CHƯƠNG 4: VĂN HÓA ĐỐI PHÓ VÀ LƯU LUYẾN KỸ NỮ
4.2. Văn hóa lưu luyến kỹ nữ
4.2.1. Trong văn hóa giao tiếp và nghệ thuật ngôn từ
Từ khi xuất hiện cho đến nay, hình ảnh của kỹ nữ đã ăn sâu vào tiềm thức của mỗi người dân Trung Quốc. Người ta không chỉ yêu kỹ nữ, ghét kỹ nữ, đối phó với kỹ nữ mà còn thể hiện nó trong văn hóa giao tiếp và nghệ thuật ngôn từ. Trong văn hóa giao tiếp, những từ ngữ hay lời nói liên quan đến kỹ nữ rất nhiều. Chỉ riêng thuật ngữ để chỉ kỹ nữ thôi cũng đã hết sức đa dạng. Có thể liệt kê một số tên gọi sau:
Xướng kỹ (娼妓/倡妓) hay xướng ưu (娼优): tên gọi này ra đời khá sớm, ban đầu dùng để chỉ những người kỹ nữ hành nghề ca múa như con hát, vũ nữ, đào kép... Về sau, chúng được dùng để chỉ những cô gái hành nghề mại dâm.
Gái Bắc Lý (北里) hay Bình Khang (平康): Thuật ngữ này xuất hiện vào thời Đường. Khi đó, kỹ nữ thường sống tập trung ở làng Bình Khang của thành Trường An (thuộc Hà Đông ngày nay) nên được gọi là gái Bình Khang. Và vì Bình Khang có vị trí gần cửa Bắc nên còn được gọi là Bắc Lý.
Mỹ nữ câu lan (勾栏美人): vào thời Tống, các rạp hát hý khúc ở các thành thị Trung Quốc trên cơ bản đã hình thành và được gọi là câu lan. Từ đó về sau, câu lan trở thành nơi giải trí trong thành thị. Vì các nghệ kỹ tài sắc thường ở trong câu lan nên xuất hiện cách gọi mỹ nữ câu lan để chỉ kỹ nữ.
Án xướng (暗娼): đây là một cách nói ẩn dụ, xuất hiện vào thời đương đại, chuyên chỉ những cô gái bán dâm hay gái điếm. Vì từ thời đương đại trở đi, Trung Quốc không tồn tại kỹ nữ hợp pháp nên kỹ nữ được đặt tên dựa theo phương thức hoạt động lén lút của họ (chữ án mang nghĩa lén lút, bí mật, còn chữ xướng có nghĩa là kỹ nữ, gái điếm).
Ngoài những tên gọi mang sắc thái biểu cảm trung tính như trên, trong lời ăn tiếng nói hàng ngày của người Trung Quốc còn xuất hiện không ít thuật ngữ gọi kỹ nữ với ý xem thường. Chẳng hạn như:
Đỉnh lão (顶老) là tiếng lóng thể hiện sự khinh bạc kỹ nữ được dùng phổ biến từ thời Tống Nguyên trở đi. Trong Nam từ tự lục (南词叙录) của Từ Vị thời Minh còn ghi rằng: “Đỉnh lão là hỗn danh của kỹ nữ” (顶老,妓之诨名) [Từ Quân - Dương Hải 2001: 14].
Gái phong trần (风尘女子): Từ phong trần ban đầu dùng để chỉ xã hội hỗn loạn hoặc chỉ tình cảnh phiêu bạt giang hồ. Về sau, người ta dần đem từ gái phong trần để chỉ kỹ nữ. Trong truyện Liêu trai chí dị có câu: “Thiếp ủy phong trần, thực phi sở nguyện” (妾委风尘,实非所愿, có nghĩa là thiếp phải gửi thân vào chốn phong trần, quả thực là điều không muốn) [ dẫn theo:
http://blog.sina.com.cn/s/blog_4a70bf8c01017lor.html].
Các từ như gái yên hoa (烟花), đệ tử (弟子), biểu tử (表 子), kỹ đệ (妓 弟), khoa tử (科子) đều là cách gọi kỹ nữ với ý khinh rẻ. Chẳng hạn: Trong màn 2 của vở hý kịch Khúc giang trì có câu: “Cũng vì ta nhất thời bị ma làm mờ mắt, mới rơi vào tay con biểu tử ấy” [Từ Quân - Dương Hải 2001: 18]. Hay trong Thủy hử truyện hồi 32 viết rằng: “Chỉ vì giết một con đàn bà trong đám yên hoa, mà lại gây ra sự khổ cực thế này” [Từ Quân - Dương Hải 2001: 19].
Tuy bị khinh khi nhưng kỹ nữ vẫn giành được sự ưu ái của một số người trong xã hội (nhất là giới văn nhân sĩ tử). Vì thế trong đời sống đã xuất hiện những thuật ngữ gọi kỹ nữ với lời lẽ hoa mỹ, mang sắc thái tôn trọng, ngưỡng mộ. Chẳng hạn:
Chữ hoa (花) thường dùng để chỉ bông hoa hay người đẹp còn mang nghĩa là kỹ nữ, cô đầu. Vào thời xưa, nó được dùng để chỉ kỹ nữ hoặc những thứ có liên quan đến kỹ nữ.
Thần nữ (神女): ám chỉ kỹ nữ, có ý tôn sùng và ca ngợi kỹ nữ giống như các nữ thần phương Tây. Thuật ngữ này cũng xuất hiện trong thơ của Lý Thương Ẩn42 thời vãn Đường: “Thần nữ sinh nhai bất sự mộng” (神女生涯不是梦, có nghĩa là cuộc đời thần nữ không phải là mộng ảo).
Nữ hiệu thư (女校书): thuật ngữ này xuất phát từ thời Đường. Vào thời này có danh kỹ Tiết Đào nổi tiếng giỏi thơ văn, thường cùng các văn sĩ đương thời bàn thơ đề bút. Trong số thi nhân, có người đề thơ tặng nàng, trong đó có câu “vạn lý kiều biên nữ hiệu thư” (万里桥边女校书) nên người đời sau đã gọi kỹ nữ có tài hoa thơ văn này là “nữ hiệu thư”. Từ đó về sau, tên gọi này được dùng phổ biến để chỉ những kỹ nữ tài sắc vẹn toàn, bán nghề không bán thân.
42 Lý Thương Ẩn (khoảng 813 – 858), tự Nghĩa Sơn, hiệu Ngọc Khê Sinh, Phàn Nam Sinh, nguyên quán ở Hoài Châu, quận Hà Nội (nay là Tẩm Dương, Hà Nam, Trung Quốc). Ông là nhà thơ vào cuối thời Đường, thơ văn của ông có giá trị văn học rất cao. Trong tuyển tập “300 bài thơ Đường” thì thơ của Lý Thương Ẩn đã có đến 22 bài được đưa vào, đứng thứ 4 về số lượng.
Giác kỹ (角妓): thuật ngữ này xuất hiện từ thời Tống, khi đó người ta dùng chữ “giác” để ca ngợi những người phong lưu tài hoa. Vì thế từ “giác kỹ” nảy sinh để chỉ những danh kỹ tài nghệ xuất chúng, xinh đẹp mỹ miều. Danh kỹ Lý Sư Sư được miêu tả trong Đại Tống Tuyên Hòa di sự của Hưởng Tập rằng: Giai nhân này, nổi danh khắp thiên hạ, chính là một giác kỹ Đông kinh (这个佳人,名冠天下,
乃是东京角妓).
Người chương đài (章台人): Chương Đài vốn là tên một con đường ở thành Trường An bên Tàu. Sở dĩ người Chương Đài trở thành tên gọi khác của kỹ nữ vì nó có liên quan đến điển tích tình sử. Vào thời Đường, có một thi nhân trẻ tuổi nổi tiếng tên là Hàn Hồng. Chàng gặp và yêu nàng kỹ nữ họ Liễu ở Chương Đài. Không lâu sau, Hàn Hồng đi làm việc ở xa, lại chẳng may gặp loạn An Lộc Sơn nên hai người phải chịu cảnh ly biệt. Trải qua hơn ba năm trời, Hàn vẫn chưa về đón nàng kỹ nữ họ Liễu được, bèn viết thư rằng:
Chương Đài Liễu! Chương Đài Liễu!
Vãng nhật y y kim tại phủ?
Tung sử trường điều tự cựu thùy, Dã ưng phan chiết tha nhân thủ.43 Có nghĩa là:
Liễu ơi, hỡi Liễu Chương Đài, Ngày xưa xanh biếc, hỏi nay có còn?
Ví tơ buông vẫn xanh rờn,
Hay vào tay khác, khó còn nguyên xưa!
[Bản dịch thơ của Trúc Khê: vi.wikibooks.org]
43章台柳,章台柳/ 往日依依今在否/ 纵使长条似旧垂/ 也应攀折他人手
Hỏi Liễu Chương Đài có nghĩa là hỏi thăm người tình kỹ nữ ở Chương Đài.
Xuất phát từ điển tích này mà dần dần các văn nhân đã thi vị hóa kỹ nữ thành
“người Chương Đài”.
Ngoài gọi tên cho kỹ nữ với tâm lý khinh khi hay ngưỡng mộ, người ta còn tạo ra những tên gọi kỹ nữ mang ít nhiều đặc trưng của họ. Chẳng hạn như từ dã kê44 (野鸡) có nghĩa đen là gà hoang, dùng để chỉ loại gái điếm bên ngoài có quan hệ bất chính với nam giới, nhằm khu biệt với phụ nữ nhà lành (được nuôi trong nhà). Hay từ bảo nhi (鸨儿) vào thời cổ người ta thường dùng để chỉ kỹ nữ. Trong tiếng Hoa thì “bảo” là tên gọi của loài chim sấm (bảo điểu). Đặc tính của loài chim này là không có con trống, chỉ toàn giống mái, nó rất thích giao hợp với loài chim khác và thường không có chừng mực. Qua liên hệ, người Trung Quốc thấy rằng kỹ nữ cũng là những người thích dâm loạn không ngán, tức là giống nhu cầu giao hợp của loài chim này. Vì thế họ đã gán tên loài chim này cho kỹ nữ. Không chỉ thế, những giả mẫu nuôi dưỡng kỹ nữ cũng được gọi theo tên loài chim này: “bảo mẫu”
(鸨母, tú bà), “lão bảo” (老鸨, mụ chủ chứa, tú bà)... Trong phương ngữ Bắc Kinh hiện đại, người ta còn dùng thuật ngữ công cộng khí xa (公共汽车 - xe buýt công cộng) để chỉ những kỹ nữ bán dâm thời hiện đại. Hành khách đi xe buýt thì chỉ cần có tiền dù là ai đi chăng nữa cũng có thể lên xe. Đặc trưng này có vẻ rất giống yêu cầu đối với khách làng chơi của kỹ nữ. Bất luận là người đàn ông nào cũng đều được kỹ nữ chào mời, chỉ cần có tiền là có thể phát sinh quan hệ tình dục. Có thể thấy, dùng “xe buýt công cộng” để chỉ kỹ nữ là một sự liên tưởng khá thú vị.
Không chỉ để lại dấu ấn sâu đậm với những tên gọi dùng trong ngôn ngữ đời sống qua các thời kỳ mà hình ảnh kỹ nữ còn được lưu giữ trong không ít các loại hình nghệ thuật ngôn từ. Trong xã hội phong kiến Trung Quốc, đa số kỹ nữ có tài trí và nghệ thuật cao hơn hẳn trình độ của những phụ nữ thông thường. Họ không chỉ có sắc đẹp xuất chúng mà phần lớn còn thông thạo nghệ thuật ca múa, thậm chí có người còn có thể vẽ tranh làm thơ. Vì thế, trước những kỹ nữ có dáng vẻ yêu kiều,
44 Chữ kê (鸡) gần âm với chữ kỹ (妓), đều đọc là ji.
tầng lớp trí thức vốn là những kẻ phong lưu đa tình trong xã hội đã không khỏi ngây ngất say mê. Sự lây lan nghệ thuật giữa thơ và ca múa cùng sức hút giữa tình dục và tình cảm khiến cho cự ly giữa kỹ nữ và các văn nhân sĩ tử được kéo lại gần nhau hơn. Kỹ nữ không chỉ trở thành tri kỷ có thể thấu hiểu nỗi niềm của văn nhân mà còn gieo vào lòng thi nhân những hạt giống tình yêu, để từ đó họ đi vào đất nước thơ ca, trở thành nguồn cảm hứng văn chương cho những thi nhân ngâm vịnh. Có thể nói trong các loại hình văn học thì kỹ nữ được tái hiện nhiều nhất trong thơ ca.
Ở Trung Quốc, thi nhân từ xưa đến nay đều có truyền thống làm thơ vịnh kỹ nữ, và phần lớn đều xưng tụng việc ca múa. Chẳng hạn, bài Xuân kỹ của Lưu Hiếu Trác viết rằng:
Yên cơ trăn diệu vũ, Trịnh nữ phát ca thanh Bản dịch của Cao Tự Thanh:
Yên cơ tay múa đẹp Trịnh nữ tiếng ca trong
[Từ Quân - Dương Hải 2001: 268]
Vào thời Đường – thời kỳ hoàng kim của thi ca Trung Quốc, các thi nhân không những tìm được nguồn tư liệu sáng tác không cạn ở kỹ nữ, mà còn nổi tiếng nhờ các tác phẩm viết về kỹ nữ. Theo thống kê thì trong 49.403 bài thơ được thu thập trong Toàn Đường thi thì có hơn 2000 bài thơ có liên quan đến kỹ nữ. Điều đó cho thấy thơ văn đề vịnh kỹ nữ của văn nhân thời Đường chiếm một vị trí nhất định trong thi ca.
Đối với thi tiên Lý Bạch, ông tìm thấy nguồn cảm hứng trong những chén rượu mà các nàng Ngô cơ (chính là kỹ nữ vùng Giang Nam nổi tiếng xinh đẹp, lại đàn hay múa giỏi) chào mời ông qua bài Kim Lăng tửu tứ lưu biệt:
Phong xuy liễu hoa mãn điếm hương,
Ngô cơ áp tửu hoán khách thường.
Kim Lăng tử đệ lai tương tống, Dục hành bất hành, các tận thương Thỉnh quân thí vấn đông lưu thuỷ, Biệt ý dữ chi thùy đoản trường?
Dịch thơ:
Tửu lầu gió thoảng hương hoa
Gái Ngô chuốc rượu khách ngà ngà say.
Kim Lăng tử đệ đến đây
Người đi kẻ ở chén đầy lại vơi.
Về đông dòng nước chảy xuôi Nỗi niềm ly biệt ai người buồn hơn?
[Bản dịch của Trần Nhất Lang, dẫn theo Anh Nguyên 2009:
http://www.hoasontrang.us/tangpoems/duongthi.php?loi=69]
Trong thời gian bị giáng chức làm Tư mã Giang Châu, một lần Bạch Cư Dị dạo chơi bến Tầm Dương và gặp người kỹ nữ đang gảy đàn tỳ bà. Chợt có mối đồng cảm giữa người thơ long đong trên bước đường sự nghiệp công danh với cuộc đời trôi dạt, bị bỏ rơi quên lãng của người kỹ nữ đáng thương, Bạch Cư Dị đã sáng tác một mạch bài thơ Tỳ Bà Hành ngay trên thuyền. Bài thơ đã gửi gắm niềm thông cảm xót thương người ca kỹ gặp nhiều cảnh éo le, không may mắn trên đường đời đồng thời cũng là tiếng chuông cảnh cáo chế độ phong kiến đã chà đạp lên nhân phẩm, hạnh phúc, và quyền sống của người phụ nữ.
…Mời mọc mãi, thấy người bỡ ngỡ Tay ôm đàn che nửa mặt hoa
Vặn đàn mấy tiếng dạo qua
Dẫu chưa nên khúc, tình đà thoảng hay Nghe não nuột mấy dây buồn bực Dường than niềm tấm tức bay lâu Mày chau tay gẩy khúc sầu
Dãi bầy hết nỗi trước sau muôn vàn…
[Bản dịch của Phan Huy Vịnh, dẫn theo Viên Thu 2012:
http://www.hoasontrang.us/tangpoems/duongthi.php?loi=38]
Thi nhân Đỗ Mục thời Đường nổi tiếng phong lưu, khi bị đày xuống Dương Châu và sống cùng một kỹ nữ, nhà thơ tài hoa này gợi nên dư vị về những cuộc tình chóng vánh ở chốn lầu xanh qua bài Khiển hoài danh tiếng:
Lạc phách giang hồ tái tửu hành Sở yêu tiêm tế chưởng trung khinh Thập niên nhất giác Dương Châu mộng Doanh đắc thanh lâu bạc hãnh danh.
Dịch thơ:
Vơ vẩn sông hồ nghiêng ngả say, Lưng thon, mình nhẹ cạnh kề ai.
Dương châu chợt tỉnh mười năm mộng, Được tiếng lầu xanh phụ bạc hoài.
[Bản dịch của Trần Trọng San, dẫn theo Huyền Thanh Lữ 2010:
http://www.hoasontrang.us/tangpoems/duongthi.php?loi=126]
Ngoài ra, đối với những ca kỹ bị buộc phải đến ở đài Đổng Tước sau khi Tào Tháo chết, không ít thi nhân đồng tình với đãi ngộ bi thảm của những kỹ nữ không may đã mượn Đồng Tước đài làm cảm hứng thi ca. Đỗ Mục cũng là một trong số đó với bài Xích Bích hoài cổ:
Chiết kích trầm sa thiết vị tiêu, Tự tương ma tẩy nhận tiền triều.
Đông phong bất dữ Chu Lang tiện, Đồng Tước xuân thâm tỏa nhị Kiều.
Dịch thơ:
Dưới cát gươm chìm sắt chửa tiêu, Rũa mài nhận biết dấu tiền triều.
Gió đông nếu chẳng vì Công Cẩn, Đồng Tước đêm xuân khoá Nhị Kiều.
[Bản dịch của Phan Kế Bính, dẫn theo Viên Thu 2011:
http://www.hoasontrang.us/tangpoems/duongthi.php?loi=44]
Nhà thơ Ngô Vĩ Nghiệp Mai Thôn gặp kỹ nữ Trần Viên Viên, say đắm mà viết thành Viên Viên khúc - bài trường ca danh tiếng cuối Minh đầu Thanh.
…Gia bản Cô Tô Cán Hoa Lý Viên Viên tiểu tự kiều la ỷ Mộng hướng Phù Sai uyển lý du Cung nga ủng nhập quân vương khởi Tiền thân hợp thị thái liên nhân
Môn tiền nhất phiến Hoành Đường thủy.
Hoành Đường song tương khứ như phi Hà xứ hào gia cưỡng tải quy
Thử tế khởi tri phi bạc mệnh Thử thì chỉ hữu lệ triêm y…
Dịch thơ:
…Nhà ở Cô Tô làng giặt vải Tên tự Viên Viên đẹp lộng lẫy
Thường mơ tới chơi vườn Phù Sai.
Cung nữ đưa vào vua đứng dậy.
Tiền thân là gái hái hoa sen
Trước cửa một vùng sông nước chảy.
Nước chảy mái chèo khua như bay Người ác nơi đâu ép chở đi?
Lúc ấy đã hay mình bạc mệnh.
Đương thời chỉ biết khóc chia ly.
[Bản dịch của Cao Tự Thanh, dẫn theo Direnjie 2007:
http://www.hoasontrang.us/phorum/showthread.php/3337-...]
Bên cạnh thơ ca, kỹ nữ cũng góp mặt không ít trong các thể loại văn học khác như tiểu thuyết, tản văn, truyện ngắn,… Trong suốt chiều dài lịch sử Trung Quốc, các sách viết về kỹ nữ hoặc có đề cập đến kỹ nữ nhiều không biết bao nhiêu mà kể. Ba trong tứ đại danh tác45 của văn học Trung Quốc là Tam Quốc diễn nghĩa, Thủy Hử, Hồng lâu mộng đều có bóng dáng của kỹ nữ xuất hiện. Ngoài ra, hình ảnh kỹ nữ còn xuất hiện trong các tác phẩm quen thuộc với độc giả Việt Nam như: Kim Bình Mai, Liêu trai chí dị… Dưới đây xin liệt kê một vài đoạn trích trong các kiệt tác của mọi thời đại này:
Trong Thủy hử truyện, tác giả đã viết quan hệ mật thiết giữa Lý Sư Sư với việc chiêu an các anh hùng Lương Sơn Bạc.
“…Yến Thanh từ chối chẳng được, đành nhấp nháp một hai chén để chìu ý chủ nhân. Nguyên Lý Sư Sư vốn là một ả làng chơi quen thói lẳng lơ, phong trần đã dạn, thấy Yến Thanh lanh lợi đẹp trai, nói năng hoạt bát, lòng riêng đã lấy làm ưa.
Bèn chiêu rượu, ả Lý mấy lần tìm lời cợt nhả chọc ghẹo, rượu cạn vài tuần bèn ởm ờ giọng say sán đến khêu gợi. Yến Thanh là người thông minh, làm gì chẳng hiểu chuyện ấy? Nhưng chàng là một hảo hán có nghị lực, sợ làm hỏng việc lớn của huynh trưởng, đâu dám đáp lại sự tỏ tình của Lý Sư Sư!...
45 Tứ đại danh tác của văn học Trung Quốc gồm: Tây du ký, Tam quốc diễn nghĩa, Thủy hử, Hồng lâu mộng