1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Doanh nghiệp nhà nước trong cơ chế thị trường dưới góc nhìn văn hóa học (qua tư liệu thống kê và báo chí)

145 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 145
Dung lượng 1,25 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lý do chọn đề tài Tại Việt Nam, doanh nghiệp nhà nước chiếm phần lớn trong sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội, nhưng đến nay hiệu quả hoạt động và sự phát triển của doanh nghiệp nhà nư

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN



VÕ THỊ THÙY HƯƠNG

DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC TRONG CƠ CHẾ THỊ TRƯỜNG

DƯỚI GÓC NHÌN VĂN HÓA HỌC

(QUA TƯ LIỆU THỐNG KÊ VÀ BÁO CHÍ)

LUẬN VĂN THẠC SỸ VĂN HÓA HỌC

MÃ SỐ: 60.31.06.40

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH, NĂM 2017

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN



VÕ THỊ THÙY HƯƠNG

DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC TRONG CƠ CHẾ THỊ TRƯỜNG DƯỚI GÓC NHÌN VĂN HÓA HỌC

(QUA TƯ LIỆU THỐNG KÊ VÀ BÁO CHÍ)

LUẬN VĂN THẠC SỸ VĂN HÓA HỌC

MÃ SỐ: 60.31.06.40

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: GS.TSKH TRẦN NGỌC THÊM

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH, NĂM 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan các nội dung, số liệu, kết quả nêu trong Luận văn

là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Học viên

VÕ THỊ THÙY HƯƠNG

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn thạc sĩ chuyên ngành Văn hóa học, tôi xin chân thành cảm ơn Quý Thầy, Cô của Khoa Văn hóa học – Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh – đã nhiệt tâm truyền thụ kiến thức, giúp tôi có nền tảng cơ bản thực hiện

đề tài

Đặc biệt, tôi xin chân thành gởi đến Thầy GS.TSKH Trần Ngọc Thêm lời cảm ơn chân thành sâu sắc vì Thầy đã định hướng nghiên cứu và tận tình chỉ dẫn tôi trong suốt thời gian thực hiện luận văn

Sau cùng, xin cảm ơn những người bạn và gia đình đã nhiệt tình giúp

đỡ và ủng hộ tôi trong suốt thời gian học cao học

Học viên

VÕ THỊ THÙY HƯƠNG

Trang 5

MỤC LỤC

DẪN NHẬP 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 1

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 11

4 Mục tiêu nghiên cứu 11

5 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn 12

6 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu 12

7 Bố cục của luận văn 13

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 15

1.1 Cơ sở lý luận 15

1.1.1 Doanh nghiệp và doanh nghiê ̣p nhà nước 15

1.1.2 Thị trường, kinh tế thị trường và cơ chế thị trường 17

1.1.3 Góc nhìn văn hóa học trong nghiên cứ u doanh nghiê ̣p nhà nước 24

1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến doanh nghiệp nhà nước Việt Nam trong cơ chế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa 33

1.2.1 Chủ thể Nhà nước và truyền thống quản lý kinh tế 33

1.2.2 Những yếu tố không gian chi phối hoạt đô ̣ng kinh tế của các doanh nghiệp nhà nước ở Viê ̣t Nam 36

1.2.3 Doanh nghiệp nhà nước Việt Nam từ năm 1986 đến nay 37

Tiểu kết chương 1 38

Chương 2: DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC TRONG CƠ CHẾ THỊ TRƯỜNG TRÊN BÌNH DIỆN VĂN HÓA NHẬN THỨC VÀ TỔ CHỨC 41

2.1 Trên bình diện văn hóa nhận thức 41

2.1.1 Chỗ mạnh và chỗ yếu của doanh nghiệp nhà nước trong nhận thức về tầm nhìn và sứ mệnh 41

Trang 6

2.1.2 Chỗ mạnh và chỗ yếu của doanh nghiệp nhà nước trong

đạo đức kinh doanh 57

2.1.3 Chỗ mạnh và chỗ yếu của doanh nghiệp nhà nước trong chiến lược, cách thức kinh doanh 61

2.2 Trên bình diện văn hóa tổ chức 73

2.2.1 Chỗ mạnh và chỗ yếu của doanh nghiệp nhà nước trên bình diện tổ chức quản trị 75

2.2.2 Chỗ mạnh và chỗ yếu của doanh nghiệp nhà nước trên bình diện tổ chức nguồn nhân lực 85

Tiểu kết chương 2 92

Chương 3: DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC TRONG CƠ CHẾ THỊ TRƯỜNG TRÊN BÌNH DIỆN VĂN HÓA ỨNG XỬ 95

3.1 Ứng xử với môi trường xã hô ̣i 95

3.1.1 Chỗ mạnh và chỗ yếu của doanh nghiệp nhà nước trong mục tiêu ổn định xã hội 95

3.1.2 Chỗ mạnh và chỗ yếu của doanh nghiệp nhà nước trong mục tiêu phát triển xã hội 102

3.2 Ứng xử với môi trường tự nhiên 107

3.2.1 Chỗ mạnh và chỗ yếu của doanh nghiệp nhà nước trong mục tiêu bảo vệ môi trường sinh thái 108

3.2.2 Chỗ mạnh và chỗ yếu của doanh nghiệp nhà nước trong mục tiêu bảo vệ nguồn tài nguyên 114

Tiểu kết chương 3 121

KẾT LUẬN 124

TÀI LIỆU THAM KHẢO 127

Trang 7

DẪN NHẬP

1 Lý do chọn đề tài

Tại Việt Nam, doanh nghiệp nhà nước chiếm phần lớn trong sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội, nhưng đến nay hiệu quả hoạt động và sự phát triển của doanh nghiệp nhà nước vẫn không thể hiện được đúng với vị thế và tiềm năng sẵn có của mình, vì thế chúng ta cần làm rõ vai trò của văn hóa trong hoạt động sản xuất kinh doanh, phát huy những giá trị văn hóa của chủ thể này trong cơ chế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa nhằm giúp các doanh nghiệp nhà nước có thêm công cụ thúc đẩy sự phát triển kinh tế vững bền

Cho đến nay, việc nghiên cứu sự phát triển của doanh nghiệp nhà nước trong cơ chế thị trường đa phần thường được xem xét dưới góc độ chính trị - kinh tế - xã hội là chính, còn góc nhìn văn hóa đến nay hiện vẫn chưa có nhiều công trình đi sâu vào nghiên cứu để nhận diện hệ thống các giá trị của doanh nghiệp nhà nước Tác giả có thời gian dài làm trong doanh nghiệp nhà nước, mong muốn việc nghiên cứu này sẽ góp phần nhận ra các mặt thuận lợi, hạn chế của chủ thể trong sự phát triển kinh tế thị trường của Việt Nam giai đoạn hiện nay và vai trò của văn hóa đối với sự phát triển kinh tế vững bền của doanh nghiệp nhà nước Góc nhìn văn hóa học sẽ là cách tiếp cận giải quyết vấn đề trên

Đó chính là lý do để tác giả chọn đề tài “doanh nghiệp nhà nước trong cơ chế thị trường dưới góc nhìn văn hóa học” cho luận văn thạc sĩ chuyên ngành Văn hóa học

2 Lịch sử vấn đề

Hiện nay, có nhiều công trình nghiên cứu về văn hóa, lợi thế văn hóa;

về kinh doanh, triết lý kinh doanh; về doanh nghiệp, đạo đức và văn hóa doanh nghiệp…

Trong cuốn “Lợi thế văn hóa – The Cultural Advantage – Một mô hình mới để thành công khi làm việc với các nhóm toàn cầu”, Mijnd

Trang 8

Huijser nhận định: “Hiểu biết về văn hóa cũng bằng thừa nếu chúng ta coi các khác biệt về văn hóa là trở ngại cần phải dẹp bỏ, nhưng hiểu biết về văn hóa sẽ có lợi nếu chúng ta coi các khác biệt văn hóa là những chướng ngại vật cần trèo lên để có một tầm nhìn tốt hơn” [Mijnd Huijser 2006: 116] Điều này cho thấy thành công của một tổ chức không phải bị đe dọa bởi một khác biệt văn hóa bất kỳ mà là một sự thiếu tin tưởng của những người luôn một mực cho mình là đúng

Nghiên cứu “Văn hóa trong chiến lược phát triển của Việt Nam”, Đinh Xuân Dũng nêu quan điểm “yếu tố kinh tế và yếu tố văn hóa hòa quyện chặt nhau để bảo đảm cho xã hội phát triển trong tính lành mạnh, bền vững của nó” [Đinh Xuân Dũng (cb) 2013: 115] Tác giả nhấn mạnh, từ những giá trị văn hóa chúng ta luôn phải bảo vệ và phát huy tính ưu việt của văn hóa trước những trước những khuyết tật của thị trường Nhằm làm cho văn hóa gắn kết chặt chẽ và thấm sâu vào toàn bộ đời sống xã hội, trở thành nền tảng tinh thần vững chắc, sức mạnh nội sinh quan trọng của phát triển như Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa

xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) định hướng

Trong công trình “Văn hóa doanh nghiệp và doanh nhân”, Trần Nhoãn cho rằng “Hoạt động của doanh nghiệp mặc dù lấy kinh doanh – sinh lợi là mục tiêu cao nhất, nhưng luôn luôn gắn kết với văn hóa” [Trần Nhoãn 2009: 17] Cho chúng ta một góc nhìn về sự tương tác giữa yếu tố văn hóa và tổ chức kinh tế, văn hóa phục vụ phát triển kinh doanh và kinh doanh cũng phải có thuộc tính văn hóa

Trong cuốn “Văn hóa kinh doanh”, Dương Thị Liễu khẳng định

“Văn hóa kinh doanh là toàn bộ các nhân tố văn hóa được chủ thể kinh doanh chọn lọc, tạo ra, sử dụng và biểu hiệu trong hoạt động kinh doanh tạo nên bản sắc kinh doanh của chủ thể đó” [Dương Thị Liễu 2009: 23] Tác giả muốn nhất mạnh việc phát huy đúng đắn và hiệu quả các giá trị văn hóa vào hoạt động kinh doanh là những nhân tố quan trọng đảm bảo cho sự phát

Trang 9

triển vững bền của doanh nghiệp

Trong công trình “Đạo đức kinh doanh và văn hóa doanh nghiệp”, Nguyễn Mạnh Quân nhận định “nhân cách con người cũng như doanh nghiệp đều phải có phong cách và bản sắc riêng Bản sắc đó có thể được hiểu là những giá trị của doanh nghiệp và văn hóa của doanh nghiệp là vấn

đề đã được nhiều nhà nghiên cứu trong nước quan tâm nghiên cứu để xây dựng các khung giá trị cho doanh nghiệp” [Nguyễn Mạnh Quân 2007: 7]

Nghiên cứu “Quản trị nguồn nhân lực”, Trần Kim Dung đúc kết

“Quản trị nguồn nhân lực là hệ thống các triết lý, chính sách và hoạt động chức năng về thu hút, đào tạo – phát triển và duy trì con người của một tổ chức nhằm đạt được kết quả tối ưu cho cả tổ chức lẫn nhân viên” [Trần Kim Dung 2009: 3] Tác giả cho rằng quản trị nguồn nhân lực là nâng cao lợi thế cạnh tranh, thể hiện quan điểm nhân bản nhằm đề cao vị thế và giá trị của người lao động

Trong công trình nghiên cứu “Văn hóa kinh doanh và triết lý kinh doanh”, Đỗ Minh Cương nêu quan niệm “Triết lý kinh doanh là những tư tưởng triết học phản ánh thực tiễn kinh doanh thông qua con đường trải nghiệm, suy ngẫm, và khái quát hóa của các chủ thể kinh doanh” [Đỗ Minh

Cương 2001: 201] Từ định nghĩa trên, tác giả muốn nhấn mạnh con đường

chung của sự hình thành các triết lý kinh doanh là sự tổng kết kinh nghiệm thực tiễn để đi đến các tư tưởng triết học về kinh doanh Tác giả của triết lý kinh doanh không ai khác chính là những chủ thể hoạt động kinh doanh (doanh nhân) Các triết lý kinh doanh đều có tính đặc thù nghề nghiệp cao

và thường mang dấu ấn cụ thể của từng doanh nghiệp

Trong “Văn hóa kinh doanh ở Việt Nam hiện nay”, Nguyễn Thị Ngọc Anh nhận định: “xu hướng kinh doanh không nhằm mục đích kiếm tìm lợi nhuận bằng mọi giá mà chú trọng đến các yếu tố cân bằng lợi ích và nhu cầu, cả về vật chất lẫn tinh thần của con người trong xã hội” [Nguyễn Thị Ngọc Anh 2013: 25] “Văn hóa kinh doanh là một bộ phận cấu thành

Trang 10

nền văn hóa chung của một dân tộc, phản ánh hoạt động kinh doanh và mức

độ gắn kết giữa cái lợi với những giá trị chân, thiện, mỹ của con người trong từng giai đoạn lịch sử” [Nguyễn Thị Ngọc Anh 2013: 54]

Nghiên cứu “Tinh thần doanh nghiệp giá trị định hướng của văn hóa kinh doanh Việt Nam”, Trần Quốc Dân cho rằng “Tinh thần doanh nghiệp

là một giá trị văn hóa và hơn thế nữa còn là giá trị định hướng trong sản xuất – kinh doanh” [Trần Quốc Dân 2003: 46] và cho rằng đây là một giá trị văn hóa, một nguồn lực nội sinh của con người, là năng lực sáng tạo trong sản xuất kinh doanh, trong hoạt động kinh tế của con người vì đây là thái độ trách nhiệm, ý chí ham muốn, định hướng khát vọng Tinh thần doanh nghiệp là cái sâu sắc nhất, cốt lõi nhất trong hành động kinh doanh,

là giá trị định hướng của văn hóa kinh doanh Việt Nam

Trong cuốn “Những vấn đề văn hóa học lý luận và ứng dụng”, Trần Ngọc Thêm cho rằng doanh nghiệp quan tâm xây dựng khung giá trị cho chính doanh nghiệp để vận hành mọi hoạt động dựa vào vai trò nền tảng văn hóa cho sự phát triển lâu dài và bền vững “Doanh nghiệp càng tôn trọng và theo đuổi những giá trị chung cho những giá trị cộng đồng càng lớn bao nhiêu thì vai trò của nó càng lớn bấy nhiêu” [Trần Ngọc Thêm 2013: 509] Bên cạnh đó, ông còn nhận định mối liên hệ giữa giá trị văn hóa của doanh nghiệp với con người, với điều kiện xã hội tự nhiên, giá trị vật chất với tinh thần Ông nêu rõ những giá trị văn hóa để từ đó làm cơ sở

lý luận không chỉ cho nhận thức mà còn cho thực tế vận dụng vào việc xây dựng nền tảng văn hóa doanh nghiệp cho doanh nghiệp, doanh nghiệp nhà nước hay bất kỳ loại hình doanh nghiệp nào tại Việt Nam

Trong công trình, “ Hệ giá trị Việt Nam từ truyền thống đến hiện đại

và con đường tới tương lai” (2016), Trần Ngọc Thêm nói đến việc nghiên cứu các giá trị văn hóa trong sự so sánh xuyên quốc gia trên không gian cụ thể, được gọi là các chiều kích văn hóa, tạo thành thang đo giá trị cho phép phân loại các nền văn hóa thế giới Nổi bật là nhà nghiên cứu Ronald

Trang 11

Inglehart từ Mỹ, Geert Hofstede từ Hà Lan và Shalom Schwartz từ Israel được đánh giá là “Ba Cây Đại Thụ về giá trị so sánh và thay đổi giá trị” [tr 71] Ronald Inglehart nghiên cứu giá trị triển khai ở Châu Âu và mở rộng ra phạm vi toàn cầu dưới tên gọi là “Điều tra giá trị thế giới” dựa trên hai chiều kích cơ bản là giá trị tối thiểu (giá trị sống còn đối lập với giá trị sống tốt, giá trị tự thể hiện) và giá trị truyền thống (đối lập với giá trị thế tục – duy lý) [tr 71] Geert Hofstede nghiên cứu sáu chiều kích: (a) Chủ nghĩa

cá nhân (đối lập với Chủ nghĩa tập thể: Individualism/ Collectivism); (b) Khoảng cách quyền lực (Power distance – mức độ lớn hoặc nhỏ); (c) Nam tính (đối lập với nữ tính: Masculinity/ Femininity); (d) Tránh bất định (Uncertainty avoidance); (e) Định hướng dài hạn (đối lập với ngắn hạn: Long/ Short-term orientation); (f) Sự hưởng thụ (đối lập với sự tiết chế: Indulgence/ Restraint), Geert Hofstede cho rằng các chiều kích giá trị là tương đối ổn định theo thời gian và do vậy, những sự phát triển mang tính quốc tế như toàn cầu hóa có thể tác động đến các nền văn hóa dân tộc nhưng sẽ không ảnh hưởng gì nhiều đến các khoảng cách liên văn hóa [tr 72-74] Shalom Schwartz, nhà nghiên cứu xuyên văn hóa với thuyết “Giá trị nhân văn cơ bản” đưa ra bảy định hướng giá trị (chiều kích) cho phép phân loại các xã hội và các nền văn hóa.[tr 74] Theo đánh giá của Trần Ngọc Thêm, bên cạnh những đóng góp có giá trị thì các công trình của các nhà nghiên cứ u này đồng thời cũng chứa đựng ba hạn chế: Giả định coi các nền văn hóa có nhận thức và ứng xử về giá trị giống hệt nhau nhưng thực tế không phải như thế; Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi thường chỉ phản ánh được nhận thức về giá trị chứ không phải bản thân giá trị, và dữ liệu điều tra cả ba nhóm đều chỉ phản ánh được trạng thái đương đại [tr 75-76]

Cũng theo Trần Ngọc Thêm, “việc xây dựng một hệ giá trị mới phù hợp hơn, giúp cho quốc gia và dân tộc có đủ khả năng miễn dịch để bảo đảm sự phát triển kinh tế phải đi đôi với phát triển văn hóa – con người đã trở thành một nhu cầu bức thiết … việc đầu tư nghiên cứu xây dựng hệ giá

Trang 12

trị Việt Nam mới theo con đường tự giác sẽ là cách rút gọn chặng đường chuyển đổi hệ giá trị làm chủ xã hội, làm chủ cuộc đời [tr 21] Tác giả đưa

ra cách nhìn bao quát và cụ thể hơn từ việc xác lập hệ giá trị Việt Nam truyền thống với 23 giá trị tập hợp theo năm đặc trưng, sự biến động của hệ giá trị Việt Nam truyền thống trong giai đoạn hiện đại và đề xuất mô hình

hệ giá trị định hướng cốt lõi toàn diện gồm 35 giá trị, mô hình hệ giá trị định hướng cốt lõi trọng điểm gồm mười giá trị, cùng năm nhóm giải pháp

cơ bản Ngoài ra, ông còn nhận định rằng: “Trong bối cảnh hiện đại hóa, toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế hiện nay, mục tiêu của hệ giá trị tương lai phải là đem lại hạnh phúc cho con người, hướng đất nước đến phát triển, nhưng đó phải là phát triển bền vững chứ không phải phát triển bằng mọi giá” “Bốn trụ cột tạo nên sự phát triển bền vững là kinh tế, môi trường (sinh thái), chính trị và văn hóa Sự phối hợp giữa kinh tế và sinh thái sẽ cho ta giá trị sống tốt, giữa kinh tế và chính trị sẽ cho ta giá trị công bằng, giữa môi trường và chính trị sẽ đảm bảo giá trị về sự lâu dài Cuối cùng, sự phối hợp một cách hợp lý của cả ba trụ cột này trên nền trụ cột thứ tư là văn hóa mới tạo nên được giá trị tổng thể là sự phát triển bền vững” [Trần Ngọc Thêm 2016: 539]

Có một số công trình và tập hợp công trình nghiên cứu đáng chú ý về doanh nghiệp nhà nước trong cơ chế thị trường hiện nay, tiêu biểu và nổi bật như quyển “Diễn đàn kinh tế mùa thu 2014: Tái cơ cấu nền kinh tế: kỳ vọng chuyển biến mạnh mẽ và cơ bản” [Ủy ban kinh tế của Quốc hội – Diễn đàn kinh tế mùa thu 2014], giới thiệu những bài viết của các nhà khoa học, chuyên gia kinh tế tại diễn đàn với những quan điểm, cách nhìn, đánh giá và phân tích về kinh tế Việt Nam năm 2014, triển vọng năm 2015 và quá trình tái cơ cấu nền kinh tế với một trong ba trọng tâm là doanh nghiệp nhà nước, cụ thể: “Một là phải áp đặt đầy đủ nguyên tắc quy luật thị trường đối với doanh nghiệp nhà nước Hai là đổi mới và phát triển, tiến tới áp dụng đầy đủ khung quản trị doanh nghiệp đối với doanh nghiệp nhà nước,

Trang 13

quản trị hiện đại theo thông lê thị trường Ba là cổ phần hóa Bốn là thoái vốn Năm là đối với từng doanh nghiệp phải cải cách toàn diện trên tất cả các mặt từ doanh mục đầu tư, doanh mục cơ cấu và tài sản, thoái vốn, đổi mới quy trình sản xuất, đổi mới công nghệ, đổi mới cơ cấu, tăng năng lực quản lý và quản trị nội bộ, cơ cấu lại thị trường, đào tạo, phát triển nguồn nhân lực” [tr 29]

Tại Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI chỉ rõ yêu cầu bản chất của xã hội mới Xã hội chủ nghĩa là phải: “Đổi mới đồng bộ, phù hợp về kinh tế và chính trị vì mục tiêu xây dựng nước Việt Nam Xã hội chủ nghĩa dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” [tr 99]

Trong công trình nghiên cứu “Triển vọng kinh tế Việt Nam 2014 – Thể chế & Minh bạch: Tái cấu trúc tập đoàn và doanh nghiệp nhà nước: Một góc nhìn từ thể chế và pháp luật" (2014), tác giả Phạm Duy Nghĩa cho rằng “thoái vốn và thu hẹp khu vực doanh nghiệp nhà nước cần phải là tâm điểm quan trọng nhất trong chính sách tái cấu trúc nền kinh tế Để làm được điều đó, năm 2014 cần chú trọng xây dựng đồng thuận chính trị, các tiền đề

về thể chế và pháp luật một cách thận trọng nhằm cho quá trình thoái vốn được diễn ra một cách có kiểm soát, nhất là được giám sát chặt chẽ bởi Quốc hội và toàn thể xã hội” [tr 173]

Trong tài liệu “Báo cáo kinh tế vĩ mô 2014: Cải cách thể chế kinh tế: Chìa khóa cho tái cơ cấu” [Ủy ban kinh tế của Quốc hội, nhóm Tư vấn chính sách kinh tế vĩ mô 2014] xây dựng đánh giá tổng quan kinh tế Việt Nam 2013 và phân tích các vấn đề thể chế, cụ thể là việc đánh giá quản trị doanh nghiệp nhà nước và đề xuất đổi mới khung quản trị doanh nghiệp nhà nước theo thông lệ tốt trên thế giới [tr 10]

Trong cuốn “Văn hóa và kinh doanh”, các tác giả cung cấp cái nhìn

đa chiều hơn trong kinh doanh phải có văn hóa và trong văn hóa phải có kinh doanh “Văn hóa vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội, phát triển nền văn minh nhân loại” [Ban Tư tưởng –

Trang 14

Văn hóa Trung ương 2012: 330].

Tài liệu “Trình độ phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam so với các nước trong khu vực: Kết quả và dấu hiệu, nguy cơ tụt hậu” [Bộ Kế hoạch Đầu Tư - Tổng cục thống kê 2015] chỉ ra những dấu hiệu và nguy cơ “tụt hậu” của Việt Nam so với các nước trong khu vực, đồng thời cũng đưa ra một số giải pháp kiến nghị nhằm khắc phục tình trạng này nhằm tiếp tục đẩy mạnh quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta một cách ổn định

và bền vững [tr 3]

Tài liệu “Cơ chế và tiêu chí giám sát các hoạt động của doanh nghiệp nhà nước” nghiên cứu “rà soát và đánh giá cơ chế và chỉ tiêu giám sát doanh nghiệp nhà nước hiện nay của Việt Nam, những mặt được, chưa được và chỉ ra những khoảng cách của cơ chế giám sát, đánh giá hiện hành

so với thực tiễn quốc tế” [Nguyễn Đình Cung 2014 (cb): 12]

Tài liệu “Doanh nghiệp nhà nước giai đoạn 2006 – 2011” [Tổng cục Thống kê 2014] nêu lên những mặt hạn chế, tồn tại “Mặc dù đã đạt được những kết quả nhất định, song việc sắp xếp đổi mới doanh nghiệp nhà nước trong thời gian qua bộc lộ những hạn chế nhất định,… hiệu quả hoạt động chưa cao, kinh doanh thua lỗ, trình độ công nghệ chỉ đạt mức trung bình tiên tiến, năng suất lao động thấp, việc đổi mới tổ chức trong doanh nghiệp nhà nước còn chậm Quy mô doanh nghiệp nhìn chung chưa lớn, sức cạnh tranh chưa đáp ứng được yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế, chưa tương

xứng với đầu tư của nhà nước” [tr 25]

Bài viết “Xây dựng văn hóa đạo đức và lối sống văn hóa trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế” của Trần Văn Bính cho rằng vấn đề đặt ra là xây dựng văn hóa đạo đức và lối sống văn hóa trong nền kinh tế thị trường như thế nào? “Một khi xã hội mà mọi người chỉ nghĩ đến các nhu cầu vật chất, chỉ lo làm giàu, mà không lo trau dồi đạo đức thì đó

sẽ là một xã hội bất an, một xã hội chứa đựng những nguy cơ tan vỡ” [Trần Văn Bính 2013]

Trang 15

Bài viết “Doanh nghiệp nhà nước mạnh hay yếu?” nhận định “Sự mạnh, yếu ở trên đặt ra vấn đề, một mặt cần đẩy mạnh cổ phần hoá, mặt khác cần nâng cao chất lượng hoạt động của những doanh nghiệp nhà nước,

để có sức cạnh tranh khi mở cửa rộng, sâu hơn” [Dương Ngọc: website]

Bài viết “Văn hóa doanh nghiệp trong thời hội nhập” (2012) của Đinh Công Tuấn nêu lên khái niệm và vai trò to lớn của văn hóa doanh nghiệp đối với việc nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, bài nghiên cứu cũng đã chỉ ra được sự giao thoa giữa văn hóa doanh nghiệp Việt Nam và thế giới, đồng thời tác giả đưa ra những nhận định về văn hóa doanh nghiệp Việt Nam trong thời kỳ hội nhập [Đinh Công Tuấn: website]

Trong khi đó, bài viết “Tái cấu trúc doanh nghiệp nhà nước: Luật chơi chưa thay đổi” (2014), tác giả trích dẫn nhận định của Nguyễn Đình Cung đối với công cuộc đổi mới thể chế và tái cơ cấu kinh tế: “sao chúng ta

cứ ‘đột’ mãi mà không thấy ‘phá’”, “chưa làm được gì và thậm chí chưa có chuyển biến về mặt tư duy nhận thức” Và trích dẫn nhận định của Trần Đình Thiên cho rằng cản trở lớn nhất hiện nay là các doanh nghiệp nhà nước có quyết tâm làm theo đúng kế hoạch Chính phủ đặt ra hay không? Ông còn khẳng định, doanh nghiệp nhà nước chưa thể hiện được vai trò chủ đạo trong nền kinh tế mặc dù được nhà nước giao cho nhiệm vụ này, không còn là khu vực tạo ra công ăn việc làm chính cho nền kinh tế Hơn thế, với kết quả hoạt động kinh tế không thực sự tốt nhưng khu vực kinh tế này lại

sử dụng đòn bẩy tài chính nhiều hơn các doanh nghiệp khu vực khác trong nền kinh tế [Hạnh Nguyễn: website]

Luận văn thạc sỹ “Văn hóa kinh doanh của hoạt động xuất bản trong nền kinh tế Thị trường ở Việt Nam” (2014) của Hoàng Hồng Hạnh chủ yếu

đề cập đến văn hóa kinh doanh của một doanh nghiệp nhà nước ở lĩnh vực xuất bản trong nền kinh tế thị trường

Luận văn thạc sỹ “Văn hóa tổ chức trong doanh nghiệp nhà nước ở

Trang 16

Thành phố Hồ Chí Minh” (2008) của Phạm Thị Trâm Anh có nhận diện giá trị của doanh nghiệp tổ chức nhưng chỉ ở thành tố văn hóa tổ chức và trong không gian thành phố Hồ Chí Minh

Trong luận văn “Nhận diện mô hình văn hóa doanh nghiệp của doanh nghiệp tư nhân tại thành phố Hồ Chí Minh (1990 – 2005)” (2006), Nguyễn Văn Tín có nhận định về văn hóa doanh nghiệp nhưng đối tượng là doanh nghiệp tư nhân

Luận văn “Xây dựng văn hóa doanh nghiệp cho các doanh nghiệp Việt Nam trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế” (2006) của Đỗ Thị Minh Tâm đã nêu lên tầm quan trọng của văn hóa doanh nghiệp đối với các doanh nghiệp Việt Nam trong thời hội kỳ hội nhập, từ đó đề xuất mô hình văn hóa doanh nghiệp trong xu thế hội nhập gồm: lòng tự hào dân tộc; tinh thần đoàn kết, hợp tác; tinh thần ham học hỏi, linh hoạt, sáng tạo; đạo Khổng, Nho Giáo: Nhân - Lễ - Nghĩa - Trí - Tín

Tham khảo các nghiên cứu trên, chúng tôi nhận thấy đây là nguồn tư liệu khoa học rất có giá trị, cung cấp kiến thức nền tảng và gợi mở những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu Chẳng hạn như các công trình nghiên cứu

về doanh nghiệp, doanh nghiệp nhà nước đã được thực hiện tiếp cận dưới góc nhìn về văn hóa, về kinh tế - kinh tế chính trị là chủ yếu Một số luận văn cao học có đề cập đến văn hoá doanh nghiệp nói chung, vẫn chưa nghiên cứu riêng về văn hoá của doanh nghiệp nhà nước Trong khi đó, một

số công trình khác có liên quan đến doanh nghiệp nhà nước thì chủ yếu nghiên cứu một vài khía cạnh cụ thể hoặc tập trung vào một lĩnh vực hoạt động cụ thể, hơn là nhận diện hệ thống giá trị của doanh nghiệp nhà nước một cách toàn diện

Tiếp nối công việc của những người đi trước, trong luận văn này, chúng tôi sẽ tiến hành khảo sát một cách hệ thống các doanh nghiệp nhà nước trong cơ chế thị trường dưới góc nhìn văn hóa học

Trang 17

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu:

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là doanh nghiệp nhà nước ở Việt

Nam trong cơ chế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa

3.2 Phạm vi nghiên cứu:

Giới hạn về Chủ thể: là các doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam, cụ

thể là các tập đoàn kinh tế, các tổng công ty do Nhà nước làm chủ sở hữu

Giới hạn về Không gian là Việt Nam nói chung mà trọng tâm là thành phố Hồ Chí Minh (nơi luôn khẳng định vai trò trung tâm kinh tế của

cả nước, nói riêng)

Giới hạn về Thời gian: từ khi nền kinh tế Việt Nam chuyển sang cơ chế thị trường (năm 1986) đến nay

Giới hạn về tư liệu là tư liệu thống kê và tư liệu báo chí (kể cả tư liệu mạng điện tử)

Giới hạn về cách tiếp cận là góc nhìn văn hóa học

4 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu chung: Tìm hiểu những giá trị (chỗ mạnh) cũng như những bất cập (chỗ yếu) của doanh nghiệp nhà nước trong cơ chế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa

Mục tiêu cụ thể: Thông qua các tư liệu thống kê và báo chí (kể cả tư liệu từ mạng điện tử), luận văn chỉ ra những đặc điểm của doanh nghiệp nhà nước quan tâm đến việc xây dựng giá trị cho doanh nghiệp trong sự phát triển kinh tế thông qua văn hóa để từ đó làm rõ những giá trị đặc trưng của doanh nghiệp nhà nước trong quá trình hoạt động đồng thời góp phần

lý giải những tồn tại trong thực trạng của doanh nghiệp nhà nước, làm rõ hơn những khiếm khuyết để hoàn thiện hệ thống giá trị của doanh nghiệp nhà nước trong cơ chế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay

Trang 18

5 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn

Ý nghĩa khoa học của đề tài, nếu thành công, sẽ đóng góp tư liệu nghiên cứu doanh nghiệp nhà nước nói chung Bên cạnh đó, bổ sung tư liệu nghiên cứu dưới góc độ văn hóa học để lý giải về những vấn đề liên quan đến doanh nghiệp nhà nước trong nhận thức về nền kinh tế thị trường hiện nay

Ý nghĩa thực tiễn của đề tài: Trước hết là góp phần định hướng phát triển vững bền cho doanh nghiệp Sau đó tạo thêm một nguồn dữ liệu tham khảo, nghiên cứu cho các doanh nghiệp nhà nước khác làm cơ sở đề ra các giải pháp cho công tác hoạch định các chính sách phát triển doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam

6 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu

6.1 Quan điểm tiếp cận

Về quan điểm tiếp cận, chúng tôi chủ yếu áp dụng một số quan điểm sau:

Luận văn tiếp cận đối tượng nghiên cứu trên quan điểm văn hóa học, tức là xem xét hoạt động của doanh nghiệp và việc quản lý doanh nghiệp từ góc nhìn giá tri ̣ (văn hóa là một hệ thống giá trị)

Bên cạnh đó, quan điểm tiếp cận theo kinh tế học là ưu tiên thứ hai,

nó cho thấy sự phát triển kinh tế là một quá trình tiến hóa theo thời gian và

do những nhân tố nội tại (bên trong của doanh nghiệp) quyết định đến toàn

bộ quá trình phát triển chi phối trực tiếp đến sự điều hành phát triển kinh tế của doanh nghiệp nhà nước

Ngoài ra, luận văn sử dụng cách tiếp cận liên ngành, kế thừa kết quả nghiên cứu của những ngành có liên quan đến Kinh tế học, Kinh tế chính trị, Quản trị học, v.v và sử dụng mọi tư liệu liên quan đến đề tài để bổ sung giúp hiểu rõ hơn đối tượng nghiên cứu, đồng thời cũng làm cơ sở để mở rộng nghiên cứu

Trang 19

6.2 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp hệ thống - cấu trúc: trước hết áp dụng cho việc thiết

kế đề tài nghiên cứu thành một hệ thống hoàn chỉnh gồm các chương mục

có sự kết nối chặt chẽ, tiếp cận, phân tích các vấn đề liên quan đến doanh nghiệp nhà nước trong tổng thể nền kinh tế đất nước và phân tích từng mặt hoạt động trong tổng thể hoạt động chung của doanh nghiệp nhà nước theo cấu trúc văn hóa học để làm cơ sở thực tiễn cho việc nghiên cứu Tiếp cận, phân tích các giá trị của văn hóa doanh nghiệp nhà nước trong mối liên hệ với các loại hình doanh nghiệp khác của nền kinh tế Việt Nam

Phương pháp nghiên cứu định tính kết hợp với định lượng: áp

dụng phương pháp định tính kết hợp với thống kê dựa trên những tiêu chí

phù hợp với nội dung nghiên cứu, tiến hành phân tích nội dung cho các dữ liệu định tính để làm rõ luận điểm

Phương pháp so sánh: So sánh những giá trị văn hóa của doanh

nghiệp nhà nước trong cơ chế kinh tế tập trung với doanh nghiệp nhà nước trong cơ chế thị trường; so sánh doanh nghiệp nhà nước với doanh nghiệp

thuộc các thành phần khác

6.3 Nguồn tư liệu

Nguồn tư liệu của đề tài bao gồm tư liệu thống kê (bao gồm tư liệu đã công bố và do cá nhân tác giả tiến hành điều tra) và tư liệu báo chí có liên quan đến doanh nghiệp nhà nước

7 Bố cục của luận văn

Ngoài phần Dẫn nhập và Kết luận, luận văn được chia làm ba

chương:

Chương một đặt nền tảng về lý luận và thực tiễn cho đề tài Trình

bày các khái niệm, các lý thuyết tiếp cận, giới thiệu sơ lược về doanh nghiệp nhà nước trong cơ chế thị trường đồng thời định vị đối tượng nghiên cứu theo hệ tọa độ ba chiều chủ thể, không gian, thời gian văn hóa nhằm cung cấp tiền đề lý luận và thực tiễn cho các chương tiếp theo

Trang 20

Các chương tiếp theo xem xét văn hóa doanh nghiệp nhà nước theo cấu trúc ba thành phần “nhận thức - tổ chức - ứng xử” do Trần Ngọc Thêm

đề xuất năm 1995 [x chẳng hạn: Trần Ngọc Thêm 2013: 513-516], trong

đó chương hai trình bày các đặc trưng của doanh nghiệp nhà nước trong cơ

chế thị trường trên bình diện văn hóa nhận thức và văn hóa tổ chức,

chương ba trình bày văn hóa ứng xử của doanh nghiệp nhà nước trong cơ

chế thị trường trên bình diện văn hóa ứng xử

Những kết quả trên rút ra những giá trị mặt mạnh cũng như những mặt hạn chế mà doanh nghiệp cần khắc phục nhằm góp phần ổn định và

phát triển kinh tế lâu dài trong doanh nghiệp

Trang 21

CHƯƠNG 1:

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

1.1 Cơ sở lý luận

1.1.1 Doanh nghiệp và doanh nghiê ̣p nhà nước

Theo Luật doanh nghiệp 2005, “Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh”1 Tại điều bốn (Luật doanh nghiệp 2014 quy định những loại hình tổ chức kinh doanh như công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công

ty hợp danh và doanh nghiệp tư nhân thuộc mọi thành phần kinh tế (sau đây gọi chung là doanh nghiệp hoặc công ty)

Việt Nam hiện nay có bảy loại hình doanh nghiệp chính, đó là: Doanh nghiệp tư nhân, Hợp tác xã, Công ty cổ phần, Công ty trách nhiệm hữu hạn, Công ty hợp danh, Công ty liên doanh và doanh nghiệp nhà nước

Trên thực tế đã từng tồn tại ba khái niệm “doanh nghiệp nhà nước”: Thứ nhất là theo Luật số 14/2003/QH11 của Quốc hội về Luật doanh nghiệp nhà nước, tại điều 1 quy định doanh nghiệp nhà nước là “tổ chức kinh tế do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc có cổ phần, vốn góp chi phối, được tổ chức dưới hình thức công ty nhà nước, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn”2

Thứ hai là tại Nghị định Số: 99/2012/NĐ-CP của Chính phủ ngày 15/11/2012 về phân công, phân cấp thực hiện các quyền, trách nhiệm, nghĩa

vụ của Chủ sở hữu Nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước và vốn Nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp, tại điều 3 quy định “Doanh nghiệp nhà nước

là doanh nghiệp mà Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ, bao gồm doanh nghiệp mà Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ là Công ty trách

1 Luật 60/2005/QH11Doanh nghiệp

2 http://www.chinhphu.vn/portal/page/portal/chinhphu/hethongvanban

Trang 22

nhiệm hữu hạn một thành viên, doanh nghiệp mà Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ là Công ty cổ phần, Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên; doanh nghiệp mà Nhà nước nắm giữ không quá 50% vốn điều

lệ là Công ty cổ phần, Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên trong đó vốn góp của Nhà nước không quá 50% vốn điều lệ; và vốn góp của Nhà nước là vốn được Nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp do một cơ quan nhà nước hoặc tổ chức kinh tế được Nhà nước giao làm đại diện chủ

sở hữu”3

Thứ ba là theo Luật doanh nghiệp số 68/2014/QH13 của Quốc hội ngày 26/11/2014 tại điều 4 quy định như sau: “Doanh nghiệp nhà nước là doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ”

Như vậy, theo quá trình lịch sử phát triển của kinh tế Việt Nam, đặc biệt là trong giai đoạn từ khi chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng

Xã hội chủ nghĩa lần lượt xuất hiện ba khái niệm về doanh nghiệp nhà nước như đã nêu trên Trong luận văn, chúng tôi chọn khảo sát về doanh nghiệp nhà nước nên chúng tôi sử dụng khái niệm thứ nhất và thứ hai cho phù hợp với khảo sát

Ở đây, cần phân định rõ giữa “kinh tế nhà nước” và “doanh nghiệp nhà nước”, đó là hai khái niệm không đồng nhất mà có mối liên hệ với nhau Xuyên suốt từ Đại hội VII (1991) đến Đại hội X (2006) Đảng ta vẫn khẳng định: “Kinh tế Nhà nước giữ vai trò chủ đạo, là lực lượng vật chất quan trọng để Nhà nước định hướng và điều tiết nền kinh tế, tạo môi trường

và điều kiện thúc đẩy các thành phần kinh tế cùng phát triển” Và theo đó tiếp tục khẳng định trong Đại hội khóa XI “Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo Kinh tế tập thể không ngừng được củng cố và phát triển Kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân Kinh tế tư nhân là một trong những động lực của nền kinh tế Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài được khuyến khích phát

3 http://www.moj.gov.vn/vbpq/Lists/Vn%20bn%20php%20lut/View_Detail.aspx?ItemID=28093

Trang 23

triển Các hình thức sở hữu hỗn hợp và đan kết với nhau đã hình thành các

tổ chức kinh tế đa dạng ngày càng phát triển”

Như chúng ta đã biết, tại Đại hội VIII (1996), Đảng ta lần đầu tiên đưa ra phạm trù kinh tế nhà nước thay cho cách gọi kinh tế quốc dân trước

đó, với nội hàm rộng hơn, bao quát được toàn bộ các hoạt động quản lý tài nguyên đất nước, cơ sở hạ tầng, các loại quỹ quốc gia, hệ thống doanh nghiệp nhà nước (bao gồm doanh nghiệp công ích và doanh nghiệp kinh doanh …) Như vậy, doanh nghiệp nhà nước là một bộ phận của kinh tế nhà nước Khi mà các doanh nghiệp nhà nước hoạt động có hiệu quả cao sẽ góp phần tăng cường tiềm lực và sức mạnh của kinh tế nhà nước trong sứ mệnh chủ đạo của nền kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa Cho thấy, việc tăng giảm quy mô số lượng hay chất lượng hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước chỉ là phản ánh một bộ phận nói chung, chứ không thể coi đó là toàn bộ kinh tế nhà nước với vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân được

1.1.2 Thị trường, kinh tế thị trường và cơ chế thị trường

a Thị trường và kinh tế thị trường

Trong mọi xã hội, để tồn tại và phát triển, chúng ta cần phải giải quyết ba vấn đề cơ bản của cuộc sống hàng ngày đó là ăn, mặc, ở thông qua nhu cầu dịch vụ hàng hóa liên quan đến việc lựa chọn nhu cầu sản xuất nào được đáp ứng, với số lượng và sản xuất cho ai hay liên quan đến việc lựa chọn phương pháp kỹ thuật, công nghệ làm sao đáp ứng nhu cầu với chi phí nguồn lực thấp nhất, phân phối ra sao và ai sẽ là người thụ hưởng thành quả đó…; trung tâm của xã hội là kinh tế, là những hoạt động sản xuất kinh doanh thông qua doanh nghiệp là phải làm như thế nào để dung hòa mâu thuẫn giữa sự ham muốn vô hạn và nguồn lực khan hiếm hữu hạn

Thị trường là nơi gặp gỡ giữa người bán và người mua với nhiều hình thức khác nhau như mua bán trực tiếp hay gián tiếp Chúng ta có thể hiểu về thị trường một cách tổng quát qua định nghĩa sau: Đó “là sự biểu

Trang 24

hiện thu gọn của quá trình mà thông qua đó các quyết định của các gia đình

về tiêu dùng các mặt hàng nào, các quyết định của các công ty về sản xuất cái gì, sản xuất như thế nào và các quyết định của người công nhân về việc làm bao lâu cho ai đều được dung hòa bằng sự điều chỉnh giá cả” [David Begg 1992: 11]

Ba vấn đề cơ bản trên (ăn, mặc, ở) được đặt ra với các tổ chức kinh tế

ở mỗi quốc gia hay ở các doanh nghiệp là giống nhau nhưng cách thức giải quyết chúng thì khác nhau tùy thuộc vào việc nền kinh tế của quốc gia sở tại thuộc loại nào trong ba loại hình sau đây: kinh tế thị trường thuần túy, kinh tế kế hoạch tập trung hay kinh tế hỗn hợp Mặt khác, ba vấn đề trên lại được giải quyết thông qua hoạt động tự do của các cá nhân (doanh nghiệp) đồng thời vừa có sự quản lý của nhà nước sở tại, có thể nói tất cả các nền kinh tế trên thế giới ngày nay đều là nền kinh tế hỗn hợp và thường được

gọi là nền kinh tế thị trường

Sự khác biệt giữa các nền kinh tế đó chính là cách thức, cho thấy mức độ can thiệp của Nhà nước thông qua hệ thống Luật kinh tế và các chính sách khác nhau Đối với nền kinh tế thị trường khi các nguồn lực được phân bổ chủ yếu thông qua cơ chế giá cả, theo cơ chế này thì những ai

có mức sẵn lòng chi trả cao hơn hoặc bằng giá thị trường thì họ sẽ được quyền sử dụng nguồn lực đó, ngược lại, những ai có mức sẵn lòng chi trả thấp hơn giá thị trường thì họ sẽ là người không được sử dụng và chúng ta cũng hiểu rằng được hay không được ở đây được hiểu là sự tự giác của mỗi người trên cơ sở họ so sánh lợi ích và chi phí của họ chứ không phải là có một sự cấm đoán nào từ phía bên ngoài

Với ưu điểm của cơ chế giá cả trong việc phân bổ nguồn lực chính là tính hiệu quả kinh tế, nghĩa là các nguồn lực được phân bổ vào những mục đích sử dụng để mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất Trong những năm qua các thành phần doanh nghiệp khác nhau cũng hoạt động theo cơ chế giá cả

Trang 25

thị trường và chỉ có những doanh nghiệp nào hoạt động có hiệu quả nhất mới có khả năng sử dụng được các nguồn lực tốt nhất mà thôi

b Cơ chế thị trường

Nhà Kinh tế học Paul Samuelson với quan điểm về sự kết hợp giữa điều hòa sản xuất khu vực nhà nước với kích thích tự do thị trường đã đề cập “cơ chế thị trường” trong lý thuyết nền kinh tế hỗn hợp, còn nền kinh tế thị trường nhà nước là tư tưởng trung tâm của thành phần kinh tế hiện đại

Nếu như các nhà kinh tế học trường phái cổ hay tân cổ điển đang say

mê với “bàn tay vô hình”, “cân bằng tổng quát” của thị trường, trường phái Keynes lại say sưa với “bàn tay hữu hình” của nhà nước thì Paul A Samuelson4 lại chủ trương phân tích hai bàn tay đó, chính là thị trường và nhà nước Ông cho rằng “Điều hành một nền kinh tế không có chính phủ hoặc thị trường thì cũng như định vỗ tay bằng một bàn tay” [Học viện Báo chí Tuyên truyền – Khoa Kinh tế: 273] cho thấy, cơ chế thị trường cũng chỉ

là một hình thức tổ chức kinh tế [tr 273] mà thôi, trong đó, người mua và người bán có mối quan hệ hữu cơ tác động qua lại lẫn nhau thông qua thị trường và chính nơi đây sẽ xác định ba vấn đề cốt lõi của hình thức tổ chức

cơ chế thị trường này: đó là (1) sản xuất hàng hóa gì với số lượng bao nhiêu, (2) ai là người sản xuất và sản xuất hàng hóa đó như thế nào, bằng nguồn lực nào, sử dụng kỹ thuật gì cho quá trình sản xuất, (3) sản xuất cho

ai, ai là người được hưởng các thành quả của nỗ lực kinh tế đó và sản phẩm quốc dân đó được phân chia như thế nào? [tr 272]

Như vậy, nếu xét về mặt tích cực thì “cơ chế thị trường không phải là một sự hỗn độn của nền kinh tế mà là một trật tự kinh tế” [tr 273], nơi tập hợp các tri thức và hành động tổ hợp những tri thức này lại với nhau để giải quyết những nhu cầu cực kỳ phức tạp giữa người mua và người bán, giải quyết những vấn đề về sản xuất, phân phối, về nhu cầu sở thích mà không

ai tự động thiết kế ra và chúng không xuất hiện một cách tự nhiên khi nhu

4 Paul A Samuelson (1915-2009): Nhà kinh tế học Mỹ, được giải Nobel Kinh tế năm 1970

Trang 26

cầu sở thích của con người luôn luôn thay đổi Điều này cho thấy các yếu tố

cơ bản về dịch vụ hàng hóa, giá cả thị trường, quy luật cung cầu trong cơ chế thị trường phải chịu sự điều khiển của “hai ông vua lớn” trong quá trình sản xuất đó là nhu cầu người tiêu dùng và công nghệ kỹ thuật sản xuất [tr 275] Một mặt, nhu cầu người tiêu dùng thống trị điều khiển thị trường, một khác, công nghệ kỹ thuật hạn chế vì kinh tế không thể vượt qua giới hạn của khả năng sản xuất Hai mặt của vấn đề này cho thấy chính cơ chế thị trường sẽ giúp huy động hiệu quả các nguồn lực, kích thích sự cải tiến công nghệ kỹ thuật và nâng cao năng suất lao động… là sự tiết kiệm chi phí sản xuất, thúc đẩy quá trình phân công lao động của xã hội làm cho khối lượng thị trường hàng hóa ngày càng phong phú đa dạng và nâng cao chất lượng sản phẩm

Trong khi đó, ngoại ứng tiêu cực của cơ chế thị trường tự phát là sẽ đảm bảo cân bằng hàng hóa mang lợi nhuận về cho doanh nghiệp, đây là động lực mục tiêu của các nhà sản xuất kinh doanh và khi ấy họ sẽ bị lôi cuốn vào những mặt hàng có lợi nhuận cao, né tránh những hàng hóa lãi thấp hoặc không có lãi Bên cạnh đó, cơ chế thị trường tự phát còn gây ra nạn lạm phát thất nghiệp, phá hoại tự do cạnh tranh, gây ô nhiễm môi trường… vì bởi, chỉ lo chạy đua theo lợi nhuận mà các nhà kinh doanh sẽ không quan tâm đến những tác động tiêu cực ảnh hưởng môi trường của công nghệ sản xuất, đến sự phân hóa giàu nghèo hay sự phân phối thu nhập bất bình đẳng, từ đó sẽ gây khủng hoảng kinh tế, ảnh hưởng đến sự độc quyền với sản phẩm chất lượng thấp, giá cả bị đẩy lên cao, hạn chế sự cải thiện kỹ thuật và điều quan trọng hơn hết là không có ai cung cấp hàng hóa công cộng… Chính vì những sự bất cập ấy và để đối phó với những thiếu sót, sai lầm của cơ chế thị trường thì nền kinh tế hiện đại cần được phối hợp giữa “bàn tay vô hình của thị trường” và “bàn tay hữu hình của nhà nước” như thuế khóa chỉ tiêu hay pháp luật … để nền kinh tế hỗn hợp hay còn gọi

Trang 27

là nền kinh tế thị trường hiện đại ngày càng phát triển theo định hướng bền vững

Chúng ta có thể điểm qua vài quốc gia trên thế giới sẽ thấy mỗi quốc gia lựa chọn cho đất nước mình một nền kinh tế thị trường phù hợp với định hướng phát triển kinh tế lâu dài như nền kinh tế của Mỹ thì theo mô hình kinh tế thị trường tân tự do với chủ trương “thị trường nhiều, nhà nước ít” hay mô hình kinh tế thị trường xã hội của Thuỵ Điển, của Đức…Việt Nam không ngoại lệ khi nền kinh tế thị trường ở Việt Nam được vận hành theo định hướng Xã hội chủ nghĩa, điều mà Đảng ta chính thức lựa chọn và chỉ đạo tổ chức thực hiện từ Đại hội Đảng lần thứ VI năm 1986 và cho đến nay ba mươi năm thực hiện đổi mới đất nước thì mô hình kinh tế thị trường (hay cơ chế kinh tế thị trường) định hướng Xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam vẫn đang phát huy sức mạnh

Thể chế kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa là các thiết chế công cụ, các nguyên tắc vận hành, hướng dẫn cho chủ thể trong nền kinh tế sử dụng để phát triển các nguồn lực trong sản xuất kinh doanh, vận động theo đuổi mục tiêu kinh tế, mục tiêu xã hội một cách tối đa nhằm cải thiện đời sống nhân dân vì mục tiêu dân giàu nước mạnh, vì một xã hội dân chủ, công bằng văn minh chứ không đơn thuần là mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận Còn cách thức, nội dung triển khai thực hiện mô hình này đã được Đảng Cộng Sản Việt Nam chỉ đạo thực hiện thể hiện trong văn kiện nghị quyết tại Hội nghị lần thứ V, ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XII (tháng 5-2017)

Cơ chế thị trường đã đặt ra nhiều vấn đề cần giải quyết, đó là (1) mâu thuẫn giữa tăng trưởng kinh tế với sự xuống cấp của môi trường tự nhiên, (2) mâu thuẫn giữa tăng trưởng kinh tế với sự gia tăng khoảng cách thu nhập trong xã hội, (3) mâu thuẫn giữa tăng trưởng kinh tế với vấn đề ý thức đạo đức xã hội với lối sống thực dụng, chạy theo lợi ích vật chất kéo theo nạn tham nhũng đã trở thành căn bệnh phổ biến, (4) mâu thuẫn giữa tăng

Trang 28

trưởng kinh tế với vấn đề mất an toàn về sức khoẻ, tính mạng con người trong xã hội, (5) mâu thuẫn giữa tăng trưởng kinh tế với đường giới hạn khả năng sản xuất chưa thực sự được phát huy hết năng lực các nguồn lực tài dân, sức dân, vốn trong dân Năm vấn đề cơ bản trên đã được cơ chế thị trường đặt ra một thách thức lớn đối với sự quản lý của Nhà nước là chưa thể giải quyết, chưa thể sửa chữa những khuyết tật của cơ chế thị trường, chưa thể phát huy hết được những thế mạnh vốn có của nó Bởi vậy, vấn đề

cơ bản được đặt ra ở đây là sẽ giải quyết mâu thuẫn cốt lõi giữa “yêu cầu quản lý trình độ cao” với “thực tiễn quản lý còn yếu kém” của Nhà nước trong quá trình thực hiện kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa [Ngô Thị Tân Hương, Phạm Thị Nga, Đào Thị Tân 2014:115-118]

Trong ngôi nhà chung của nền kinh tế, ở Việt Nam đã sử dụng “bàn tay hữu hình” của Nhà nước và “bàn tay vô hình” của thị trường để trực tiếp điều tiết nền kinh tế thông qua cơ chế thị trường cốt yếu là để phát huy những thế mạnh vốn có, đồng thời sửa chữa những khuyết tật của nó Để thực hiện điều đó, Nhà nước buộc phải nắm toàn bộ những thông tin về kinh tế, về xã hội một cách chính xác và kịp thời trong việc thực hiện nguyên tắc trung tính hóa phương hướng lợi ích khi thi hành nhiệm vụ với

sự vận hành đạt hiệu suất cao nhất

Thực tiễn 30 năm qua cho thấy, trong công cuộc đổi mới Nhà nước ngày càng đạt được những yêu cầu này, song cũng chính trong thực tế đã chỉ ra cho chúng ta ba điểm khó khăn trở ngại:

Thứ nhất đó là độ chính xác của thông tin được cung cấp với tính thời sự bị lạc hậu và tính chủ quan trong việc xử lý thông tin Dẫn đến việc Nhà nước đưa ra một số quyết sách điều tiết nền kinh tế thị trường trong điều kiện thông tin hoàn toàn chưa chuẩn xác, kéo theo việc giải quyết những vấn đề trên gặp nhiều khó khăn, trở ngại

Thứ hai đó là việc Nhà nước chưa thể hiện được nguyên tắc trung tính hóa những phương hướng lợi ích Việc điều tiết nền kinh tế một cách

Trang 29

chuẩn mực sẽ vượt qua những rào cản lợi ích từ ngắn hạn đến địa phương,

từ lợi ích nhóm đến chủ nghĩa cá nhân Nhà nước phải quan tâm triệt để vấn

đề này để hướng tới mục tiêu phát triển bền vững của xã hội

Thứ ba là việc Nhà nước đang vận hành nền kinh tế với hiệu suất thấp khi hệ thống luật pháp vẫn còn chỗ hổng, chưa thật sự toàn diện chặt chẽ nghiêm minh, hiệu lực chưa cao, cơ cấu tổ chức lại quá cồng kềnh vì Nhà nước đã xây dựng và sử dụng các công cụ quản lý để định hướng quá yếu, rõ nét nhất chính là hệ thống các doanh nghiệp nhà nước đang vận hành với hiệu suất thấp kéo theo hệ quả trên.[tr 115-118]

Tóm lại, mô hình kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa là

mô hình kinh tế mới mẻ, chưa có tiền lệ trong lịch sử, do đó, khi vận hành nền kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa sẽ nảy sinh nhiều mâu thuẫn là xu thế khó tránh khỏi trong quá trình vận động và phát triển Và điều quan trọng hơn hết là khi các chủ thể kinh tế hoạt động cần phát hiện mâu thuẫn, tôn trọng mâu thuẫn và tìm ra các giải pháp phù hợp nhất để giải quyết mâu thuẫn đó, tạo động lực cho sự phát triển kinh tế vững bền của đất nước

Việc giải quyết mâu thuẫn giữa yêu cầu quản lý trình độ cao với thực tiễn quản lý còn yếu kém của Nhà nước, nhằm giải phóng sức lao động sản xuất đã từng bước thực hiện thành công trong tiến trình định hướng Xã hội chủ nghĩa của đất nước và sử dụng hệ thống doanh nghiệp nhà nước làm công cụ để Nhà nước thực thi trong tiến trình này Từ những thập niên 1990 khi đất nước chuyển dần sang nền kinh tế thị trường cho kịp đà tiến bộ của

xã hội toàn cầu thì đã lộ rõ những điểm yếu kém trong cơ chế quản lý Chúng ta thấy rõ sự loay hoay của hệ thống các doanh nghiệp nhà nước khi thực hiện chủ trương công nghiệp hóa, hiện đại hóa với kinh tế và khoa học

kỹ thuật là hai thành tố quan trọng trong sự nghiệp phát triển của thời hiện đại và dường như dưới góc nhìn của văn hóa học thì hai thành tố trên vẫn là yếu tố cần nhưng chưa đủ cho sự phát triển bền vững của đất nước Từ góc

Trang 30

nhìn văn hóa học sẽ được soi rõ yếu tố tinh thần của một dân tộc, ý chí kiên định của một quốc gia đan xen, hòa lẫn vào nhau và cùng làm nền tảng trong mọi hoạt động kinh tế, chính trị, xã hội Trong khi Đảng luôn xác định rằng “Văn hóa vừa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu và động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội” (Hội nghị lần V BCH Trung ương Đảng Cộng Sản Việt Nam khóa VIII, tháng 7-1998), hay “phát triển văn hóa là mục tiêu và động lực của phát triển kinh tế - xã hội” (Hội nghị lần thứ X BCH Trung ương Đảng Cộng Sản Việt Nam khóa IX, tháng 7-2004) thì hình như chính chúng ta lại cũng thường xuyên quên văn hóa đầu tiên mỗi khi bàn đến sự phát triển kinh tế của đất nước hay của một doanh nghiệp mà đặc biệt là doanh nghiệp nhà nước trong cơ chế thị trường hiện nay

Vì vậy, cần tìm hiểu “văn hóa”, mối quan hệ hữu cơ giữa “kinh tế và văn hóa” và ảnh hưởng của văn hóa đến sự phát triển kinh tế của doanh nghiệp nhà nước trong cơ chế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa Tác giả chọn chủ thể này để nghiên cứu vì đây là đối tượng đa dạng và rất phức tạp, chủ thể không những hoạt động hầu hết các lĩnh vực trong nền kinh tế nước nhà mà còn mang tầm vóc ra thương trường quốc tế, giao lưu với nhiều nền văn hóa khác nhau Việc tiếp cận văn hóa trong kinh tế là cách tiếp cận mang tính liên ngành

1.1.3 Góc nhìn văn hóa học trong nghiên cư ́ u doanh nghiê ̣p nhà nước

E.B.Tylor (1871), một trong những người đi đầu nghiên cứu về văn hóa, đã định nghĩa trong cuốn “Văn hóa nguyên thủy” như sau: "Văn hóa, hay văn minh, theo nghĩa rộng về tộc người học, nói chung gồm có tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, tập quán và một số năng lực và thói quen khác được con người chiếm lĩnh với tư cách là một thành viên của xã hội" [E.B.Tylor 2000: 13] Với định nghĩa này, Tylor đã miêu tả đồng nhất văn hóa với văn minh và nhấn mạnh đến ba vấn đề: văn hóa là

Trang 31

một phức hợp nhiều mặt; văn hóa là do con người tạo nên; và văn hóa mang tính xã hội

Khái niệm văn hóa có thể được dùng theo nghĩa hẹp hoặc theo nghĩa rộng “Theo nghĩa hẹp, văn hóa được hiểu là những giá trị tinh hoa (nếp sống văn hóa, văn hóa nghệ thuật); những giá trị trong từng lĩnh vực (văn hóa kinh doanh, văn hóa giao tiếp); những giá trị đặc thù của từng vùng; những giá trị trong từng giai đoạn” [Trần Ngọc Thêm 2013: 29] Theo nghĩa rộng, văn hóa là những gì giúp phân biệt cộng đồng này với cộng đồng khác như định nghĩa của UNESCO năm 1970 được nhiều nhà nghiên cứu công nhận: “Đối với một số người, văn hóa chỉ bao gồm những kiệt tác tuyệt vời trong các lĩnh vực tư duy và sáng tạo; đối với những người khác, văn hóa bao gồm tất cả những gì làm cho dân tộc này khác với dân tộc khác, từ những sản phẩm tinh vi hiện đại nhất cho đến tín ngưỡng, phong

tục tập quán, lối sống và lao động” [Tạp chí “Người đưa tin UNESCO”, số

11-1989: 7] Điều này cho thấy, bất kể cá nhân con người nào cũng thuộc sản phẩm của một nền văn hóa cụ thể mà ở đó họ đang sống Sự khác nhau giữa con người được giải thích bằng tính đặc thù văn hóa của họ

Định nghĩa về văn hóa của E.B.Tylor là định nghĩa đầu tiên, với cách hiểu văn hóa theo nghĩa rộng, coi văn hóa là “mô ̣t phức thể bao gồm tri thức, tín ngưỡng, nghê ̣ thuâ ̣t, đa ̣o đức, luâ ̣t pháp, tâ ̣p quán, cùng mo ̣i khả năng và thói quen khác mà con người như mô ̣t thành viên của xã hô ̣i đã đa ̣t đươ ̣c” Cho đến nay đã có hàng trăm định nghĩa về văn hóa với nhiều góc nhìn, nhiều cách hiểu khác nhau Điều đó cho thấy tính đa dạng, phong phú

và tính luôn biến đổi của văn hóa

Bản sắc văn hóa nảy sinh từ văn hóa Tiếp cận từ góc độ giá trị, Trần Ngọc Thêm 2001: Bản sắc văn hóa Việt Nam trước ngưỡng cửa thiên niên

kỷ mới – Trong sách văn hóa Việt Nam – đặc trưng và cách tiếp cận (Lê Ngọc Trà chủ biên), NXB Giáo dục: 2001, tr 292-301 Đó là những giá trị đặc sắc cơ bản được lưu truyền trong lịch sử, là cái tinh hoa bền vững của

Trang 32

nó “Bản sắc văn hóa dân tộc là hệ thống các giá trị văn hóa mà mỗi dân tộc chấp nhận” [Hà Văn Tấn 1996: 153] Nhà nghiên cứu Trần Văn Giàu nhìn nhận có mối quan hệ giữa tính phổ quát và tính đặc thù trong nghiên cứu bản sắc văn hóa một dân tộc [Trần Văn Giàu 2011: tr 98], giữa các giá trị của dân tộc này với các giá trị của dân tộc khác và nhấn mạnh vào những chỗ khác nhau có thật để góp phần khẳng định thêm bản sắc dân tộc trên các lĩnh vực văn hóa tinh thần [Trần Văn Giàu: tr 143] Có phân biệt như vậy mới nổi bật đặc trưng của bản sắc văn hóa dân tộc Đây là quan điểm tiếp cận phù hợp và quan điểm khách quan khoa học, tránh được sự so sánh hơn thua, lấy tộc người của mình làm trung tâm

Trong khuôn khổ luận văn này, chúng tôi dựa vào cách hiểu phù hợp với đối tượng nghiên cứu cụ thể và sử dụng định nghĩa của Trần Ngọc Thêm về văn hóa để làm cơ sở cho việc triển khai khái niệm văn hóa trong lĩnh vực kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước trong những nội dung tiếp theo Theo Trần Ngọc Thêm “Văn hóa là một hệ thống giá trị mang tính biểu tượng do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác với môi trường tự nhiên và xã hội của mình” [Trần Ngọc Thêm 2013: 56] Theo ông, định nghĩa này không những có khả năng bao quát được khá nhiều cách tiếp cận khác nhau, cách hiểu khác nhau về văn hóa, mà còn chứa đựng hai bộ chìa khóa cho phép nhận diện văn hóa

và định vị các nền văn hóa Bộ chìa khóa thứ nhất là chùm bốn đặc trưng gồm tính hệ thống, tính giá trị/ tính biểu tượng, tính nhân sinh và tính lịch

sử Bốn đặc trưng này chính là cơ sở để nhận diện văn hóa, bộ chìa khóa thứ hai là hệ tọa độ ba chiều mà trong đó văn hóa tồn tại Trong định nghĩa này, chúng ta gặp “con người” là chủ thể văn hóa (C); “môi trường tự nhiên

và xã hội” là không gian văn hóa (K); và “quá trình hoạt động” là thời gian văn hóa (T) Việc cụ thể hóa ba thông số C-K-T của hệ tọa độ này (chủ thể

C hoạt động trong thời gian T và tồn tại trong không gian K) sẽ cho ta những nền văn hóa khác nhau, thể hiện tính đa dạng của văn hóa trên cơ sở

Trang 33

một loại hình văn hóa thống nhất Định nghĩa này còn nhắc nhở chúng ta về những chức năng cơ bản của văn hóa là tổ chức (gắn với tính hệ thống), điều chỉnh (gắn với tính giá trị/biểu tượng), giao tiếp (gắn với tính nhân sinh), và giáo dục (gắn với tính lịch sử) cùng với những chức năng khác là những chức năng bộ phận và phái sinh như nhận thức, thẩm mỹ, giải trí, v.v

Đặc trưng đầu tiên và quan trọng nhất của văn hóa là tính hệ thống được thể hiện qua cấu trúc Có nhiều cách nhìn nhận về cấu trúc văn hóa:

Thứ nhất, ở mức độ khái quát nhất, có cấu trúc hai thành phần là văn hóa vật chất - văn hóa tinh thần, văn hóa vật thể - văn hóa phi vật thể (hay văn hóa hữu hình - vô hình) Cấu trúc nhị phân này quá đơn giản, không đủ thể hiện hết sự đa dạng và phức tạp của văn hóa

Thứ hai, cấu trúc ba thành phần là cấu trúc phổ biến nhất trong văn hóa học, gồm: nhận thức - tổ chức - ứng xử (Trần Ngọc Thêm đề xướng năm 1995) Đây là mô hình cấu trúc văn hóa phân loại theo hoạt động: Văn hóa nhận thức: gồm nhận thức về vũ trụ và nhận thức về con người (xét về đối tượng), gồm nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính (xét về mức độ); Văn hóa tổ chức được chia thành tổ chức đời sống tập thể và tổ chức đời sống cá nhân; Văn hóa ứng xử với môi trường chia ra hai thành tố: ứng xử với môi trường tự nhiên và ứng xử với môi trường xã hội Chúng ta sẽ xem xét cấu trúc văn hóa của doanh nghiệp nhà nước trong cơ chế thị trường xuyên suốt chương hai và chương ba ở phần sau

Từ những vấn đề cơ bản liên quan đến khái niệm văn hóa bên trên cho thấy văn hóa thuộc tính quan trọng bậc nhất chi phối toàn bộ quá trình

hình thành, phát triển của con người nói riêng và nhân loại nói chung Văn

hóa có đặc điểm hài hòa là nó không quá tĩnh, quá âm như tự nhiên, cũng không quá động, quá dương như văn minh Văn hóa có tính trầm tĩnh, vững chắc, có cả một bề dày lịch sử và có tính năng động linh hoạt vì đây là sản phẩm sáng tạo của con người qua thời gian Chính vì vậy, mà duy nhất chỉ

Trang 34

có văn hóa mới có nhiệm vụ nặng nề “Văn hóa vừa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu và động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội” (Hội nghị lần thứ V BCH Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa VIII, tháng 7-1998), “phát triển văn hóa là mục tiêu và động lực của phát triển kinh tế - xã hội” (Hội nghị lần thứ X BCH Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa IX, tháng 7-2004) xuyên suốt thời gian và không gian Điều

đó, có thể nói văn hóa đích thực còn là chất men gắn kết con người với con người, từ thế hệ này sang thế hệ khác, từ không gian này sang không gian khác

Chúng ta điểm qua những quan niệm về giá trị trong các lý thuyết về kinh tế và văn hóa sẽ cho thấy giữa chúng có mối quan hệ biện chứng với nhau

Thứ nhất, các lý thuyết giá trị trong kinh tế học với điểm khởi hành

là tác phẩm “Của cải của các quốc gia” của Adam Smith (1776), đã đưa ra thuật ngữ khoa học là giá trị sử dụng và giá trị trao đổi “Khi phân tích về giá trị, ông cho rằng giá trị được biểu hiện ở giá trị trao đổi trong mối quan

hệ về số lượng với các hàng hoá khác, còn trong nền sản xuất hàng hoá phát triển nó được biểu hiện ở tiền” Ông đã chỉ ra cơ sở của giá trị, thực thể của giá trị chính là do lao động, hay nói cách khác lao động là thước đo giá trị [Nguyễn Quang Hạnh: Website] Đến thế kỷ XIX, Adam Smith và các nhà kinh tế chính trị sau ông đã đề xuất lý thuyết về giá trị dựa trên chi phí sản xuất, sau đó Ricardo và Marx đã xây dựng các lý thuyết về lao động thì cho thấy giá trị được xác định bằng số lượng lao động được kết tinh trong hàng hóa

Lý thuyết cận biên (qui luật lợi ích cận biên giảm dần) là một cuộc cách mạng xuất hiện vào cuối thế kỷ XIX, đã thay thế các lý thuyết giá trị dựa trên chi phí sản xuất bằng mô hình hành vi kinh tế được xây dựng trên các lợi ích cá nhân, khi “lợi ích là khả năng của một sản phẩm thoả mãn được một nhu cầu mà một chủ thể cảm nhận, bất kể nhu cầu đó là nhu cầu

Trang 35

gì” [Claude Jessua5 (Nguyễn Đôn Phước dịch): website] Từ đây, thuyết lợi

ích đã phát sinh và trở thành nền tảng của thuyết hành vi người tiêu dùng trong kinh tế học hiện đại, các cá nhân có sở thích giỏ hàng hóa này mà lựa chọn trong khi không thích giỏ hàng hóa khác… xuất phát từ nhu cầu tâm

lý của con người tác động đến nhu cầu sở thích của họ, và việc phát minh ra chi phí lợi ích biên có thể giải quyết mâu thuẫn của cái gọi là giá trị nhưng với thuyết giá trị, chắc chắn là sẽ không bao giờ giải quyết xong vì nguồn lực có hạn mà nhu cầu hầu như vô hạn của con người

Như vậy, dưới góc nhìn kinh tế học thì giá trị là nguồn gốc, là động

cơ của các hành vi hoạt động kinh tế của cá nhân, của sản phẩm giỏ hàng hay của doanh nghiệp Tất cả các giá trị đều phải đi đôi với lợi ích cá nhân, giá cả, trị giá….và để giải quyết mâu thuẫn giữa nguồn lực có hạn mà nhu cầu vô hạn thì nền kinh tế thị trường sẽ là phương tiện điều phối các giá trị nhằm thỏa mãn nhu cầu ước muốn của con người

Thứ hai, tiếp cận từ góc độ giá trị, nhà nghiên cứu Trần Ngọc Thêm cho rằng : khái niệm “Văn hóa” kéo theo khái niệm “giá trị, tính giá trị”,

“giá trị” là một khái niệm có ngoại diên khá rộng: Giá trị sử dụng, Giá trị đạo đức, Giá trị thẩm mỹ [Trần Ngọc Thêm 2014: Website] Đề xuất thêm khái niê ̣m “trị giá” như “những phẩm chất tự có của các sự vật/hiện tượng trong quan hệ so sánh với nhau, không lệ thuộc vào các nhân tố bên ngoài”

để từ đó xác định quan hệ giữa giá tri ̣ và trị giá: “Giá trị là trị giá mang tính chủ quan, còn trị giá là giá trị có tính khách quan” [Trần Ngọc Thêm 2010: Website] Và cũng theo Trần Ngọc Thêm: “Trong thời buổi kinh tế thị trường, khi mà vai trò của yếu tố tinh thần, đạo đức mới chỉ dừng lại ở lời nói, ở các văn kiện, thì chủ nghĩa duy vật chất đã lôi kéo con người chạy theo vật chất tầm thường một cách chóng mặt Kinh tế phải đi cùng với văn hóa; sự giàu có phải đi cùng với bản lĩnh và trí tuệ Đừng hiểu một cách cơ giới rằng cứ “dân giàu” rồi thì tự nhiên sẽ có “nước mạnh” Mỗi người dân,

5 Giáo sư ưu tú đại học Panthéon-Assas (Paris 2)

Trang 36

mỗi gia đình và toàn xã hội đều cần phải vừa giàu vừa mạnh Mạnh phải hiểu là mạnh về vật chất chỉ là phần nhỏ, cái mạnh chính phải là mạnh về trí tuệ, tinh thần, văn hóa Nếu sống chỉ vì mục đích kiếm tiền, đi làm chỉ vì tiền, thì con người sẽ đi về đâu? Một xã hội mà giá trị vật chất lên ngôi, giá trị tinh thần đi xuống thì sẽ hỗn loạn thế nào? Nguyên nhân sâu xa nữa, là

do cách quản lý không chỉ kém hiệu quả mà còn không công bằng, tạo ra sân chơi không công bằng giữa doanh nghiệp nhà nước với doanh nghiệp tư nhân, giữa người cùng phe nhóm với người ngoài phe nhóm, giữa người nắm giữ quyền lực hoặc có quan hệ “cánh hẩu” với người nắm giữ quyền lực và dân đen Tất cả cái sự thiếu công bằng đó đã dẫn đến sự chênh lệch giàu nghèo không chỉ lớn, mà còn rất lớn một cách không bình thường Nó gây nên sự bất bình từ bên trong, khiến cho thói hung hăng của người Việt càng có đất phát triển, và đó là dấu hiệu cảnh báo theo hướng tiêu cực” [Trần Ngọc Thêm 2015: website]

Giá trị văn hóa được hiểu do con người sáng tạo ra, bao gồm tất cả các loại giá trị đạo đức, giá trị kinh tế, giá trị pháp lý [Trần Ngọc Thêm 2010: website]… có thể hiểu bản thân hoạt động kinh tế không chỉ gắn bó với văn hóa mà thực sự là một phần thuộc của văn hóa được hiểu theo nghĩa rộng “Việc phân định văn hóa và kinh tế một cách rạch ròi là không chặt chẽ và thỏa đáng Mặc dù,“kinh tế đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong mọi thời đại … chúng ta không thể nói đến phát triển nếu không cải thiện được đời sống vật chất cho con người”, “phát triển, suy cho cùng, chính là sự tăng trưởng những giá trị của con người chứ không phải là tỷ lệ tăng trưởng kinh tế”, “ngay cả việc tăng trưởng kinh tế đơn thuần chúng ta cũng thấy có sự tác động của văn hóa dù trực tiếp hay gián tiếp”, “Văn hoá tác động đến mọi mặt của cuộc sống chứ không phải chỉ có kinh tế, văn hoá làm tăng chất lượng nhu cầu của con người, cũng làm tăng chất lượng sản xuất kinh doanh và thúc đẩy xã hội phát triển” Điều này cho thấy, văn hóa

Trang 37

và kinh tế có mối liên hệ biện chứng với nhau thông qua con người với tư cách là một thực thể văn hóa” [Nguyễn Trần Bạt 2005: Website]

Từ góc tiếp cận nêu trên, dưới góc nhìn văn hóa học, cho thấy, giá trị văn hóa chính là những giá trị tinh thần, bao trùm gần như trọn vẹn trong mọi hoạt động của đời sống con người Đây chính là động lực thúc đẩy mọi

sự phát triển, hướng con người đến sự phát triển toàn diện của những giá trị

chân - thiện – mỹ

Tóm lại, từ góc nhìn kinh tế và văn hóa cho thấy hai thành tố này có mối quan hệ hữu cơ tác động qua lại với nhau, chúng đều quan trọng như nhau, cùng độc lập nhưng giao thoa tương tác lẫn nhau Tăng trưởng kinh tế

là tiền đề, điều kiện cần thiết để phát triển văn hóa và ngược lại phát triển văn hóa sẽ góp phần thúc đẩy kinh tế tăng trưởng và phát triển bền vững Việc nghiên cứu khoa học liên ngành này được hình thành và phát triển mạnh trên thế giới, thừa nhận hai lĩnh vực này có vai trò quan trọng như nhau Đây là hai hệ thống độc lập nhưng đan xen tương tác lẫn nhau và vấn

đề cần đặt ra là làm sao xử lý tốt mối quan hệ giữa chúng để phục vụ cho những lợi ích tương liên

Ở một góc độ khác, “Văn hóa được coi như một phương tiện chức năng xây dựng trên nguyên tắc sinh học có quan hệ chặt chẽ với việc nghiên cứu các phương thức nhằm thỏa mãn những nhu cầu cuộc sống của con người trong ăn, ở, mặc”, theo lý thuyết chức năng luận của Bronilaw Malinowski (1884-1942) Ông chia “các nhu cầu cơ bản của con người và nhu cầu sản xuất sinh ra trong môi trường văn hóa Và cho rằng “Văn hóa là cái nhằm thỏa mãn nhu cầu sinh học và tâm lý của con người, hơn nữa nó cải tạo môi trường xung quanh và tạo ra môi trường sản xuất Văn hóa là tổng thể những đáp ứng đối với những nhu cầu cơ bản và nhu cầu sản xuất” [Malinowski 2016: 33] Điều này cho thấy hoạt động của doanh nghiệp nhà nước trong cơ chế thị trường dưới góc nhìn văn hóa học là sự tích hợp yếu

Trang 38

tố kinh tế và yếu tố văn hóa nên cũng có chức năng riêng để đảm bảo cho

sự vận hành cân bằng và ổn định một cách có hệ thống

Theo hướng tiếp cận trên, xuyên suốt chương hai và chương ba của luận văn, tác giả sẽ đi sâu vào tìm hiểu chức năng nhiệm vụ với các yếu tố bên trong bên ngoài và mối quan hệ của doanh nghiệp nhà nước hoạt động trong cơ chế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa

Chức năng đầu tiên và quan trọng nhất là chức năng tâm lý, đáp ứng nhu cầu xã hội của con người theo hướng hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp phục vụ cho mục đích cuộc sống về sự sinh tồn vật chất và từ đó tạo

ra những giá trị tinh thần làm cho cuộc sống ngày càng hoàn mỹ hơn, tốt đẹp hơn

Chức năng thứ hai là chức năng xã hội với việc điều chỉnh hành vi ứng

xử của con người với con người, con người với doanh nghiệp, doanh nghiệp với doanh nghiệp, doanh nghiệp với ứng xử môi trường bên trong bên ngoài, với các mối quan hệ, mối liên hệ, với môi trường tự nhiên theo các chuẩn mực đạo đức mang lại những giá trị văn hóa về mặt xã hội Từ đây, giúp cho doanh nghiệp hoạt động phát triển một cách bền vững, lồng ghép các mối quan hệ kinh tế với quan hệ văn hóa nhằm kết nối duy trì truyền thống văn hóa dân tộc vào định hướng phát triển lâu dài của doanh nghiệp nhà nước

Như vậy, doanh nghiệp nhà nước là một đối tượng nghiên cứu trong luận văn, đây được xem là một chủ thể văn hóa đặc biệt trong hoạt động kinh tế, khi hơn bất kỳ loại hình doanh nghiệp nào thì chủ thể này đã có sẵn tính văn hóa trong cấu trúc tổ chức, tạo nên bản sắc riêng của doanh nghiệp nhà nước Việt Nam Chúng ta có thể khẳng định bản sắc văn hóa trong doanh nghiệp nhà nước là một chủ thể văn hóa dân tộc Các chủ thể kinh tế hoạt động là để kiếm lợi ích từ kinh tế, nhận thức về văn hóa và hoạt động kinh tế có nền tảng văn hóa sẽ nâng cao tầm quản lý kinh doanh một các

hiệu quả Mục tiêu và động lực của chủ thể này là tạo ra những giá trị văn

Trang 39

hóa bên cạnh việc tạo ra những giá trị kinh tế trong cơ chế thị trường hiện nay

Nghiên cứu cấu trúc văn hóa của chủ thể này trong luận văn không chỉ là việc nghiên cứu các giá trị, hệ giá trị, các nội dung phổ quát của văn hóa mà còn là việc nghiên cứu những khiếm khuyết của chủ thể thể hiện qua điểm mạnh và điểm yếu của doanh nghiệp nhà nước trong cơ chế thị trường hiện nay xuyên suốt chương hai và chương ba

1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến doanh nghiệp nhà nước Việt Nam

trong cơ chế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa

1.2.1 Chủ thể Nhà nước và truyền thống quản lý kinh tế

Với tư cách là chủ thể, doanh nghiệp nhà nước Việt Nam, cơ quan chủ quản của các doanh nghiệp này (Chính phủ, các Bộ) và truyền thống quản lý kinh tế Chúng ta có thể điểm qua vài nét về hoạt động kinh doanh của Việt Nam qua các giai đoạn lịch sử kinh tế từ manh nha thời phong kiến, đến phong kiến nữa thuộc địa, đến thành công của Cách mạng Tháng Tám 1945, sự thống nhất đất nước mùa xuân năm 1975 và công cuộc đổi mới đất nước từ năm 1986 đến nay Theo giáo sư Trần Văn Thọ, kinh tế Việt Nam thời Pháp thuộc thịnh vượng nhất là năm 1938, cao hơn năm

1960 là 60% Năm 1938, tổng sản phẩm quốc nội của Đông Dương là 1,014

tỷ tiền Đông Dương, trong đó công nghiệp chiếm 22% Kinh tế thị trường

có mức độ phát triển nhất định So với thời trước thực dân, cơ cấu kinh tế chuyển từ kinh tế phong kiến nặng tự cung tự cấp sang nền kinh tế có công nghiệp và thương mại phát triển ở mức độ nhất định, chủ yếu xuất khẩu lúa gạo, cao su, than [Trần Văn Thọ: Website]

Thời kỳ hai mươi năm (1955-1975) nước ta lại đứng trước tình hình phải thực hiện hai chiến lược đó là miền Bắc bước vào thời kỳ quá độ tiến lên Chủ nghĩa xã hội và miền Nam tiếp tục công cuộc cách mạng giải phóng miền Nam thống nhất đất nước Trong giai đoạn này chúng ta có thể thấy từ năm 1965 đến 1975 tuy miền Bắc phải đương đầu với cuộc chiến

Trang 40

tranh phá hoại của đế quốc Mỹ nhưng sản xuất công nghiệp vẫn được duy trì và phát triển (Năm 1975 miền Bắc đã có 1.335 xí nghiệp công nghiệp quốc doanh, tăng 323 xí nghiệp so với năm 1960 Và hoạt động thương mại được chú trọng Tổng mức bán lẻ hàng hóa xã hội năm 1975 so với năm

1955 tăng gấp 7,8 lần; kim ngạch xuất khẩu tăng 21,3 lần; kim ngạch nhập khẩu tăng 11,8 lần Tỷ lệ xuất khẩu so với nhập khẩu tăng từ 9,1% năm

1945 lên 17,0% năm 1955) Để hỗ trợ cho nông nghiệp và nông thôn khắc phục hậu quả nặng nề của chiến tranh và tàn dư của chế độ phong kiến Đảng và Nhà nước đã có nhiều chủ trương tích cực về chính sách kinh tế và tài chính, cho thấy, từ một nền nông nghiệp lạc hậu độc canh với năng suất thấp dần dần trở thành một nền nông nghiệp phát triển tương đối toàn diện Công nghiệp miền Bắc thời kỳ này đã có bước phát triển khá từ những cơ

sở sản xuất công nghiệp nhỏ bé chủ yếu là khai thác nguyên liệu và sửa chữa nhỏ thì nay đã bắt đầu sản xuất một phần tư liệu sản xuất và phần lớn

là những vật phẩm tiêu dùng của nhân dân

Thời kỳ 1976-1986 trên mặt trận kinh tế Việt Nam đã đạt được những thành tựu quan trọng vừa từng bước khắc phục hậu quả nặng nề của chiến tranh vừa củng cố kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể ở miền Bắc Nhưng kết quả sản xuất cho thấy không tương xứng với sức lao động và vốn đầu tư bỏ ra, mất cân đối của nền kinh tế quốc dân, thu nhập chưa bảo đảm được tiêu dùng của xã hội, thị trường vật giá tài chính tiền tệ không ổn định, đời sống của nhân dân lao động còn khó khăn… Dẫn đến lòng tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng và sự điều hành của nhà nước giảm sút “Tư tưởng chủ quan, say sưa với thắng lợi, nóng vội, muốn tiến nhanh lên Chủ nghĩa xã hội trong một thời gian ngắn, việc bố trí sai cơ cấu kinh tế cộng với những khuyết điểm của mô hình kế hoạch hóa tập trung quan liêu, bao cấp bộc lộ ngày càng rõ rệt làm cho tình hình kinh tế - xã hội rơi vào khủng hoảng, trì trệ”; “Những cuộc cải tạo ồ ạt với công - thương nghiệp và nông nghiệp đã dẫn tới những khó khăn, sa sút”; “Sau khi giải phóng miền

Ngày đăng: 14/04/2021, 16:39

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm