó được đưa vào tác phẩm của ông: “Tôi bắt đầu quen ăn cơm Mọi, uống
Trang 24nước mạch và cùng các ủ rũ hát dưới ánh trăng rằm Đêm đêm tôi thức bên đèn giữa tiếng ngáy của Sơn Lâm say giấc và để cho lòng mình chảy thành mực trên giấy trắng” [60:206] Sáng tác bên âm thanh của rừng
núi: “Đêm nay mưa, gió đầy trời Thác đổ gấp, tiếng gió thổi ù ù trong
các hốc đá nghe như tiếng hú” Ông dành những trang viết về mảnh đất
Đồng Nai cũng như là về mảnh đất Nam Bộ
Khoảng năm 1940 – 1942, Lý Văn Sâm đã gặp, yêu và cưới một thiếu nữ dân tộc tên Tchô Phay, con gái của ông Cả, một người được trọng vọng nhất ở xã Túc Trưng, huyện Định Quán Lý Văn Sâm cưới Tchô Phay khi tuổi còn rất trẻ nhưng chỉ sống với nhau được ba năm vì do khói lửa chiến tranh hai người bặt tin nhau Từ mối tình đầu này, Lý Văn Sâm đã viết truyện ngắn “Vợ tôi, người dân tộc thiểu số” Ông có cái nhìn khác đối với người dân tộc thiểu số, ông không xa lánh hay kỳ thị họ Trước năm 1945, nhà văn Lý Văn Sâm đã nghỉ học, đi nhiều nơi, từ Biên Hòa đến miệt Đồng Nai thượng, từ Biên Hòa đến Huế, rồi Sài Gòn,
Mĩ Tho, Cần Thơ … nhà văn cũng đã làm nhiều nghề và sớm làm văn, viết báo Đi nhiều nơi, thực tế cuộc sống đã tôi luyện thêm cho ngòi bút của ông Khát vọng tự do, công bằng trong một xã hội nô lệ đã đưa Lý Văn Sâm đến với cách mạng một cách tự nhiên Trong những ngày tháng Tám sục sôi năm 1945, nhà văn ở trong số những người dân vùng lên cướp chính quyền rồi trở thành anh cán bộ tuyên truyền của tỉnh Biên Hòa – là đoàn viên thanh niên tiền phong của tỉnh đi cướp chính quyền Lý Văn Sâm đã được các chiến sĩ cộng sản như Hoàng Minh Châu, Nguyễn Văn Ký, Hồ Văn Đại, Nguyễn Văn Tàng, Nguyễn Văn Lành tuyên truyền cách mạng
Tháng 9/1945 thực dân Pháp gây hấn, nổ súng đánh chiếm Sài Gòn
- Gia Định Lý Văn Sâm được bố trí làm cán bộ tuyên truyền tỉnh Biên Hòa mà trực tiếp là ban tuyên truyền quận Châu Thành Năm 1946, Lý Văn Sâm bị thực dân Pháp bắt, quản thúc ở thị xã Bình Trước (nay là
Trang 25thành phố Biên Hòa) Từ năm 1947, Lý Văn Sâm hoạt động trong phong
trào văn nghệ, báo chí cách mạng tại Sài Gòn, làm báo Việt Bút, bạn bè
văn chương, báo chí của Lý Văn Sâm khá đông như: Dương Tử Giang, Hoàng Tấn, Vũ Tùng, Thẩm Thệ Hà… tất cả đều hăng hái viết lách và cùng phản kháng chế độ thực dân – tay sai, đòi độc lập thống nhất, dù phải ở nhờ, ở tạm, lo trốn tránh mật thám Trong hoàn cảnh khó khăn, các nhà văn, nhà báo càng yêu thương, đùm bọc nhau Từ năm 1947 đến năm
1950 là giai đoạn Lý Văn Sâm sáng tác sung sức nhất, ông viết nhiều tác phẩm có giá trị, gây tiếng vang trong lòng độc giả Sau đó Lý Văn Sâm bị chính quyền thực dân bắt giam tại khám lớn Sài Gòn Năm 1950 trước nguy cơ bị lộ, Lý Văn Sâm vào chiến khu rồi làm cán bộ công an Sài Gòn (cán bộ ban sưu tập 1, phân sở công an miền Đông Nam Bộ)
Năm 1954, sau hiệp định Giơ – ne –vơ, ông đã ở lại hoạt động công khai tại Sài Gòn, hoạt động báo chí và văn nghệ trong phong trào đấu tranh đòi dân sinh, dân chủ, tổng tuyển cử thống nhất đất nước Đến tháng 11/1955, Lý Văn Sâm bị chế độ Mỹ - Diệm bắt giam vào bốt Catinat và nhà lao Tân Hiệp Biên Hòa vì lí do viết truyện đả kích trực tiếp chính quyền Ngô Đình Diệm Truyện ngắn có tên “Chuông rung trên tháp đổ”
(đăng trên tập san Xuân dân tộc lấy bút danh là Bách Thảo Sương) Sơn
Nam thán phục Lý Văn Sâm, kể chỗ nào anh em cũng bàn luận: “Thằng cha Sâm gan thật!” Lý Văn Sâm đã bị mật vụ chính quyền Sài Gòn bắt, tra tấn dã man và giam tại trung tâm Huấn chính Biên Hòa, tức nhà lao Tân Hiệp
Ngày 2/12/1956 cùng với 500 chiến sĩ cộng sản và yêu nước, Lý Văn Sâm vượt ngục nổi dậy, phá khám Tân Hiệp, trở về với kháng chiến
Lý Văn Sâm đã thoát được đợt phá khám đó, riêng chiến sĩ cách mạng Dương Tử Giang thì hi sinh Lý Văn Sâm về căn cứ để đảm nhiệm chức
vụ chánh văn phòng bộ chỉ huy các lực lượng vũ trang
Trang 26Năm 1958 Lý Văn Sâm trở thành bộ đội của Tám Dên Dên (Nguyễn Hữu Xuyến - chỉ huy trưởng miền Đông) Những năm từ 1959 đến năm 1961, ông công tác tại Ban Tuyên huấn trung ương cục miền Nam, lần lượt đảm nhiệm các nhiệm vụ: Chính trị viên đoàn văn công
Giải Phóng, Trưởng đoàn văn công bộ đội, Chủ biên báo Chiến Thắng, Thư ký tòa soạn báo Văn nghệ Giải Phóng… Khi Hội Văn nghệ Giải
phóng miền Nam được thành lập, Lý Văn Sâm là Tổng thư ký đầu tiên của Hội Trước năm 1975, Lý Văn Sâm còn là ủy viên Đảng đoàn Bộ Văn hóa thông tin Chính phủ lâm thời cách mạng miền Nam, Vụ trưởng vụ nghệ thuật…
Sau năm 1975, Lý Văn Sâm giữ nhiều chức vụ quan trọng, là Ủy viên Ban chấp hành Hội Nhà văn, Phó Tổng thư ký Hội Liên hiệp Văn học – nghệ thuật Việt Nam, Ủy viên ban Trung Ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Tháng 4/1976 Đại biểu quốc hội khóa VI, Chủ tịch Hội Văn Nghệ Đồng Nai Lý Văn Sâm có dịp ra nước ngoài, thăm Hội Nhà văn Hungari Năm 1979 phụ trách đoàn trí thức Việt Nam thăm Liên Xô Năm
1980 tham gia đoàn đại biểu trao đổi văn hóa với Cộng Hòa Dân Chủ Đức Trở về nhà, nhà văn tiếp tục viết văn Trong cuộc sống thường ngày, với các bạn bè đồng nghiệp xung quanh, Lý Văn Sâm đối xử rất tốt với mọi người Lúc gặp khó khăn các anh em luôn chia sẻ cùng nhau, có những người nhà văn rất thân xem như anh em ruột thịt như Huỳnh Văn Nghệ, Trần Hữu Trang, Bình Nguyên Lộc… cùng nhau bàn bạc, thảo luận văn chương, động viên, khuyến khích nhau trong chiến đấu và cả trong cuộc sống Lý Văn Sâm có vốn hiểu biết sâu rộng, cảm quan nghệ thuật sắc bén, ham học hỏi, ham suy nghĩ Ông đã tiếp nhận được những giá trị tinh thần, tri thức văn hóa và kinh nghiệm của cuộc sống nên bộc lộ tài năng rất sớm Vốn văn hóa, vốn tri thức uyên bác, tấm lòng yêu mến thiết tha với mảnh đất quê hương đã trở thành nguồn sáng tạo trong văn chương của Lý Văn Sâm
Trang 27Lý Văn Sâm là người cởi mở, vui vẻ Bao nhiêu ưu tư, tâm can đều giãi bày hết trên trang văn, viết rồi lại quên Ai có hỏi về sáng tác của mình, nụ cười hóm hỉnh của nhà văn thay cho câu trả lời Trong tâm trí của Lý Văn Sâm đầy những kí ức về cuộc đời và văn chương Cuộc đời của Lý Văn Sâm là một tấm gương lao động sáng tạo không biết mệt mỏi
vì sự nghiệp văn học nghệ thuật cách mạng Cả cuộc đời của ông gắn bó với mảnh đất Nam Bộ, thuở nhỏ sống giữa thiên nhiên núi rừng Nam Bộ, trưởng thành lúc đất nước bị giặc xâm lược, ông vừa cầm bút, vừa chiến đấu để giành độc lập cho quê hương rất đỗi thương yêu của ông, cũng là đấu tranh giành độc lập cho đất nước
Sự nghiệp văn chương của Lý Văn Sâm bắt đầu từ những năm 40,
khi ông đăng các truyện ngắn trên tờ Tiểu thuyết thứ Bảy ở Hà Nội Đó là
những sáng tác đầu tay của Lý Văn Sâm và cũng là những truyện đường rừng đầu tiên của một nhà văn miền Nam Trong sự nghiệp văn chương của mình, ông đã dành rất nhiều trang để viết về mảnh đất còn hẻo lánh, hoang dã của vùng quê Đông Nam Bộ, với những huyền thoại huyền bí, những tập tục kỳ lạ, với những thôn làng quạnh hiu cằn cỗi ven rừng như một lòng hiến dâng, như trả nợ cho quê hương Tác phẩm văn chương của
Lý Văn Sâm gắn bó với văn hóa Nam Bộ
Lý Văn Sâm bắt đầu sự nghiệp sáng tác với truyện ngắn đầu tay
“Cây nhị trên sông Phố” được đăng trên tờ Tiểu thuyết thứ Bảy (Hà Nội)
năm 1941 Sau đó, ông còn viết một số truyện ngắn khác đăng trên các báo trong Nam, ngoài Bắc từ năm 1941 - 1945 Bốn năm hoạt động ở Sài Gòn (1947 - 1950) ông viết và cho xuất bản khá nhiều trong đó có sở
trường là truyện ngắn Các tập truyện ngắn Kòn Trô (1949), Ngoài mưa
lạnh (1949), Sương gió biên thùy (1949) Những truyện vừa và tiểu thuyết
chính Thù nhà nợ nước (1947), Mười lăm năm hận sử (1947), Sau dẫy
Trường Sơn (1949), Nắng bên kia làng (1949), Sóng vỗ bờ xa (1949)
Nhiều tác phẩm trước khi in thành sách đã lần lượt đăng trên các báo Việt
Trang 28Bút, Văn Hóa, Tiếng Chuông, Lẽ Sống… Ngoài những tác phẩm trên Lý
Văn Sâm còn có những tác phẩm viết trong thời kỳ chống Mỹ và sau ngày
đất nước thống nhất được tuyển chọn in trong các tập: Bến Xuân (tập truyện và ký, 1982), Những bức chân dung (truyện và ký, 1983), Ngàn
sau, sông Dịch (truyện và ký, 1988) Năm 2002, nhà nghiên cứu Bùi
Quang Huy giới thiệu cho bạn đọc Lý Văn Sâm toàn tập gồm 3 tập với 40
truyện ngắn, 11 truyện vừa và tiểu thuyết, 15 tập kí, 20 tạp văn và 3 bài thơ
Trên hành trình sáng tạo nghệ thuật, Lý Văn Sâm không phải ra công cố sức để người sau “tạc tượng đồng bia đá” cho mình, ông viết để giãi bày tâm tư tình cảm, nỗi lòng của bản thân Cuộc đời văn chương của
Lý Văn Sâm nằm trọn vẹn trên những nẻo đường dân tộc, nhà văn viết về quê hương nơi ông thường gọi bằng cái tên giản dị “quê nhau rún” Cầm bút viết những tác phẩm để đấu tranh, cầm súng trên mặt trận chiến đấu anh dũng ông đã khắc ghi chân thật hình ảnh quê hương, đất nước
Lý Văn Sâm có một sự nghiệp văn chương phong phú Tuy nhiên
sự nghiệp sáng tác làm nên tên tuổi của ông là những tác phẩm được viết
từ thập niên 40 đến cuối thập niên 50 Trong sự nghiệp văn chương của mình, Lý Văn Sâm viết nhiều đề tài khác nhau nhưng những tác phẩm ấy đều thể hiện văn hóa Nam Bộ nói chung và văn hóa Đông Nam Bộ nói riêng Người ta nói văn là nghiệp đời, Lý Văn Sâm đi nhiều nơi, được học
ở Sài Gòn, ở Huế và được gặp cụ Phan Bội Châu, được học thầy giáo Thanh Tịnh, được sự động viên và hướng dẫn nhiệt tình của Trần Hữu Trang, Vũ Bằng, hay những chiến sĩ cộng sản, những người này ảnh hưởng rất nhiều đến văn chương và cuộc đời làm cách mạng của nhà văn Ông viết về thiên nhiên hùng vĩ của rừng cây bạt ngàn, của những thác nước chảy ngày đêm Ông sống trong vùng kiềm tỏa của giặc, hoạt động cách mạng giữa đô thành Sài Gòn, những năm lặn lội trên vai mang
ba lô, súng trường trong suốt cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ
Trang 29vừa sáng tác và vừa chiến đấu Trong cuộc đời cũng như sáng tác văn chương, ông dùng ngòi bút của mình để chế giễu, vạch trần tội ác của bọn giặc, ca ngợi cuộc sống tự do, thanh bình và phóng khoáng Nhà văn bị bắt, bị đánh đập tra tấn nhưng ngòi bút tài hoa ấy viết rất sung sức, viết rất nhiều thể loại, nhưng có ba mảng đề tài chính như: mảng truyện phiêu lưu
- đường rừng, mảng viết về cuộc sống đô thị, mảng viết cuộc sống kháng chiến Ở mỗi mảng đề tài Lý Văn Sâm có nhiều sáng tạo và đạt được những thành công nhất định Nói về thành công của ông Lý Văn Sâm thường được nhắc đến với mảng truyện ngắn, rõ ràng truyện ngắn chính là
sở trường, là thế mạnh của ông
Từ những năm 30 của thế kỷ XX, trên văn đàn Việt Nam xuất hiện nhiều tác giả văn học mới viết truyện đường rừng Thể tài văn học mới, thu hút khá nhiều độc giả, và những cây bút nổi tiếng với thể tài ấy là: Thế Lữ, Lan Khai, Tchya Những năm 40, xuất hiện một tên tuổi mới là
Lý Văn Sâm Ông là cây bút đầu tiên đầu tiên và duy nhất ở miền Nam sáng tác với thể tài này bên cạnh hai cây bút đường rừng nổi tiếng là Thế
Lữ
Khi ở quê nhà, do ảnh hưởng của thiên nhiên núi rừng nơi đây, Lý Văn Sâm đã sáng tác tập truyện ngắn đầu tay “Kòn Trô” vào mùa hè năm
1941 và xuất hiện trên Tiểu thuyết Thứ Bảy số 416, ra ngày 6/6/1942 Tiếp
theo là truyện ngắn như “Thần Ngư Động”, “Xác Mu Mi trên núi đá”… Các truyện này được nhà xuất bản Tân Việt tập hợp, in thành tập mang tên “Kòn Trô” (năm 1949) Trong “Kòn Trô” có những chủ đề về tình yêu, tình phụ tử như “Răng Sa Mát”, về tình yêu Tổ Quốc Tác phẩm của
Lý Văn Sâm đa dạng về thể loại: “Kòn Trô”, “Mũi Tổ”, “Răng Sa Mát” là truyện ngắn, “Mười lăm năm hận sử” là truyện vừa, “Sau dẫy Trường Sơn” là tiểu thuyết Trong tập truyện đường rừng này hiện lên là sự hùng
vĩ của núi rừng, khung cảnh thiên nhiên Nam Bộ hoang sơ, của thác nước
dữ dội, những trận mưa kinh hoàng, hình ảnh của những người dân tộc
Trang 30thiểu số người Châu Mạ… Đó là hình ảnh của Nam Bộ trong thời kỳ người lưu dân mới khẩn hoang, có rất nhiều điều kỳ bí, huyền ảo có khi đậm chất hoang đường nhưng vẫn gợi cho người đọc về thực tại
Trong truyện đường rừng có nhiều yếu tố li kỳ như “Răng Sa Mát”,
“Xác Mu Mi trên núi đá”, “Mũi Tổ”… Lý Văn Sâm đã kể lại những câu chuyện truyền kỳ độc đáo của dân tộc thiểu số ở Đồng Nai cũng như những lưu dân người Việt đến Đồng Nai khẩn hoang lập ấp
Những con người trong truyện đường rừng mỗi người một số phận, hoàn cảnh khác nhau nhưng đều muốn xây dựng một xã hội tự do, công bằng, bình đẳng, họ trốn chốn phồn hoa đô thị Các nhân vật Kòn Trô, Châu Phiên, Răng Sa Bang… mang dáng dấp của vị anh hùng thảo khấu, hành động mang tính cách Hớn Minh, Vương Tử Trực anh hùng, ngay
thẳng, ngang tàng, trọng nghĩa Đọc truyện đường rừng của Lý Văn Sâm
như “Kòn Trô”, “Sương gió biên thùy”… ta thấy trong đó lấp lánh hình ảnh của nhân vật thời đại, nhân vật thích hành động vì tự do, công lý
Lý Văn Sâm viết lúc đất nước chiến tranh, tình hình chính trị ở Việt Nam thật sự rối ren, thực dân Pháp với bộ máy cai trị hà khắc, đội quân Phù Tang cũng nhảy vào nước ta Ở vùng nông thôn, ở miền sơn cước nơi
Lý Văn Sâm từng sống, cuộc sống của những người dân ngày càng khốn khó, bộ mặt thật của xã hội được phơi bày Chính vì thế, với ông có một
triết lí: “Không thể tồn tại như một thứ thảo mộc vô tri Sống phải có suy
nghĩ và hành động” [6:148] và ông viết để “quên buồn chứ không phải để đăng báo” Cuộc sống thực tại của xã hội là như thế nên Lý Văn Sâm
“tìm cách gửi gắm khát vọng, những đòi hỏi tự chính bản thân mình vào
văn chương Khát vọng ấy là tự do công lí, cuộc sống đầy tình nhân ái – những điều mà xã hội thời bấy giờ không thể có được Khát vọng công bằng, cuộc đời thanh sạch hơn” [60:9] Trong lời tựa tập “Kòn Trô” nhà
văn viết: “các bạn hãy quên những phút phồn hoa đô thị và cùng tôi đi
Trang 31sâu vào chốn thâm u cao cả cho lòng vợi bớt điều nhỏ nhen, phàm tục”[60:9]
Chính mảng truyện đường rừng cũng một phần giúp ông khẳng định vị trí trên văn đàn Việt Nam như nhà văn Lý Lan một lần nữa khẳng
định “Một Kòn Trô cũng đủ để ông thành danh suốt đời” [60:420]
Bên cạnh một số truyện đường rừng, Lý Văn Sâm còn sáng tác mảng truyện viết về cuộc sống đô thị như: “Tàn một mùa thơ”, “Qua bến lạnh”, “Thèm một ngọn đèn”, “Ngoài mưa lạnh”, “Ngàn sau, Sông Dịch”,
“Mưa sài Gòn”, ‘Lạc loài”, “Một chuyện oan cừu”… Nhà văn viết về cuộc sống của những nhân vật tiểu tư sản thành thị, về cảnh cơ cực của những người dân nghèo Nhân vật chính trong các tác phẩm là những người trí thức bế tắc, quanh quẩn vợ con, nợ cơm áo, ngột ngạt không thoát ra được cuộc sống chật hẹp, tăm tối mặc dù có “chí lớn” Đồng thời nhà văn cũng nêu lên được hoàn cảnh thực tế của những người viết văn viết báo bần hàn, vừa chịu sự kiểm duyệt của kẻ thù
Lý Văn Sâm không có cuộc lột xác sau năm 1945 như nhiều văn nghệ sĩ cùng thời Những nhân vật trong truyện đường rừng sau năm 1945 luôn đấu tranh cho tự do, chiến đấu để giữ lấy độc lập cho dân tộc Ở họ nghĩa vụ đối với tổ quốc, với sự sống là trên hết
Mảng truyện viết về cuộc sống đô thị, Lý Văn Sâm thường viết về cuộc sống hàng ngày của những người dân tiểu tư sản thành thị, những người dân nghèo dưới đáy xã hội như tác phẩm “Lạc loài”, “Mưa Sài Gòn”, “Rửa hờn”, ‘Ngoài mưa lạnh”, “Ngàn sau, sông Dịch”… Ông đã phơi bày cuộc sống của những trí thức quẩn quanh bên gia đình, vợ con,
cơm áo đời thường Bởi lẽ, như ông nói trong bài phỏng vấn: “Đây là môi
trường quen thuộc gồm gia đình, bạn bè và bà con các khu lao động nơi tôi thường đi lại hoặc ở trọ lâu ngày Và cả chính tôi nữa Kinh nghiệm rút ra của tôi là: viết về môi trường và những người mình thân thuộc là dễ hay, dễ thành công hơn cả” [60:490]
Trang 32Lý Văn Sâm khác với Phi Vân, ông viết về cuộc sống đô thị, về con người miền Đông Nam Bộ, còn Phi Vân viết về cuộc sống con người miền Tây Nam Bộ, phơi bày nỗi thống khổ của những người nông dân, miêu tả không khí ngột ngạt của đồng quê Nam Bộ vào những năm tháng dưới ách đô hộ của chế độ thực dân nửa phong kiến
Viết về những người trí thức ấy, Lý Văn Sâm bao giờ cũng thông cảm, chia sẻ với họ Những người trí thức thời ấy vừa sáng tác trong cảnh
vợ con đói khát, nheo nhóc, họ không chỉ khổ về vật chất mà còn khổ về tinh thần Chẳng hạn trong tác phẩm “Một cốt truyện mới”, nhân vật Mùi luôn quan niệm viết văn là phải những gì thanh cao, nhẹ nhàng nhưng mỗi lần anh định viết thì vợ lại la về cơm, áo, gạo, mắm Mùi đành gác viết, thở dài, nuốt cay đắng vào mình Bên cạnh đó có những truyện phê phán, lên án sự bạc nhược, hèn kém của xã hội đương thời, của người trí thức như “Tàn một đời thơ”, “Nắng bên kia làng”; có người dao động ham sống sợ chết như “Ngoài mưa lạnh”, có người chiến sĩ thì hi sinh, còn có người thì được ở nhà nằm trong chăn ấm đệm êm, ích kỷ; có người tự đánh mất khát vọng sáng tạo nghệ thuật cao quý chạy theo tiền tài vật chất như “Tàn một đời thơ”, có người vì nợ cơm nhà mà quên tình bạn cao quý như anh Trọng trong “Ngàn sau, sông Dịch”
Về mảng truyện kháng chiến, trong giai đoạn 1947 -1954, Lý Văn Sâm còn sáng tác nhiều về đề tài cuộc kháng chiến cứu nước của dân tộc Vào cuộc kháng chiến, trong cương vị của một người lính kiêm nhà văn, ông lăn lộn với thực tế chiến trường vừa cầm súng, vừa cầm bút trong tay ông cũng thực sự trở thành cây súng xung kích trên mặt trận văn hóa Càng đi nhiều nơi, Lý Văn Sâm càng yêu quê hương đất nước Việt Nam tươi đẹp anh hùng, yêu con người Việt Nam hiền hòa anh dũng Những tình cảm thiết tha, đầy trìu mến ấy đã quyện hòa trong các tác phẩm của ông và hàng loạt các tác phẩm có giá trị ra đời: “Sau dẫy Trường Sơn”,
Trang 33“Cỏ mọn hoa hèn”, “Ngày ra đi”, “Nắng bên kia làng”, “Đờn Chìn Kha – La”, “Kiếp này thôi đã lỡ”…
Lấy tình yêu quê hương đất nước, lấy bổn phận đối với tổ quốc làm thước đo phẩm giá là nền tảng quan niệm nghệ thuật về con người của Lý Văn Sâm ở những tác phẩm viết về cuộc kháng chiến của dân tộc Trong tác phẩm “Ngày ra đi” Lý Văn Sâm để cho nhân vật của mình lên tiếng:
“Sống, em là một vị anh hùng của Đất Nước Chết, em là một vị thần của
Sông, Núi Ngàn năm sau sử vàng của dân tộc sẽ còn mãi tên em” Nhà
văn sống cống hiến hết mình cho đất nước, hi sinh vì đất nước Bởi lẽ hai tiếng “Đất nước” thiêng liêng luôn hằn sâu trong tâm trí của mỗi con người, là những gì gần gũi nhất, thân thiết nhất của mỗi người Đó là nơi
ta oa oa cất tiếng khóc chào đời, là nơi đầu tiên ta nghe những lời ru ngọt ngào của bà, của mẹ vì nó mà biết bao thế hệ ông cha ta ngã xuống, dâng hiến giọt máu cuối cùng của thời trai trẻ Khi đất nước thanh bình họ nghe lòng mình rộn ràng với niềm vui của quê hương êm ả, khi đất nước bị giặc xâm lược thì họ đau xót cho đất nước hoang tàn, xơ xác Những yêu thương, căm thù như những đợt sóng trào dâng lên thành những cảm xúc mãnh liệt lên những trang văn viết về kháng chiến, con người kháng chiến của Lý Văn Sâm
Lý Văn Sâm viết để đề cao chính nghĩa, vạch trần tội ác của kẻ thù
Thạch Phương có nhận xét về văn chương của Lý Văn Sâm: “đề cao và ca
ngợi cuộc kháng chiến của nhân dân ta lúc bấy giờ, ở giữa vùng thành thị
có nghĩa là tuyên chiến công khai với chính quyền thực dân, vạch mặt chỉ tên kẻ xâm lược và đám tay sai” [60: 350] Trong những câu chuyện này,
Lý Văn Sâm đã phản ánh khí thế của những ngày khởi nghĩa giành chính quyền trong cách mạng tháng Tám ở miền Nam, những ngày Nam bộ kháng chiến đầy khói lửa, hy sinh mà cũng thật hào hùng Các truyện mà tác giả viết đều hướng về cuộc sống lúc bấy giờ, những tác phẩm như “Cỏ mọn hoa hèn”, “Mây trôi về bắc”, “Nắng bên kia làng”,… dù còn phải
Trang 34cách nói ẩn, nói lách để tránh sự kiểm duyệt của địch, đã phần nào xây dựng được hình ảnh làng quê kháng chiến, con người kháng chiến, biểu dương, ngợi ca những anh bộ đội, chị du kích, nữ cứu thương dũng cảm, tận tụy, những bà mẹ làng quê chăm sóc thương binh… Đặc biệt, trong mảng truyện này, đã có những truyện mà trong Lý Văn Sâm đã nêu cao lòng yêu nước, lên án những kẻ theo giặc, phản bội giống nòi
Trong truyện “Qua bến lạnh” kể lại những hành động của cô gái tên Tiệp – một cô lái đò xinh đẹp dũng cảm Đã hơn năm năm chờ đợi và yêu thương một người con trai đã đi khỏi làng để tìm lấy công danh nhưng thực tế phũ phàng, ngày mà anh chàng trở về cô mới biết thứ công danh
mà người yêu theo đuổi là đi theo giặc, đi “ngược dòng lí tưởng” Cô đã tìm cách lật úp chiếc đò xuống nước, giết khoảng hơn mười tên lính giặc, trong đó có người mà cô đã từng yêu thương và cũng là người đã phản bội
với quê hương: “Dòng sông quê hương vào hai buổi lớn, ròng Nhưng
không ai còn nghe tiếng hát thanh tao của cô lái đò tên là Tiệp Cô đã kết thúc đời mình dưới đáy nước cùng với gã tình nhân đi ngược dòng lí tưởng” [6:463]
Sơn Nam dành cho Lý Văn Sâm những lời thật trân trọng Lý Văn Sâm viết được những tác phẩm đạt những thành tựu đáng kể như vậy là
nhờ có “ngọn đèn” soi sáng Ngọn đèn đó là “hình ảnh quê hương tươi
đẹp của anh bên bờ sông Đồng Nai bị bom đạn tàn phá Hình ảnh những người quê hương sắt son, chung thủy với kháng chiến; những người trong vùng tạm chiếm luôn luôn hướng theo người đi, trông chờ, mong mỏi, đinh ninh ngày gặp lại…” [60:366]
Qua mảng truyện này, hình ảnh một cuộc chiến tranh nhân dân thời
kỳ đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ ở Nam Bộ đã được phản ánh trong tác phẩm Lý Văn Sâm, giúp cho người dân thành thị hiểu đúng về chính nghĩa của cuộc kháng chiến Đó chính là những đóng góp đáng trân trọng của Lý Văn Sâm
Trang 35Lý Văn Sâm sáng tác xoay quanh những đề tài về tình yêu lứa đôi, tình yêu quê hương đất nước, tình cảm gia đình bạn bè Trong truyện
“Nước lên”, nhà văn đã nói: “Gia đình là nền tảng của dân tộc Thiếu tình
cảm gia đình khó mà có một tình cảm dân tộc đúng đắn Nói chi tới tình cảm nhân loại Ai cũng có tình cảm gia đình Cao quý là ở chỗ tình cảm
đó biết hi sinh đúng lúc: hi sinh tình cảm nhất thời để xây dựng tình cảm vĩnh viễn” [7:464] Ông viết nhiều những câu chuyện tình yêu, những câu
chuyện tình lãng mạn Chuyện tình yêu trên bối cảnh của cuộc chiến đấu,
đa số là những chuyện tình buồn của người chiến sĩ chiến bại, họ yêu thương nhau tha thiết, dù trong tình cảnh bi thương nhưng họ vẫn chờ đợi nhau như Phong và Rosée trong “Sương gió biên thùy”, Nga và Thuần trong “Cỏ mọn hoa hèn”… Họ hi sinh cho người yêu, chấp nhận cái chết
và hiểm nguy để bảo vệ người yêu, cho người yêu hạnh phúc Tình yêu của họ thủy chung, sự thông cảm, sẻ chia, như chị Nhâm trong “Chớp bể mưa nguồn”, chờ đợi anh Nhâm đang bị đày ở ngoài đảo xa, chờ đợi mỏi mòn nhưng tin anh vẫn biệt tăm Anh Nhâm viết thư về cho mẹ và vợ ở
quê xa:
“Con bây giờ chỉ sốn bằng những bức thư của má, má biểu vợ con
đi lấy chồng đi Đợi làm gì nữa Biết bao giờ con mới về với nó! Hai mươi năm khổ sai và hai mươi năm biệt xứ Cả một tràng giang ngày tháng! ”
và “Chị khóc vì anh Nhâm không hiểu lòng chị Chị rất bằng lòng “ở
vậy” suốt đời Chị rất lấy làm sung sướng được làm vợ của anh Nhâm Anh Nhâm đâu có xa chị! Luôn luôn, lúc nào trong tâm hồn chị cũng có hình ảnh của anh Nhâm!” [6:356]
Đọc tác phẩm của Lý Văn Sâm, nhà văn còn đưa ra những triết lí để
khuyên răn người đời:“Oan trái cứ buộc nhau hoài, biết đến bao giờ mới
hết! Sống là phải khoan dung, cởi mở, tìm hiểu lẫn nhau Người ta không thể giết nhau mãi mà nhân loại tiến bộ được”[7:173]
Trang 36Sơn Nam chuyên viết về miền Tây, Bình Nguyên Lộc, Lý Văn Sâm chuyên viết về miền Đông Nam Bộ, tất cả đều thể hiện niềm yêu mến quê hương và con người ở vùng đất họ sinh ra Đọc Phi Vân và Sơn Nam hiện lên khung cảnh sông ngòi mênh mông biển nước của miền Hậu Giang Đọc Bình Nguyên Lộc ta đang như có cảm giác như đang sống ở trong khu rừng xa xăm, heo hút, rải rác những mái nhà tranh Đọc tác phẩm của
Lý Văn Sâm ta như lạc vào những tập tục, phong tục huyền bí, cuộc sống kháng chiến và những trăn trở, suy nghĩ, bế tắc của tầng lớp trí thức Cuộc đấu tranh giữa con người và thiên nhiên thật gian khó, cuộc đấu tranh chống giặc ngoại xâm càng quyết liệt Các nhà văn ấy đều xây nên bức tranh đồng quê Nam bộ với đầy đủ sắc thái đa dạng từ phong tục tập quán, sinh hoạt cho đến tình cảm, tính cách văn hóa con người trên vùng đất ấy
Lý Văn Sâm có cái nhìn rộng khắp, ông quan tâm tất cả mọi vấn đề trong đời sống, đề cập đến mọi giai tầng trong xã hội lúc bấy giờ Truyện ngắn và truyện dài có nhiều tình tiết hấp dẫn, lôi cuốn người đọc, trong tác phẩm của Lý Văn Sâm có nhiều tình tiết, văn linh động, hóm hỉnh Những trang văn của ông gắn liền với văn hóa Nam Bộ, do đó chúng tôi khảo sát trong ba chương: Không gian văn hóa Nam Bộ trong tác phẩm
Lý Văn Sâm, Thời gian văn hóa Nam Bộ trong tác phẩm Lý Văn Sâm và Tính cách văn hóa con người Nam Bộ trong tác phẩm Lý Văn Sâm
Trang 37
CHƯƠNG 2 KHÔNG GIAN VĂN HÓA NAM BỘ TRONG TÁC PHẨM LÝ
VĂN SÂM
Mảnh đất Nam Bộ là nguồn cảm hứng cho nhiều nhà văn, có rất nhiều nhà văn viết về thiên nhiên và con người Nam Bộ Miền Tây Nam Bộ có Phi Vân, Sơn Nam…, miền Đông Nam Bộ có Lý Văn Sâm, Bình Nguyên Lộc… Đồng bằng Nam Bộ thường được các tác giả thể hiện với nét chủ yếu là môi trường sông nước Miền đất Đông Nam Bộ hiện lên qua tác phẩm của Lý Văn Sâm phong phú đa dạng: miền rừng núi, làng quê đồng bằng và cả những đô thị hình thành dưới ảnh hưởng của phương Tây
2.1 Miền sơn cước
Nước Việt Nam nằm trong khí hậu nhiệt đới gió mùa, thiên nhiên
vô cùng đa dạng và phong phú Ở miền Bắc có sự phân bố không đồng đều của nhiều dạng địa hình: vùng núi, trung du, đồng bằng với sự phân mùa rõ rệt: xuân, hạ, thu, đông, thiên nhiên đa sắc màu với những cánh rừng mơ trắng xóa, những mùa hoa ban trắng ở Tây Bắc Miền Nam có hai mùa: mùa mưa và mùa khô rõ rệt, quanh năm xanh ngắt một màu, cây trái sum suê và trăm hoa đua nở Thiên nhiên Nam Bộ phong phú và đa dạng như thế nên ảnh hưởng đến đặc điểm sinh hoạt của con người nơi đây Các nhà văn Nam
Bộ đã tái hiện lại thiên nhiên Nam Bộ trong những sáng tác của mình
Thiên nhiên luôn đóng vai trò rất quan trọng trong đời sống con người Sơn Nam trải lòng mình với mảnh đất miền Tây Nam Bộ với dòng Hậu Giang, còn Phi Vân lại tái hiện khung cảnh nông thôn và con người thôn quê chân chất, thủy chung của “Đồng quê” Nam Bộ Còn Lý Văn Sâm với những chuyện đường rừng của chốn “Thâm u và cao cả” với những ngọn núi cao, thác nước hùng vĩ Mỗi người một phong cách, một đặc trưng mà khung cảnh thiên nhiên Nam Bộ thể hiện khác nhau nhưng đều được viết bởi một tình yêu tha thiết, gắn bó sâu nặng với quê hương Hầu hết tác phẩm của các
Trang 38nhà văn Nam Bộ dựng lại lịch sử hình thành và phát triển của vùng đất Nam
Bộ là phản ánh quá trình đấu tranh của con người với thiên nhiên trong những năm đầu khai phá vùng đất này Bức tranh thiên nhiên ấy hiện lên với
vẻ hoang sơ, hùng vĩ, nhưng cũng lắm khắc nghiệt, với những tập tục huyền
bí còn đọng lại, những câu chuyện đậm chất hoang đường, nhưng bên cạnh
đó thiên nhiên cùng ban tặng những sản vật vô cùng phong phú Bình Nguyên Lộc đã dựng lên cuộc sống nghèo khó của lưu dân trong buổi đầu mới đến mảnh đất này, là cuộc đấu tranh sinh tồn đầy gian nan và khắc nghiệt trước thiên nhiên, là sức vươn dậy của con người trong hoàn cảnh ấy,
là bức tranh đặc trưng của văn hóa Nam bộ Còn với Sơn Nam khám phá ở chiều sâu văn hóa với những thổ sản, tập tục sinh hoạt Ở Lý Văn Sâm bức tranh ấy cũng được tái hiện qua lăng kính văn chương, những năm tháng cuộc đời ông sinh ra, sống và cả chiến đấu cho quê hương thân yêu
Lúc người dân mới vào Nam, thiên nhiên huyền bí đã phản ánh vào tâm thức của mỗi con người Đó là một vùng đất hoang vu, hiểm trở, chưa dấu chân người khai phá, rừng là của muông thú, thiên nhiên huyền bí, vẫn
nguyên vẹn màu trinh, không giống với nơi tổ tiên họ thường cư trú: “Đó là
buổi loài người còn sống chung với muông thú và ngơ ngác như nhau, lấy mắt nhìn năm, tháng trôi qua… Này là núi non của muôn đời tăm tối… này
là cây cao, bóng cả của rừng núi âm u Núi chưa có người đặt bước thám du, rừng cây chưa có dấu vết của lưỡi búa tiều phu hủy hoại Vẻ thiên nhiên còn nguyên vẹn màu trinh” [6:243] Con người cũng còn sống lạc hậu: “Ở một chốn sơn lâm vô danh kia có một giống Mọi man di đang giết lẫn nhau để giành sự sống, cấu xé nhau, ăn thịt lẫn nhau”[6:243] Núi rừng thâm u và
cao cả, xa xôi cách biệt với không gian của thế tục, của xã hội
Cái hoang sơ và hùng vĩ của Nam Bộ còn là những hang động sâu, tối và huyền bí mà ngay cả những người thổ dân sống ở đấy cũng không dám ghé vào, chỉ cái khí lạnh trong hang sâu thôi cũng làm cho da thịt tê cóng như ngâm trong tuyết lạnh đến cực độ:
Trang 39“Thạch động là một cái hang đá, nằm chênh vênh trên nửa chừng vách núi, cạnh bờ hồ Hang sâu như giếng thẳm hình như do thiên tạo từ ngàn đời trước Chẳng ai rõ lịch sử cái hang núi ấy Miền này là một miền hoang vu Thổ dân có đi qua chớ không hề ghé lại nên ít người biết hang ấy
là hang gì
Về mùa nắng mặt đá quang sạch Từ đáy hang sâu, một chất khói
ẩm ướt đục như sương, từ từ dâng lên cao và tỏa vào khói sương Đưa bàn tay hơ vào khói trong vài phút, khí lạnh tự chất khói quái dị ấy sẽ làm cho da thịt tê cóng như ngâm vào tuyết lạnh đến cực độ” [7:156]
Dưới những chân núi là động sâu thăm thẳm, chướng khí mù sương, rừng cao, bụi rậm, mây mù tạo nên một thế giới huyền ảo:
“Dưới chân núi Beo có một cái động sâu hoắm, tối om om, gai góc mọc chằng chịt như mắc võng Chung quanh núi, mù mù rừng cao, bụi rậm Tranh, đế chen chúc cùng các loài thảm mộc vô danh mọc ngang tàng khắp lối làm cho núi Beo trở thành một trái núi linh thiêng, chứa chấp nhiều mẩu chuyện bí mật hoang đường
Trồm – Kuang – Bra là một thế giới riêng biệt, u linh và huyền ảo! Sáng nào cũng vậy, trong khi cặn đêm lóng xuống, khói núi và sương mù ùn ùn dâng lên thì hàng ngàn con công “tố hộ’ vang rừng Chúng xòe những bộ quạt rất đẹp và đi, đứng, múa may như một bầy tiên nữ đang thi thố những vũ điệu chào mừng lê minh” [7:19 -20]
Chất hoang sơ ấy ẩn náu trong những thác nước với những kho báu đầy huyền ảo, nước chảy xiết qua những gộp đá to chuyển động vang trời Giữa những con sông là một khu rừng hoang vu không dấu chân người đặt đến:
“Sức nước đang chảy bị dội lại, liền tràn qua những gộp đá to, chuyển động vang trời đất Và xa xa, về phía thượng lưu Sông Bé, có một hòn đá khổng lồ mọc vượt lên khỏi mặt nước, trông giống như hình một con chim két
Trang 40Ở khoảng giữa hai con sông ấy, là một khu rừng hoang vu, cỏ cây dày mịt, tự nghìn xưa không một vết chân người” [6:231]
Những thác nước ào ào đổ xuống vực sâu, âm thanh của mưa rừng
và gió rừng cũng thật ghê rợn, hung dữ như tiếng của quái vật: “Dưới ánh
bình minh lộng lẫy, hàng ngàn tấn nước từ ngọn sông cao đổ xuống vực sâu thành những tiếng động kinh hồn [6:222] và “Gió lạnh thổi từ ngoài bể vào làm đổ những cổ thụ âm u Mưa và sóng gào lên như những con quái vật”
[6:257] Đứng nhìn thác nước từ xa thấy thác nước thật dữ dội nhưng cũng
thật đẹp nhờ được điểm xuyết những bông hoa chai: “Xa xa bên kia bờ thác
là một vùng rừng chai, những tàn cây điểm bông trắng li ti như hạt sương Đứng trên bờ nhìn xuống dòng thác đổ chóng mặt Nước ào ào qua những gộp đá cuốn băng đi tất cả Chỉ có những cây nhong bám rễ chặt vào đá là còn sức đứng vững được trước những dòng nước xoáy” [8:328]
Các tác phẩm của Lý Văn Sâm thể hiện rất rõ văn hóa và con người Nam Bộ với đỉnh non cao, những thác nước dữ dội nhưng cũng rất đỗi trữ tình Thiên nhiên hùng vĩ như chính con người nơi đây đã tạo cho họ tính cách anh hùng, nghĩa hiệp và thích sống tự do, phóng khoáng Thiên nhiên trong tác phẩm của Lý Văn Sâm đầy chất hoang sơ nhưng cũng tràn đầy sức sống
Trong đời sống văn hóa dân gian Nam Bộ, thiên nhiên đã trở thành hiện tượng thân thuộc và rất gần gũi với con người tạo nên một đặc chất phương Nam không lẫn vào đâu được Thiên nhiên trong tác phẩm của Lý Văn Sâm chứa đựng bao nhiêu chuyện huyền bí vừa làm cho ta ngạc nhiên, khiếp sợ vừa lại thu hút muốn thâm nhập, khám phá như anh chàng Lương Điền trong “Thần Ngư Động” đi tìm kho báu ở thác nước
Những vạt rừng già mênh mông không vết chân người, là đất của các loại động vật voi, khỉ, gấu, hoặc là những loài bò sát như trăn, rắn…:
“Mã Đà vốn là quê hương lâu đời của những loài cổ thụ có tên và không tên, của những vạt rừng già mênh mông không vết chân người, của