1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Địa danh ở ninh thuận và bình thuận dưới góc nhìn văn hóa học

203 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 203
Dung lượng 1,74 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với những đặc điểm phong phú về địa hình vừa có núi đồi, đồng bằng và biển đảo, NTBT còn có truyền thống lịch sử lâu đời, từ cư dân hăm nối tiếp cư dân Việt, đ tạo nên một diện mạo văn h

Trang 1



N N TH TH TH

Đ A DANH Ở NINH THUẬN VÀ BÌNH THUẬN

DƯỚI ÓC NHÌN VĂN HÓA HỌC

LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HÓA HỌC

THÀNH H H CH INH - 2018

Trang 2



N N TH TH TH

Đ A DANH Ở NINH THUẬN VÀ BÌNH THUẬN

DƯỚI ÓC NHÌN VĂN HÓA HỌC

Chuyên ngành: Văn hóa học

Mã số: 62317001

LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HÓA HỌC

N ƯỜI HƯỚN DẪN KHOA HỌC:

D1: S LÝ Ù Ế D2: S Đ Ị D

Trang 3

Nghiên cứu sinh

Nguyễn Thị Thu Thủy

Trang 4

Danh mục bảng biểu

DẪN NHẬP 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu 2

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 11

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 12

5 Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu 13

6 hương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu 13

7 Những đóng góp mới của luận án 15

8 Bố cục luận án 16

CHƯƠN 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TI N 18

1.1 ơ sở lý luận 18

1.1.1 Khung lý thuyết 18

1.1.2 Khung khái niệm 28

1.1.3 Quan hệ giữa địa danh và văn hóa 35

1.2 ơ sở thực tiễn 39

1.2.1 Không gian văn hoá vùng đất Ninh Thuận và Bình Thuận 39

1.2.2 Lịch sử văn hóa vùng đất Ninh Thuận và Bình Thuận 40

1.2.3 Chủ thể văn hóa vùng đất Ninh Thuận và Bình Thuận 44

1.2.4 Kết quả thu thập và phân loại địa danh ở Ninh Thuận và Bình Thuận 48

1.3 Tiểu kết 50

CHƯƠN 2 Đ A DANH HẢN ÁNH KHÔN IAN VĂN HÓA NINH TH ẬN VÀ BÌNH TH ẬN 53

Trang 5

2.1.2 Địa vật, địa mạo 58

2.1.3 Thổ nhưỡng 60

2.2 Địa danh phản ánh hhí hậu, thuỷ văn 61

2.3 Địa danh phản ánh động thực vật 62

2.3.1 Động vật 62

2.3.2 Thực vật 64

2.4 Địa danh phản ánh đặc trưng kép của địa hình và động thực vật 70

2.4.1 Địa hình và động vật 71

2.4.2 Địa hình và thực vật 71

2.5 Địa danh phản ánh cách thức phân lập không gian văn hóa 73

2.5.1 Hình dạng và kích thước 73

2.5.2 Màu sắc 74

2.5.3 Vị trí và phương hướng 76

2.5.4 Số lượng 77

2.6 Tiểu kết 79

CHƯƠN 3 Đ A DANH PHẢN ÁNH L CH SỬ VĂN HÓA NINH TH ẬN VÀ BÌNH THUẬN 81

3.1 Địa danh phản ánh các yếu tố lịch sử văn hóa 81

3.1.1 Sự kiện lịch sử 81

3.1.2 hức danh trong lịch sử 84

3.1.3 ổ chức nghề nghiệp trong lịch sử 86

3.1.4 Sự thay đổi chính quyền 89

3.1.5 Sự di dân 97

Trang 6

3.2.1 Biểu hiện của giao lưu tiếp xúc ngôn ngữ 102

3.2.2 Biểu hiện đa tồn 108

3.3 iểu kết 110

CHƯƠN 4 Đ A DANH HẢN ÁNH CH THỂ VĂN HÓA NINH TH ẬN VÀ BÌNH TH ẬN 112

4.1 Địa danh phản ánh thành phần tộc người và giai tầng xã hội 112

4.1.1 Các tộc người 112

4.1.2 Các giai tầng xã hội 113

4.2 Địa danh phản ánh nhân danh 115

4.2.1 Tên các vị vua 116

4.2.2 Tên danh nhân 118

4.2.3 ên người bình dân 120

4.3 Địa danh phản ánh tâm lý dân cư 124

4.3.1 Khát vọng của con người 124

4.3.2 Ý chí của con người 130

4.3.3 Sự tưởng nhớ quê hương bản quán 131

4.3.4 Sở thích dùng ký hiệu và con số 134

4.4 Địa danh phản ánh tính cách dân cư 135

4.5 Tiểu kết 137

CHƯƠN 5 Đ A DANH PHẢN ÁNH HOẠT ĐỘN VĂN HÓA Ở NINH THUẬN VÀ BÌNH THUẬN 139

5.1 Địa danh phản ánh văn hóa mưu sinh 139

5.1.1 Kinh tế biển 140

Trang 7

5.2 Địa danh phản ánh văn hóa quân sự 150

5.3 Địa danh phản ánh văn hóa tôn giáo 153

5.3.1 Các tôn giáo nguyên thuỷ và tôn giáo dân tộc 154

5.3.2 Các tôn giáo thế giới 161

5.4 Địa danh phản ánh văn hóa nghệ thuật 162

5.4.1 Truyền thuyết, cổ tích 162

5.4.2 hơ ca dân gian 164

5.4.3 Các loại hình nghệ thuật 167

5.5 iểu kết 169

KẾT LUẬN 171

CÁC BÀI BÁO ĐÃ CÔN B LIÊN Q AN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 177

TÀI LIỆU THAM KHẢO 178

PHỤ LỤC 195

Trang 8

7 HNH uyện inh ải

8 HNP uyện inh hước

9 HNS uyện inh Sơn

Trang 9

STT Tên bảng Trang

1 Bảng 1.1 Tiêu chí phân loại địa danh ở NTBT 33

2 Bảng 1.2 Kết quả thu thập và phân loại địa danh theo địa danh học

dựa trên tiêu chí tự nhiên – nhân tạo

49

3 Bảng 1.3 Kết quả phân loại địa danh theo văn hóa học dựa trên

tiêu chí phạm trù văn hóa kết hợp với nguồn gốc ngôn ngữ

50

4 Bảng 2.1 Địa danh phản ánh động vật ở NTBT 63

5 Bảng 2.2 Địa danh phản ánh thực vật ở NTBT 65

6 Bảng 3.1 Địa danh phản ánh giao lưu tiếp biến văn hóa ở NTBT 101

7 Bảng 4.1 Địa danh phản ánh nhân danh ở NTBT 116

8 Bảng 4.2 Địa danh phản ánh khát vọng của con người ở NTBT 125

9 Bảng 5.1 Địa danh phản ánh văn hóa mưu sinh ở NTBT 140

10 Bảng 5.2 Địa danh phản ánh tôn giáo nguyên thủy và tôn giáo thế

giới ở NTBT

154

Trang 10

DẪN NHẬP

1 Lý do họn ề à

Nghiên cứu địa danh là một địa hạt quan trọng và cần thiết trong ngôn ngữ học truyền thống và trong văn hóa học bởi địa danh là một sản phẩm sáng tạo của con người và là đối tượng mang chứa nhiều thông tin, phẩm chất của văn hóa Địa danh không ch là những từ ngữ ch địa điểm đơn thuần mà còn là những từ khóa

mở ra những trang sử của dân tộc gắn với những điển tích, những sự kiện trong lịch

sử (Cổ Loa, hăng Long, Bạch Đằng…), những ch dấu thể hiện rõ nét bản sắc địa văn hóa vùng miền Chính vì vậy, các nhà nghiên cứu đ phong cho địa danh là những “tấm bia lịch sử văn hóa”, “trầm tích văn hóa”, “hóa thạch địa danh”, và “di sản văn hóa phi vật thể” Điều đó nói lên rằng địa danh có một vị trí to lớn, quan trọng trong đời sống con người trong suốt dòng chảy của lịch sử Địa danh luôn có mối quan hệ chặt chẽ với ngôn ngữ, lịch sử, địa lý, con người ở vùng đất nó tồn tại

ói cách khác, “địa danh là những tấm bia lịch sử bằng ngôn ngữ”, là những dấu ấn văn hóa, là hồ sơ lưu trữ các giá trị văn hóa mà biết bao thế hệ chủ nhân của nó đ tác tạo và bồi đắp nên

Ninh Thuận và Bình Thuận là vùng đất tập trung sinh sống của tộc người hăm từ lâu đời cùng với tộc người Việt, K’ho, Raglai, và Hoa Tộc người hăm

có một nền văn hóa rực rỡ, phát triển liên tục từ thế kỷ thứ đến nay với những thành tựu đ nh cao đ được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới Với những đặc điểm phong phú về địa hình vừa có núi đồi, đồng bằng và biển đảo, NTBT còn có truyền thống lịch sử lâu đời, từ cư dân hăm nối tiếp cư dân Việt, đ tạo nên một diện mạo văn hóa đặc sắc độc đáo in dấu trong rất nhiều địa danh, thu hút nhiều nhà nghiên cứu, nhiều du khách trong và ngoài nước đến tham quan, tìm hiểu Nghiên cứu, khám phá địa danh NTBT từ góc nhìn văn hóa học sẽ góp phần làm sáng rõ các đặc trưng văn hóa, nhân sinh quan, thế giới quan, cách thức tri nhận, ứng xử, cải biến môi trường tự nhiên và xã hội trong quá trình sinh tồn của các tộc người trên mảnh đất này Việc nghiên cứu giá trị, ý nghĩa của địa danh

Trang 11

NTBT còn có tác dụng lưu giữ, trao truyền, giáo dục cho các thế hệ trẻ tri thức lịch

sử, truyền thống dân tộc để thêm yêu quý, tự hào về quê hương mình

Hiện nay, áp lực của nền hành chính số hóa, giản tiện hóa mang tính đồng bộ làm cho địa danh tàng trữ nhiều giá trị văn hóa, truyền thống dân tộc, hội tụ tinh hoa của cộng đồng được tích tụ trong suốt tiến trình lịch sử đ hoặc có nguy cơ biến mất Điều này dường như đang triệt tiêu tính đặc trưng của địa danh, làm giảm tính

đa dạng của bản sắc văn hóa vùng miền vốn là cái hay, cái đẹp trong bức tranh địa danh chung của cả nước

Về mặt khoa học, nghiên cứu văn hóa qua địa danh sẽ góp phần làm cho các phương pháp nghiên cứu và tiếp cận văn hóa ngày càng thêm phong phú và đắc dụng hơn, đóng góp chung vào sự phát triển của ngành văn hóa học – một ngành khoa học còn non trẻ ở Việt Nam

Các lý do trên thôi thúc chúng tôi chọn “Địa danh ở Ninh Thuận và Bình

Thuận dưới góc nhìn văn hóa học” làm đề tài luận án

2 Tổng quan ình hình ngh ên ứu

2.1 Tình hình nghiên cứu a danh ở nước ngoài

Theo Lê Trung Hoa (2011) và Nguyễn Kiên rường (1996) thì việc nghiên cứu địa danh trên thế giới đ có lịch sử từ rất sớm “ hiều sách lịch sử, địa chí của Trung Quốc thời cổ không ch ghi chép địa danh mà còn trình bày rõ cách đọc, hàm nghĩa, vị trí, diễn biến và quy luật gọi tên” (Nguyễn Kiên rường, 1996, tr.12) Các

ghi chép này xuất hiện vào thời Đông Hán (23-220) trong Hán Thư của Ban Cố hay

Thủy Kinh Chú của Lịch Đạo guyên đời Bắc Ngụy (386-534)

Tuy nhiên, ngành khoa học nghiên cứu về địa danh, địa danh học (toponymy/toponymie), ch chính thức ra đời từ cuối thế kỷ XIX ở các nước phương

ây như hụy Sĩ, o, háp, nh, Mỹ, Thụy Điển, ga… ác tác giả tiêu biểu có thể

kể: J.J Egli người Thụy Sĩ có Địa danh học (1872), J.W agl người o cũng có Địa

danh học (1890) J illiénon người háp đ xuất bản Atlat ngôn ngữ Pháp

(1902-1910), Dauzat người háp cho ra đời Nguồn gốc và sự phát triển địa danh (1926), Ch.Rostaing người Pháp với Les noms de lieux (1961)… hìn chung, các công trình

Trang 12

này chủ yếu tiếp cận địa danh theo hướng địa lý học và từ nguyên học Chẳng hạn,

Ch.Rostaing trong Les noms de lieux cho rằng địa danh học đề xuất các nhà nghiên cứu tìm hiểu ý nghĩa, nguồn gốc về tên gọi của các nơi (l’origine des noms de lieux) cũng như nghiên cứu về sự chuyển hóa của chúng (d’étudier leurs transformations)

ghĩa là địa danh học nghiên cứu tên của các đơn vị quần cư như thành phố, làng, đồn điền, và núi, sông; chính qua các nghiên cứu về tên gọi của các sơn danh

(oronymie) và thủy danh (hydronymie) đ phát hiện ra các vết tích của cư dân, nhất là

cư dân cổ, vì những “hóa thạch địa danh” (fossiles toponymiques) này đ được các

thế hệ cư dân nối tiếp nhau sử dụng (Ch.Rostaing, 1961, tr.5-6)

Đóng góp cho hệ thống lý luận nghiên cứu về địa danh là các nhà địa danh

học Xô Viết như E M Murzaev với Những khuynh hướng nghiên cứu địa danh học (1960) và A.V Superanskaja với Địa danh học là gì? 1 (1985) Đặc biệt, trong công

trình Địa danh học là gì?, A.V.Superanskaja (1895) cho rằng địa danh là tên gọi địa

lý, địa danh học là một chuyên ngành của ngành ngôn ngữ học nghiên cứu về lịch

sử hình thành, thay đổi và chức năng của các tên gọi địa lý Song song đó, tác giả cũng nhấn mạnh địa danh với tư cách là di sản ngôn ngữ đặc biệt của thời đại mình,

nó giữ trong mình những tư liệu thông tin về văn hóa tinh thần của những người tạo

ra nó; có mối liên hệ với văn hóa vật chất… ất cả được bảo quản trong nền tảng cơ

sở của tên riêng và trong các phương thức cấu tạo địa danh (tr.1-10)

Nguyễn Kiên rường (1996) cho rằng đây là những công trình tổng hợp, trình bày toàn diện kết quả nghiên cứu địa danh, cập nhật những kết quả nghiên cứu mới, có giá trị lớn trong việc đẩy nhanh sự phát triển của địa danh học (tr 13) Còn

Lê Trung Hoa nhận định rằng qua các công trình nghiên cứu này (về địa danh của tác giả háp và ga…) cơ sở lý luận đ được xác lập: đối tượng của địa danh học

1

Tài liệu này nguyên bản tiếng Nga của V Superanskaja do Đinh Lan ương dịch sang tiếng Việt (Nguyễn Xuân Hoà hiệu đính in năm 2002 tại Viện Khoa học xã hội Hà Nội) với tiêu đề “Địa danh là gì?” uy nhiên, theo nhà nghiên cứu Lê rung oa, tiêu đề tài liệu này phải được dịch “Địa danh học là gì?” Vì vậy, trong luận án này, tác giả luận án xin ch nh lại tiêu đề tài liệu là “Địa danh học là gì?” cho chính xác

Trang 13

đ được xác định, sự phân loại địa danh tương đối hợp lý, phương pháp nghiên cứu

đ mang tính khoa học…(2011, tr.22)

ác nhà địa danh học Anh, Mỹ tiêu biểu như William Bright với công trình

Native American placenames of the Southwest: A handbook for travelers (2004, tr

4-5) đ ít nhiều tiếp cận địa danh từ góc độ văn hóa khi cho rằng cách đặt địa danh phổ biến nhất là dựa vào hình dạng của đối tượng hay đặc trưng quan trọng nhất của đối tượng ách khác là đặt tên theo người đang sống hay đ từng sống tại vùng đất

đó, nhất là những người nổi tiếng hay được cả cộng đồng tôn trọng, ngưỡng mộ, có khi tên gọi tưởng nhớ đến một sự kiện, một truyền thuyết hay một câu chuyện liên quan đến vùng đất đó uy vậy có những tên người được đặt cho địa danh lại chẳng

có liên quan gì (hoặc rất ít) đến tên đất2

Nhà nghiên cứu địa danh Anh Henry Alexander và tài liệu The place-names

of Oxfordshire: their origins and development (1912) tiếp cận địa danh từ góc độ từ

nguyên học (etymology) Margaret J.Gelling, một tác giả người Anh khác với một

loạt công trình nghiên cứu về địa danh như Place-Names of Oxfordshire (1953),

English place-names derived from the compound Wicham (1967), Signposts to the Past Place-Names and the History of England (1978)…lại tiếp cận địa danh từ góc

độ địa lý và thần thoại học

Paul Woodman (2012) trong The Great Toponymic divide Reflections on the

definition and usage of endonyms and exonyms lấy tiêu chí tri nhận luận của chủ thể

đặt địa danh, đ góp cho ngành địa danh học một hướng phân loại mới, đó là Nội danh (Endonym) và Ngoại danh (Exonym) (tr.17-18)

Tamara V Khvesko (2014) trong “ nterdisciplinary pproach to British Place- ames Studies” đ nghiên cứu địa danh nước Anh từ cách tiếp cận liên ngành, cụ thể tác giả đ sử dụng dữ liệu của văn hóa, lịch sử và địa lý (tr 403)

Nhìn chung, các học giả Anh, Mỹ cho rằng hầu hết các nghiên cứu về địa danh học đều tập trung phân tích lớp tên riêng của địa danh thông qua từ nguyên

2

Tài liệu này không đánh số trang hoặc quá mờ nên không thấy rõ, trang này do tác giả luận án tự đánh bắt đầu từ chỗ có nội dung, tức là từ phần “Lời giới thiệu của tác giả”

Trang 14

dân gian, đặc trưng địa lý, lịch sử, cung cấp cái nhìn sâu sắc có giá trị về địa lý lịch

sử, ngôn ngữ, văn hóa của một vùng đất

2.2 Tình hình nghiên cứu a danh rong nước

Từ xưa, trong di sản văn hoá của Việt am đ có nhiều tài liệu địa chí viết về

các địa danh như khắp cả nước, có thể kể: Đất nước Việt Nam qua các đời của Đào Duy Anh (1975), Hoàng Việt nhất thống dư địa chí của Lê uang Định (1806, tái bản 2005), Đại Nam nhất thống chí của Quốc sử quán triều Nguyễn (1882), Phương

Đình dư địa chí của Nguyễn Siêu (1900), Lịch triều hiến chương loại chí của Phan

Huy Chú (1972) v.v Tuy nhiên, việc nghiên cứu chuyên biệt về các địa danh thì ra đời khá muộn Trong các tài liệu được công bố gần đây, “Mối liên hệ về ngôn ngữ

cổ đại ở Đông am qua một vài tên sông” của Hoàng Thị Châu (1966) đ khai

mở hướng nghiên cứu địa danh từ góc độ ngôn ngữ học lịch sử Trần Thanh Tâm

trong Thử bàn về địa danh Việt Nam (1976) đ nêu một số vấn đề cơ bản về địa

danh và địa danh học Việt Nam: (1) một số quy luật cơ bản, phổ biến của địa danh Việt am và địa danh trên thế giới; (2) phân loại địa danh (gồm 6 loại); (3) đặc điểm trong địa danh Việt am (4 đặc điểm) Đóng góp lớn nhất của Trần Thanh

âm là phương diện lý luận chung về địa danh đ được ông đúc kết như “địa danh học không ch là từ nguyên như nhiều nhà địa danh phương ây quan niệm… ếu quan niệm rằng địa danh học không ch là từ nguyên học, thì tính xã hội, tính dân tộc, tính tư tưởng của địa danh rất dễ thấy” và “địa danh trên trái đất từ trước đến nay đều được đặt theo những nguyên tắc cơ bản giống nhau, mặc dù thông qua tiếng nói, chữ viết khác nhau” (Trần Thanh Tâm, 1976, tr.61, tr.66) Sự “gặp gỡ” này là tất yếu của quy luật phát triển tư duy của con người và xã hội

Nguyễn Văn Âu với Một số vấn đề về địa danh học Việt Nam (2000) đ nêu

bật được ý nghĩa của việc nghiên cứu địa danh như giúp ta hiểu đặc điểm cổ địa lý của địa phương, làm trong sáng tiếng Việt, giúp nghiên cứu quá trình hình thành và phát triển của dân tộc Việt Nam Bên cạnh đó, tác giả cũng đ phác thảo một bức tranh phân loại và phân vùng địa danh Việt Nam heo đó, guyễn Văn Âu đ sơ

Trang 15

thảo một bức tranh địa danh Việt gồm loại-kiểu-dạng và miền-khu-vùng Với các địa danh cụ thể, tác giả đ tiếp cận nghiên cứu từ góc độ địa lý-lịch sử-văn hóa

Một công trình quan trọng khác là luận án Những đặc điểm chính của địa

danh ở thành phố Hồ Chí Minh của Lê Trung Hoa bảo vệ năm 1990, sau đó in

thành sách Nguyên tắc và phương pháp nghiên cứu địa danh (Địa danh ở thành phố

Hồ Chí Minh) (1990) Đây là công trình công phu đầu tiên nghiên cứu về địa danh

của một địa bàn cụ thể dưới góc nhìn ngôn ngữ học Ngoài ra, tác giả còn trình bày một cách hệ thống những vấn đề mà người nghiên cứu địa danh cần quan tâm, mở đường cho các công trình nghiên cứu về địa danh sau này: định nghĩa, phân loại địa danh, nguyên tắc và phương pháp nghiên cứu địa danh, phương thức đặt địa danh và

cấu tạo của địa danh Đặc biệt, trong Địa danh học Việt Nam (2011) Lê Trung Hoa

đ phân địa danh Việt Nam làm 5 vùng gồm: địa danh vùng Kinh, địa danh vùng Tây - Bắc Bắc Bộ - Tây Bắc Trung Bộ, địa danh vùng ây guyên, địa danh vùng hăm, địa danh vùng Khmer heo đó địa danh vùng hăm tập trung ở vùng Ninh Thuận, Bình Thuận thuộc cực nam Trung Bộ Dấu ấn hăm để lại trên địa danh nơi đây còn khá sắc nét tuy người Việt đ Việt hóa nó

Nguyễn Kiên rường (1996) trong luận án Những đặc điểm chính của địa

danh Hải Phòng (sơ bộ so sánh với địa danh một số vùng khác) đ vận dụng những

lý luận cơ bản của địa danh học hiện đại soi sáng những vấn đề về đặc điểm của địa danh Hải Phòng so sánh với 6 t nh đồng bằng Bắc Bộ và 6 t nh biên giới Tây Nam Tác giả trình bày cấu tạo địa danh, đi sâu vào tìm hiểu “hình thái bên trong” của địa danh với việc xác lập 22 nhóm từ vựng- ngữ nghĩa và tên gọi có trong địa danh Hải Phòng Ngoài ra, một số nét về nguồn gốc và sự biến đổi của các loại hình địa danh, một số cứ liệu ngữ âm lịch sử trong quá trình biến đổi của địa danh như tên làng, x

là đối tượng có số lượng lớn “tồn tại lâu dài và biến đổi liên tục” cũng đ được làm

rõ trong luận án

Trần Văn Dũng (2004) qua Những đặc điểm chính của địa danh ở Đắk Lắk

và Từ Thu Mai (2004) trong Nghiên cứu địa danh Quảng Trị là hai luận án nghiên

cứu địa danh trên các địa bàn cụ thể trong thời gian gần đây, cũng có những đóng

Trang 16

góp mới Nếu Trần Văn Dũng vận dụng phương pháp nghiên cứu đa ngành và liên ngành trong đó ngôn ngữ học là phương pháp chủ đạo để phân tích tìm hiểu về cấu tạo và sự hình thành và biến đổi của địa danh ở Đắk Lắk, thì Từ Thu Mai lại vận dụng cách tiếp cận đồng đại, lịch đại và ngôn ngữ - văn hóa để nghiên cứu địa danh Quảng Trị Trần Văn Dũng cho rằng sự ra đời và biến đổi của địa danh ở Đắk Lắk gắn liền với quá trình lịch sử, xã hội trên địa bàn ét đặc trưng văn hóa - ngôn ngữ được biểu hiện qua quá trình hình thành và biến đổi của địa danh Từ Thu Mai lại nhận định hướng tiếp cận ngôn ngữ - văn hóa là một hướng tiếp cận mới để tìm hiểu, nghiên cứu các thành tố văn hóa có khả năng tương tác với địa danh như thế nào Cả hai tác giả này, dù tiếp cận theo hai hướng khác nhau, đều gặp nhau ở chỗ

ch ra được một số đặc trưng văn hóa thể hiện qua địa danh của mỗi địa bàn như đặc trưng về địa văn hóa, về ngôn ngữ tộc người, về sự tồn tại của di sản vật thể và phi vật thể trong địa danh

Một số tác giả khác như rần Văn Sáng với Địa danh có nguồn gốc dân tộc

thiểu số ở Tây Thừa Thiên Huế (2013) và Vũ hị Thắng trong Đặc trưng ngôn ngữ

- văn hóa của địa danh Thanh Hóa (2014) đ nghiên cứu cấu tạo, phương thức định

danh, ý nghĩa, nguồn gốc và sự biến đổi của địa danh ua đó phân tích vai trò của địa danh đối với văn hóa và sự chi phối của các các yếu tố văn hóa đối với sự hình thành và tồn tại của địa danh

Khoảng hai mươi năm trở lại đây, một số luận văn cao học đ bắt đầu tiếp cận

địa danh từ góc độ văn hóa: Võ ữ ạnh rang (2006) tìm hiểu địa danh Việt ở Đồng

Nai, guyễn hị gọc Bích (2008) nghiên cứu địa danh ở Đồng háp; guyễn húc Bình (2008) nghiên cứu địa danh thành phố ồ hí Minh; guyễn Văn Điệp (2010) nghiên cứu địa danh ở iền iang; uỳnh Lê hị Xuân hương (2009) bàn thảo về địa danh Khánh òa… Nhìn chung, các tác giả đ thống kê, phân loại và tìm hiểu những giá trị văn hóa qua địa danh của địa bàn mình nghiên cứu dưới góc nhìn thời gian, không gian, chủ thể văn hóa và hoạt động của chủ thể văn hóa Các công trình này đ khai mở các hướng tiếp cận địa danh từ góc độ văn hóa chủ yếu dựa trên thành

Trang 17

tố chung và từ nguyên của địa danh ác luận văn này đ giúp cung cấp thêm cho luận

án một số phương diện tiếp cận và phương pháp phân loại

Thời gian gần đây có rất nhiều biên khảo về từ điển địa danh được tập hợp

theo tiêu chí văn hóa, du lịch, thắng cảnh, hành chính, từ nguyên Nổi bật là Từ

điển địa danh lịch sử - văn hóa – du lịch Việt Nam của Nguyễn Văn ân (2002), Từ điển địa danh văn hóa và thắng cảnh Việt Nam Nguyễn hư Ý (cb) (2004) và Từ điển địa danh hành chính Nam Bộ của Nguyễn Đình ư (2008) Từ điển từ nguyên địa danh Việt Nam của Lê Trung Hoa (2014a) và Từ điển địa danh Nam ộ

(2014b) Đây là những tác phẩm đồ sộ, tập hợp rất nhiều thông tin về địa danh trên khắp cả nước, có giá trị tham khảo lớn với những ai yêu thích tìm hiểu lịch sử, văn hóa và ngôn ngữ Các công trình này góp thêm cho luận án nhiều phương diện lý luận nghiên cứu địa danh như về cách cấu tạo các địa danh hành chính ở Nam Bộ,

về các từ cổ, phương ngữ, và ngôn ngữ của các tộc người trong địa danh…

2.3 Các công trình nghiên cứu l ên quan ến a danh ở Ninh Thuận và Bình Thuận

ho đến nay, đ có nhiều công trình nghiên cứu lịch sử, ngôn ngữ, dân tộc và văn hóa vùng đất NTBT nói chung và dân tộc hăm nói riêng hìn chung các công trình này đ tập hợp địa danh vùng NTBT và lý giải dưới một vài góc độ khác nhau Tuy còn tản mác, nhưng các công trình này đ giúp cho luận án về phương diện lý luận, bổ sung tư liệu, số liệu và các phương pháp nghiên cứu Việc nghiên cứu địa danh B dưới góc nhìn văn hóa học sẽ kế thừa, phát triển thành tựu của các tác giả nghiên cứu đi trước, từ đó góp phần hệ thống hóa, bổ sung cách lý giải khoa học hơn, đa chiều kích hơn về đối tượng nghiên cứu Tài liệu thuộc nhóm này có thể kể:

Lê uang Định trong Hoàng Việt nhất thống dư địa chí (2005) mặc dầu còn

“dùng phương pháp của môn địa lý cổ” nên còn sơ lược và sắp xếp chưa khoa học

để dễ tra cứu nhưng “ưu điểm nổi bật nhất” của tài liệu này là “mô tả một cách chính xác về đường đi, các dịch trạm, các địa danh, sông núi, khe suối, ngòi rạch, cửa biển kèm theo lời chú giải mặt mạnh mặt yếu, chỗ hiểm, chỗ thuận lợi của từng địa phương rất cụ thể” (tr.6-7) rong đó, tác giả đ dành nhiều trang viết về dinh

Trang 18

Bình Thuận đ giúp chúng tôi có một cái nhìn về con người, địa danh, văn hóa của vùng đất này thời phong kiến

Nguyễn Đình Đầu trong Nghiên cứu địa bạ triều Nguyễn – Bình Thuận

(1996) đ phác thảo lại tình hình diên cách hành chính từ khi lập phủ Bình Thuận năm 1697 đến nay (tức năm 1996) Không trực tiếp nghiên cứu địa danh Bình Thuận (khi ấy còn gồm cả Ninh Thuận, một phần của Lâm Đồng và Đắk Lắk hiện nay) nhưng guyễn Đình Đầu đ vẽ lại bức tranh đất đai và tên các đơn vị hành chính từ thời phong kiến từ t nh Bình Thuận (1838) đến phủ – huyện – tổng – làng (thôn, xã, phường, giáp) Điểm đáng quý nhất của tài liệu này là tác giả cung cấp tên các đơn vị hành chính này bằng tự dạng tiếng Hán và giải thích tên một số địa danh ảnh hưởng từ ngôn ngữ hăm giúp cho chúng tôi tiện tra cứu và đối chiếu ngữ nghĩa khi cần thiết

Nguyễn Đình ư với Non nước Ninh Thuận (2003) không đi sâu vào giải

thích ý nghĩa của địa danh nhưng tác giả đ phác thảo bức tranh sơn thủy Ninh Thuận và chú dẫn một số ý nghĩa của địa danh thiên nhiên ở vùng đất này trong các chương nói về núi non, sông ngòi, bờ biển Đó là những khai mở, gợi ý giúp chúng tôi tập hợp, phân tích địa danh cho vấn đề nghiên cứu trong luận án

Đề tài nghiên cứu khoa học Bản sắc truyền thống Bình Thuận qua các địa

danh hành chính - lịch sử - cách mạng - kháng chiến - dân gian trên địa bàn thành phố Phan Thiết (2005) đ tập hợp được hơn 200 địa danh trên địa bàn thành phố Phan

Thiết hiện nay và một số địa danh ở các địa bàn khác như huyện Bắc Bình, Hàm Thuận Bắc, Hàm Thuận am có liên quan đến các địa danh trên địa bàn thành phố Phan Thiết Đây là một công trình nghiên cứu công phu, cung cấp nhiều thông tin chi tiết đòi hỏi một sự nỗ lực và tâm huyết cũng như đầu tư nhiều thời gian điền dã, thu thập tư liệu rong công trình này, địa danh được phân loại theo các tiêu chí như địa danh lịch sử, cách mạng, kháng chiến Đây là một công trình mang tính tập hợp các địa danh, cung cấp một bức tranh đa sắc, chi tiết về nguồn gốc ra đời, ý nghĩa, vị trí, giá trị của địa danh đối với cuộc sống của cư dân trên địa bàn

Trang 19

Địa chí Bình Thuận (2006) với những thông tin về tự nhiên và dân cư, lịch

sử, các đơn vị hành chính, các ngành kinh tế trọng điểm… đ cung cấp tri thức cũng như tên gọi của rất nhiều sông, núi, ao, hồ, đầm, bãi… để chúng tôi tập hợp, bổ sung thêm vào bảng sưu tập địa danh Đặc biệt là ở phần tự nhiên và các đơn vị hành chính, công trình đ cung cấp cho luận án nhiều tư liệu

Đáng chú ý nhất là luận văn Nghiên cứu địa danh tỉnh Bình Thuận (2012)

của Nguyễn Văn hụng Tiếp cận từ góc độ ngôn ngữ học, tác giả luận văn đ tìm hiểu về phương thức cấu tạo, đặc điểm chuyển biến của địa danh do nguyên nhân bên trong và bên ngoài ngôn ngữ Ngoài ra, tác giả cũng đ bước đầu giải thích nguồn gốc một số địa danh từ góc độ từ nguyên học và phân tích giá trị phản ánh hiện thực của địa danh trên các nội dung: lịch sử, địa lí, kinh tế, dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo, văn hóa, ngôn ngữ, văn học…Với chúng tôi đây là một tài liệu góp thêm

về mặt số liệu, mở ra những hướng tiếp cận mới để tiếp tục đi sâu tìm hiểu về địa danh vùng này từ góc độ văn hóa học

Đề tài Ngân hàng (cơ sở dữ liệu) tên đường và công trình công cộng trên địa

bàn tỉnh Bình Thuận (2014) tập hợp nhiều địa danh gắn với các thời kỳ lịch sử đầy

biến động ở Bình Thuận, cũng như tập hợp nhân danh của cả nước và của quê hương Bình huận, trong đó mảng tên danh nhân, anh hùng lực lượng vũ trang, liệt

sĩ, bà mẹ Việt am anh hùng được đưa vào cơ sở dữ liệu để đặt tên đường và tên các công trình công cộng Tài liệu này đ cung cấp thêm cho chúng tôi rất nhiều tư liệu về tên lộ danh, phố danh và viên danh

ài liệu Địa danh tỉnh Ninh Thuận – Xưa và nay (2016) đ tập hợp, giới

thiệu nhiều loại địa danh trên địa bàn t nh inh huận xưa và nay… ó một số địa danh mang tính đối chiếu Việt – hăm, Việt – aglai góp thêm cho luận án nhiều

tư liệu quý

Một số bài báo khoa học gần đây cũng tập trung bàn thảo về nguồn gốc một

số địa danh ở NTBT, các bài viết này nhìn chung được tiếp cận từ góc độ ngôn ngữ học, từ góc độ liên ngành kết hợp với khảo sát thực địa đ cung cấp thêm tư liệu và căn cứ khoa học cho luận án Có thể kể một số tác giả tiêu biểu như Lý ùng iếu

Trang 20

với “Địa danh Khe Gà, Khê Gà, Kê Gà ở Bình Thuận” (2002), “ ác làng hăm Ninh Thuận: nghiên cứu địa danh học” (2013) và “Văn hoá địa danh của người hăm: tiếp cận liên ngành” (2016); “Địa danh Raglai vùng Bác Ái (Ninh Thuận)” của Đỗ uang Sơn (2003); Phan Chính với “Thử giải thích vài địa danh thắng cảnh

ở Bình Thuận” (2010) và “La Di hay La i” (2013); Chế Vỹ Tân với “ guồn gốc một số địa danh thuộc Ninh Thuận và Bình Thuận” (2012) Nguyễn Thanh Lợi “Về một số địa danh gốc hăm” (2012) …

hư vậy, điểm qua tình hình nghiên cứu địa danh trong và ngoài nước, có thể thấy rằng các công trình nghiên cứu trước đây về địa danh nói chung và địa danh ở NTBT nói riêng tập trung khảo sát đối tượng nghiên cứu này từ góc độ ngôn ngữ học, chủ yếu là từ nguyên học và lịch sử, địa lý Các nghiên cứu này có những đóng góp không nhỏ về mặt phương pháp cho ngành địa danh học, hướng tiếp cận cũng như bổ sung căn cứ khoa học cho luận án ác luận văn, luận án, các chuyên khảo trong thời gian gần đây đ bắt đầu mở rộng hướng tiếp cận sang góc độ dân tộc-ngôn ngữ học, văn hóa học và đ có những đóng góp nhất định

uy vậy, cho đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu địa danh ở NTBT

từ góc độ văn hóa học hững bài báo khoa học, những bài nghiên cứu được chúng tôi công bố trước đây là những tìm tòi, thử nghiệm bước đầu cho một hướng đi mới được áp dụng lần đầu trong luận án Luận án là bước phát triển tiếp theo, nghiên cứu tìm tòi sâu hơn, hoàn thiện cao hơn để lý giải, tìm hiểu văn hóa trong địa danh vùng đất này

3 ụ h à nh ệm ụ ngh ên ứu

3.1 ụ h

hông qua việc thu thập, phân loại, phân tích tập hợp địa danh trên địa bàn

B , luận án hướng đến các mục tiêu chủ yếu sau:

- hận diện đặc trưng văn hóa vùng miền, văn hóa tộc người qua cách thức đặt địa danh ở vùng đất B

Trang 21

- Ứng dụng hướng nghiên cứu văn hóa từ góc độ liên ngành bằng cách kết hợp giữa đối tượng khảo sát là địa danh (một yếu tố thuộc phạm trù ngôn ngữ học) với mục đích nghiên cứu là nội dung văn hóa

3.2 Nh ệm ụ

Để thực hiện các mục đích trên, luận án có 4 nhiệm vụ cần được giải quyết:

- rình bày cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của địa bàn nghiên cứu, trong đó nêu rõ các lý thuyết được sử dụng để nghiên cứu, các khái niệm then chốt: địa danh, văn hóa, mối quan hệ giữa địa danh và văn hóa

- hu thập nhiều nhất có thể tập hợp địa danh ch đối tượng tự nhiên và địa danh ch các đối tượng nhân tạo từ các nguồn gốc ngôn ngữ khác nhau để tổng hợp, phân loại, phân tích, so sánh chúng

- Trên cơ sở phân tích, nghiên cứu cơ sở dự liệu đ được tập hợp, luận án ch

ra các đặc trưng văn hóa qua các thành tố của một hệ thống văn hóa đ được lựa chọn

- Làm rõ giữa địa danh và văn hóa có những mối quan hệ tương quan hay hàm chứa như thế nào

4 Đố ượng à phạm ngh ên ứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án là mối tương quan giữa văn hoá với địa danh và những nội dung văn hoá được tàng trữ trong tập hợp địa danh ở Ninh Thuận và Bình Thuận

Phạm vi không gian: Không gian nghiên cứu của đề tài luận án chính là địa

bàn hai đơn vị hành chính cấp t nh Ninh Thuận và Bình Thuận nằm ở cực Nam Trung Bộ

Phạm vi thời gian: Luận án tập trung nghiên cứu tư liệu trong phạm vi thời

gian từ năm 1693 trở về sau vì nguyên nhân chủ yếu: theo sử sách, năm 1693, vùng đất cuối cùng của Champa ở NTBT được nhập vào lãnh thổ Đàng rong, và đặt làm trấn Thuận Thành Từ đó, về mặt hành chính, người hăm đ trở thành một bộ phận trong cộng đồng cư dân Đại Việt Sự hiện diện của cư dân Việt đến khai cơ lập nghiệp trên mảnh đất này đ làm cho địa danh thay đổi một cách mạnh mẽ

Trang 22

5 Câu hỏ à g ả huyế ngh ên ứu

5.1 Câu hỏi nghiên cứu

Câu hỏi nghiên cứu của luận án:

Địa danh ở B có thay đổi theo thời gian, không gian và nhu cầu của con người hay không?

Văn hóa được thể hiện trong địa danh B như thế nào? Những nội dung nào trong văn hóa vùng đất này được các địa danh tập trung phản ánh, nội dung nào

ít hoặc không được địa danh phản ánh?

Địa danh có phải là một bản sao chụp của hiện thực tự nhiên và văn hóa hay không?

Chủ thể đặt địa danh và các địa danh đó có mối quan hệ như thế nào?

5.2 Giả thuyết nghiên cứu

Địa danh là sản phẩm của văn hóa vừa là hàm tố văn hóa nên khi nghiên cứu văn hóa trong địa danh của một vùng đất chúng tôi đưa ra các giả thuyết sau:

1 Địa danh luôn biến đổi theo thời gian, không gian và nhu cầu của con người, đặc biệt khi nhu cầu, sở thích mong muốn của con người thay đổi địa danh cũng thay đổi theo

2 Địa danh và văn hóa có quan hệ mật thiết với nhau, địa danh phản ánh văn hóa trên nhiều phương diện do đó có thể nghiên cứu văn hóa tộc người thông qua nghiên cứu địa danh

3 Địa danh là sản phẩm của sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và với môi trường xã hội Địa danh là một bản sao chụp của hiện thực

tự nhiên và văn hóa

4 Chủ thể định danh luôn có tác động mạnh mẽ đến địa danh

Kết quả nghiên cứu của luận án sẽ chứng minh các giả thuyết nghiên cứu trên đúng hay sai và ở mức độ nào

6 Phư ng pháp ngh ên ứu à nguồn ư l ệu

6.1 hư ng pháp ngh ên ứu

Trang 23

Để thực hiện luận án này, chúng tôi vận dụng một số phương pháp nghiên cứu chủ yếu như sau:

Nhóm phương pháp khảo sát điền dã (field study methods): giúp chúng tôi

thu thập được nhiều tri thức và tư liệu dân gian tại địa bàn nghiên cứu giúp bổ sung

tư liệu cho luận án rong đó, hai phương pháp cụ thể chủ yếu mà chúng tôi vận dụng là quan sát và phỏng vấn sâu các chuyên gia, các nhà nghiên cứu và người dân trên địa bàn

Phương pháp thống kê phân loại (statistic classification method): được sử

dụng để thống kê, phân loại tập hợp địa danh mà chúng tôi thu thập được trên địa bàn NTBT nhằm làm rõ số lượng, kiểu loại địa danh phân theo các tiêu chí khác nhau phục vụ mục đích nghiên cứu Đây cũng là phương pháp nghiên cứu chủ đạo

để xử lý số liệu địa danh giúp minh họa các mục tiêu nghiên cứu bằng minh chứng

cụ thể, thuyết phục và trải đều khắp các chương mục của luận án

Phương pháp hệ thống cấu trúc (structural system method): nghiên cứu,

xem xét sự vật hiện tượng trong sự toàn vẹn của nó, được hợp thành bởi các yếu tố

có mối liên hệ tương hỗ, tác động lẫn nhau, bổ sung cho nhau tạo thành một ch nh thể luôn vận động và phát triển Địa danh ở B cũng là một hệ thống bộc lộ rõ nét qua mối tương quan giữa con người – môi trường tự nhiên, con người – môi

trường x hội

Phương pháp phân tích tổng hợp tư liệu (data analyse method): Các

công trình nghiên cứu, tài liệu về địa danh, số liệu thống kê của cơ quan nhà nước… tư liệu điều tra điền d của tác giả luận án sẽ được tổng hợp, phân tích làm tư liệu, đối chiếu, đánh giá và nhận định trong suốt thời gian nghiên cứu và trình bày kết quả

Phương pháp so sánh, đối chiếu (comparative-contrastive method): Để

thấy được kiểu loại địa danh nào, nhóm ý nghĩa nào của địa danh được phản ánh cũng như tìm hiểu những nét tương đồng hay khác biệt của địa danh vùng này so với vùng khác, địa danh tiếng Việt và địa danh tiếng hăm… Phương pháp so

Trang 24

sánh đối chiếu sẽ giúp chúng tôi nhìn rõ hơn, toàn diện hơn đặc trưng văn hóa trong địa danh

6.2 Nguồn ư l ệu

ư liệu địa danh trong luận án được thu thập từ hai nguồn chủ yếu sau:

Tư liệu sơ cấp (primitive data): Để thực hiện luận án này, từ ngày

01/11/2012 cho đến ngày 10/01/2015, chúng tôi đ tiến hành 7 chuyến khảo sát điền

dã và lấy tư liệu nghiên cứu tại các địa bàn như thành phố Phan Thiết, Phan Rang – Tháp Chàm, các huyện Tánh Linh, Bắc Bình, uy hong, inh hước Trong quá trình đi thực tế, chúng tôi tập trung vào hai nhiệm vụ: xin các tư liệu lưu hành nội

bộ hoặc tài liệu hạn chế; bổ sung tư liệu nghiên cứu qua phỏng vấn và ghi chép Đặc biệt, chúng tôi cố gắng thu thập thêm địa danh dân gian và ý nghĩa nguồn gốc của địa danh dân gian vốn chưa được công bố rộng rãi

Tư liệu thứ cấp (secondary data): Danh mục địa danh thu thập được từ tài

liệu của các cơ quan nhà nước: các cục thống kê, các sở, ban, ngành, các tác giả nghiên cứu trước, nhất là loại địa danh hành chính Đây là nguồn tư liệu thành văn chính thống đ được xuất bản, cố định và đáng tin cậy guồn tư liệu thứ cấp cũng bao gồm các công trình nghiên cứu, biên khảo về địa danh ở NTBT

7 Nh ng óng góp mớ ủa luận án

Luận án kế thừa và phát huy các thành tựu về mặt lý luận, tư liệu nghiên cứu của những người đi trước, đồng thời bổ sung, khai thác sâu hơn với hướng tiếp cận mới, đa chiều kích những “mảnh đất” trống mà các công trình nghiên cứu trước chưa có dịp bàn luận với những điểm mới như sau:

Về mặt lý luận: Luận án vận dụng khung lý thuyết gồm các lý thuyết địa

danh học, các lý thuyết địa lý học văn hóa và sinh thái học văn hóa, các lý thuyết hệ thống, lý thuyết tương đối luận văn hóa, mở ra hướng nghiên cứu văn hóa mới từ góc nhìn kết hợp giữa địa danh học và văn hóa học

Một góc nhìn kết hợp nêu trên với những hiệu quả được chứng minh trong luận án sẽ góp phần xác định việc nghiên cứu địa danh có giá trị ứng dụng đến mức

Trang 25

độ nào trong nghiên cứu văn hóa tộc người và văn hóa địa phương và làm rõ mối quan hệ, sự tác động qua lại giữa địa danh và văn hóa

Về mặt thực tiễn: Luận án mô tả một bức tranh tổng thể địa danh NTBT từ

góc nhìn kết hợp giữa địa danh học với văn hóa học, từ đó giúp tìm hiểu nội dung

và đặc trưng văn hóa đa tộc người trên địa bàn nghiên cứu qua cách thức định danh

Số liệu thống kê và phân loại địa danh, kết quả nghiên cứu trong luận án có thể được sử dụng như tài liệu tham khảo cho những người quan tâm, tìm hiểu địa danh và văn hóa trên vùng đất này

8 Bố ụ luận án

Ngoài phần dẫn nhập và kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung chính của luận án sẽ được triển khai thành các chương như sau:

Chư ng 1: C sở lý luận và thực tiễn hương này tập trung trình bày các

vấn đề lý thuyết và thực tiễn làm cơ sở nghiên cứu cho nội dung các chương mục

trong chương này

Chư ng 4: Đ a danh phản ánh chủ thể ăn hóa ở Ninh Thuận và Bình Thuận Các chủ thể văn hóa, với thành phần tộc người, tâm lý, tính cách,

ước mơ, hoài b o, nhận thức khác nhau sẽ khắc họa những yếu tố ấy vào địa danh

một cách khác nhau Nội dung này sẽ được làm rõ trong chương 4

Trang 26

Chư ng 5: Đ a danh phản ánh hoạ ộng ăn hóa ở Ninh Thuận và Bình Thuận Các hoạt động văn hóa tất yếu sẽ để lại những dấu ấn trong địa danh,

cho biết con người đ sinh cơ lập nghiệp, tận dụng, lựa chọn, khai thác và cải biến

tự nhiên dựa trên kinh nghiệm, tri thức, kỹ thuật để phục vụ lợi ích, mục đích, nhu

cầu sinh tồn của mình

Trang 27

heo chúng tôi, trên cơ sở những cách tiếp cận có giá trị phổ quát trên, việc chọn lựa các lý thuyết và các phương pháp cho các nghiên cứu văn hoá học cần phải được cân nhắc sao cho phù hợp với đối tượng nghiên cứu và mục đích nghiên cứu của từng đề tài cụ thể rong trường hợp của luận án này là nghiên cứu địa danh ở Ninh Thuận và Bình Thuận từ góc nhìn văn hoá học, chúng tôi lần lượt xác định khung lý thuyết, khung khái niệm và làm rõ mối quan hệ giữa địa danh và văn hóa

1.1.1 Khung lý huyế

Đối tượng khảo sát của luận án là địa danh nhưng mục đích tìm hiểu là nội dung văn hóa hư vậy, địa danh trong luận án ch là chất liệu, phương tiện để tìm hiểu văn hóa “Mỗi ngành khoa học đều xem xét địa danh bằng nhãn quan của mình, chú ý tới những đặc điểm khác nhau của chúng và đưa ra những kết luận mang tính chất hoàn toàn khác nhau” (A.V Superanskaja, 1985, tr.3) Đối với văn hoá học, mối quan tâm chính của nó đối với địa danh không phải là nghiên cứu

Trang 28

nguồn gốc ngôn ngữ và cấu tạo của địa danh mà nghiên cứu nội dung văn hoá được lưu chứa trong tập hợp địa danh ở NTBT Do đó, luận án sẽ vận dụng một số lý thuyết nghiên cứu thích hợp với đối tượng và mục đích nghiên cứu ấy gồm: địa danh học, địa lý học văn hoá và sinh thái học văn hoá, lý thuyết hệ thống, tương đối luận văn hóa Dưới đây, chúng tôi sẽ tóm lược nội dung các lý thuyết và giới thiệu cách vận dụng các lý thuyết ấy nhằm làm sáng tỏ nội dung văn hoá trong địa danh

1.1.1.1 Địa danh học (toponymy)

Mỗi địa danh là một tổ hợp gồm hai thành tố: thành tố chung (general element) ch loại hình địa danh và thành tố riêng (specific element) dùng để gọi tên

và cá thể hóa, khu biệt đối tượng Nằm trong vốn từ chung của một dân tộc, địa danh có cấu tạo ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp… như bất kỳ một ký hiệu ngôn ngữ nào khác Vậy nên nó là đối tượng nghiên cứu lâu đời của ngôn ngữ học, cụ thể là của địa danh học với những thành tựu nổi bật

Địa danh học nghiên cứu về lịch sử hình thành, sự biến đổi và chức năng của địa danh từ hai góc độ tiếp cận Nghiên cứu theo bình diện lịch đại nhấn mạnh vai trò của phương pháp ngôn ngữ học so sánh – lịch sử bởi vì “muốn giải thích những tên sông cổ, phải dựa vào ngôn ngữ học lịch sử, một mặt so sánh hàng loạt phương ngôn và ngôn ngữ có liên hệ với nhau về mặt lịch sử và địa lý để phục nguyên lại những từ cổ có nghĩa là “sông”, “nước” ( oàng hị hâu, 2004, tr.112) “ ua việc

mô tả tiến trình lịch đại của mỗi địa danh người ta ch ra những giá trị văn hóa lịch

sử mà địa danh lưu giữ hay được kí thác” ( rần Trí Dõi, 2015, tr.4-5) ướng nghiên cứu này vô cùng phức tạp, đòi hỏi người nghiên cứu phải có tri thức ngữ âm học lịch sử của một vài ngôn ngữ đủ để nhìn nhận sự biến đổi ngữ âm của địa danh, một khả năng không hề đơn giản Nghiên cứu theo bình diện đồng đại chú trọng các phương pháp như phân loại địa danh, cấu tạo địa danh, phương thức định danh, và thông qua ý nghĩa của địa danh để giải thích hay nhận diện giá trị văn hóa của địa danh ướng nghiên cứu này ít chú ý đến phương diện “biến đổi ngữ âm lịch sử của bản thân địa danh” ( rần Trí Dõi, 2015, tr.4)

Trang 29

Ở Việt Nam, khi nghiên cứu địa danh thành phố Hồ Chí Minh, Lê Trung Hoa

kế thừa các công trình nghiên cứu địa danh của các nhà khoa học Áo (J.W Nagl với

Địa danh học), Nga (A.V Superangkaja với Địa danh học là gì?), Pháp (A.Dauzat

với Nguồn gốc và sự phát triển địa danh; C.Rostaing với Les Noms de lieux) Thụy

Sĩ (J.J.Egli với Địa danh học)…đ góp phần xây dựng nền móng cho địa danh học Việt Nam trong thập niên cuối thế kỷ XX heo đó Lê rung oa trong Địa danh

học Việt Nam (2011) đ xác lập một số cơ sở lý thuyết người nghiên cứu địa danh

cần quan tâm: định nghĩa và phân loại địa danh, nguyên tắc và phương pháp nghiên cứu địa danh, các phương thức đặt địa danh, cấu tạo địa danh, ý nghĩa và nguồn gốc địa danh, yếu tố lịch sử được phản ánh trong địa danh…(tr 22)

Trong luận án này, chúng tôi vận dụng lý thuyết địa danh học trong việc thu thập, phân loại, xử lý thô địa danh ói cách khác, trước khi vận dụng phân loại theo văn hóa học, chúng tôi áp dụng phân loại địa danh theo địa danh học bao gồm phân loại theo đối tượng địa lý (tự nhiên hay nhân tạo) và phân loại theo nguồn gốc ngôn ngữ rên cơ sở này chúng tôi tiếp tục đi sâu vào phân tích, giải mã yếu tố văn hóa trong địa danh

1.1.1.2 Địa lý học văn hóa (cultural geography) và sinh thái học văn hóa (cultural ecology)

Địa lý học văn hóa khởi thủy là một phân ngành của địa lý học nhân văn (human geography) nghiên cứu mối quan hệ giữa con người và môi trường tự nhiên, nay là một phân ngành của văn hóa học nghiên cứu tính thống nhất trong đa dạng của văn hóa theo không gian văn hóa và những đặc điểm mang tính bản sắc của các vùng văn hóa, khu vực văn hóa ác nhà địa văn hóa tiêu biểu của phương ây có thể kể như Richard Hart Shorne, Julian Steward, Carl Sauer

Đến đầu thế kỷ XX ở Bắc Mỹ, Carl Sauer đặc biệt quan tâm đến việc con

người đã thích ứng với môi trường tự nhiên như thế nào và hơn nữa con người đã định hình cảnh quan nhờ sản xuất nông nghiệp, kỹ thuật, xây dựng, và cảnh quan phản ánh con người đã tạo ra chúng như thế nào (“They were particularly

interested in how people adapted to environments, but more particularly how people

Trang 30

shaped the landscape through agriculture, engineering, and building, and how the landscape was reflective of the people who produced it” (Castree, N., Kitchin, R., & ogers, 2017, đoạn 2)

Địa lý học văn hóa thực chất là lý thuyết nghiên cứu văn hóa theo không gian Charles A Heatwole (2006) trong “ ulture: eographical erspective” đ

đề cập đến các lý thuyết tương quan như vùng văn hóa (culture region), cảnh quan văn hóa (cultural landscape), khuếch tán văn hóa (cultural diffusion), sinh thái học văn hóa (cultural ecology), và tương tác văn hóa (cultural interaction), trong đó gần

gũi nhất là lý thuyết sinh thái văn hóa Ông cho rằng sinh thái văn hóa giải quyết

các mối quan hệ giữa văn hóa và môi trường địa lý Văn hóa đã được tạo ra và phát triển trong bối cảnh địa lý khác nhau về khí hậu, thảm thực vật tự nhiên, đất đai và địa hình Trong những môi trường tự nhiên đa dạng này, con người đã phát triển các chiến lược thích ứng để đáp ứng nhu cầu của họ về quần áo, thực phẩm và nơi trú ngụ (“ ultural ecology addresses the relationships between culture and the

physical environment Culture has arisen and evolved in a great variety of physical settings that differ in climate, natural vegetation, soils, and landforms In these diverse natural environments, humans developed adaptive strategies to satisfy their needs for clothing, food, and shelter”.) (Charles A Heatwole, 2006, mục Cultural Ecology)

Ở Việt am, Đào Duy nh, rần Quốc Vượng, Trần Ngọc Thêm, Phạm Đức Dương đều đi theo con đường địa lý học văn hóa theo nhiều cách khác nhau Trần Quốc Vượng coi văn hóa là cái tự nhiên được con người cải biến

Trong công trình tiêu biểu Việt Nam – Cái nhìn địa văn hóa (1999) ông nghiên

cứu văn hóa trong bối cảnh tự nhiên và có những luận điểm thuyết phục về bản sắc văn hóa từ góc nhìn sinh thái Đào Duy nh (2010, tr.10), (2011, tr.11) cho rằng các điều kiện địa lý có ảnh hưởng quan trọng đến sinh hoạt của nhân dân, song ch gia thêm cho đời sống sinh hoạt những sắc màu đặc biệt và làm cho nhịp

độ tiến hóa nhanh hay chậm và con người có thể dùng sức mình mà xử trí và biến chuyển những điều kiện ấy cho thích hợp với nhu cầu của mình Phạm Đức Dương

Trang 31

(2013) cũng khẳng định “thiên nhiên đ ban tặng cho con người những vốn quý rất

đa dạng nhưng cũng đặt ra những thách đố ngặt nghèo buộc con người muốn tồn tại và phát triển phải trả lời bằng sự sáng tạo của mình” (tr.235) Do đĩ, mơi trường địa lý tự nhiên là yếu tố tạo nên văn hĩa bởi thái độ, nhận thức, tổ chức, sáng tạo, vận dụng, thích ứng của con người

Địa danh là sản phẩm sáng tạo của con người dựa trên sự tri nhận, cải biến, ứng phĩ với mơi trường tự nhiên và xã hội trong quá trình sinh tồn, nên vận dụng lý thuyết địa văn hĩa và sinh thái học văn hĩa vào nghiên cứu địa danh cĩ thể tìm thấy các yếu tố địa lý và lịch sử, những nội dung phản ánh khơng gian văn hố, lịch sử văn hĩa và quá trình giao lưu tiếp biến văn hố của các chủ thể sáng tạo địa danh

1.1.1.3 Lý thuyết hệ thống (systemic theory)

Các lý thuyết hệ thống và cách tiếp cận hệ thống trong nghiên cứu văn hố

đ hình thành từ các cơng trình nghiên cứu của Ferdinand de Saussure, Claude Lévi-Strauss, Bronislaw Malinowski, Arthur Reginald Radcliffe-Brown, Leslie Alvin White, với hai khuynh hướng chính là cấu trúc luận và chức năng luận Vận dụng cách tiếp cận hệ thống, nhiều nhà nghiên cứu đ xây dựng mơ hình cấu trúc văn hố để phân chia văn hĩa thành các yếu tố khác nhau Tuy nhiên, các mơ hình cấu trúc văn hố do Leslie lvin White, Joël Bonnemaison hay một số nhà khoa học Việt am như Đào Duy nh, rần Quốc Vượng, Phạm Đức Dương, rần Ngọc Thêm thiết lập đều rất khác nhau, và khơng phải luơn luơn trùng khớp với trạng thái văn hố hiện thực của các tộc người khác nhau, ở những thời điểm khác nhau

heo quan điểm của chúng tơi, do văn hố tộc người và ngơn ngữ tộc người đều mang tính hệ thống, nên rất cần vận dụng các lý thuyết hệ thống khi nghiên cứu, xử lý các nội dung, vấn đề thuộc văn hố tộc người và ngơn ngữ tộc người Và bởi vì văn hố, dù cĩ tự tổ chức thành hệ thống hay chưa, cũng chính là một phức hợp, nên cần xem xét khả năng vận dụng phối hợp các lý thuyết hệ thống với lý luận tư duy phức hợp (Lý ùng iếu, 2017a) Và sau cùng, bởi vì các mơ hình cấu trúc văn hố được các học giả khác nhau xây dựng ch cĩ tính chất giả lập, giả thiết,

Trang 32

nên những người nghiên cứu đi sau cần phải lựa chọn hoặc phối hợp các mô hình cấu trúc văn hoá ấy tuỳ theo đối tượng và mục đích nghiên cứu cụ thể của mình

heo quan điểm ấy, chúng tôi cho rằng, trong bất kỳ bối cảnh nào cũng cần

chú trọng vai trò của con người với tư cách là chủ thể văn hoá trong các hệ thống

văn hoá “ rong văn hóa học con người chiếm vị trí trung tâm với tư cách là thực thể sáng tạo văn hóa Văn hóa học nghiên cứu tồn tại và hoạt động của con người,

xã hội và những sáng tạo văn hóa” ( guyễn Tri Nguyên, 2010, tr.11) Tiếp theo, để sinh tồn và phát triển, các chủ thể văn hoá đều tiến hành các hoạt động văn hoá Các hoạt động văn hoá ấy có thể được phân chia thành rất nhiều loại khác nhau

như nhiều nhà nghiên cứu đ làm, hoặc ch chia thành hai loại văn hoá vật thể và

văn hoá phi vật thể như cách phân loại của UNESCO phổ biến hiện nay Tuy

nhiên, cho dù phân chia như thế nào thì ranh giới giữa các bộ phận, thành tố, yếu

tố của văn hoá cũng ch có tính ước định, và tương đối chứ không thể rạch ròi, tách bạch Đó là vì, trong một hệ thống văn hoá, các yếu tố văn hoá không thể tồn tại một cách biệt lập, rời rạc, mà chúng luôn bao hàm, quy định lẫn nhau Văn hoá vật thể và văn hoá phi vật thể cũng vậy, chúng thường hoà quyện với nhau và được thể hiện đồng thời Trên thực tế, các hoạt động, sản phẩm và giá trị văn hóa luôn có một phần là vật thể, một phần là phi vật thể, và sự tồn tại của các giá trị, truyền thống và bản sắc văn hóa của các tộc người thường được nhận biết thông qua những phương tiện và biểu hiện có tính vật thể của chúng Do đó, phân chia một hệ thống văn hoá ra làm bao nhiêu yếu tố, là tuỳ thuộc vào mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, chứ không nhất thiết hệ thống văn hoá ấy thực sự

ch bao gồm bấy nhiêu yếu tố vì văn hóa không tự nó phân chia

Để nghiên cứu văn hoá trong địa danh, cách tiếp cận hệ thống đòi hỏi phải xem xét các địa danh trong mối tương quan với các địa danh khác trong tập hợp của chúng, và cần đặt các địa danh ấy vào trong hệ thống văn hoá nơi chúng được sinh thành và hoạt động, để xem chúng phục vụ cho văn hoá ra sao, và có tác động qua lại với văn hoá như thế nào Bức tranh văn hóa trong địa danh không phải được vẽ lại bằng phép cộng của các thao tác luận của từng góc nhìn đơn lẻ mà đó là thao tác

Trang 33

luận của sự đan cài (nest), tương hỗ, sự “vượt gộp” của vận dụng phương pháp tư duy hệ thống và “thông qua các quy luật tương tác bên trong hệ thống cũng như của

hệ thống với môi trường bên ngoài mà phát hiện ra những thuộc tính hợp trội (emergence) mang đặc trưng toàn thể chứ không phải là tính tổng hợp (aggregation)

do các phần tử gộp lại” ( hạm Đức Dương, 2013, tr.205-206) “ ính hợp trội là những giá trị cao hơn tổng gộp đơn giản các giá trị của các thành phần văn hóa, và chính tính hợp trội của cái toàn thể cũng làm tăng thêm phẩm chất của các thành phần (Phạm Đức Dương, 2013, tr.206)

heo đó, dựa trên cơ sở dữ liệu đ thu thập và xử lý, trên cơ sở kết hợp các

lý thuyết địa danh học, các lý thuyết địa lý học văn hoá và sinh thái học văn hoá, các lý thuyết hệ thống, chúng tôi vận dụng một mô hình hệ thống - cấu trúc văn hóa thể hiện trong địa danh ở NTBT gồm: không gian văn hóa, lịch sử văn hóa và giao lưu tiếp biến văn hóa, chủ thể văn hóa, các hoạt động, sản phẩm văn hóa vật thể và phi vật thể

heo đó, không gian văn hóa chính là cách nhìn nhận văn hóa theo vùng, tức không gian tồn tại của các nền văn hóa hay yếu tố văn hóa ( gô Đức Thịnh, 2004, tr.53) Không gian văn hóa (cultural space) cũng bao gồm các yếu tố tự nhiên của một vùng đất có liên quan mật thiết đến hoạt động văn hóa của các tộc người Lịch

sử văn hóa (cultural history) là cách nghiên cứu văn hóa trên phương diện lịch đại, trong đó yếu tố vô cùng quan trọng chính là quá trình giao lưu tiếp biến văn hóa giữa các tộc người sẽ làm biến đổi yếu tố văn hóa nội sinh Văn hóa ch được tạo ra khi và ch khi có con người, họ chính là chủ thể (cultural subjects), hạt nhân của mọi nền văn hóa, mọi hiện tượng văn hóa Ở đâu có con người ở đó tất yếu có hoạt động văn hóa (cultural activities) và sản phẩm văn hóa (cultural products) trên cơ sở thích ứng, cải biến môi trường tự nhiên để sinh tồn và phát triển

Dựa trên cơ sở lý thuyết này, chúng tôi phân chia luận án thành 4 chương chính ngoài chương cơ sở lý luận và thực tiễn như đ trình bày

1.1.1.4 Tương đối luận văn hóa (cultural relativism)

Trang 34

ương đối luận văn hoá là một lý luận cho rằng các niềm tin, giá trị và hành động của một nền văn hóa phải được hiểu dựa trên chính nó chứ không phải được xét đoán dựa theo tiêu chuẩn nền văn hóa khác Khi nghiên cứu, so sánh các nền văn hoá khác nhau, tương đối luận văn hoá cho rằng trong văn hoá ch có cái tương đối chứ không có cái tuyệt đối, không có nền văn hóa nào cao hơn hay ưu việt hơn nền văn hóa nào bởi vì những biểu hiện hay thực hành văn hóa phù hợp trong bối cảnh của một nền văn hoá này có thể không phù hợp trong một nền văn hoá khác

Franz Boas (1858-1942), người đặt nền tảng cho nhân học hiện đại, cho rằng các nền văn hoá phát triển theo hoàn cảnh đặc thù của lịch sử chứ không phải là sự tiến triển tuyến tính từ "nguyên thuỷ" đến "man d " sang "văn minh" và rằng chính văn hoá chứ không phải chủng tộc hoặc sinh học ảnh hưởng nhiều nhất đến cuộc sống xã hội và hành vi của con người, và văn hoá hình thành cách thức các thành viên của một nhóm văn hoá cụ thể suy nghĩ, hành động, nhận thức và đánh giá Lý thuyết mới này cung cấp một phương pháp luận cần thiết, một công cụ hữu hiệu để nghiên cứu sự đa dạng của các nền văn hóa, các vùng văn hóa (Fernando, 2015)

gô Đức Thịnh (2004) khẳng định Franz Boas đ “hoàn toàn có lý rằng văn hóa của mỗi dân tộc được hình thành trong quá trình lịch sử gắn liền với môi trường xã hội nhất định và trong điều kiện địa lý cụ thể" (tr.28) “Thuyết tương đối văn hóa

ch ra rằng những khác biệt giữa các dân tộc là kết quả của những điều kiện địa lý,

xã hội, lịch sử cụ thể và tất cả các cộng đồng cư dân đều có thể phát triển văn hóa một cách bình đẳng" (Nguyễn Văn iệu, 2008) “Bởi vì văn hoá do các cộng đồng người tạo ra để tự đáp ứng mục đích, nhu cầu, lợi ích của chính mình, cho nên các giá trị, truyền thống, biểu tượng… của các nền văn hoá ch có ý nghĩa tương đối, nghĩa là ch có giá trị “chân lý” trong khuôn khổ của nền văn hoá đó" (Lý Tùng Hiếu, 2017b, tr.49)

hư vậy, địa danh được tạo lập ra ở một vùng đất có hoàn cảnh địa lý khác biệt, điều kiện lịch sử đặc thù với những chủ thể sáng tạo cụ thể sẽ là những hồ sơ lưu giữ những nét đặc trưng của phối cảnh này trong chính ý nghĩa, nguồn gốc của chúng Vì vậy, vận dụng tương đối luận văn hoá vào nghiên cứu văn hoá trong địa

Trang 35

danh là cần thiết và phù hợp cho đề tài luận án này bởi mọi thực tiễn hay hiện tượng văn hóa đều được tạo ra trong bối cảnh cụ thể của chúng ương đối luận văn hoá giúp minh định và chấp nhận cách giải thích ý nghĩa của địa danh kể cả theo hướng

từ nguyên học dân gian phù hợp nhất để tìm ra những nét văn hóa riêng biệt, đặc thù tạo nên tính đa dạng phong phú của văn hóa vùng đất NTBT nói riêng và của nền văn hóa Việt nói chung

hư trên đ phân tích, văn hóa học là một khoa học liên ngành khi đan cài (nest), tương hỗ và “vượt gộp” phương pháp tư duy hệ thống và tiếp cận liên ngành

để giải quyết các vấn đề nội tại của nó (Kenneth Thompson, 2004; Nguyễn Tri Nguyên, 2010; Phạm Đức Dương, 2013) Ngoài các lý thuyết nghiên cứu nêu trên, địa danh là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học khác như địa chí học,

sử học, địa lý học, dân tộc học… với những mục đích nhất định

Ở Việt Nam, địa chí học quan tâm đến địa danh từ rất sớm, chủ yếu “xem

xét địa danh một cách tổng hợp từ góc độ địa lý, lịch sử và văn hóa” ( rần Trí Dõi,

2015, tr.3) Các công trình địa chí học tập trung biên soạn hay ch dẫn về địa chí lịch sử ở các vùng miền khác nhau, do đó nội dung mô tả về địa danh chủ yếu là những thông tin về diên cách địa chí mỗi vùng đất Hiện nay, việc nghiên cứu này vẫn được tiếp tục và có thêm nhiều công trình tiếp cận theo từng khía cạnh cụ thể, theo từng lớp địa danh ở những vùng địa lý khác nhau, theo tiến trình phát triển lịch

sử và biên soạn từ điển nhằm mục đích tra cứu thông tin về địa danh Việt Nam (Trần Trí Dõi, 2015, tr.3-4)

Địa danh cũng là đối tượng nghiên cứu của ngành địa lý và lịch sử Thành tố

lịch sử trong địa danh học là bắt buộc nhưng không phải là lịch sử của một quốc gia, một dân tộc mà là lịch sử ngôn ngữ (A.V Superanskaja, 1985, tr.3) Mặt khác,

“đại diện của ngành khoa học lịch sử ch nghiên cứu một số địa danh mà họ quan tâm và không có giá trị đáng kể với nhà địa lý, vốn quan tâm đến những địa danh khác với những địa danh mà nhà sử học nghiên cứu” ( V Superanskaja, 1985, tr.3) Địa danh luôn được ra đời trong những thời kỳ lịch sử nhất định, tùy thuộc vào các sự kiện lịch sử cụ thể như di dân, giao lưu tiếp xúc ngôn ngữ - văn hóa,

Trang 36

kinh tế, chiến tranh, chế độ chính trị Khi đó, địa danh học như một bộ phận của lịch sử học và các nhà nghiên cứu lịch sử đ làm giàu thêm cho địa danh học những phương pháp nghiên cứu (Nguyễn Kiên rường, 1996, tr.24)

Địa lý học nghiên cứu về môi trường tự nhiên của một vùng đất như yếu tố

địa lý tự nhiên, địa hình, địa dạng, động thực vật… Môi trường đó qua thời gian và tác động của con người đ biến đổi thế nào hay phát triển ra sao… tất cả những điều

đó sẽ phản ánh qua lớp địa danh trên địa bàn Đặc biệt, lớp thành tố chung của địa danh phản ánh rõ nét nhất phong cảnh thiên nhiên, đặc trưng của địa hình, địa dạng của một vùng đất nhất định bởi địa danh thường được đặt theo bản chất của môi trường địa lý Vì thế, “việc hiểu đúng ý nghĩa của thành tố chung và riêng trong địa danh sẽ giúp ích rất nhiều cho các nhà địa lý trong việc nắm bắt các điều kiện tự nhiên và hoạt động của con người, sự phân bố dân cư theo vùng – lãnh thổ và ngay

cả việc xây dựng bản đồ” ( guyễn Kiên rường, 1996, tr.24)

Dân tộc học tìm hiểu nguồn gốc ngôn ngữ của địa danh bởi chúng là sản

phẩm của các tộc người cư trú trên địa bàn, và gắn liền với ngôn ngữ của các tộc người ấy Nguyễn Văn Âu (2000, tr.42) và Lê rung oa (2011) đều dựa vào tính dân tộc ngôn ngữ học (linguistic ethnography) của địa danh để phân chia thành miền, khu, vùng địa danh Việt Nam (mục 2.2 phần Dẫn nhập) Địa danh gắn với các tộc người cư trú là vì thế, với khả năng bảo tồn của mình, ngay khi tộc người đó

đ di cư sang một vùng đất khác thì cội nguồn của họ vẫn tạc vào địa danh

Tóm lại, địa danh là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học khác nhau, được văn hoá học kế thừa uy nhiên, văn hoá học vẫn có con đường của riêng mình Nếu địa danh học nghiên cứu địa danh theo hướng: tập hợp – thống kê – phân loại – miêu tả cấu tạo – truy xuất nguồn gốc ; địa chí học ch quan tâm đến thông tin về địa danh ; sử học chú trọng yếu tố, sự kiện lịch sử trong địa danh; địa lý học xem xét môi trường địa lý trong địa danh; dân tộc học tìm hiểu nguồn gốc tộc người qua địa danh; thì văn hoá học quan tâm đến tất thảy Bởi các ngành khoa học khác ch bóc tách một khía cạnh nào đó của địa danh mà không nhằm mục đích

Trang 37

nghiên cứu văn hóa trong địa danh để làm rõ đặc trưng văn hóa, tính đa tầng, phức tạp của bức tranh văn hóa vùng miền với tư cách là một hệ thống như văn hóa học

đó, địa danh có nguồn gốc từ rất xa xưa vì “các tên gọi địa lý ra đời vào thời kỳ sớm nhất của sự phát triển xã hội xuất phát từ nhu cầu gọi tên của các đối tượng xung quanh, các cảnh quan, những khu canh tác trong quá trình nhận thức chúng của con người” (A.V Superanskaja, 1985, tr.117)

Địa danh là những tên gọi các đối tượng địa lý, tên nơi chốn và tên đất Lê

Trung Hoa (2011) đ đưa ra định nghĩa: “Địa danh là những từ hoặc ngữ, được dùng

làm tên riêng của các địa hình thiên nhiên, các đơn vị hành chính, các vùng lãnh thổ

và các công trình xây dựng thiên về không gian hai chiều rước địa danh ta có thể

đặt một danh từ chung ch tiểu loại địa danh đó như: sông ương, núi gự, thành phố

ồ hí Minh…” (tr.15-16) heo guyễn Kiên rường (1996, tr.16), địa danh là tên gọi đối tượng địa lý, gồm hai thành tố: danh từ chung ch cả lớp sự vật, thường đứng trước tên riêng; phần tên riêng có khả năng khu biệt, cá thể hóa đối tượng ác giả này cũng cho rằng các đối tượng không tự nhiên hay nhân tạo có thể gọi chung

là nhân văn vì nó gắn với con người, do con người đặt ra và có một vị trí xác định nhưng không ở ngoài trái đất “Địa danh là tên riêng ch các đối tượng địa lý tự nhiên và nhân văn có vị trí xác định trên bề mặt trái đất” (1996, tr.16)

hư vậy, có thể hiểu địa danh là tên gọi của một vị trí, một địa điểm gắn với đất do con người tạo sinh hoặc tri nhận Địa danh ch các yếu tố địa lý như sông, núi, kênh, rạch, ao, hồ, đầm, đìa… chủ yếu là thiên tạo Còn địa danh ch các vùng miền, địa điểm khác mà con người đ sáng tạo ra, xây dựng nên để phục vụ nhu cầu như cầu, đường, bến, b i, khu, ấp, xóm, x , quận, huyện là địa danh nhân tạo

Trang 38

óm lại, từ các định nghĩa trên, chúng tôi khi nghiên cứu địa danh từ góc độ văn

hóa học cho rằng địa danh là tên gọi để định danh và cá thể hoá các đối tượng địa

lý tự nhiên và nhân tạo gắn liền với đất

Quan niệm này tương đồng với quan niệm của Lê Trung Hoa, Nguyễn Kiên rường ở phương diện xem địa danh là các từ, hoặc tổ hợp từ (có thể là cụm danh từ, cụm chủ vị), có chức năng định danh, khu biệt hay cá thể hóa đối tượng hư vậy lớp tên riêng này gọi tên các sự vật có một vị trí cố định hay xác định được (có thể là tương đối) trên trái đất Mặt khác, địa danh là tên riêng được đặt cho một không gian, một vị trí, một khu vực trên mặt đất, có thể có hoặc không có hình khối, và có hoặc không có ranh giới, nhưng dứt khoát phải choán một diện tích tương đối rộng Điều này làm cho địa danh khác với vật danh và hiệu danh ở chỗ chúng là những tên riêng được đặt cho những sự vật, những kiến trúc ch choán một diện tích tương đối hẹp trên mặt đất, có hình khối ba chiều và ranh giới xác định

Địa danh là các danh từ trong vốn từ chung của một dân tộc, có cấu tạo ngữ

âm, từ vựng, ngữ pháp… như bất kỳ một ký hiệu ngôn ngữ nào; điều khác biệt lớn nhất của địa danh nằm ở chỗ chúng là những ký hiệu có lý do, có mục đích, không phải là các ký hiệu mang tính võ đoán (arbitrary) Trong khung phân loại ký hiệu của Ch.Pierce, ký hiệu ngôn ngữ không thuộc vào những loại như: ình hiệu (Icon),

Ch hiệu (Index), Biểu hiệu (Symbol), mà là một loại riêng uy nhiên địa danh, với

tư cách là một ký hiệu thứ cấp, ký hiệu đặc biệt, bao hàm cả ba chức năng biểu hiện

của ba loại ký hiệu theo cách phân loại của Ch.Pierce (Nguyễn ông Đức, Nguyễn Văn Lập, 2015, tr.4)

Xuất phát từ quan điểm này, chúng tôi cho rằng địa danh không ch là hệ thống ký hiệu như quan niệm của địa danh học mà chúng còn là một hệ thống biểu tượng Theo Carl Gustav Jung (1964, tr.20), “biểu tượng là một danh từ, một tên gọi, một hình ảnh hay một đồ vật, tuy đ quen thuộc với ta hàng ngày, nhưng còn gợi thêm những ý nghĩa khác ngoài ý nghĩa ước định hiển nhiên và trực tiếp của nó” Quả vậy, mọi nền văn hóa đều có thể được xem như một tập hợp các biểu

Trang 39

tượng, trong đó ngôn ngữ là biểu tượng phức tạp nhất, quan trọng nhất, xếp vị trí đầu tiên

* Phân loại

Địa danh là một đối tượng phức tạp vì bản thân nó là một tập hợp gồm vô số các đối tượng địa lý, tên vùng miền có trong thực tế và có xuất xứ từ nhiều ngôn ngữ khác nhau lại ẩn chứa nhiều giá trị về văn hóa, lịch sử, ngôn ngữ, tộc người… hính vì thế phân loại địa danh là một vấn đề vô cùng phức tạp do những khác biệt về quan điểm phân loại, cách thức phân loại, mục đích và phương tiện nghiên cứu Trên thế giới, các nhà địa danh học phương ây và Xô Viết như A.Dauzat, Ch.Rostaing, A.V.Superanskaja… phân loại địa danh theo hai tiêu chí: theo nguồn gốc ngôn ngữ và theo đối tượng mà địa danh phản ánh, đôi khi theo tiêu chí hỗn hợp Tuy vậy, đánh giá về các tiêu chí phân loại này, Lê Trung Hoa (2011) cho rằng “chưa bao trùm được tên các công trình xây dựng ở nông thôn (như cầu, cống, sân vận động…) và […] chưa tách bạch giữa địa danh hành chính và địa danh

ch một vùng lãnh thổ không có ranh giới rõ ràng” (tr.11)

Đáng kể nhất là hướng phân loại địa danh theo các phạm trù đối lập của A.V.Superranskaja (1985) Tác giả đề cập đến (1) địa danh-ký hiệu và địa danh-mô

tả, địa danh-ký hiệu xác định những đối tượng địa lý nhất định nhưng không thông báo cho chúng ta biết gì về bản thân chúng; (2) địa danh-đăng ký và địa danh-ước vọng, địa danh-đăng ký cũng giúp xác định các đối tượng địa lý còn địa danh-ước vọng để ghi nhận những ý tưởng cao quý và trên thực tế không gắn liền với đối tượng địa lý đó; (3) địa danh vi mô và địa danh vĩ mô được phân chia dựa trên phạm vi không gian và phạm vi phổ biến của đối tượng địa lý rộng hay hẹp

Ngoài ra, như mục 2.1 phần Dẫn nhập đ trình bày, Paul Woodman (2012, tr.17-18) đ áp dụng một cách phân loại mới theo tiêu chí tri nhận luận của chủ thể đặt địa danh gồm nội danh (Endonym) và ngoại danh (Exonym) heo đó, nội danh (Endonym) và ngoại danh (Exonym) vừa phân biệt về mặt ngôn ngữ (bản địa hay ngoại lai) vừa phân biệt về mặt tri nhận (trực tiếp hay gián tiếp) và về mặt thực tế sử dụng trong giao tiếp của cư dân địa phương

Trang 40

Ở Việt Nam, các nhà nghiên cứu địa danh cũng đặt ra các tiêu chí phân loại khác nhau Đáng kể nhất là cách phân loại của Trần Thanh Tâm (1976) và của Nguyễn Văn Âu (2000) Trần Thanh Tâm phân loại địa danh Việt Nam và thế giới (chủ yếu dựa trên thành tố riêng của địa danh) thành 6 loại: (1) theo địa hình và đặc điểm; (2) theo vị trí không gian và thời gian; (3) theo tôn giáo, tín ngưỡng, lịch sử; (4) theo hình thái, chất đất, khí hậu; (5) theo đặc sản nghề nghiệp, tổ chức kinh tế; (6) theo sinh hoạt xã hội Còn Nguyễn Văn Âu lại chia địa danh làm 2 loại là địa danh tự nhiên và địa danh kinh tế - xã hội (gồm 7 kiểu cấp độ dưới loại và 12 dạng cấp độ dưới kiểu) Về miền địa danh, tác giả này phân xếp dựa vào ngữ hệ, gồm ba miền: miền Nam Á, miền am Đảo và miền Hán -Tạng (miền này gồm 2 á miền là Tạng Miến và Hoa-Hán) Các miền này được tiếp tục phân chia thành 8 khu và 15 vùng địa danh hư vậy là với phương pháp “tam cấp”, guyễn Văn Âu đ sơ thảo nên một bức tranh địa danh Việt gồm loại-kiểu-dạng và miền-khu-vùng Các tiêu chí phân loại này vẫn còn chưa tách bạch, nhập nhằng và còn chồng chéo lên nhau Ví

dụ, ở tiêu chí “(3) theo tôn giáo, tín ngưỡng, lịch sử” cũng chính là “(6) theo sinh hoạt xã hội” ( rần hanh âm), còn phương pháp phân loại của Nguyễn Văn Âu đ tạo ra một bảng phân loại “khá phức tạp và chưa hợp lý” (Lê rung oa, 2011, tr.13)

Nguyễn Kiên rường (1996) và Lê Trung Hoa (2011) đều phân loại địa danh

dựa trên đối tượng địa lý là tự nhiên hay không tự nhiên/ nhân tạo/ nhân văn bên cạnh tiêu chí phân theo ngữ nguyên Đáng chú ý là bảng phân loại địa danh của Lê Trung Hoa (2011, tr.15-16) đ khắc phục được sự nhập nhằng, không rõ ràng của

các hướng phân loại trước đó ác giả đưa ra hai tiêu chí phân loại: 1 theo đối

tượng có 4 tiểu nhóm: địa danh ch địa hình, địa danh ch công trình xây dựng, địa

danh hành chính và địa danh vùng; 2 theo ngữ nguyên có 4 tiểu nhóm: địa danh

thuần Việt, địa danh Hán Việt, địa danh các ngôn ngữ dân tộc thiểu số và địa danh ngoại ngữ

Một số luận văn cao học đ tiếp cận địa danh theo góc nhìn như văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần (Võ Nữ Hạnh Trang, 2006); văn hóa thể hiện qua địa danh dưới góc nhìn không gian văn hóa, thời gian văn hóa, chủ thể văn hóa và hoạt động

Ngày đăng: 14/04/2021, 18:23

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w