1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Giáo trình lịch sử thế giới cổ đại

196 16 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 196
Dung lượng 3,06 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chương 2: Sự hình thành, phát triển, suy vong của xã hôi cổ đại phương Đông với những thành tựu văn hoá tiêu biểu: Ai Cập, Lưỡng Hà, Ấn Độ, Trung Quốc.. - Tổng quan về lịch sử loài ngườ

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

NỘI DUNG CHƯƠNG 1: XÃ HỘI NGUYÊN THỦY 3

BÀI 1 XÃ HỘI NGUYÊN THỦY……… 4

1.1 NGUỒN GỐC LOÀI NGƯỜI……… 5

1.1.1 Một số luận thuyết về nguồn gốc loài người ……… 5

1.1.2 Những bằng chứng khoa học về nguồn gốc loài người dưới ánh sáng……

của khoa học hiện đại……….6

1.2 SỰ PHÁT TRIỂN CỦA XÃ HỘI LOÀI NGƯỜI TRONG XÃ HỘI NGUYÊN THỦY……… 12

1.2.1 Giai đoạn Bầy người nguyên thủy……… 12

1.2.2 Sự hình thành và phát triển của công xã thị tộc mẫu hệ………15

1.3 SỰ TAN RÃ CỦA XÃ HỘI NGUYÊN THỦY……… 19

1.3.1 Sự xuất hiện của công cụ kim loại, sự phát triển của sức sản xuất đưa đến cuộc phân công lao động lớn trong xã hội……… .19

1.3.2 Sự xuất hiện công xã thị tộc phụ hệ……… 21

1.3.3 Sự xuất hiện chế độ tư hữu và xã hội có giai cấp……… 22

CHƯƠNG 2: XÃ HỘI CỔ ĐẠI PHƯƠNG ĐÔNG………25

Bài 2 AI CẬP CỔ ĐẠI……….26

2.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ DÂN CƯ………27

2.1.1 Điều kiện tự nhiên……… …27

2.1.2 Dân cư……… …28

2.2 QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH QUỐC GIA AI CẬP THỐNG NHẤT… …28

Trang 4

2.3 CÁC THỜI KỲ LỊCH SỬ CỦA AI CẬP CỔ ĐẠI……… 30

2.3.1 Thời kỳ Cổ vương quốc ( 2900 – 2300 TCN )……… 30

2.3.2 Thời kỳ Trung vương quốc ( 2150 – 1710 TCN )……… 30

2.3.3 Thời kỳ Tân vương quốc ( 1560 – 941 tr CN )……… 31

2.4 NHÀ NƯỚC AI CẬP CỔ ĐẠI……… 32

2.5 TÌNH TRẠNG KINH TẾ AI CẬP CỔ ĐẠI……… 33

2.6 QUAN HỆ XÃ HỘI VÀ ĐẤU TRANH GIAI CẤP Ở AI CẬP CỔ ĐẠI……35

2.6.1 Quan hệ xã hội……… 35

2.6.2 Đấu tranh giai cấp……… 36

2.7 VĂN HÓA AI CẬP CỔ ĐẠI……… 37

2.7.1 Chữ viết……… 37

2.7.2 Văn học……… 38

2.7.3 Nghệ thuật kiến trúc và điêu khắc……… 39

2.7.4 Tôn giáo……… 39

2.7.5 Khoa học tự nhiên……… 40

2.7.6 Y học……… 41

Bài 3 LƯỠNG HÀ CỔ ĐẠI……… 43

3.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ DÂN CƯ……… 44

3.1.1 Điều kiện tự nhiên……… 44

3.1.2 Cư dân……… 45

3.2 CÁC QUỐC GIA Ở KHU VỰC LƯỠNG HÀ……… 45

3.2.1 Quốc gia của người Xu Me……… 45

3.2.2 Quốc gia của người Ac-cat……… 47

3.2.3 Vương triều Ua và sự phục hưng của người Xu Me……… 48

3.2.4 Vương quốc Ba-bi-lon và thời đại Ham-mu-ra-bi……… 48

3.2.5 Vương quốc Can-đê (Tân Ba-bi-lon)……… 53

3.3 VĂN HÓA LƯỠNG HÀ CỔ ĐẠI……… 54

3.3.1 Chữ viết……… 54

3.3.2 Văn học……… 55

3.3.3 Tôn giáo……… 55

Trang 5

3.3.5 Nghệ thuật kiến trúc – điêu khắc……… 56

Bài 4 ẤN ĐỘ CỔ ĐẠI……… 58

4.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ CƯ DÂN……… 59

4.1.1 Điều kiện tự nhiên……… 59

4.1.2 Cư dân……… 60

4.3.2 CÁC THỜI KÌ LỊCH SỬ CỦA ẤN ĐỘ CỔ ĐẠI……… 61

4.2.1 Nền văn minh sông Ấn (3000TCN- 1500TCN)……… 61

4.2.2 Thời kì Vê-đa (1500TCN-600TCN)……….63

4.2.3 Vương triều Mô-ri-a (321 – 184 TCN)……… 63

4.3 VĂN HÓA ẤN ĐỘ CỔ ĐẠI……….71

4.3.1 Văn tự……… 71

4.3.2 Văn học………72

4.3.3 Nghệ thuật………73

4.3.4 Khoa học……… 74

Bài 5 TRUNG QUỐC CỔ ĐẠI………76

5.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ DÂN CƯ 77

5.1.1 Điều kiện tự nhiên 77

5.1.2 Cư dân 78

5.2 TRUNG QUỐC THỜI CÔNG XÃ NGUYÊN THỦY 79

5.3 TRUNG QUỐC THỜI CỔ ĐẠI 80

5.3.1 Nhà Hạ (khoảng thế kỷ XXI – XVI TCN) 80

5.3.2 Nhà Thương (khoảng thế kỷ XVI – XI TCN) 81

5.3.3 Nhà Tây Chu (Từ thế kỉ XI - VIII TCN) 82

5.3.4 Thời Xuân Thu –Chiến Quốc 85

5.4 VĂN HÓA TRUNG QUỐC CỔ ĐẠI 89

5.4.1 Chữ viết 89

5.4.2 Văn học và Sử học 90

5.4.3 Khoa học tự nhiên 91

5.4.4 Các học thuyết triết học 92

Trang 6

CHƯƠNG 3: XÃ HỘI CỔ ĐẠI PHƯƠNG TÂY 101

Bài 6 HY LẠP CỔ ĐẠI 102

6.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ DÂN CƯ 103

6.1.1 Điều kiện tự nhiên 103

6.1.2 Dân cư 104

6.2 VĂN MINH CƠ-RET – MY-XEN 104

6.3 THỜI ĐẠI HÔ-ME TRONG LỊCH SỬ HY LẠP (thế kỷ XI- IX TCN)… 105

6.4 HY LẠP TỪ THẾ KỶ VIII ĐẾN THẾ KỶ V TCN 106

6.4.1 Những biến chuyển lớn trong xã hội Hy Lạp 106

6.5 NHÀ NƯỚC X-PAC 109

6.5.1 Xã hội 109

6.5.2 Quân sự và tổ chức nhà nước 110

6.6 THÀNH BANG ATEN……… 111

6.6.1 Sự ra đời nhà nước ten và quá trình hoàn thiện của nhà nước dân chủ chủ nô A-ten (thế kỷ VII – thế kỷ VI TCN)……….111

6.6.2 Chiến tranh Hy-Ba (499- 488 TCN)……… 114

6.6.3 Aten trong thời kỳ phát triển toàn thịnh của chế độ chiếm hữu nô lệ (từ thế kỷ V đến thế kỷ IV TCN)……… 115

6.6.4 Chiến tranh Pê-lô-pô-ne (431-404 TCN) và sự khủng hoảng của các thành bang Hy Lạp ……… 117

6.7 HY LẠP TRONG THỜI KỲ THỐNG TRỊ CỦA MA-KÊ-ĐÔ-NIA THỜI KỲ HY LẠP HÓA (TỪ NĂM 334 ĐẾN NĂM 30 TCN)………119

6.7.1 Ma-kê-đô-nia và sự thống trị các thành bang Hy Lạp………119

6.7.2 Cuộc đông chinh của A-lếch-xan Ma-kê-đô-nia – thời kỳ Hy Lạp hóa (Từ năm 334 TCN đến năm 30 TCN) 120

6.8 VĂN HÓA HY LẠP CỔ ĐẠI ……… 122

6.8.1 Văn học và sử học ……… 122

6.8.2 Khoa học tự nhiên ……… 125

6.8.3 Nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc và hội họa………126

6.8.4 Triết học cổ Hy Lạp……… 128

Trang 7

Bài 7 LA MÃ CỔ ĐẠI……….131

7.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ DÂN CƯ……… 132

7.1.1 Điều kiện tự nhiên……… 132

7.1.2 Dân cư……… 133

7.2 SỰ THÀNH LẬP LA MÃ VÀ TỔ CHỨC CHÍNH TRỊ BUỔI ĐẦU (VIII- VI TCN)_ THỜI KÌ “ VƯƠNG CHÍNH”……….134

7.3 LA MÃ THỜI CỘNG HÒA (510-27 TR.CN)……… 135

7.3.1 Cải cách của Xec-vi-ut Tu-li-ut và sự ra đời của nhà nước La Mã 135

7.3.2 Sự thành lập chế độ cộng hoà……… 136

7.3.3 La Mã trở thành một đế quốc ở khu vực Địa Trung Hải ……… 139

7.3.4 Sự phát triển kinh tế và chế độ chiếm nô của La Mã thời cộng hoà …… 142

7.3.5 Các cuộc đấu tranh và khởi nghĩa của nô lệ……… 148

7.3.6 Sự sụp đổ của chế độ Cộng hoà ……… 150

7.4 THỜI KỲ ĐẾ CHẾ (27 TCN ĐẾN 476 SCN)……… 154

7.4.1 Thời kỳ cực thịnh của chế độ chiếm hửu nô lệ La Mã_ 154

72.4.2 La Mã – thời kì khủng hoảng, suy vong (thế kỉ III – thế kỉV)………158

7.5 VĂN HÓA LA MÃ CỔ ĐẠI……… 161

7.5.1 Chữ viết ……….161

7.5.2 Văn học ……… 161

7.5.3 Sử học……….162

7.5.4 Khoa học tự nhiên……… 162

7.5.5 Triết học……… 163

7.5.6 Tôn giáo……… 163

7.5.7 Kiến trúc……….165

TÀI LIỆU THAM KHẢO………169

PHẦN PHỤ LỤC……… 171

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 THÔNG TIN VỀ MÔN HỌC

- Tên môn học: Lịch sử thế giới cổ đại

- Mã môn học: WOH 522

- Số tín chỉ: 3

- Các môn học tiên quyết: không

2 KẾT CẤU CHƯƠNG TRÌNH

Lịch sử cổ đại theo quan niệm hình thái kinh tế, xã hội không bao gồm

giai đoạn công xã nguyên thuỷ Nhưng để có thể có kiến thức tổng quan về lịch sử loài người từ khi xuất hiện đến nay, chúng tôi xin đề cập giai đoạn từ khi con người xuất hiện trên trái đất đến khi nhà nước và giai cấp ra đời ở chương 1

Tổ chức và quản lí xã hội dưới chế độ công xã nguyên thuỷ ở khắp mọi nơi trên thế giới hầu như giống nhau, chỉ khác về mức độ phát triển và những chi tiết không chủ yếu Vì thế, phần này được gộp chung vào một chương để nghiêng cứu những nét cơ bản, chủ yếu

Đến xã hội cổ đại, mỗi quốc gia, mỗi khu vực lại phát triển với những đặc thù riêng nên được chia thành hai khu vực: phương Đông với những nước Ai Cập, Lưỡng Hà, Ấn Độ, Trung Quốc, và phương Tây với Hy Lạp, Rô-ma

Với quan điểm trên, cấu trúc tài liệu giảng dạy chia làm ba chương: Chương 1: Trình bày những đặc trưng cơ bản về đời sống vật chất

và tinh thần của xã hội nguyên thủy Qua đó nhận thức được tính quy luật của lịch

sử, vai trò của lực lượng sản xuất trong sự phát triển của lịch sử xã hội loài người Chương 2: Sự hình thành, phát triển, suy vong của xã hôi cổ đại

phương Đông với những thành tựu văn hoá tiêu biểu: Ai Cập, Lưỡng Hà, Ấn Độ, Trung Quốc

Chương 3: Sự hình thành, phát triển, suy vong của xã hội cổ đại

phương Tây với những thành tựu văn hoá tiêu biểu của hai quốc gia Hy Lạp, La

Từ cấu trúc trên sinh viên có thể giải quyết những vấn đề sử học sau:

-Về kinh tế, cả hai khu vực đều lấy nông nghiệp là hoạt động chính, chủ đạo trong nền kinh tế, hoạt động công thương nghiệp chỉ đóng vai trò bổ sung và

hỗ trợ cho nền kinh tế nông nghiệp Từ đó phủ nhận quan điểm hoạt động công, thương nghiệp là đặc điểm kinh tế của phương Tây cổ đại

- Về chính trị, nhận thức rằng: do hoạt động nông nghiệp là hoạt động

Trang 9

xem là tài sản quí giá nhất Chính vì vậy nó trở thành mục tiêu tranh chấp của

các cá nhân và các nhà nước, là nguyên nhân dẫn đến mọi biến động về kinh tế,

chính trị, văn hoá trong đời sống trong mỗi nước Là nguyên nhân dẫn đến chiến

tranh khiến bản đồ của các quốc gia biến đổi trong tiến trình lich sử; thậm chí có

những quốc gia bị biến mất khỏi bản đồ thế giới

- Về xã hội, so sánh để thấy được điểm tương đồng và dị biệt giữa hai mô

hình xã hội cổ đại Từ đó giải quyết vấn đề có hay không chế độ chiếm hữu nô lệ

ở phương Đông

- Về văn hoá, có nhiều thành tựu kì diệu Nó nói lên rằng, về phương diện

kinh tế, khoa học kĩ thuật còn thấp, đời sống con người ở thời kì cổ đại khắp mọi

nơi đều còn nhiều khó khăn, vất vả và đầy bất trắc, nhưng đã xây dựng cho mình

một đời sống văn hoá tinh thần vượt thời đại, để lại cho nhân loại và các thế hệ

sau những tư tưởng, những tác phẩm văn hoá-nghệ thuật kiệt xuất Sự so sánh

cho rằng nền văn minh nông nghiệp thời cổ đại lạc hậu hơn so với nền văn minh

công nghiệp và hậu công nghiệp chỉ là sự so sánh khiên cưỡng, khập khểnh

Tài liệu giảng dạy được viết để đáp ứng yêu cầu đào tạo theo hệ thống tín

chỉ cho sinh viên năm thứ hai, học kì III ngành sư phạm lịch sử Ngoài phần lý

thuyết tài liệu còn có các câu hỏi ở cuối chương, các phần thực hành, rèn luyện

kĩ năng, tài liệu tham khảo để sinh viên vận dụng vào thực tiễn dạy học bộ môn ở

nhà trường phổ thông

Mong muốn của người biên soạn là giúp cho sinh viên dễ dàng nắm bắt

kiến thức, biết đọc và nghiên cứu tài liệu, có khả năng phân tích những vấn đề cụ

thể, từ đó nâng lên thành khả năng lý luận, khái quát, so sánh đối chiếu, rút ra

quy luật, đạt trình độ cần thiết về kiến thức lịch sử thế giới cổ đại

Trong khi biên soạn, người biên soạn có kế thừa những thành tựu trong

nhiều Giáo trình đại học sư phạm trong nước và các chuyên khảo

Người biên soạn mong muốn nhận được nhiều ý kiến đóng góp của đồng

nghiệp để tài liệu được hoàn thiện

An Giang, ngày 20 tháng 5 năm 2012

Người biên soạn

Nguyễn Ngọc Thủy

Trang 10

CHƯƠNG 1

XÃ HỘI NGUYÊN THỦY

Sinh viên cần nắm những kiến thức cơ bản sau:

- Những khái niệm cơ bản như “Bầy người nguyên thủy”,“Thị tộc”, “Bộ lạc” “Công xã thị tộc mẫu hệ”, “Thị tộc phụ hệ”, “Công xã láng giềng”, “Tô- tem giáo” “Quan hệ tạp giao”, “Quần hôn”, “Hôn nhân đối ngẫu”

- Tổng quan về lịch sử loài người trong buổi bình minh của lịch sử, khi tổ tiên loài người xuất hiện cách đây mấy triệu năm với các giai đoạn: Bầy người nguyên thuỷ, thị tộc mẫu hệ, thị tộc phụ hệ, sự xuất hiện giai cấp và nhà nước

- Đây là khoảng thời gian dài nhất, xa xưa nhất nhưng phát triển chậm chạp nhất trong lịch sử nhân loại Nguyên nhân của tình trạng này là nguyên liệu chủ yếu để chế tạo công cụ lao động là đá Nguyên liệu này vừa cứng vừa giòn, muốn chế tạo thành loại hình công cụ từ ghè đẻo đến mài đá phải đòi hỏi hàng vạn năm Nhưng vượt trên tất cả đây là khoảng thời gian đáng tự hào nhất

mà tổ tiên loài người đã vượt qua_ chuyển hoá từ loài động vật thành người hiện đại

- Thông qua lịch sử xuất hiện, tiến hóa của tổ tiên loài người, sinh viên cần phải lí giải được những vấn đề cơ bản như: Nguồn gốc loài người; Những kiến giải khác nhau về cái nôi của loài người; Động lực thúc đẩy qúa trình chuyển biến từ vượn thành người; Những thành tựu, phát minh vĩ đại đánh dấu các giai đoạn phát triển của tổ tiên loài người trong thời kì xã hội nguyên thủy Nhiệm vụ của sinh viên:

- Đọc và nghiên cứu giáo trình, tài lệu tham khảo cần thiết được giới thiệu

Trang 11

BÀI

XÃ HỘI NGUYÊN THỦY

Xã hội nguyên thủy là hình thái xã hội đầu tiên và tồn tại lâu dài nhất trong lịch sử nhân loại Lịch sử xã hội nguyên thủy bắt đầu từ khi con người xuất hiện trên trái đất cho đến lúc chế độ thị tộc phụ hệ tan rã, giai cấp, nhà nước ra đời khoảng thiên niên kỷ IV trước công nguyên (TCN), sớm nhất ở phương Đông, khi

cư dân ở đây biết sử dụng công cụ kim khí thay dần đồ đá

Trong thời kỳ xã hội nguyên thủy, lực lượng sản xuất chưa phát triển Suốt một thời gian dài, vật liệu để chế tác công cụ sản xuất, săn bắt là đồ đá, đồ xương, sừng, tre, gỗ Người nguyên thủy cảm thấy bất lực trước sức mạnh to lớn của tự nhiên Để tồn tại, phát triển, con người phải liên kết với nhau, cùng lao động tập thể, sở hữu chung về tư liệu sản xuất và sản phẩm lao động làm ra Mọi người sống hòa thuận tương thân, tương ái, không có áp bức, bóc lột, không có giai cấp

Dù phát triển chậm chạp, trì trệ, nhưng người nguyên thủy tự chiến thắng bản thân mình, không ngừng vượt qua mọi thử thách của điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, sáng tạo nhiều giá trị văn hóa vật chất – tinh thần, đặt cơ sở cho các giai đoạn phát triển về sau

Không phải ngẫu nhiên, Ăng Ghen nhật xét: ―Thời đại thái cổ, trong đó mọi

trường hợp là một thời đại lịch sử hết sức có ý nghĩa Bởi vì nó là cơ sở cho mọi

sự phát triển cao hơn sau này Bởi vì xuất phát điểm của nó là con người tách khỏi thế giới động vật, mà nội dung của nó là sự chiến thắng những khó khăn mà tập thể người trong tương lai sẽ không bao giờ gặp lại nữa” 1

Lịch sử xã hội nguyên thuỷ kéo dài hàng triệu năm Các nhà khảo cổ học phân kì lịch sử theo hiện vật khảo cổ, chủ yếu là công cụ sản xuất Nhà dân tộc học căn cứ vào đời sống vật chất và tinh thần Các nhà sử gia theo quan điểm duy vật biện chứng đã nhận thức lịch sử của bất cứ thời đại nào đều có ba giai đoạn: hình thành, phát triển, suy vong Vì vậy kết hợp với cách phân kì lịch sử của các ngành khoa học khác, chúng ta chia xã hội nguyên thuỷ làm ba thời kì:

- Thời kì hình thành, là giai đoạn bầy người nguyên thuỷ và sự hình thành chế độ công xã thị tộc, tương ứng với thời đồ đá cũ

- Thời kì phát triển, là giai đoạn thịnh đạt của chế độ thị tộc mẫu hệ, tương ứng với đồ đá giữa và đồ đá mới

- Thời kì tan rã, là lúc xuất hiện chế độ thị tộc phụ quyền, xã hội phân chia giai cấp, xuất hiện nhà nước, tương ứng với đồ đồng, đồ sắt

1.1 NGUỒN GỐC LOÀI NGƯỜI

1 Dẫn theo Chiêm Tế Lịch Sử thế giới Cổ đại.NXB Giáo Dục Hà Nội 1971.trang 42

Trang 12

1.1.1 Một số luận thuyết về nguồn gốc loài người

a Từ truyền thuyết

Hàng loạt truyền thuyết của các dân tộc cổ đại phương Đông và phương Tây kể về nguồn gốc loài người được lưu truyền:

Người Ấn Độ có truyền thuyết liên quan đến thần Ma-nu (ngự trị trên núi)

và nạn hồng thủy Sau nạn hồng thủy thần Ma-nu đã cầu nguyện thần Bra-ma sáng tạo ra thế giới, có một cô gái xinh đẹp xuất hiện, cùng Ma-nu sinh sống hạnh phúc, sinh con đẻ cái, sáng tạo ra con người

Người Hi Lạp cho rằng loài người sinh ra từ cá

Người Trung Quốc lại kể về ông Bàn Cổ sáng tạo ra thế giới và con người sau 18.000 năm miệt mài gắng sức Bà Nữ Oa nửa người nửa rắn đã sáng tạo ra thế giới loài người, giống đực và giống cái để có thể sinh ra những thế hệ kế tiếp nhau

Người Thái cho rằng: trời đã lấy đất nặn ra sinh vật, có linh hồn, phát ra tiếng kêu – đó là con người

b Từ giáo lý tôn giáo

_ Giáo lí đạo Phật giải thích sự tồn tại của con người là một khâu trong vòng tuần hoàn luân hồi của: sinh – lão – bệnh – tử Nguồn gốc của loài người là

do nhân duyên hợp thành

_ Hồi Giáo (Is-lam) lí giải thánh A-la đã tạo ra muôn loài và con người _ Theo kinh Thánh đạo Thiên Chúa, sau khi sáng tạo ra muôn loài, Chúa đã lấy đất bùn tạo nên ―bản sao‖ của chính mình Chúa hà hơi thở của mình vào ―bản sao‖ ấy Nhờ có linh hồn của Chúa nên ―bản sao‖ ấy sống động, khôn ngoan hơn muôn loài_ đó là Con Người Chúa đặt tên cho con người đầu tiên ấy là A-đam, nhưng A-đam cũng cần đồng loại Vì thế, Chúa bèn rút bớt một chiếc xương sườn của A-đam, cùng với chút bùn nhơ cuối cùng còn vét được, nhào nặn nên một con người nữa để làm bạn với A-đam Sinh vật mới này nhỏ hơn A-đam và mang giới tính nữ, Chúa đặt tên là E-va Hai thực thể A-đam và E-va chính là những con người đầu tiên và theo Thánh kinh họ chính là tổ tiên của loài người Nhưng cả hơi thở, sự sống và linh hồn của A-đam và E-va đều là từ Chúa

1.1.2 Những bằng chứng khoa học về nguồn gốc loài người dưới ánh sáng của khoa học hiện đại

a Những bằng chứng khoa học về nguồn gốc loài người

_ Học thuyết

Bắt đầu từ thế kỷ XVIII, vấn đề nguồn gốc loài người mới được nghiên cứu trên cơ sở khoa học:

Trang 13

Ngành phôi thai học, khi nghiên cứu quá trình phát triển của bào thai đã kết luận: quá trình hình thành bào thai người là sự ―rút ngắn‖ của hàng triệu năm tiến hoá

Ngành động vật học cũng kết luận: một số động vật có vú mắc một số căn bệnh như loài người Những loài động vật này cũng chịu thuốc kháng sinh và các loại vác-xin phòng dịch giống như con người

Dựa vào sự phân tích tư liệu động vật học, thế kỷ XVIII, Lin Nê, nhà sinh

vật học Thuỵ Điển đã xếp người, khỉ, vượn vào một bộ gọi là Bộ linh trưởng Bu

Bông, nhà bác học người Pháp đã có phát hiện lớn về tiến hóa giống loài Ông

cho rằng tổ tiên loài người cũng như các loại sinh vật đều có sự thay đổi, tiến hóa theo thời gian

Năm 1809 La Mác (1744-1829), nhà bác học Pháp, đã kế thừa và phát triển

thuyết tiến hóa của Bu Bông lên một bước cao hơn Ông cho xuất bản quyển sách

“Triết học động vật”, cho rằng tất cả các động vật đều có tổ tiên, nguồn gốc từ xa

xưa mà phát triển lên bằng con đường tiến hóa Ông khẳng định loài người có nguồn gốc từ loài vượn nhân hình tiến hóa thành, do sự từ bỏ cuộc sống leo trèo

trên cây xuống mặt đất nên đã buộc chúng phải thay dần về hình dáng và hình

thể Hai chi trước dần dần được giải phóng, việc đào bới, hái lượm thức ăn trên

mặt đất được tăng cường, tư thế đứng thẳng xuất hiện Cấu trúc bộ óc, bàn tay, xương sống cũng do đó dần dần được thay đổi

Năm 1863, Hec-xơ-li, một nhà khoa học khác, công bố quyển sách ―Vị trí

của con người trong tự nhiên”, nói đến sự giống nhau giữa người và vượn (Hắc

tinh tinh, Gôn-ri-la) Ông xác định những con vật đó có họ hàng gần gũi nhất với con người

Từ nửa sau thế kỷ XIX, nhà sinh vật học xuất sắc người Anh Sác-lơ uyn, đề xướng luận điểm: con người có nguồn gốc từ vượn người Luận điểm này

Đác-được trình bày trong tác phẩm „Nguồn gốc các loài” (xuất bản năm 1859)

―Nguồn gốc con người và sự chọn lọc giới tính” (xuất bản năm 1871) Đác-uyn

đã đưa ra những quan điểm mới về đấu tranh sinh tồn, về tính di truyền, biến dị,

về sự chọn lọc tự nhiên của sinh vật Học thuyết Đac-uyn đã cho phép chúng ta khẳng định rằng: loài người do loài vượn đặc biệt (đã hóa thạch) tiến hóa thành Tóm lại, các nhà khoa học tiến bộ như Lin Nê, La Mác, Đác-uyn đã giải phóng con người thoát khỏi bàn tay thần học, đặt nguồn gốc con người vào đúng

nơi đã sinh ra nó – thế giới động vật.‖

Trang 14

Năm 1850, ngay trên đất Pháp, ở ngoại ô Xen – Asen, trong gần một năm, người ta đã đào được 800 cái rìu Trong vòng 25 năm, số lượng công cụ tăng lên 20.000 chiếc

Năm 1856, tình cờ trong hang Nê-an-đéc-tan (Đức), những người công nhân phát hiện di cốt của người Nê-an-đéc-tan Nghiên cứu chỏm sọ, người ta thấy, chỏm sọ khác với sọ người hiện đại Người này có cung trên lông mày phát triển mạnh, trán dô, họp sọ dẹt ở phía trước và dô ra ở phía sau Tuy vậy, thể tích hộp sọ lớn (1225 cm3

)

Cũng vào thế kỷ XIX, ở đảo Gia-va (In-đô-nê-xi-a), bác sĩ quân y người Hà Lan Đuy Boa đã tìm thấy di cốt Pi-tê-can-tơ-rôp E-rec-tuc (Người đi thẳng) còn gọi là người vượn Gia-va Người vượn Gia-va có trán thấp, bợt ra sau, u mày nổi cao như u vượn Thể tích óc khá lớn (750 – 900 cm3) Người vượn Gia-va cao khoảng 1,65 m, đi thẳng, hai tay được giải phóng để chế tác các công cụ Các nhà khoa học cho rằng đây chính là mốc mở đầu cho lịch sử loài người

Tại Trung Quốc, từ những năm 1819 đến năm 1939, nhà địa chất học Thuỵ Điển An-đéc-xơn, cùng các nhà khảo cổ học Ca-na-đa, Trung Quốc khai quật tại thị trấn Chu Khẩu Điếm (cách Bắc Kinh 40km về phía Đông Nam) Họ

đã tìm thấy di cốt của 38 – 40 người Xi-nan-tơ-rốp còn gọi là người vượn Bắc Kinh So với Pi-tê-can-tơ-rốp, Xi-nan-tơ-rốp có thể tích hộp sọ lớn hơn (915 –

1225 cm3), đi thẳng bằng hai chân, biết dùng lửa, đã chế tác công cụ lao động, thuận tay phải, óc phía trái phát triển Những đặc điểm này hoàn toàn thuộc họ người

Tiếp đến, năm 1868, ở nước Pháp, lần đầu tiên người ta tìm thấy di cốt người hiện đại: Crô-ma-nhông Sau này các di cốt hiện đại tiếp tục tìm thấy ở nhiều châu lục khác nhau: người Gơ-ri-man-di (I-ta-li-a), người Sơn Đỉnh Động (Trung Quốc) Cấu tạo cơ thể của người hiện đại cơ bản giống người ngày nay Năm 1924 ở Ta-ung (Nam Phi), các nhà khoa học lại tìm thấy di cốt vượn người Ốt-xtơ-ra-lô-pi-tec (Vượn người phương Nam) Nó được xem là tổ tiên loài người Ốt-xtơ-ra-lô-pi-tec đã đi thẳng, ăn cả động vật, thực vật

Như vậy, một loạt các hóa thạch vượn người, người vượn, người hiện đại đã ngủ yên hàng triệu năm trong lòng đất nay được các nhà nghiên cứu đưa về thực tại Cho đến lúc này, kết nối các di cốt hoá thạch có 3 nội dung cơ bản liên quan đến nguồn gốc loài người đã được các nhà khoa học trả lời:

- Thời gian xuất hiện của con người cách ngày nay vào khoảng 80 vạn năm

- Địa bàn phát sinh của loài người là ở vùng giáp ranh của 3 châu lục: châu

Á, châu Âu, châu Phi (thuyết đa trung tâm)

- Động lực thúc đẩy vượn tiến hóa thành người là lao động

Trang 15

Những quan điểm trên, tưởng như đã đứng vững hoàn toàn, nếu không có những phát hiện khảo cổ học mới ở châu Phi từ nửa sau thế kỷ XIX

Năm 1959 giới khoa học vô cùng sửng sốt trước phát hiện của hai vợ chồng

tiến sĩ người Anh: Li-ki và Ma-ry tại Đông Phi Suốt 28 năm đào bới họ đã tìm

thấy: 400 mảnh xương vỡ của một hộp sọ ở Ôn-đu-vai (Tan-da-nia) Li-ki đặt tên: Zin-zan-tơ-rôp (Người Đông Phi) Bằng phương pháp xác định niên đại K40/A40, người ta biết được hóa thạch này có niên đại khoảng gần hai triệu năm cách đây Năm sau (1960) con trai Ri-sa của họ đã tìm thấy trong một hẻm suối sâu ở Ôn-đu-vai xương cốt khá hoàn chỉnh của một cá thể khoảng 11 – 12 tuổi Bàn chân, bàn tay thích nghi với lối đi thẳng Di cốt được đặt tên là Hô-mô-ha-bi-lis (Người khéo léo) Từ đây nhiều quốc gia ở phía Đông và Nam Phi như Kê-nia, Ê-ti-ô-pi-a, Tan-da-nia trở thành công trường khảo cổ học quốc tế, thu hút các chuyên gia thuộc nhiều lĩnh vực khoa học Những phát hiện khảo cổ học mới liên tiếp được thông báo ở châu Âu

Năm 1972, sau những tháng ngày miệt mài tìm kiếm, Ri-sa lại phát hiện một hộp sọ nguyên vẹn, có niên đại rất sớm khoảng 1,87 triệu năm

Năm 1974, Dô-han-xơn và Tôm Gơ-rây đã thành công rực rỡ khi đào được hóa thạch khá đầy đủ bộ xương của một cô gái ở Ê-ti-ô-pi-a Cô gái này được xác định khoảng 22 hoặc 23 tuổi, được gọi là Lu-si (tên một nhân vật thần thoại trong dân ca địa phương) Lu-si cao 107 cm, đi thẳng, có những chiếc răng của người khôn ngoan Mặc dù bên cạnh cô gái người ta chưa tìm thấy công cụ lao động, song di cốt này được xếp vào họ người Điều khó tin đối với các nhà nghiên cứu

là Lu-si sống cách đây khoảng 3,5 đến 4 triệu năm và được xếp vào loại người Ốt-xtơ-ra-lô-pi-tec Di cốt này được đánh giá rất cao: ―Một bộ xương cổ nhất, đầy

đủ nhất được bảo quản tốt nhất‖

Tiếp đến các năm 1976, 1978, Tiến sĩ Ma-ry và đồng nghiệp tìm thấy 50 dấu chân in trên phím xuất núi lửa ở Tan-da-nia Sau nhiều lần xác định mẫu hóa thạch, các nhà khoa học đánh giá ―Chúng giống một cách chính xác dấu in chân người hiện đại ‖ Niên đại của dấu chân 3,7 triệu năm

Hàng loạt các phát hiện mới ở Đông và Nam Phi nửa sau thế kỷ XX, đã cho phép khôi phục lại các mắc xích của quá trình chuyển biến từ vượn thành người

và buộc các nhà khoa học phải đưa ra những kiến giải mới về nguồn gốc loài người

b Kiến giải mới về nguồn gốc loài người

Quá trình chuyển biến từ vượn thành người

- Ở chặng đầu của quá trình, có một loài vượn cổ hay còn gọi là vượn nhân hình Ho-mi-nit, sống ở cuối thế kỉ thứ III của thời đại Tân sinh, cách đây khoảng hơn 6 triệu năm Loài vượn nhân hình này, đã có thể đứng và đi bằng hai chân, dùng hai chi trước để cầm nắm, ăn hoa quả, lá cây, củ và động vật nhỏ

Trang 16

- Loài vượn nhân hình Ho-mi-nit là tổ tiên chung của loài người và cả giống vượn hiện đại Từ Ho-mi-nit, một nhánh nào đó đã phát triển lên thành người Ho-mo-ha-bi lis (người khéo léo) Đây là giai đoạn thứ hai và là bước ngoặt quan trọng trong quá trình tiến hoá

- Giai đoạn ba là người Ho-mo É-rec-tus (người đứng thẳng) Họ đã biết phát ra tiếng nói và biết chế tạo công cụ lao động

Sơ đồ 1: Cây phả hệ loài người

(Ho-mi-nid)

(Ho-mi-nid)

- Đến khoảng 4 vạn năm trước đây, người Ho-mo-Sa-pi-ên(người tinh khôn) ra đời Ho-mo Sa-pi-ên là bước phát triển nhảy vọt thứ hai sau bước nhảy vọt từ vượn thành người Ho-mo-ha-bi lis Ho-mo Sa-pi-ên có cấu tạo cơ thể phát triển như người ngày nay Các bộ phận cơ thể trở nên hoàn thiện, hai bàn tay nhỏ, các ngón tay khéo léo, nhất là ngón cái, trán cao, xương hàm nhỏ, não đặc biệt phát triển

Vấn đề thời gian

Trước đây người ta cho rằng, con người xuất hiện cách ngày nay khoảng 70 – 80 vạn năm, khi các nhà khoa học tìm thấy di cốt người vượn Pi-tê-can-tơ-rốp cùng công cụ lao động Bây giờ những bằng chứng ở Ê-ti-ô-pi-a, Tan-za-nia, v.v… đã đẩy lịch sử loài người lùi về quá khứ khoảng 6 triệu năm Trong đó hai

Trang 17

với loài vượn cổ nhân hình ở Đông và Nam Phi, biến loài vượn này thành người vượn

Bốn triệu năm sau, quy luật lao động ra đời Chính lao động là động lực chính thúc đẩy quá trình tiến hóa của người vượn thành người hiện đại Hô-mô Sa-pi-ên

Động lực thúc đẩy quá trình tiến hóa

Căn cứ vào tư liệu thu nhập được, các nhà khoa học cho rằng trước khi lao

động ra đời, đã có sự tác động tích cực của quy luật sinh học: Di truyền và biến

dị

Theo ý kiến của các nhà nghiên cứu, châu Phi là một lục địa có nhiều bí ẩn Châu lục này là địa bàn sinh sống thuận lợi của nhiều loài vượn cổ, kiến tạo địa chất vô cùng phức tạp và những hoạt động kiến tạo địa chất đã từng xảy ra Hoạt động của núi lửa diễn ra dữ dội tạo nên những dãy đứt gãy lớn Những lò U-ra-ni-um tự nhiên hoạt động như nguồn năng lượng hạt nhân, động đất, rừng rậm biến mất, ao hồ xuất hiện, bình nguyên ra đời, v.v… Tất cả những hiện tượng đó diễn ra đúng thời điểm tổ tiên con người xuất hiện, tạo nên những đột biến mạnh mẽ đối với loài vượn cổ Những con vượn sinh sống ở Đông và Nam Phi chịu bức xạ cao đã có những biến đổi cơ bản mang tính di truyền Đột biến làm tăng khối lượng sọ, dẫn đến cách đi thẳng Đột biến làm mất đi những chiếc răng nanh lớn, đồng thời làm cho cơ thể thanh nhã hơn

Kết quả của những đột biến làm xuất hiện cá thể mới: Ôt-xtơ-ra-lô-pi-tec ở Đông và Nam Phi Cùng thời gian này, các loại linh trưởng ở Tây Phi và châu Phi xích đạo không chịu bức xạ vẫn tồn tại, không bị biến đổi và phát triển đến ngày nay

So với tổ tiên, vượn Ôt-xtơ-ra-lô-pi-tec có thể lực yếu hơn nhiều Răng nanh không còn để xé xác các động vật và tự vệ, dáng đi thẳng không thích hợp cho việc leo trèo trên cây Loài người đứng trước bờ vực thẳm, họ cần tìm ra các phương tiện khác để duy trì sự tồn tại Đó chính là công cụ nhân tạo – những mảnh đá sắc, nhọn đầu tiên Từ đây lao động đóng vai trò chính thúc đẩy người vượn tiến đến người hiện đại

Những mảnh tước sắc cạnh như con dao, là công cụ cắt đầu tiên mà người nguyên thủy dùng để cắt da, xẻ thịt động vật Dĩ nhiên để có công cụ sơ khai đó,

con người đã mày mò trong một thời gian dài Ăng Ghen viết: “ Trước khi hòn đá

đầu tiên nhờ bàn tay người biến thành con dao, thì bao nhiêu thời đại đã trôi qua rồi” 2 Như vậy công cụ đá là dấu hiệu đầu tiên của con người, là ranh giới phân biệt người với vượn và là phương tiện duy trì sự sống, tránh cho loài người thảm họa diệt vong

2 Dẫn theo Chiêm Tế Lịch Sử thế giới Cổ đại.NXB Giáo Dục Hà Nội 1971.trang 44

Trang 18

Đồng thời, chính trong lao động sáng tạo, tư duy và cơ thế con người ngày một hồn thiện hơn Đặt biệt việc xác lập tư thế thẳng đứng, tạo điều kiện cho sự

ra đời của ngơn ngữ

Thơng qua lao động, nhu cầu hợp tác, giao tiếp buộc ―con người phải nĩi với nhau một cái gì đấy‖, nhu cầu bức thiết đĩ buộc ngơn ngữ ra đời

Ăng Ghen chỉ rõ: ― Ngơn ngữ bắt nguồn từ lao động, phải tiến triển lao

động Đĩ là cách giải thích duy nhất đúng về nguồn gốc ngơn ngữ” 3

Khi ngơn ngữ và lao động ra đời, nĩ quay trở lại kích thích tư duy phát triển giữa lao động,

ngơn ngữ, tư duy cĩ mối quan hệ biện chứng Rõ ràng “ lao động đã sáng tạo ra

con người và xã hội lồi người” 4

Địa bàn diễn ra quá trình chuyển biến từ vượn thành người

Những nơi tìm thấy dấu tích của người tối cổ

Chương 1

§«ng Phi

Trang 19

Trước đây, ý kiến chung tập trung vào khu vực giáp ranh của châu Âu, châu

Á và châu Phi Nay đã xác định lại, địa bàn phát sinh loài người là vùng Đông và Nam Phi Trên mảnh đất này cùng một lúc diễn ra nhiều sự kiện: Sự phong phú của động - thực vật, sự giàu có của các mỏ quặng, tác động của địa chấn, quá trình Hô-mô-sa-pi-ên-s hóa…

Tuy nhiên, một số ý kiến khác cho rằng con người có thể hình thành từ hai hay nhiều trung tâm khác nhau

1.2 SỰ PHÁT TRIỂN CỦA XÃ HỘI LOÀI NGƯỜI TRONG XÃ HỘI NGUYÊN THỦY

1.2.1 Giai đoạn Bầy người nguyên thủy

Bầy người nguyên thủy là giai đoạn sơ khai trong lịch sử nhân loại

- Về thời gian: Bầy người nguyên thủy xuất hiện cách ngày nay từ vài triệu năm, kết thúc khi người hiện đại Hô-mô-sa-pi-ên ra đời khoảng 5,4 vạn năm

- Về loại hình nhân chủng: sống trong Bầy người nguyên thủy chưa phải là người hiện đại mà là người vượn (hay còn gọi là người trung gian) Điển hình là 3 dạng: Pi-tê-can-tơ-rốp, Xi-nan-tơ-rốp và Nê-an-đéc-tan

- Đặc điểm lịch sử: giai đoạn Bầy người nguyên thủy diễn ra 2 quá trình: vừa hình thành con người, vừa xuất hiện xã hội loài người Cuộc đấu tranh giữa

bản năng động vật (bản năng vượn) và phát triển quan hệ xã hội (bản năng

người)

- Tổ chức xã hội: người nguyên thủy trong giai đoạn sơ khai sống theo từng bầy, khoảng 30 hay 40 thành viên Tùy theo môi trường tìm kiếm thức ăn phong phú hay cạn kiệt mà các thành viên trong bầy có thể tan hay hợp, nhiều hay ít

Họ sống lang thang trong rừng rậm nhiệt đới, ngủ trong hang động, mái đá hay những túp lều dựng tạm bằng cành cây, da thú Các thành viên sống quây quần theo quan hệ ruột thịt Bầy người nguyên thủy khác với bầy động vật Người nguyên thủy đã chế tác công cụ lao động, có phân công lao động giữa nam và nữ,

có người đứng đầu Mọi thành viên có nghĩa vụ săn bắt, hái lượm, chăm sóc, bảo

vệ lẫn nhau

Người vượn đã biết chế tác công cụ lao động, mặc dù kỹ thuật chế tác công

cụ thô sơ: dùng đá đẽo đá Song họ đã chế tác được chiếc “rìu vạn năng”, có thể

chặt, đập, đào, bới để tạo ra những mảnh tước sắc, nhọn, cứng làm dao cắt, sử dụng đồ xương sừng, thậm chí cả vỏ ốc

Trang 20

Hình 2: Công cụ đá cũ và rìu đá của người ngnuyên thủy

Nguồn: Nguyễn Hữu Danh 2010 Tìm hiểu trái đất và loài người NXB:

Giáo dục Trang 88

Cuối Bầy người nguyên thủy, loài người đã có bước tiến lớn lao, đó là việc

dùng và lấy lửa Lúc đầu người nguyên thủy biết sử dụng lửa đã có sẵn trong tự

nhiên, về sau họ phát minh ra lửa bằng cọ xát Việc phát minh ra lửa, đánh dấu bước nhảy vọt trong đời sống xã hội Từ đây loài người chuyển từ việc ăn thức ăn sống sang thức ăn chín Họ có thể ăn nhiều thịt động vật, và như vậy kích thích tư duy phát triển Người ta có thể sử dụng lửa để chế tác công cụ lao động (đồ gỗ) biến lửa thành vũ khí lợi hại để tấn công, tự vệ hay xua duổi thú vật Có lửa con người không sợ rét nữa mà có thể mở rộng địa bàn sinh sống ở những nơi không thuận lợi

Đúng như Ăng Ghen nhận xét: “ Việc lấy lửa bằng cọ xát còn vượt xa máy

hơi nước Vì rằng lửa do cọ xát làm ra khiến con người lần đầu tiên chi phối được lực lượng tự nhiên, và do đó tách hẳn con người khỏi thế giới động vật” 5

Trang 21

Hình 2: Cảnh sinh hoạt của người nguyên thủy

Nguồn: Nguyễn Hữu Danh 2010 Tìm hiểu trái đất và loài người NXB:

Giáo dục Trang 89

- Về hôn nhân:

Tài liệu cho biết đầu thời kỳ bầy người nguyên thủy, hôn nhân được tiến hành theo quan hệ tạp giao (giao phối bừa bãi) Song đến cuối thời bầy người nguyên thủy, đã có lệnh cấm cha mẹ và con cái kết hôn với nhau Bầy người nguyên thủy chưa biết tới tôn giáo, nghệ thuật

1.2.2 Sự hình thành và phát triển của công xã thị tộc mẫu hệ

a Người Hô-mô-sa-pi-ên và công xã thị tộc

Trong lao động cải tạo tự nhiên, con người tự cải tạo bản thân mình Đến hậu kỳ đồ đá cũ (cách ngày nay 4 vạn năm), người tinh khôn ra đời Sự xuất hiện

của người tinh khôn (người hiện đại_ Hô-mô-sa-pi-ên) đưa đến những thay đổi

sâu sắc trong đời sống vật chất, trong tổ chức xã hội cũng như trong quan hệ hôn nhân, gia đình

Người hiện đại ra đời kéo theo sự hình thành 3 đại chủng loài người: Đại chủng Môn-gô-lô-it, đại chủng Ơ-rô-pê-ô-it, đại chủng Nê-gơ-rô - Ốt-xtra-lô-ít Các đại chủng khác nhau bởi đặc điểm hình thái và sinh lý Song sự khác nhau đó

Trang 22

hoàn toàn không quyết định đến sự phát triển của lịch sử, của văn hóa và văn minh

Sự phát triển của lực lượng sản xuất với hình thức lao động tập thể, cuộc sống định cư, việc dùng lửa, v.v… dần dần thắt chặt mối quan hệ giữa các thành viên Một tổ chức xã hội phát triển cao hơn và dựa trên quan hệ dòng máu đã được thay thế Đó chính là cộng xã thị tộc

Công xã thị tộc (hay còn gọi là thì tộc) là một tổ chức xã hội gồm vài chục gia đình với 3, 4 thế hệ cùng lao động sản xuất, dựa trên quan hệ quyết thống Các thành viên trong thị tộc bình đẳng với nhau, cùng chăm sóc giúp đỡ lẫn nhau Nhiều thị tộc có quan hệ dòng máu gần xa hợp thành bộ lạc Mỗi bộ lạc có tên gọi riêng, nơi ở, ruộng đất, sông ngòi, rừng rú riêng Các thành viên của bộ lạc cùng có một ngôn ngữ, cùng có lễ nghi tôn giáo chung

Đứng đầu bộ lạc là hội đồng bộ lạc gồm thủ lĩnh bộ lạc, thủ lĩnh quân sự, các tộc trưởng của thị tộc, tăng lữ Hội đồng này có quyền thảo luận quyết định những vấn đề sống còn của bộ lạc: tuyên chiến hay đình chiến, tiếp đón sứ giả, dời địa bàn cư trú, v.v…

Trong giai đoạn đầu, bộ lạc thường chia làm 2 nửa, mỗi nửa gồm 2, 4, 6 thị tộc – gọi là bào tộc Bào tộc cũng có vai trò quan trọng trong việc giải quyết xích mích trong bộ lạc, bầu thủ lĩnh bộ lạc, thực hiện các nghi lễ tôn giáo, bảo vệ bộ lạc

Như vậy tổ chức xã hội của người nguyên thủy bao gồm thị tộc, bào tộc, bộ lạc Cả 3 tổ chức đó là ở những mức độ khác nhau của quan hệ huyết tộc Mỗi tổ chức có tính chất đóng kín, tự quản lý công việc của mình, nhưng lại có quan hệ

bổ sung cho nhau

b Sự phát triển của công xã thị tộc mẫu hệ

Vào hậu kỳ thời đại đồ đá cũ, khi người hiện đại Hô-mô-sa-pi-ên xuất hiện, công xã thị tộc mẫu hệ ra đời Cộng xã thị tộc mẫu hệ phát triển thịnh vượng vào thời đại đồ đá giữa, sơ và trung kỳ đồ đá mới Công xã thị tộc phụ hệ ra đời vào hậu kì đá mới Tuy vậy, có nơi công xã thị tộc mẫu hệ tan rã nhưng không chuyển sang công xã thị tộc phụ hệ Do vậy chế độ mẫu quyền là một giai đoạn phát triển

tự nhiên của các dân tộc trên thế giới

Công cụ lao động và đời sống kinh tế

Trong xã hội thị tộc mẫu hệ, kỹ thuật chế tác công cụ tiến bộ vượt bậc Nếu ở bầy người nguyên thủy, việc chế tac công cụ chủ yếu sử dụng phương pháp ghè đẽo đá, công cụ sản xuất thô, nặng, nghèo nàn về hình loại thì ở hậu kỳ đồ đá

cũ, kỹ thuật chế tác đá phát triển hoàn thiện hơn Từ kỹ thuật bổ đá, người hiện đại biết tách đá, trau chuốt đá để tạo ra hàng loạt công cụ như: dao, nạo, mũi nhọn, mũi lao, mũi giáo… Mỗi công cụ có một chức năng riêng

Trang 23

Sang thời đại đồ đá giữa, trên cơ sở tích lũy kinh nghiệm, con người phát

minh ra cung, tên Đây là một phát minh rất quan trọng đánh dấu mốc phân chia

giữa thời đại đồ đá cũ với thời đại đồ đá giữa Sự ra đời và phổ biến hơn của cung tên đưa đến sự thay đổi trong phương thức sản xuất và là cơ sở cho sự ra đời của

kinh tế sản xuất: Chăn nuôi nguyên thủy

Ăng Ghen nhận xét: “ Cung, dây cung và tên là một thứ công cụ rất phức

tạp Sự phát minh ra công cụ đó đòi hỏi phải có kinh nghiệm tích lũy lâu dài và trí lực sáng suốt và do đó đồng thời cũng đòi hỏi phải biết đến nhiều phát minh khác” 6

Sang thời đại đồ đá mới, con người không chỉ biết ghè đẽo đá, mà còn biết cưa, khoan, mài đá tạo nhiều công cụ gọn, đẹp, chính xác Đặc biệt nhiều công cụ được lắp cán làm tăng kết quả lao động

Những tiến bộ trong kỹ thuật chế tác công cụ đưa đến sự ra đời của nhiều nghề thủ công: gốm, dệt, đan, lát Từ chỗ sử dụng đồ đựng bằng tre, vỏ ốc, vỏ hoa quả, người nguyên thủy biết dùng đất sét chế tạo hàng loạt đồ dùng: nồi, vò, cốc, chậu, bát, v.v… làm phong phú thêm đời sống vật chất Đồ gốm còn được nung cẩn thận Nếu thời kỳ bầy người nguyên thủy, con người chỉ biết ―ăn lông ở lỗ‖ nay con người biết che thân bằng những chiếc khố làm từ vỏ cây hay da thú Tuy nhiên, thành tựu quan trọng nhất của con người trong giai đoạn mẫu hệ vẫn là thành tựu về nông nghiệp và chăn nuôi nguyên thủy

Chăn nuôi nguyên thủy bắt đầu từ việc thuần dưỡng, thuần hóa động vật Trong điều kiện thuận lợi nào đó, người ta chọn những con thú nhỏ bị thương nhẹ làm nguồn thức ăn để dành, từ đó nảy sinh việc thuần hóa, thuần dưỡng động vật, bước đầu của chăn nuôi gia súc

Nông nghiệp nguyên thủy ra đời trên cơ sở kinh tế hái lượm Công việc hái lượm hoa quả, củ rễ được tiến hành theo mùa, theo vùng Trên cơ sở tích lũy kinh nghiệm và nắm chắc quy luật sinh trưởng của cây trồng, người nguyên thủy bắt đầu trồng rau quả, củ rễ, về sau trồng lúa Viện sĩ Nga Va-vi-khốp cho rằng có 4 trung tâm phát sinh nông nghiệp nguyên thủy:

+ Tiểu Á: lúa mì, lúa mạch

+ Viễn Đông và lưu vực Hoàng Hà: kê

+ Nam Á – Đông Nam Á: lúa và rau củ

+ Trung Mỹ: rau, đậu, bầu, bí, ngô, khoai tây

Người nguyên thủy giờ đây có áo quần để mặc, có lương thực, thực phẩm dự trữ trong đồ gốm, có lửa để chống rét, v.v… Họ có thể rời hang động, mái đá dựng nhà, định cư lâu dài

6 Dẫn theo Chiêm Tế Lịch Sử thế giới Cổ đại.NXB Giáo Dục Hà Nội 1971.trang 49

Trang 24

Di tích các dãy nhà dài được các nhà khảo cổ học phát hiện ở châu Mỹ là một biểu tượng văn hóa độc đáo của xã thị tộc mẫu hệ

Với tất cả các thành tựu này, đặc biệt thành tựu của kinh tế sản xuất, thời

đại đồ đá mới được gọi là cách mạng đá mới

Tổ chức xã hội

Công xã thị tộc mẫu hệ là tổ chức xã hội cơ bản của con người trong chế độ

xã hội nguyên thủy Họ cùng nhau khai phá rừng rậm, chặt cây dựng nhà, đào mương, khơi nước làm thủy lợi, cùng liên kết xua đuổi thú dữ, v.v…

Rừng rú, ao hồ, sông ngòi là tài sản chung của cả thị tộc, bộ lạc Đó là chế

độ sở hữu tập thể, các thành viên cùng nhau lao động, sản phẩm làm ra được chia đều Người ta không phân biệt cái này là của tôi, cái kia là của anh Các vị bô lão, tộc trưởng, tù trưởng, thủ lĩnh quân sự, tăng lữ được xã hội tôn trọng Mọi thành viên sống bình đẳng, tương thân tương ái trên cơ sở quan hệ huyết thống của họ

mẹ

Ăng Ghen nhận xét: “ Toàn thể các thành viên trong thị tộc đều là người tư

do, có nghĩa vụ bảo vệ tự do cho nhau Tù trưởng cũng như thủ lĩnh quân sự đều không đòi hỏi những quyền ưu tiên nào cả Họ kết thành một tập thể thân ái, gắn

bó với nhau bởi quan hệ máu mủ Tự do, bình đẳng, bác ái tuy chưa bao giờ được nêu thành công thức nhưng vẫn là nguyên tắc cơ bản của thị tộc” 7

Sống bình đẳng, tương thân, tương ái chính là tập quán chung của con người

trong xã hội nguyên thủy Song ―cái vĩ đại ― này chỉ có thể tồn tại khi ―lực lượng

sản xuất thấp kém” 8

Hôn nhân gia đình

Thời kì công xã thị tộc mẫu hệ, hôn nhân diễn ra dưới hình thức quần hôn

Quần hôn là một tập thể đàn ông ở thị tộc này kết hôn với tập thể đàn bà ở thị tộc khác (chồng chung) và ngược lại, tất cả đàn bà ở thị tộc này sẽ là vợ chung của những người đàn ông ở thị tộc kia Bởi thế con cái sinh ra không thể biết chắc ai

là cha mình Hôn nhân chủ yếu do ý muốn của người phụ nữ Dấu vết quần hôn còn để lại khá rõ nét – ví dụ hôn nhân chị em vợ, hôn nhân anh em chồng, hôn nhân một vợ nhiều chồng, v.v…

Giai đoạn cuối của chế độ mẫu quyền, từ hôn nhân quần hôn chuyển sang hình thức hôn nhân đối ngẫu Hôn nhân đối ngẫu nghĩa là trong tập thể những người đàn ông, người đàn bà chọn cho mình một người có quan hệ mật thiết hơn

và ngược lại Loại hôn nhân này không bền vững, vì nó chỉ là sự kết hợp tạm thời của từng đôi mà thôi

7 Dẫn theo Chiêm Tế Lịch Sử thế giới Cổ đại.NXB Giáo Dục Hà Nội 1971.trang 59

Trang 25

Do hôn nhân là ngoại hôn và quần hôn tạo nên gia đình mẫu quyển Những đứa con sinh ra chỉ biết mẹ và chị em bên mẹ Cha của nó ở thị tộc bên kia Đứng đầu gia đình là một người đàn bà cao tuổi, có uy tín, có kinh nghiệm chỉ đạo sản xuất, am hiểu phong tục tập quán của thị tộc Số lượng thành viên của gia đình mẫu quyền rất đông, có khi lên đến vài trăm người Do vậy, nhà dài là nhà ở của các gia đình mẫu hệ Tuy người phụ nữ làm chủ gia đình và xã hội, nhưng quan hệ nam – nữ là bình đẳng

Về ý thức

Nếu thời kỳ Bầy người nguyên thủy đã có mầm móng của tín ngưỡng, nghệ thuật, thì sang công xã thị tộc mẫu hệ, tín ngưỡng, nghệ thuật chính thức ra đời Các hình thức tín ngưỡng thể hiện khá phong phú: Họ sùng bái các hiện tượng tự nhiên (mây, gió, sấm sét); thực hiện các nghi lễ ma thuật như thuật làm hại, thuật tình yêu, thuật chữa bệnh ; thờ thần nông nghiệp…Nhiều hiện tượng thờ cúng còn tồn tại cho đến nay

Nghệ thuật nguyên thủy ra đời trên cơ sở thực tiễn lao động Các thành viên cùng ca hát, nhảy múa xung quanh ngọn lửa

Họ biết tạc tượng bằng nguyên liệu đá, gỗ, sừng, ngà voi; chạm nổi hình động vật, người trên những pho tượng đó Loại hình nghệ thuật này được gọi là nghệ thuật tạo hình

1.3 SỰ TAN RÃ CỦA XÃ HỘI NGUYÊN THỦY

1.3.1 Sự xuất hiện của công cụ kim loại, sự phát triển của sức sản xuất đưa đến cuộc phân công lao động lớn trong xã hội

Sự phát triển của lực lượng sản xuất, trước hết là nông nghiệp và chăn nuôi nguyên thủy dẫn đến những chuyển biến lớn lao về mặt xã hội Công xã nguyên thủy lâm vào khủng hoảng, tan rã, chế độ xã hội có giai cấp, nhà nước

ra đời

Suốt thời kỳ công xã thị tộc mẫu hệ, công cụ lao động của con người là những vật liệu quá nặng hoặc dễ hư hỏng: đá, tre, gỗ, xương, sừng… Thế nhưng một cải tiến nhỏ trong kỹ thuật chế tác công cụ cũng phải trãi qua hàng trăm năm Vào khoảng thiên niên kỷ IV, V trước Công nguyên, loài người phát hiện ra kim loại Lúc đầu có thể là ngẫu nhiên (hỏa hoạn, động đất, v.v ) Đồng đỏ (đồng nguyên chất) là kim loại đầu tiên con người may mắn tìm thấy Từ đó họ sử dụng đồng đỏ để chế tác các công cụ lao động So với công cụ đá, công cụ bằng đồng

đỏ có nhiều ưu điểm hơn: mềm, dẻo nên dễ ghè đẽo (sau này mới biết nấu chảy) Vết tích việc chế tác công cụ đồng đỏ tìm thấy ở tiểu Á, Ai Cập khoảng 5000 năm TCN

Khoảng niên kỷ thứ IV TCN, công cụ sản xuất bằng đồng thau tiếp tục được con người sử dụng Đồng thau là một hợp kim có thể gồm đồng nguyên chất

Trang 26

pha chế với chì, thiếc hoặc một kim loại khác Đồng thau có nhiều ưu điểm so với đồng đỏ (nhiệt độ nóng chảy thấp, khoảng 700 – 9000C, trong khi đó đồng đỏ

11000C) Đồng thau dễ ăn khuôn, dễ đúc mà lại cứng, bền Chẳng may công cụ hỏng có thể đúc lại Với những ưu điểm nổi trội khiến cho đồng thau nhanh chóng giữ vai trò chính trong sản xuất

Khoảng thiên niên kỷ II – I TCN, khi đồng thau còn phổ biến, đồ sắt ra đời Công cụ sắt ra đời, thực sự là một bước nhảy vọt trong lịch sử xã hội nguyên thủy Công cụ kim loại ra đời, kết hợp với việc sử dụng sức kéo súc vật cho phép

cư dân sống dọc theo lưu vực của các con sông lớn như: sông Ấn, sông Hằng, sông Nin, sông Ti-gơ-rơ, sông Hoàng Hà có điều kiện thuận lợi để khai phá đất đai, mở rộng diện tích trồng trọt

Người ta sử dụng dao, cuốc, thuổng, rìu để chặt cây, đào mương, đắp đập

làm thủy lợi, đưa đến năng suất lao động tăng Bởi vì: “ Sắt cho phép người ta có

thể trồng trọt trên những diện tích rộng lớn hơn, có thể khai hoang những miền rừng rú rộng lớn hơn ”9

Cùng với nông nghiệp dùng cày, nghề chăn nuôi cũng phát triển Ở những vùng có đồng cỏ tốt, những bộ lạc làm nghề săn bắn trước đây, nay chuyển sang chăn nuôi súc vật Dê, cừu, lừa, bò, ngựa là những súc vật được nuôi nhiều nhất Trong nhiều bộ lạc, nghề chăn nuôi chiếm ưu thế hơn trồng trọt Sự tách rời giữa các bộ lạc chăn nuôi khỏi các bộ lạc trồng trọt, chính là cuộc phân công lao động xã hội lớn dần thứ nhất Cuộc phân công lao động xã hội này xảy ra vào cuối thời đại đồng thau

Mặt khác, các nghề thủ công xuất hiện trước đây đã góp phần thúc đẩy nông nghiệp và chăn nuôi phát triển, đến lượt bản thân nó cũng phải tự nâng cao tay nghề, đi vào chuyên môn hóa từng ngành cụ thể Do vậy dần dần hình thành các nhóm chuyên làm một nghề nhất định như: nghề rèn, mộc, đồ gốm, dệt, đặc biệt là nghề luyện kim

Sự tách rời giữa những người làm nghề thủ công với những người làm nghề sản xuất là cuộc phân công lao động xã hội lớn lần hai Sự kiện nàydiễn ra vào sơ

kỳ thời đại đồ sắt

Xu hướng chuyên môn hóa các nghề trồng trọt, đánh cá, chăn nuôi, làm các nghề thủ công… không cho phép các bộ lạc có thể cùng một lúc có đủ lương thực, thực phẩm, công cụ, dụng cụ hay quần áo… Do vây, việc trao đổi sản phẩm giữa các bộ lạc làm các nghề khác nhau là lẽ tất yếu Lúc đầu việc trao đổi còn nhiều hạn chế, về sau xuất hiện những thương nhân vận chuyển hàng hóa từ bộ lạc này đến bộ lạc khác Đã đến lúc tầng lớp thương nhân ra đời, cuộc phân công lao động

xã hội lần ba nảy sinh Những động vật nuôi được như: ngựa, lạc đà được sử dụng để chuyên chở hàng hóa hay làm phương tiện đi lại, thậm chí phục vụ cho

Trang 27

các cuộc đụng độ Và rồi chính động vật cũng được đưa ra trao đổi Như vậy, thương nghiệp tuy ra đời muộn song nó đóng vai trò gián tiếp thúc đẩy nông nghiệp, chăn nuôi, các ngành nghề khác cùng phát triển

Nguyên nhân sâu xa dẫn đến ba cuộc phân công lao động xã hội lớn hình thành là do sự ra đời của công cụ bằng kim loại, đưa đến việc chuyên môn hóa các ngành nghề sản xuất Cuộc sống của người nguyên thủy bây giờ không chỉ đủ ăn

mà có thể dư thừa

1.3.2 Sự xuất hiện công xã thị tộc phụ hệ

Sự phát triển ngày càng cao của các ngành sản xuất trong thời đại kim khí, tạo nên những biến đổi sâu sắc trong xã hội không chỉ về kinh tế mà về quan hệ

xã hội giữa người đàn ông với người đàn bà Chế độ phụ hệ thay thế dần chế độ mẫu hệ

Sự phát triển của nghề sản xuất dùng cày, sự ra đời của các nghề chăn nuôi,

sự phát triển của nghề luyện kim… đòi hỏi sức khỏe, kinh nghiệm, trí tuệ và cả khả năng táo bạo của người đàn ông Lao động của người đàn ông là tất cả Người đàn ông đã sản xuất đủ lương thực, thực phẩm hay công cụ lao động, đồ dùng cho gia đình mình và có thể nuôi sống các thành viên khác Hoạt động hái lượm, dệt vải, làm đồ gốm trở nên thứ yếu Người phụ nữ chỉ còn lo việc bếp núc, chăm sóc con cái Địa vị của người đàn ông trong gia đình và ngoài xã hội được xác lập Bây giờ người đàn ông quan tâm đến việc kế thừa tài sản, chăm lo cho gia đình mình, nên họ tìm cách đưa vợ từ thị tộc bên kia về gia đình mình Chế độ hôn nhân một vợ một chồng được xác lập Tuy nhiên, chế độ này chỉ quy định đối với người phụ nữ mà không quy định đối với người đàn ông Người phụ nữ chỉ được lấy 1 chồng, còn người đàn ông có quyền lấy nhiều vợ Con cái sinh ra đã xác định rõ ràng Huyết tộc tính theo họ cha và có quyền thừa kế tài sản

Từ đây chế độ phụ hệ ra đời Gia đình phụ hệ thay thế gia đình mẫu hệ Khác với gia đình mẫu quyền, quyền của người phụ nữ gắn với trách nhiệm chăm sóc, giáo dục các thành viên và nuôi dạy con cái, quyền của người đàn ông là vô hạn Quyền lực: quyền phân công lao dộng, quyền kế thừa tài sản, quyền hành hạ phụ nữ và cả quyền ―bán vợ đợ con‖ Bất bình đẳng đầu tiên xuất hiện đó là sự bất đẳng giữa người đàn ông với người đàn bà

Sự thay thế của chế độ công xã thị tộc phụ hệ đối với công xã thị tộc mẫu hệ phù hợp với quy luật phát triển của lịch sử

Đề cập đến nguyên nhân xác lập chế độ thị tộc phụ hệ, Ăng Ghen viết: “

Cũng cái nguyên nhân trước đây đảm bảo cho người đàn bà nắm quyền thống trị trong nhà, cũng cái nguyên nhân ấy giờ đây làm cho sự thống trị của người đàn ông ở trong nhà trở nên tất yếu Bấy giờ những công việc nội trợ của người đàn

Trang 28

bà đã mất ý nghĩa của nó, so với lao động sản xuất của người đàn ông, lao động sản xuất của người đàn ông là tất cả” 10

Với lao động bằng kim loại, con người không cần lao động tập thể nữa, họ

có thể tách ra lựa chọn địa bàn thuận lợi để phát triển sản xuất Nhiều gia đình phụ

hệ cùng đến làm ăn sinh sống một nơi, lập nên công xã thị tộc phụ hệ

Trong công xã thị tộc phụ hệ, quan hệ dòng máu phai nhạt rất nhiều Các thành viên cố kết với nhau trên quan hệ lãnh thổ, đất đai, kinh tế Công xã láng giềng ra đời, góp phần thúc đẩy nhanh sự tan rã của xã hội nguyên thủy

1.3.3 Sự xuất hiện chế độ tư hữu và xã hội có giai cấp

Khi công xã thị tộc phụ hệ thay thế công xã thị tộc mẫu hệ, sản xuất xã hội không ngừng tăng lên Song khả năng lao động của các gia đình khác nhau, của cải thông thường tập trung vào tay một số người: tộc trưởng, tù trưởng, thủ lĩnh quân sự, các bô lão, v.v… Mặt khác những người này lợi dụng chức phận chiếm phần của cải để chi cho các công việc chung, hay tự cho phép mình chiếm nhiều

ưu thế hơn người khác Xã hội phân hóa thành giàu nghèo Kẻ giàu được người nghèo vay nợ Người khác nghèo không trả được nợ, phải tự mình hoặc đưa vợ, con đi làm để trả nợ Nô lệ vì nợ nảy sinh Trước đây tù binh trong các cuộc chiến tranh bắt được thường bị đem giết Bây giờ tù binh được giữ lại, sử dụng vào lao động sản xuất và biến thành nô lệ Chế độ nô lệ ngày càng phát triển

Xã hội phân hóa thành hai giai cấp đối lập, người có tài sản tìm mọi cách duy trì sự bóc lột, kéo dài sự thống trị của mình Họ đã lập quân đội, tòa án, nhà

tù, pháp luật… Tất cả những công cụ đó họp lại thành bộ máy nhà nước Nhà nước ra đời, mốc cuối cùng đánh dấu sự sụp đỗ hoàn toàn của chế độ xã hội nguyên thủy

Rõ ràng không phải lúc nào cũng có nhà nước Nhà nước chỉ xuất hiện trên

cơ sở kinh tế phát triển đến một mức độ nhất định, nảy sinh chế độ tư hữu tài sản,

cư dân phân hóa thành các giai cấp đối kháng Sự ra đời của nhà nước là tất yếu

Bàn về sự ra đời của nhà nước, Ăng Ghen viết: “Không phải lúc nào cũng

đã có nhà nước Đã từng có những xã hội không cần có nhà nước Đến một giai đoạn kinh tế phát triển nhất định, giai đoạn tất nhiên phải gắn liền đến sự phân hóa xã hội thành giai cấp thì sự phân hóa đó làm cho nhà nước trở thành một tất yếu” 11

10 Dẫn theo Chiêm Tế Lịch Sử thế giới Cổ đại.NXB Giáo Dục Hà Nội 1971.trang 78

Trang 29

CÂU HỎI ÔN TẬP

1 Trình bày nội dung những học thuyết khoa học về nguồn gốc loài người

2 Trình bày phân kì lịch sử xã hội Công xã nguyên thủy

3 Thế nào là bầy người nguyên thủy?

4 Thế nào là thị tộc, bộ lạc ?

5 Giải thích tính cộng đồng của thị tộc

6 Nêu những tiến bộ kĩ thuật khi người tinh khôn xuất hiện và những tiến

bộ kĩ thuật của thời đá mới

7 Nêu những tiến bộ trong đời sống con người thời đá mới

8 Quan hệ hôn nhân trong thời công xã nguyên thủy

9 Tình hình tôn giáo, nghệ thuật trong giai đoạn công xã nguyên thủy

10 Trình bài tác động của sự xuất hiện công cụ kim loại

11 Do đâu mà có sự xuất hiện tư hữu? Tư hữu xuất hiện đã dẫn tới sự thay

đổi trong xã hội nguyên thủy như thế nào?

THỰC HÀNH

1 Tìm hiểu một số di tích tạo hình ngệ thuật nguyên thủy tiêu biểu

2 Tìm hiểu về tín ngưỡng Tô-tem giáo

3 Chứng minh nghệ thuật nguyên thủy mang tính chất tả thực

4 Khi chưa có chữ viết, con người đã lưu giữ và truyền đạt thông tin như thế nào?

CÂU HỎI HƯỚNG DẪN ÔN TẬP CHƯƠNG I

1 Căn cứ vào những chứng cứ nào anh (chị) đưa ra những kiến giải mới về nguồn gốc loài người

2 Chứng minh rằng sự phát triển của công cụ lao động thúc đẩy quá trình phát triển và suy vong của chế độ công xã nguyên thủy

3 Tại sao gọi là cách mạng đá mới?

4 Trình bày sự ra đời và thời điểm xuất hiện nghệ thuật tạo hình

5 Đặc điểm về đối tượng nghệ thuật, kĩ thuật và chất liệu thời nguyên thủy

HƯỚNG DẪN ĐỌC TÀI LIỆU THAM KHẢO CHƯƠNG I

1 Đặng Đức An.2010 Những mẩu chuyện lịch sử NXB: Giáo dục Lê

Minh

Quốc 2000 Hành trình chữ viết NXB: Trẻ, TP Hồ Chí Minh

Trang 30

2 Phạm Thị Chỉnh 2005 Lịch sử Mĩ thuật thế giới NXB: Đại học sư

phạm

3 Nguyễn Hữu Danh 2010 Tìm hiểu trái đất và loài người NXB: Giáo

dục

4 Thái Hoàng, Ngô Văn Tuyển.2002 Lịch sử nhìn ra thế giới NXB: Đại

học quốc gia Hà Nội

5 Lương Ninh.2003 Lịch sử thế giới cổ đại NXB: Giáo dục

6 C.Mác Tư bản.1968 Q1,T1 NXB: Sự thật Hà Nội

7 F.I Polijansky.1988 Hình thái xã hội nguyên thủy Tập I.NXB: Khoa

học xã hội, Hà nội

Trang 31

CHƯƠNG 2

XÃ HỘI CỔ ĐẠI PHƯƠNG ĐÔNG

Sinh viên cần nắm những kiến thức cơ bản sau:

- Khoảng thiên niên kỉ IV TCN, trên lưu vực các con sông lớn ở châu Á, châu Phi chế độ công xã thị tộc tan vỡ, cư dân đã xây dựng những quốc gia đầu tiên của mình

- Nhận thức được một cách tổng quát về lịch sử hình thành phát triển và suy vong của các quốc gia cổ đại phương Đông như Ai Cập, Lưỡng Hà, Ấn Độ, Trung quốc Tính quy luật và nét đặc thù của quá trình này

- Sinh viên hiểu và giải thích được những vấn đề cơ bản của xã hội cổ đại phương Đông như:

+ Nhà nước chuyên chế trung ương tập quyền kiểu phương Đông

+ Chế độ nô lệ gia trưởng kiểu phương Đông

+ Cơ cấu xã hội và đấu tranh giai cấp thời cổ đại

- Sinh viên có những hiểu biết về thành tựu văn hóa và trình độ phát triển cùa các quốc gia cổ đại điển hình phương Đông Từ đó khẳng định phương Đông

là cái nôi của văn minh nhân loại, nơi mà lần đầu tiên con người đã biết sáng tạo

ra chữ viết, văn học, nghệ thuật và nhiều tri thức khoa học khác

Nhiệm vụ của sinh viên:

- Đọc và nghiên cứu giáo trình, tài lệu tham khảo cần thiết được giới thiệu ở cuối bài

- Xem sách giáo khoa lịch sử lớp 10 từ trang 4 đến 11 để rèn luyện kỹ năng vận dụng vào thực tiễn giảng dạy ở trường phổ thông

- Sinh viên đọc và nghiên cứu giáo trình, có khả năng phân tích và khái quát từ những vấn đề cụ thể, từ đó nâng lên thành khả năng so sánh, lý luận

Cụ thể là từ sự hình thành và phát triển của các quốc gia cổ đại cụ thể, sinh viên phải khái quát được thành những đặc trưng chung của mô hình xã hội cổ đại phương Đông và phương Tây So sánh sự khác biệt và giải thích nguyên nhân của sự khác biệt đó

- Giải thích các khái niệm, thuật ngữ trong bài

Trang 32

Bài 2

AI CẬP CỔ ĐẠI

Sinh viên cần nắm những kiến thức cơ bản sau:

- Với điều kiện tự nhiên thuận lợi của sông Nin, giai cấp và nhà nước

đã sớm ra đời Ai Cập vào khoảng thiên niên kỉ thứ IV TCN

- Mối quan hệ giữa điều kiện tự nhiên với trạng thái kinh tế, kết cấu xã

hội, thể chế nhà nước và văn hóa ở quốc gia Ai Cập cổ đại

- Phân kì lịch sử Ai Cập và những đặc điểm nổi bật của các thời kì lịch

sử này

- Tình trạng kinh tế, chính trị, xã hội của Ai cập cổ đại

- Mô hình nhà nước chuyên chế phương Đông

- Chế độ nô lệ gia trưởng

- Những đóng góp về mặt văn hóa của cư dân Ai cập cho nhân loại

Nhiệm vụ của sinh viên:

- Đọc và nghiên cứu giáo trình, tài lệu tham khảo cần thiết được giới

thiệu ở cuối bài

- Xem sách giáo khoa lịch sử lớp 10 từ trang11 đến 17 để vận dụng vào

thực tiễn giảng dạy ở trường phổ thông

- Tìm hiểu thêm về các triều đại Ai Cập

- Những nhân vật lịch sử tiêu biểu của Ai Cập thời cổ đại

- Công trình kiến trúc Kim Tự Tháp

Trang 33

2.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ DÂN CƯ

2.1.1 Điều kiện tự nhiên

Ai Cập ở Đông Bắc châu Phi, là một vùng thung lũng hẹp và dài, nằm dọc theo trung và hạ lưu sông Nin, hai bên thung lũng là những dãy núi đá nham thạch và đá hoa cương thẳng đứng như những bức tường thành Phía đông

Ai Cập giáp Biển Đỏ (Hồng Hải) và sa mạc Arập, phía tây là sa mạc Li Bi khô khan, phía nam là núi rừng Nubi trùng điệp, phía bắc là Địa Trung Hải Vì thế,

Ai Cập xưa kia hầu như cô lập với thế giới bên ngoài, chỉ ở phía đông bắc mới

có vùng đất hẹp – eo đất Xi-nai – nối liền Ai Cập với miền Tây Á Đây chính là cửa ngõ, là nơi Ai Cập thường quan hệ giao lưu kinh tế, văn hóa với các quốc gia và khu vực khác ở phương Đông

Hình 4: Bản đồ Ai Cập cổ đại

Nguồn: http://www Menphis.edu/egypt

Đối với lịch sử Ai Cập cổ đại, sông Nin đóng một vai trò hết sức quan trọng (chiều dài gần 6500 km, phần chảy qua Ai Cập khoảng 700 km) Hàng năm, từ tháng 6 đến tháng 10, nước sông Nin dâng cao tràn ngập cả hai bờ, biến

Trang 34

Ai Cập thành một biển nước mênh mông Từ tháng 11 đến tháng 2, sau khi nước sông Nin rút đi, để lại một lớp phù sa màu mỡ dày đặc, có nơi dày tới 10

m, đất ở đây lại mềm, tơi và xốp Vì thế cư dân Ai Cập chỉ cần những chiếc cày, cuốc bằng gỗ cũng có thể xới đất để gieo trồng Khoảng thời gian từ tháng 11 đến tháng 2 là mùa gieo hạt và mùa lúa chín, trên đồng ruộng cây cối tươi tốt

Từ tháng 3 trở đi mùa gặt hái, tiếp đến là mùa khô khan cát bụi Vì vậy mà người ta thường nói: Ai Cập liên tiếp là một đồng cát bụi, một biển nước và một vườn hoa

Sông Nin ngoài việc tạo ra một lượng đất phù sa màu mỡ và mang nước tưới cho cây cối, hoa màu tốt tươi, nó còn là đường giao thông huyết mạch của đất nước Sông Nin, với tất cả những điều kiện thiên nhiên thuận lợi của nó, đã

có ảnh hưởng to lớn đến sự phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa và lịch sử của dân

cư Ai Cập Đúng như nhà sử gia Hi Lạp cổ đại Hêrôđôt đã nhận xét: “Ai Cập là

tặng phẩm của sông Nin”

Về khoáng sản, chủ yếu là những loại đá ở những dãy núi phía Đông và phía Tây dọc theo thung lũng sông Nin: đá vôi, đá huyền vũ, đá hoa cương, đá vân màu,…., ở miền Xi-nai có được một ít mỏ đồng, những nguyên liệu quan trọng như sắt và gỗ phải mua từ nước ngoài về

2.1.2 Dân cư

Các tài liệu nhân chủng học và khảo cổ học đã xác nhận rằng, ở lưu vực sông Nin đã có con người cư trú từ thời đại đồ đá cũ – đó là những thổ dân châu Phi, hình thành trên cơ sở hỗn hợp rất nhiều bộ lạc Bằng cứ minh chứng cho kết luận này là những sọ cổ tìm thấy ở Nê-ga-đa, những bức tượng thuộc thời Tảo kỳ vương quốc, là sự gần gũi của ngôn ngữ Ai Cập với ngôn ngữ của các dân tộc Gal-la và Xô-ma-li…

Một giả thuyết khác cho rằng, người Ai Cập cổ đại là một chi nhánh của

bộ tộc Ha-mit từ Tây Á đã xâm nhập miền hạ lưu sông Nin, chinh phục thổ dân châu Phi ở đây, sau đó đồng hóa với nhau và hình thành ra một bộ tộc mới là cư dân Ai Cập cổ đại

2.2 QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH QUỐC GIA AI CẬP THỐNG NHẤT

Vào khoảng giữa thiên niên kỷ IV TCN, cư dân định cư ở lưu vực sông Nin đã sinh sống theo tổ chức công xã nông thôn Công tác trọng yếu nhất của các công xã nông thôn là công tác thủy lợi để đều hòa mực nước sông Nin, chống hạn hán, lũ lụt Do yêu cầu của công tác thủy lợi đòi hỏi các công xã nông thôn phải kết hợp lại thành những liên minh công xã rộng lớn ở Ai Cập

gọi là Nôm (hay là Châu) Như vậy, Nôm là sự hợp nhất của các công xã, Nôm

ra đời để đáp ứng nhu cầu phát triển của sản xuất, đẩy mạnh công tác thủy lợi Nôm ở Ai Cập là hình thức phôi thai của nhà nước Đứng đầu mỗi Nôm

là một Chúa Nôm (Nôm-ac-cơ) Chúa Nôm vừa là thủ lĩnh quân sự, vừa là

Trang 35

thẩm phán, vừa là tăng lữ tối cao Trong các Nôm đã xuất hiện kẻ giàu, người nghèo, đã có áp bức, bóc lột,…

Ở Ai Cập lúc đó có chừng khoảng 40 Nôm nằm dọc theo hai bên bờ sông Nin Do yêu cầu thống nhất quản lý công tác thủy lợi trên phạm vi ngày càng rộng lớn hơn nữa, đồng thời do những cuộc tranh chấp tàn khốc và lâu dài giũa các Chúa Nôm nhằm thôn tín đất đai của nhau, các Nôm ở miền bắc thống nhất thành vương quốc Hạ Ai Cập, còn các Nôm ở miền nam thống nhất thành vương quốc Thượng Ai Cập, mỗi vương quốc như thế có chừng 20 Nôm Trong thời gian dài, chiến tranh tàn khốc giữa hai vương quốc đã diễn ra, kết quả vương quốc Thượng Ai cập đã thắng vương quốc Hạ Ai Cập, hình thành nhà nước Ai cập cổ đại thống nhất vào năm 3200 TCN Người có công thống nhất đất nước là vua Mê-nét

Quá trình hình thành nhà nước Ai Cập cổ đại thống nhất còn gọi là thời kỳ Tảo kỳ vương quốc (khoảng 3200 – 3000 TCN) Mặc dù còn nhiều nét sơ khai, nhà nước Ai Cập cổ đại đã hình thành và mang tính chất của một nhà nước chuyên chế phương đông

Quá trình hình thành nhà nước Ai Cập thống nhất là một quá trình vừa có

tính qui luật, vừa có tính đặc thù Tính qui luật thể hiện ở chỗ khi sản xuất phát

triển đến mức có của thừa sẽ dẫn đến tư hữu tài sản, phân hóa giai cấp trong xã hội, từ đó sẽ đưa đến sự xuất hiện của giai cấp và nhà nước, sự hình thành quốc gia Tính đặc thù ở đây là do yêu cầu công tác thủy lợi nên công tác công xã nông thôn nhỏ liên minh với nhau thành các Nôm, và từ đó thúc đẩy sự ra đời nhanh chóng của các quốc gia

Như vậy công tác thủy lợi chính là xúc tác đẩy nhanh sự hình thành quốc gia Ai Cập cổ đại thống nhất Có thể biểu hiện quá trình ra đời của nhà nước Ai Cập thống nhất bằng sơ đồ sau:

Sơ đồ 2: Quá trình hình thành nhà nước Ai Cập thống nhất

Sự ra đời của quốc gia Ai Cập thống nhất đã thúc đẩy nền kinh tế Ai Cập phát triển vì nó cho phép Ai Cập xây dựng nhiều công trình thủy lợi có quy mô lớn Các vương triều đầu tiên (I, II) đã gây chiến với các bộ lạc phía đông Ai Cập ở miền Xi-nai, đánh chiếm vùng mỏ đồng và đem chế tạo công cụ,

vũ khí khiến nền kinh tế Ai Cập có điều kiện phát triển Ngoài ra, việc thống

Trang 36

nhất Ai Cập còn cho phép Ai Cập xây dựng nhà nước chuyên chế trung ương tập quyền

2.3 CÁC THỜI KỲ LỊCH SỬ CỦA AI CẬP CỔ ĐẠI

Lịch sử Ai Cập cổ đại chia thành ba thời kỳ: Cổ vương quốc, Trung vương quốc và Tân vương quốc

2.3.1 Thời kỳ Cổ vương quốc ( 2900 – 2300 TCN )

Gồm bốn vương triều (vương triều III đến vương triều VI), là thời kỳ hình thành và củng cố nhà nước trung ương tập quyền và cũng là thời kỳ phát triển thịnh đạt đầu tiên về các mặt kinh tế, văn hóa và chính trị - quân sự của Ai cập

Các Pha-ra-ông (vua) thuộc bốn vương triều này đã thực hiện chính sách xâm lược Nu-bi và Xi-nai nhằm mở rộng lãnh thổ và cướp bóc tài sản Trong chính sách đối nội thì ra sức cũng cố chính quyền trung ương tập quyền mà một trong những biểu hiện cho sức mạnh và quyền lực vô hạn của chính quyền Pha-ra-ông là việc xây dựng các Kim tự tháp Hầu hết các Kim tự tháp Ai Cập đều

được xây dựng trong thời kỳ này nên thời Cổ vương quốc còn được gọi là “thời

đại Kim tự tháp”

Do tiêu hao quá nhiều nhân lực, vật lực và tài lực cho việc xây dựng những công trình kiến trúc to lớn (Kim tự tháp, đền đài, cung điện,…) và tiến hành những cuộc chiến tranh liên miên với các nước láng giềng, chính quyền trung ương chuyên chế ngày càng suy yếu đi Lợi dụng sự suy yếu của các Pha-ra-ông, giới quí tộc địa phương thoát ly khỏi sự khống chế của chính quyền trung ương Thời Cổ vương quốc chấm dứt

2.3.2 Thời kỳ Trung vương quốc ( 2150 – 1710 TCN )

Quá trình thống nhất lại Ai Cập gắn liền với cuộc tranh chấp lâu dài giữa hai tập đoàn quí tộc ở miền bắc và miền nam Cuối cùng, tập đoàn quí tộc Te-bơ (miền nam) giành thắng lợi (2150 TCN) Ai Cập bước vào thời Trung vương quốc gồm vương triều XI và XII

Thời Trung vương quốc, để củng cố chính quyền và ổn định tình hình xã hội, các Pha-ra-ông một mặt tăng cường chính quyền quân chủ chuyên chế trung ương tập quuyền, xóa bỏ quyền tự trị của các Chúa Nôm, mặt khác đặc biệt quan tâm đến công tác thủy lợi, khuyến khích phát triển sản xuất nông nghiệp, cải tiến công cụ sản xuất, đẩy mạnh hoạt động thương nghiệp…

Xã hội Ai Cập thời Trung vương quốc ngày càng phân hóa mạnh, mâu thuẫn xã hội càng thêm sâu sắc, đời sống của nô lệ và dân nghèo vô cùng khổ cực khiến cho nhiều cuộc nổi dậy đấu tranh của nô lệ và dân nghèo đã nổ ra trong thời kỳ này mà đặc biệt là cuộc khởi nghĩa của nô lệ và dân nghèo xảy ra vào năm 1750 TCN Cuộc khởi nghĩa tuy bị đàn áp, nhưng nó góp phần làm suy

Trang 37

hình loạn lạc ở Ai Cập, các bộ lạc du mục thuộc tộc Hích-xốt sống ở vùng Xi-ri

và Pa-let-xtin đã xâm nhập vào lãnh thổ Ai Cập và dần dần chiếm đóng đại bộ phận đất đai của Ai Cập Thời kỳ Trung vương quốc chấm dứt

2.3.3 Thời kỳ Tân vương quốc ( 1560 – 941 tr CN )

Sự thống trị của người Hích-xốt kéo dài 150 năm Năm 1560 TCN, một quí tộc thành Te-bơ (miền nam Ai Cập) là At-mét đã lãnh đạo phong trào giải phóng, giành được thắng lợi, khôi phục lại nền độc lập, thống nhất chi Ai Cập,

mở đầu cho thời kỳ Tân vương quốc

Thời Tân vương quốc, sau khi cũng cố chính quyền quân chủ chuyên chế trung ương tập quyền, các Pha-ra-ông tăng cường lực lượng quân đội để đẩy mạnh chính sách xâm lược, mở rộng bờ cõi Lúc này, Ai Cập trở thành một đế quốc rộng lớn và hùng mạnh nhất trong khu vực

Trong thời Tân vương quốc, do thế lực của tăng lữ thờ thần A-môn ngày càng lớn, Pha-ra-ông A-men-khô-tép IV đã thực hành cải cách tôn giáo, xóa bỏ các đền thờ thần A-môn và buộc các tăng lữ trở về với đời sống hoàn tục, đề xướng một tôn giáo mới thờ thần Mặt trời A-tôn, xây dựng kinh đô mới – kinh thành A-khê-na-tôn nghĩa là ―chân trời của thần A-tôn‖ để tránh kinh thành Te-

bơ tôn thờ thần A-môn Tăng lữ thờ thần A-môn phản ứng mạnh mẽ cuộc cải cách tôn giáo đó nên sau khi A-men-khô-tep IV chết, thế lực phản động khôi phục lại tôn giáo thờ thần A-môn và kinh đô lại trở về thành Tebơ

Năm 941 TCN, một thủ lĩnh quân đội đánh bại người Li-bi ở Ai Cập cướp ngôi Pha-ra-ông, chấm dứt thời kỳ Tân vương quốc Ai Cập bước vào thời kỳ liên tiếp bị ngoại tộc thống trị: người Li-bi, Nu-bi, At-xi-ri, Ba Tư

Đến năm 332 TCN xăng Ma-kê-đô-ni chinh phục Sau khi xăng chết Ai Cập đặt dưới quyền bộ tướng P-tô-lê-mê, người sáng lập vương triều P-tô-lê-mê Ai Cập bước vào thời kì Hy Lạp hóa (TK IV- I TCN)

A-lếch-Năm 30 TCN trở thành đất phụ thuộc Rô Ma Đến thời Trung đại, Ai Cập trở thành một quốc gia Hồi giáo nằm trong đế quốc A-rập Hồi giáo

2.4 NHÀ NƯỚC AI CẬP CỔ ĐẠI

- Nhà nước Ai Cập cổ đại được hình thành từ thời Tảo kỳ vương quốc trong quá trình thống nhất hai miền Thượng và Hạ Ai Cập Từ thời đó, nhà nước Ai Cập đã mang tính chất tập trung chuyên chế, nhưng bộ máy mới được thiết lập, chưa được hoàn chỉnh và củng cố

- Đến thời Cổ vương quốc, chính quyền trung ương tập quyền được củng

cố, quân đội được tăng cường để đáp ứng các nhu cầu của cuộc chiến tranh xâm lược nước ngoài và đàn áp, bóc lột nhân dân ở trong nước nên bộ máy nhà nước dần được hoàn chỉnh và phát huy quyền lực của nó

Trang 38

Đứng đầu bộ máy nhà nước Ai Cập cổ đại là một ông vua chuyên chế gọi

là Pha-ra-ông – nghĩa là ―Ngài ngự trong cung điện‖ Pha-ra-ông có quyền sở hữu tối cao toàn bộ đất đai và thần dân trong cả nước Pha-ra-ông dùng ruộng đất đó cùng với của cải và nô lệ để ban tặng cho bà con thân thích, cho quan lại

và tăng lữ cấp cao Pha-ra-ông được coi như một vị thần sống (“con của thần

Ra” – thần mặt Trời) Ngoài chức năng cai trị thần dân, Pha-ra-ông còn kiêm

chức năng thẩm phán tối cao, thống lĩnh quân sự tối cao và là vị tăng lữ tối cao, tức là vừa nắm trong tay cả vương quyền lẫn thần quyền

Hình 5: Pharaông - AMENHOTEP III Nguồn: http://www.Menphis.edu/egypt

Giúp việc cho vua là hệ thống quan lại từ trung ương cho tới địa phương Ở trung ương đứng đầu làVi-dia (Tể Tướng) – điều thành công việc hành chính Dưới Vi-dia là một bộ máy quan liêu gồm các quan lại và tăng lữ cao cấp, các thư lại gọi là Sơ-cơ-ri-bơ là tầng lớp người có học vấn thời bấy giờ Bộ máy quan lại này lo việc thu thuế, xử án, xây dựng các công trình công cộng, thủy lợi, xây dựng quân đội, tổ chức những cuộc chiến tranh bảo vệ đất nước hay xâm lược nước

ngoài

Ở các địa phương, chính quyền nằm trong tay các Chúa Nôm Chúa Nôm giống như ông vua con ở địa phương, thay mặt vua cai trị Nôm, có toàn quyền quyết định mọi việc trong Nôm của mình Chúa Nôm cũng là thẩm phán, chỉ huy quân sự và tăng lữ cao nhất của địa phương

Như vậy, bộ máy nhà nước của Ai Cập cổ đại đã thể hiện rất rõ tính chất chuyên chế trung ương tập quyền Không chỉ nhà nước Ai Cập cổ đại mà các

Trang 39

nhà nước cổ đại phương đông khác, dù khác nhau ít nhiều về hình thức đều có

chung hai đặc điểm:

+ Đứng đầu nhà nước là Vua và quyền lực vô hạn của nhà vua (vua nắm

trong tay cả vương quyền lẫn thần quyền)

+ Dưới vua là Tể Tướng và hệ thống quan lại chia làm ba Bộ: Bộ Tài

chính; Bộ chiến tranh; Bộ xây dựng Do có chung những đặc điểm như vậy, cho

nên người ta gọi đó là: nhà nước chuyên chế trung ương tập quyền “kiểu

phương Đông” Chúng ta có thể thấy được mô hình của nhà nước Ai Cập cổ đại

qua sơ đồ sau:

Sơ đồ 3: Cơ cấu nhà nước Ai Cập cổ đại

2.5 TÌNH TRẠNG KINH TẾ AI CẬP CỔ ĐẠI

- Về công cụ lao động: ở thời Cổ vương quốc , công cụ sản xuất chủ

yếu là đá và gỗ Bên cạnh những công cụ bằng đá, gỗ đó, người Ai Cập cũng đã

biết đến đồng nguyên chất (nhờ xâm chiếm được vùng mỏ đồng ớ bán đảo

Xi-nai) và chế tạo được nhửng công cụ bằng đồng Tuy nhiên, do đồng nguyên chất

là một nguyên liệu mềm, dễ uốn dẽo,…nên tác dụng của công cụ bằng đồng đối

với sản xuất không đáng là bao Vì thế công cụ bằng đồng không loại trừ được

công cụ bằng đá

Đến thời Trung vương quốc, nhờ có việc nhập khẩu thiếc từ vùng Tiểu Á,

người Ai Cập thời Trung vương quốc đã chế tạo được đồng thau Sự xuất hiện

công cụ bằng đồng thau đã làm thay đổi căn bản tình trạng kỹ thuật sản xuất lạc

hậu trước đây

Sang thời thời Trung vương quốc, bên cạnh sử dụng rộng rãi công cụ

bằng đồng thau, người Ai Cập đã biết chế tạo những chiếc cày, cuốc, bừa bằng

Trang 40

sắt Việc xuất hiện công cụ bằng sắt đã làm cho nền kinh tế nông nghiệp của Ai Cập phát triển vượt bậc

- Về kinh tế: Nông nghiệp được xem là ngành kinh tế chính, các ngành

kinh tế khác như chăn nuôi, đánh cá, thủ công nghiệp, thương nghiệp có tính chất bổ trợ

Để có thể phát triển nền kinh tế nông nghiệp, người Ai Cập rất quan tâm đến công tác thủy lợi Từ thời Cổ vương quốc, người ta đã biết đào ao, hồ, sông ngòi, đê điều để lấy nước tưới tiêu cho đồng ruộng Sang thời Trung vương quốc nhiều công trình thủy lợi lớn được xây dựng, tiêu biểu nhất là việc tu sửa

hồ Mô-rit thành một bể chứa nước nhân tạo rộng lớn, chu vi chừng 200 km, có kênh đào dẫn nước nối từ hồ đến sông Nin dài tới 19 km Hồ Mô-rit có khả năng cung cấp nước quanh năm cho một vùng rộng lớn, nhờ đó người Ai Cập

có thể thu hoạch được hai vụ lúa trong năm Đến thời thời Trung vương quốc, công tác thủy lợi vẫn tiếp tục được nhà nước Ai Cập coi trọng

Do công tác thủy lợi rất được coi trọng nên trong bộ máy của nhà nước

Ai Cập cổ đại, chức quan cao nhất là Vi-dia (Tể tướng hay Nhiếp chính), ngoài việc nắm giữ hầu hết các chức năng quan trọng của nhà nước như: tư pháp, thu thuế, còn trông coi việc xây dựng và quản lý các công trình thủy lợi và công cộng Ngoài ra, nhà nước còn đặt ra chức nông quan có nhiệm vụ trông coi các công trình thủy lợi ở trong nước (một trong ba chức năng chủ yếu của nhà nước

Ai Cập cổ đại, cũng như các nhà nước phương Đông cổ đại khác)

Bên cạnh nghề trồng trọt, chăn nuôi và đánh cá cũng được chú trọng và phát triển Chăn nuôi không chỉ phổ biến trong các gia đình nông dân, mà nhà nước, giai cấp quí tộc và các đền thờ cũng tiến hành chăn nuôi những đàn súc

vật lớn Nhà nước thành lập cơ quan thống kê súc vật có sừng và cử một chức quan trông coi súc vật trong cả nước Nhà vua cũng đặt chức quan chăm sóc

súc vật của vua

Sản xuất thủ công nghiệp cũng khá thịnh vượng Từ thời Cổ vương quốc, một số nghề thủ công cổ truyền như: dệt vải, đồ gốm, đồ trang sức, đóng thuyền,… đã khá tiến bộ Sang thời Trung và Tân vương quốc có thêm những nghề mới như: nghề đúc đồng, rèn vũ khí, đồ thủy tinh, thuộc da,…Ngoài ra, ở

Ai Cập còn có làm đồ mai táng, đây là một nghề đặc biệt và giữ vai trò quan trọng trong cuộc sống vì có tục ướp xác rất phát triển

Trong thời Cổ vương quốc, ngoại thương chưa phát triển, sự trao đổi chủ yếu diễn ra trong nước, hình thức trao đổi thường là vật đổi vật Sang thời Trung và Tân vương quốc, việc trao đổi được đẩy mạnh Ai Cập đã tiến hành mua bán sản phẩm với Li Băng, Hai-ti, Ba-bi-lon và các đảo trên biển Ê-giê Thời kỳ này đồng tiền chưa xuất hiện rõ rệt mà chỉ ở dạng là những mảnh kim loại

Ngày đăng: 08/03/2021, 14:37

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN