1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Tài liệu giảng dạy lịch sử thế giới cận đại

307 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 307
Dung lượng 2,28 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong phong trào đấu tranh này, dù theo loại hình nào, ý thức hệ phong kiến hay phong trào nhân dân yêu nước, phong trào theo khuynh hướng tư sản hay phong trào tư sản cuối cùng đều thất

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG

Trang 3

MỤC LỤC

Trang Mở đầu I Phân kỳ lịch sử thế giới Cận đại……….7

II Nội dung cơ bản của chương trình lịch sử thế giới Cận đại……… 7

III Bố cục tài liệu Lịch sử thế giới Cận đại……… 8

IV Mục tiêu và cơ sở khi biên soạn tài liệu Lịch sử thế giới Cận đại…… 8

Phần thứ nhất Châu Âu – Bắc Mỹ - Nhật Bản thời Cận đại (1556 – 1918) Chương I Các cuộc cách mạng tư sản giữa thế kỷ XVI đến cuối thế kỷ XVIII……10

Bài 1 Cách mạng Hà Lan giữa thế kỷ XVI……… 10

I Nguyên nhân dẫn đến cách mạng……….10

II Diễn biễn cách mạng (1566 – 1648)………12

III Tính chất, kết quả, ý nghĩa lịch sử và hạn chế của cách mạng Nêđeclan 13

Bài 2 Cách mạng tư sản Anh giữa thế kỷ XVII………14

I Tình hình nước Anh trước cách mạng……… 14

II Diễn biến cách mạng……… 17

III Tính chất và ý nghĩa lịch sử của cách mạng tư sản Anh……… 19

Bài 3 Cách mạng công nghiệp Anh………20

I Những tiền của cách mạng công nghiệp Anh……… 20

II Diễn biến cách mạng công nghiệp ở Anh………21

III Hệ quả của cách mạng công nghiệp……… 22

Bài 4 Chiến tranh giành độc lập của 13 thuộc địa của Anh ở Bắc Mỹ…… 23

I Tình hình 13 thuộc địa ở Bắc Mỹ trước chiến tranh ……… 24

II Diễn biến của cuộc chiến tranh ……… 25

III Hiến pháp 1787……… 27

IV Tính chất và ý nghĩa lịch sử của chiến tranh giành độc lập……… 28

Bài 5 Cách mạng tư sản Pháp cuối thế kỷ XVIII……….30

I Tình hình nước Pháp trước cách mạng……….30

II Diễn biến của cuộc cách mạng tư sản Pháp (1789 – 1799)……….35

III Đặc điểm, ý nghĩa lịch sử của cách mạng Pháp cuối thế kỷ XVIII…… 40

Chương II Các nước châu Âu – Bắc Mỹ nửa đầu thế kỷ XIX………44

Bài 1 Nước Pháp và châu Âu từ 1799 đến 1815………44

I Chế độ Thủ lĩnh (1799 – 1804)……….44

II Nền Đế chế (1804 – 1815)……… 45

Bài 2 Châu Âu từ 1815 đén 1848………47

I Hội nghị Viên (1814 – 1815)………47

II Sự phát triển kinh tế tư bản chủ nghĩa ở châu Âu, Bắc Mỹ(1815 – 1848) 48

III Các phong trào tư sản từ năm 1815 đến 1848………49

Bài 3 Phong trào cách mạng 1848 – 1849 ở châu Âu……… 51

I Tình hình chung………51

II Phong trào cách mạng 1948 – 1949 ở châu Âu……… 52

III Tính chất, đặc điểm và ý nghĩa lịch sử của phong trào cách mạng 1848 – 1849 ở châu Âu……… 60

Chương III Châu Âu – Bắc Mỹ - Nhật Bản (1850 – 1870)……… 63

Bài 1 Quá trình thống nhất Đức (1864 – 1870)……….63

I Sự phát triển kinh tế tư bản chủ nghĩa ở Đức sau năm 1848……… 63

II Các giai cấp và các vương quốc trước sự nghiệp thống nhất nước Đức 64

Trang 4

III Quá trình thống nhất Đức (1864 – 1870)……… 65

Bài 2 Thống nhất Ý (1859 – 1870)……… 66

I Nước Ý trước công cuộc thống nhất……….66

II Quá trình thống nhất Ý (1859 – 1870)………67

Bài 3 Nội chiến ở Mỹ (1861 - 1865)……… 69

I Nguyên nhân bùng nổ cuộc nội chiến……… 69

II Diễn biến của cuộc nội chiến……… 71

III Hậu quả, tính chất và ý nghĩa lịch sử của cuộc nội chiến Mỹ ………… 72

Bài 4 Công cuộc Duy Tân ở Nhật Bản (1868)……… 72

I Tình hình Nhật Bản trước Duy Tân Minh Trị……… 72

II Tư bản phương Tây mở cửa Nhật Bản, Shogun thoái vị………… 74

III Thiên Hoàng Minh Trị lên ngôi và chính sách cải cách……….75

IV Đánh giá cuộc cải cách Minh Trị……… 76

Bài 5 Cải cách nông nô ở Nga……….77

I Nước Nga nửa đầu thế kỷ XIX……….77

II Những đợt cải cách ở Nga trong những thập niên 60, 70 thế kỷ XIX…….78

Chương IV Châu Âu – Bắc Mỹ - Nhật Bản cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX………81

Bài 1 Tình hình kinh tế - xã hội các nước tư bản chủ nghĩa cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX………81

I Những tiến bộ khoa học kỹ thuật và sự phát triển kinh tế các nước tư bản chủ nghĩa cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX……… 81

II Sự ra đời của các tổ chức độc quyền……… 83

III Hoạt động của các tổ chức độc quyền, những đặc trưng của chủ nghĩa đế quốc……….85

IV Những chuyển biến trong xã hội các nước tư bản chủ nghĩa……….86

Bài 2 Nước Anh từ 1870 đến 1914……… 87

I Tình hình kinh tế nước Anh (1870 – 1914)……… 87

II Tình hình chính trị và chính sách đối ngoại (1870 – 1914)……….89

Bài 3 Nước Pháp (1870 – 1914)……… 91

I Sự phát triển kinh tế của Pháp cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX…………91

II Chế độ chính trị, chính sách đối nội và đối ngoại của Pháp cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX………92

Bài 4 Nước Đức (1870 – 1914)………94

I Sự phát triển kinh tế nước Đức cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX………… 94

II Tình hình chính trị và chính sách đối nội, đối ngoại của nước Đức cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX………95

Bài 5 Nước Mỹ (1870 – 1914)……… 97

I Sự phát triển kinh tế của Mỹ từ (1870 – 1914)……… 97

II Sự ra đời của các công ti độc quyền ở nước Mỹ……… 98

III Chế độ chính trị của Mỹ……… 99

IV Chính sách đối ngoại………100

Bài 6 Nước Nhật (1868 – 1914)……….101

I Sự phát triển kinh tế Nhật Bản cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX…………101

II Tình hình chính trị ở Nhật Bản cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX……… 102

III Chính sách đối ngoại của Nhật Bản cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX… 103

Bài 7 Nước Nga (1870 – 1914)……… 104

I Sự phát triển kinh tế nước Nga cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX……… 104

II Những chính sách đối nội, đối ngoại của Nga Hoàng từ cuối thế kỷ XIX đầu thế thế kỷ XX……… 105

Trang 5

Bài 8 Địa vị lịch sử của chủ nghĩa đế quốc……… 106

I Những đóng góp của chủ nghĩa tư bản trong giai đoạn độc quyền…… 106

II Những hạn chế của chủ nghĩa tư bản trong giai đoạn độc quyền……… 106

Chương V Phong trào công nhân thế giới thế kỷ XIX đầu thế thế kỷ XX 109

Bài 1 Phong trào công nhân nửa đầu thế kỷ XIX, sự ra đời của chủ nghĩa xã hội khoa học………109

I Sự ra đời của giai cấp công nhân và những phong trào đầu tiên…………109

II Sự ra đời của chủ nghĩa xã hội khoa học……… 113

Bài 2 Phong trào công nhân thế giới từ thập niên 50 đến đầu thập niên 70 của thế kỷ XIX……….121

I Quốc tế thứ nhất (1864)……… 121

II Chiến tranh Pháp Phổ và Công xã Pari……… 126

III Hoạt động của Quốc tế thứ nhất sau công xã Pari (1871 – 1876)…… 131

Bài 3 Phong trào công nhân thế giới những thập niên cuối thế kỷ XIX… 132

I Phong trào bãi công đòi ngày làm 8 giờ ở các nước Âu – Mỹ………… 132

II Các chính đảng công nhân và đảng xã hội dân chủ lần lượt ra đời ở các nước Âu – Mỹ……… 133

III Quốc tế thứ hai (1889)……… 135

Bài 4 Phong trào công nhân thế giới đầu thế kỷ XX……… 137

I Sự xuất hiện Đảng Công nhân xã hội dân chủ Nga dưới ngọn cờ cách mạng của V.I Lênin……….137

II Hoạt động của Quốc tế thứ II đầu thế kỷ XX và sự tan rã của nó…… 141

Phần thứ hai Châu Á, châu Phi và Mỹ Latinh thời Cận đại Chương I Những nét khái quát………145

Chương II Các nước châu Á đến giữa thế kỷ XIX……….148

Bài 1 Ấn Độ đến giữa thế kỷ XIX……….148

I Ấn Độ trước khi chủ nghĩa tư bản phương Tây xâm nhập……….148

II Ấn Độ dưới ách thống trị của thực dân Anh……….149

III Cuộc khởi nghĩa của nhân dân Ấn Độ (1857 – 1859)……… 151

Bài 2 Các nước Thổ Nhĩ Kỳ, Ba Tư đến giữa thế kỷ XIX……….153

Thổ Nhĩ Kỳ đến giữa thế kỷ XIX ………153

I Tình hình chính trị ở Thổ Nhĩ Kỳ ……… 153

II Sự thất bại của những dự án cải cách………154

Ba Tư đến giữa thế kỷ XIX……… 155

I Tình hình kinh tế - chính trị Ba Tư đến nửa đầu thế kỷ XIX……… 155

II Phong trào “Babit” (1844 – 1852)……….155

Bài 3 Trung Quốc đến giữa thế kỷ XIX……… 156

I Trung Quốc trước khi thực dân phương Tây xâm lược……… 156

II Cuộc chiến tranh Thuốc phiện lần thứ nhất (1840 – 1842)……… 157

III Phong trào nông dân Thái Bình Thiên Quốc (1851 – 1864)………160

Bài 4 Inđônêxia đến giữa thế kỷ XIX……… 165

I Inđônêxia trước khi thực dân phương Tây xâm lược……….165

II Thực dân Bồ Đào Nha và Tây ban Nha xâm nhập Inđônêxia………… 165

III Sự xâm lược của Công ti Đông Ấn Hà Lan ………166

IV Chế độ thống trị của thực dân Hà Lan và Anh………166

V Cuộc khởi nghĩa của Đippônêgôrô và cuộc chiến đấu dũng cảm của nhân dân Achê……….168

Bài 5 Mã Lai đến giữa thế kỷ XIX……… 170

Trang 6

I Mã Lai trước khi thực dân phương Tây xâm lược……… 170

II Sự giành giật giữa thực dân Bồ Đào Nha và Hà Lan ở Mã Lai……… 171

III Cuộc tranh giành Mã Lai giữa tư bản Anh và Hà Lan……… 172

Bài 6 Philippin đến giữa thế kỷ XIX………174

I Philippin trước khi thực dân Tây Ban Nha xâm lược……….174

II Sự xâm lược của Tây Ban Nha và hậu quả của nó………175

Chương III Châu Phi và Mỹ Latinh đến giữa thế kỷ XIX………180

Bài 1 Châu Phi đến giữa thế kỷ XIX……… 180

I Vài nét về châu Phi trước thời kỳ bị xâm lược … 180

II Sự xâm nhập của chủ nghĩa thực dân châu Âu……… 181

III Phong trào đấu tranh của nhân dân Angiêri chống thực dân Pháp…… 182

Bài 2 Mỹ Latinh đến giữa thế kỷ XIX……….182

I Tình hình Mỹ Latinh từ đầu thời Cận đại đến đầu thế kỷ XIX………… 182

II Phong trào giải phóng dân tộc ở Mỹ Latinh cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX……….185

III Đặc điểm, tính chất và ý nghĩa lịch sử của phong trào giải phóng dân tộc ở Mỹ Latinh cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX……… 189

Chương IV Châu Á giữa thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX……….192

Bài 1 Ấn Độ nửa sau thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX………192

I Ấn Độ nửa sau thế kỷ XIX……….192

II Ấn Độ đầu thế kỷ XX………193

Bài 2 Thổ Nhĩ Kỳ và Ba Tư nửa sau thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX………… 197

Thổ Nhĩ Kỳ nửa sau thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX………197

I Chế độ phong kiến chuyên chế và tình trạng nửa thuộc địa của Thổ Nhĩ Kỳ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX……… 197

II Phong trào cách mạng đầu thế kỷ XX ở Thổ Nhĩ Kỳ………198

III Đế quốc Ốt Man tan rã……….200

Ba Tư nửa sau thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX……….201

I Sự xâm nhập của tư bản phương Tây đã biến Ba Tư thành nước nửa thuộc địa ở nửa sau thế kỷ XIX……… 201

II Phong trào cách mạng ở Ba Tư cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX……… 202

Bài 3 Trung Quốc nửa sau thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX……… 205

I Trung Quốc từ sau phong trào Thái Bình Thiên quốc đến cuối thế kỷ XIX…… 205

II Trung Quốc vào đầu thế kỷ XX………214

III Cuộc cách mạng Tân Hợi (1911)……….215

IV Trung Quốc sau cách mạng Tân Hợi……… 217

Bài 4 Inđônêxia nửa sau thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX……… 218

I Chế độ thống trị của thực dân Hà Lan cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX 218

II Phong trào dân tộc cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX……… 219

Bài 5 Miến Điện nửa sau thế kỷ XIX……… 221

I Miến Điện trước thời kỳ xâm lược của thực dân Anh………221

II Thực dân Anh xâm lược và thôn tính Miến Điện……… 222

III Miến Điện trong thời kỳ thực dân Anh đô hộ……… 224

Bài 6 Triều Tiên nửa sau thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX……….227

I Triều Tiên trước khi thực dân phương Tây xâm lược………227

II Đế quốc Âu – Mỹ - Nhật xâm lược Triều Tiên và những hiệp ước bất bình đẳng……… 229

III Phong trào đấu tranh của nhân dân Triều Tiên cuối thế kỷ XIX……….230

IV Nhật Bản chiếm Triều Tiên và phong trào đấu tranh của nhân dân…….231

Trang 7

Bài 7 Xiêm (Thái Lan) nửa sau thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX……… 234

I Nước Xiêm trước khi thực dân phương Tây xâm nhập……… 234

II Chủ nghĩa thực dân phương Tây xâm nhập Xiêm………235

III Sự phát triển quan hệ tư bản chủ nghĩa và sự phân hóa xã hội Xiêm đầu thế kỷ XX………237

Bài 8 Mã Lai nửa sau thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX……… 241

I Chính sách thống trị và bóc lột của đế quốc Anh ở Mã Lai………… 241

II Phong trào đấu tranh của nhân dân Mã Lai đầu thế kỷ XX……… 244

Bài 9 Philippin nửa sau thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX……… 244

I Cuộc cách mạng tư sản cuối thế kỷ XIX………244

II Đế quốc Mỹ can thiệp và thôn tính Philippin………250

Bài 10 Campuchia nửa sau thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX……….252

I Thực dân Pháp xâm lược Campuchia……… 252

II Phong trào đấu tranh chống Pháp của nhân dân Campuchia……….253

III Chính sách cai trị của thực dân Pháp và phong trào dân tộc Campuchia đầu thế kỷ XX………256

Bài 11 Lào nửa sau thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX……… 258

I Nước Lào trước khi thực dân Pháp xâm lược……….258

II Quá trình xâm nhập và sự thống trị của thực dân Pháp……….259

III Phong trào đấu tranh chống Pháp của nhân dân Lào đầu thế kỷ XX… 260

Chương V Châu Phi và Mỹ Latinh nửa sau thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX 267

Bài 1 Châu Phi nửa sau thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX……… 267

I Các nước đế quốc xâu xé châu Phi……….267

II Phong trào đấu tranh chống thực dân của nhân dân châu Phi nửa sau thế kỷ XIX……… 268

Bài 2 Mỹ Latinh nửa sau thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX……….271

I Tình hình kinh tế - xã hội………271

II Sự xâm nhập của tư bản châu Âu……… 272

III Chính sách bành trướng của Hoa Kỳ ở Mỹ Latinh……… 272

IV Phong trào cách mạng ở các nước Mỹ Latinh nửa sau thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX……….273

Phần thứ ba Quan hệ quốc tế - Chiến tranh thế giới thứ nhất và sự phát triển khoa học kỹ thuật, văn học nghệ thuật cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX Chương I Quan hệ quốc tế cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX……… 277

Bài 1.Quan hệ quốc tế cuối thế kỷ XIX………277

I Khái niệm “Quan hệ quốc tế”……….277

II Sự hình thành hai khối quân sự và chính trị ở lục địa châu Âu (1879 – 1893)……… 278

III Cuộc đấu tranh để phân chia thế giới……… 280

Bài 2 Quan hệ quốc tế đầu thế kỷ XX……….281

I Những cuộc chiến tranh đế quốc hồi đầu thế kỷ XX……… 281

II Sự hình thành khối Hiệp ước (1904 – 1905)……….282

III Những cuộc khủng hoảng và chiến tranh cục bộ……….283

Chương II Chiến tranh thế giới thứ nhất (1914 – 1918)………286

I Nguyên nhân của chiến tranh……… 286

II Quy mô của chiến tranh……….287

III Tính chất của chiến tranh……….287

IV Diễn biến của chiến tranh thế giới thứ nhất……….287

Trang 8

V Hậu quả của chiến tranh thế giới thứ nhất (1914 – 1918)……….291

Chương III Những thành tựu khoa học kỹ thuật, văn học nghệ thuật

thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX……… 293

Bài 1 Những thành tựu Khoa học, kỹ thuật thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX… 293

I Những thành tựu của Khoa học……… 293

II Những tiến bộ của Kỹ thuật……… 295

III Tác động của Khoa học, kỹ thuật đối với sự phát triển

lực lượng lượng sản xuất tư bản chủ nghĩa……… 297

Bài 2 Sự phát triển Văn học, Nghệ thuật thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX…… 298

I Sự phát triển của Văn học……… 298

II Sự phát triển của Nghệ thuật……….302

Tài liệu tham khảo……….305

Trang 9

MỞ ĐẦU

I Phân kỳ lịch sử thế giới Cận đại

Theo quan điểm Mácxít, lịch sử thế giới Cận đại bắt đầu từ năm 1556 với cách mạng tư sản Hà Lan và kết thúc bằng cách mạng Tháng Mười Nga 1917, được chia thành 2 thời kỳ lớn:

Thời kỳ thứ nhất, từ năm 1556 đến 1870: Thời kỳ hình thành và phát triển

của chủ nghĩa tư bản Thời kỳ này gồm các giai đoạn:

Giai đoạn 1556 đến 1815: Mở đầu thời Cận đại bằng những cuộc cách

mạng tư sản nổ ra ở châu Âu và Bắc Mỹ

Giai đoạn 1815 đến 1848: Giữa tư sản và phong kiến đấu tranh giằng co

quyết liệt

Giai đoạn 1848 đến 1870: Chủ nghĩa tư bản trở thành hệ thống thế giới

Thời kỳ thứ hai, từ1870 đến năm 1917 gồm các giai đoạn:

Giai đoạn 1870 đến 1903: Chủ nghĩa tư bản từ tự do cạnh tranh chuyển

sang giai đoan độc quyền

Giai đoạn 1903 đến 1917: Chủ nghĩa tư bản độc quyền, giai cấp vô sản

trong giai đoạn đấu tranh xóa bỏ chủ nghĩa tư bản

II Nội dung cơ bản của chương trình lịch sử thế giới Cận đại

1 Quá trình hình thành, phát triển và sụp đổ bước đầu của chủ nghĩa tư bản

Bước quá độ từ chế độ phong kiến sang chế độ tư bản được thực hiện bằng hàng loạt các cuộc cách mạng tư sản diễn ra từ giữa thế kỉ XVI đến những năm 60 của thế kỷ XIX Tuy nhiên, do bùng nổ trong điều kiện kinh tế, chính trị xã hội khác nhau, nên kết quả, tính chất và hình thức của các cuộc cách mạng không giống nhau

Đến những năm 60 của thế kỷ XIX, chủ nghĩa tư bản đã trở thành hệ thống thế giới Từ những năm 70 trở đi, chủ nghĩa tư bản từ tự do cạnh tranh chuyển sang độc quyền với việc xuất hiện phổ biến các công ti độc quyền Trong giai đoạn này, sự ăn bám thối nát phản động bộc lộ rõ trong tất cả các nước đế quốc, mâu thuẫn nội tại của chủ nghĩa tư bản phát triển sâu sắc và dẫn đến sự sụp đổ bước đầu của chúng tại nước Nga năm 1917

2 Quá trình hình thành và phát triển của phong trào công nhân và phong trào Cộng sản quốc tế

Nước Anh là quê hương của chủ nghĩa tư bản và của cách mạng công nghiệp nên trở thành nơi khởi nguồn của phong trào công nhân quốc tế

Từ những cuộc đập phá máy móc, công nhân đã tiến hành khởi nghĩa vũ trang nhằm lật đổ chế độ thống trị tư sản, đó là các phong trào của thợ dệt Liông ở Pháp, của thợ dệt Sơlêđin ở Đức và phong trào Hiến chương ở Anh

Những năm 40 của thế kỉ XIX, C Mác và Enghen đã sáng lập ra học thuyết cách mạng (học thuyết C Mác) đã cung cung cấp vũ khí lý luận cho giai cấp vô sản chống lại giai cấp tư sản

Trang 10

Trong cuộc đấu tranh này, giai cấp công nhân đã tập hợp trong những tổ

chức quốc tế đó là: Hội liên hiệp lao động quốc tế (Quốc tế thứ nhất, 28/9/1864)

và Quốc tế xã hội chủ nghĩa (Quốc tế thứ nhất, 14/7/1889)

Năm 1870 – 1871, giai cấp vô sản Pari đã thiết lập được nhà nước vô sản

đầu tiên trên thế giới Mặc dù chỉ tồn tại trong 72 ngày nhưng để lại những bài

học và kinh nghiệm quý giá

Những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, nội bộ giai cấp vô sản diễn ra

cuộc đấu tranh gay gắt chống lại chủ nghĩa cơ hội và xét lại học thuyết C Mác

Trong cuộc đấu tranh này, V.I Lênin đã bảo vệ thành công chủ nghĩa Mác với

việc lập ra một chính đảng vô sản kiểu mới năm 1903 Với chính đảng này, V.I

Lênin đã lãnh đạo nhân dân Nga tiến hành thành công cuộc cách mạng Tháng

Mười vĩ đại

của nhân dân châu Á, Phi và Mỹ Latinh

Phong trào đấu tranh của nhân dân các châu lục đã bùng nổ ngay từ khi

các đế quốc đến xâm lược Trong phong trào đấu tranh này, dù theo loại hình nào,

ý thức hệ phong kiến hay phong trào nhân dân yêu nước, phong trào theo khuynh

hướng tư sản hay phong trào tư sản cuối cùng đều thất bại, điều này cho thấy sự

khủng hoảng nghiêm trọng về đường lối cách mạng và giai cấp lãnh đạo cách mạng trong phong trào giải phóng dân tộc ở các châu lục thời Cận đại

Cận đại

Cách mạng công nghiệp là sự kiện cực kỳ trọng đại mang tính tất yếu

trong quá trình phát triển của chủ nghĩa tư bản Chính những thành quả của cách

mạng công nghiệp cùng với những thành tựu về khoa học tự nhiên và khoa học xã

hội đã tạo nên nền tảng vững chắc, bảo đảm cho thắng lợi của quan hệ sản xuất

mới tư bản chủ nghĩa được thiết lập sau các cuộc cách mạng tư sản

III Bố cục tài liệu Lịch sử thế giới Cận đại

Ngoài phần mục lục, mở đầu và kết luận, nội dung tài liệu Lịch sử thế giới

Cận đại kết cấu gồm 3 phần: phần thứ nhất, Châu Âu – Bắc Mỹ - Nhật Bản thời

Cận đại (1556 – 1918); phần thứ hai, Châu Á, châu Phi và Mỹ Latinh thời Cận

đại; phần thứ ba, Quan hệ quốc tế - Chiến tranh thế giới thứ nhất và sự phát triển

khoa học kỹ thuật, văn học nghệ thuật cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX

Trong mỗi phần, chia ra các chương, trong mỗi chương gồm nhiều bài

Sau mỗi bài, đặc biệt sau mỗi chương có phần hướng dẫn khái quát và câu

hỏi ôn tập để sinh viên tự học ở nhà

Toàn bộ nội dung tài liệu Lịch sử thế giới Cận đại được trình bày theo

trình tự không gian và thời gian giúp người đọc tiện theo dõi

IV Mục tiêu và những cơ sở khi biên soạn tài liệu Lịch sử thế giới

Cận đại

Mục tiêu của tài liệu Lịch sử thế giới Cận đại đảm bảo cho sinh viên đại

học sư phạm ngành lịch sử sau khi tốt nghiệp đạt được trình độ cần thiết về lịch sử

thế giới Cận đại để giảng dạy ở bậc Trung học phổ thông Vì vậy, khi biên soạn

Trang 11

Chú trọng đến yêu cầu của việc dạy học lịch sử ở bậc Trung học phổ thông, đi sâu vào những vấn đề cơ bản của chương trình Trung học phổ thông

Tăng cường tính thực hành trong học tập, kiểm tra đánh giá và nghiên cứu khoa học

Phát huy tính tích cực của sinh viên trong học tập để nắm vững nội dung lịch sử, kết hợp với việc dạy học ở bậc Trung học phổ thông

Đảm bảo tính chính xác khoa học và quan điểm, đường lối của Đảng về khoa học lịch sử và Giáo dục

Trong khi biên soạn, chúng tôi kế thừa thành tựu nghiên cứu trong nhiều chuyên khảo, giáo trình cao đẳng, đại học sư phạm trong nước

Chúng tôi mong nhận được nhiều ý kiến đóng góp của các đồng nghiệp để tài liệu được hoàn thiện hơn

Xin trân trọng cảm ơn!

Tác giả

Trang 12

Phần thứ nhất CHÂU ÂU – BẮC MỸ - NHẬT BẢN THỜI CẬN ĐẠI

(1556 – 1917) Chương I CÁC CUỘC CÁCH MẠNG TƯ SẢN TỪ GIỮA THẾ KỶ XVI

ĐẾN CUỐI THẾ KỶ XVIII

Sau những cuộc phát kiến địa lý cuối thế kỷ XV, đầu thế kỷ XVI, lực lượng

sản xuất tư bản chủ nghĩa ở châu Âu có điều kiện phát triển mạnh mẽ Giai cấp tư

sản có thế lực về kinh tế, nhưng chưa có địa vị chính trị lại bị quan hệ sản xuất

phong kiến thống trị kìm hãm, chèn ép Tình hình đó khiến cho mâu thuẫn giữa

giai cấp tư sản đang lên và quần chúng nhân dân lao động với chế độ phong kiến

lạc hậu phát triển rất gay gắt, làm bùng nổ các cuộc cách mạng tư sản ở châu Âu

và Bắc Mỹ từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XVIII, mở đầu bằng cuộc cách mạng tư sản

Hà Lan năm 1556 và tạm kết thúc bằng cuộc đại cách mạng tư sản Pháp năm

1789 Do điều kiện kinh tế, chính trị - xã hội của mỗi nước khác nhau, lại nổ ra

trong những thời điểm không giống nhau nên cách mạng tư sản ở mỗi nước đạt kết quả không đều nhau

Cách mạng tư sản Hà Lan và chiến tranh giành độc lập của 13 thuộc địa

Anh ở Bắc Mỹ diễn ra dưới hình thức chiến tranh giải phóng dân tộc Do nổ ra

trong điều kiện kinh tế xã hội chưa chín muồi nên cách mạng tư sản Hà Lan thu

được kết quả còn nhiều mặt hạn chế Chiến tranh giành độc lập của 13 thuộc địa

Anh ở Bắc Mỹ nổ ra trong điều kiện kinh tế - xã hội tư bản chủ nghĩa đã phát

triển khá mạnh ở châu Âu và Bắc Mỹ, điều kiện đó đã quy định tầm vóc, tính triệt

để của cách mạng tư sản ở Bắc Mỹ hơn hẳn cách mạng tư sản Hà Lan

Cách mạng tư sản Anh năm 1640 và đại cách mạng tư sản Pháp năm 1789

nổ ra dưới hình thức nội chiến Tuy nhiên, do thế lực quý tộc phong kiến Anh còn

khá mạnh nên kết quả đạt được của cách mạng tư sản Anh dừng lại bằng chế độ

Quân chủ lập hiến với nhiều tàn dư phong kiến Do được kế thừa, tiếp thu kinh

nghiệm của cách mạng tư sản Anh, cách mạng tư sản Mỹ và những thành tựu

cách mạng công nghiệp đang triển khai, cùng với sự vận động nội tại của điều

kiện kinh tế, chính trị, xã hội nước Pháp trong hai thế kỷ XVII – XVIII, cách mạng

tư sản Pháp bùng nổ mạnh mẽ, đi lên không ngừng đã giáng một đòn chí mạng

vào thành trì phong kiến phản động châu Âu, thúc đẩy phong trào cách mạng châu Âu tiến lên những bước mới

Bài 1 CÁCH MẠNG HÀ LAN GIỮA THẾ KỶ XVI

Nêđeclan (Vùng đất thấp) bao gồm lãnh thổ của các nước Hà Lan, Bỉ,

Lúcxămbua và một số vùng Đông Bắc nước Pháp ngày nay Cuối thế kỷ XV, Nêđeclan thuộc Áo nhưng do quan hệ hôn nhân và kế thừa, đến năm 1556, Nêđeclan thuộc Tây Ban Nha

I Nguyên nhân dẫn đến cách mạng

1 Về kinh tế

Trang 13

Thế kỷ XVI, thủ công nghiệp Nêđeclan phát triển mạnh, các công trường thủ công xuất hiện và phát triển vào bậc nhất thế giới lúc bấy giờ với các ngành dệt, đóng tàu, đánh cá

Thương nghiệp: sau các cuộc phát kiến địa lí, trục thương mại đại dương hình thành lấy Hà Lan làm trung tâm, cảng Anvecpen thực sự trở thành hải cảng quốc tế, hàng năm có năm nghìn nhà buôn khắp nơi trên thế giới đến đây kí hợp đồng buôn bán Các thương cảng hoạt động nhộn nhịp, ngân hàng xuất hiện ngày càng nhiều

Với nền kinh tế công – thương phát triển, Nêđeclan có dân số khoảng ba triệu người nhưng lại có hơn ba trăm thành phố, trong đó quan trọng nhất là Amxtecđam (ở miền Bắc) và Anvecpen (ở miền Nam)

Chủ nghĩa tư bản đã xâm nhập vào nông nghiệp, nhiều lãnh chúa phong kiến, thị dân giàu có kinh doanh theo lối tư bản chủ nghĩa

Nhìn chung, đến giữa thế kỷ XVI, nền kinh tế Nêđeclan phát triển mạnh nhất châu Âu, quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa đã thâm nhập vào nhiều lĩnh vực kinh tế

Nêđeclan chịu sự thống trị hà khắc của phong kiến Tây Ban Nha:

Các vua Tây Ban Nha (Saclơ V, Philíp II) đàn áp khốc liệt các Tân giáo Trong vòng 30 năm (1521 – 1550) có 50.000 tín đồ Tân giáo bị giết và bị đày

Ra sức vơ vét thuế khóa: hàng năm Nêđeclan phải nộp hai triệu đồng tiền vàng, trong khi thu nhập quốc khố trong toàn đế quốc chỉ có năm triệu và lãnh thổ của Nêđeclan chỉ chiếm 6% tổng diện tích đế quốc

Thực hiện nhiều chính sách kìm hãm gây thiệt hại lớn cho giới kinh doanh Nêđeclan như tăng thuế nhập khẩu, cấm không được buôn bán với các thuộc địa của Tây Ban Nha

Qua việc khảo sát tình hình kinh tế, chính trị, xã hội ở Nêđeclan đến giữa thế kỉ XVI cho thấy, xã hội Nêđeclan nổi lên hai mâu thuẫn gay gắt:

Trang 14

Mâu thuẫn giữa toàn thể nhân dân Nêđeclan với ách thống trị phong kiến

Tây Ban Nha

Mâu thuẫn giữa quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa với chế độ phong kiến

Mâu thuẫn thứ nhất có tác dụng châm ngòi cho cách mạng bùng nổ, mâu

thuẫn thứ hai quyết định tính chất của cuộc cách mạng này

Trước khi cách mạng bùng nổ (1566), một số quý tộc Nêđeclan, đứng đầu

là Vimhem Ôrăng đã thành lập một tổ chức mang tên “Thỏa ước quý tộc” tập hợp

hơn 2000 quý tộc địa phương theo xu hướng tôn giáo cải cách Họ cử đại biểu gặp

vua Tây Ban Nha đòi giảm bớt sự ngược đãi đối với dị giáo và sớm triệu tập hội

nghị các đẳng cấp Giai cấp tư sản cũng theo gương quý tộc, tổ chức “Thỏa ước

thương nhân” đòi tự do kinh doanh buôn bán Bình dân, nông dân cũng dấy lên

một không khí sôi sục căm phẫn

Trước những đòi hỏi của nhân dân Nêđeclan, chính quyền phong kiến Tây

Ban Nha không những không giải quyết mà còn gia tăng khủng bố, đàn áp Do đó,

phong trào đấu tranh chống Tây Ban Nha ngày càng diễn ra rầm rộ ở Nêđeclan

II Diễn biến cách mạng (1566 – 1648)

1 Giai đoạn 1566 – 1572

Tháng 8 - 1566, nhân dân miền Nam Nêđeclan nổi dậy khởi nghĩa, mục

tiêu đấu tranh của họ là giáo hội Thiên chúa giáo, chỗ dựa của chính quyền phong

kiến Tây Ban Nha Nhân dân đập phá tượng thánh, đồ thờ, tịch thu tài sản của

giáo hội…phong trào lan rộng đến Miền Bắc thu hút 12/17 tỉnh tham gia (phong

trào đã phá hủy 5.500 nhà thờ và tu viện)

Trước khí thế của quần chúng, chính quyền phong kiến Tây Ban Nha phải

nhượng bộ, cho phép tín đồ Can Vanh được làm lễ, nhưng Philip II vẫn tìm cách

đàn áp phong trào

Tháng 8 năm 1567, phong kiến Tây Ban Nha đem 18.000 quân sang Nêđeclan đàn áp, khủng bố nhân dân hết sức tàn bạo, ra sức vơ vét của cải, tài sản

của nhân dân Nêđeclan, đặt thêm nhiều thuế mới… Chính sách tàn bạo của phong

kiến Tây Ban Nha làm cho nền kinh tế Nêđeclan kiệt quệ, các thành phố tiêu điều,

lòng căm thù bọn thống trị Tây Ban Nha càng ngút cao trong lòng nhân dân Nêđeclan

Trước sự đàn áp của chính quyền Tây Ban Nha, quý tộc và tư sản tầng lớp

trên của Nêđeclan không muốn dựa vào nhân dân trong nước để đấu tranh, mà cầu

viện sự giúp đỡ của Anh, Pháp lập một đạo quân đánh thuê gồm 30.000 người kéo

về Nêđeclan Năm 1568, đội quân này đã bị quân đội chiếm đóng Tây Ban Nha

đánh tan, Vimhem Ôrăng phải lưu vong ở nước ngoài

Trong khi đó, một bộ phận tầng lớp bình dân và quý tộc tư sản đã tự tổ

chức lại thành những đội quân mang tên “Những kẻ khốn cùng trên biển” Những

nông dân và quý tộc bỏ trốn vào rừng cũng lập nên những đội quân mang tên

“Những kẻ khốn cùng trong rừng” Những đội quân này tìm cách liên hệ với

Vimhem Ôrăng

2 Giai đoạn 1572 – 1648

Trang 15

Tháng 4 - 1572, một phong trào tiến công kết hợp với khởi nghĩa đã nổ ra liên tiếp ở nhiều nơi Nhiều thành phố ở miền Bắc được giải phóng, tiêu biểu là thành phố Vlixinhghen, 2 tỉnh Hôlan và Dêlan

Tháng 7 - 1572, tỉnh Hôlan họp hội nghị đã thừa nhận Vimhem Ôrăng là tổng đốc hợp pháp của Philíp II ở Hôlan và Dêlan, trao cho Vimhem quyền chỉ huy tối cao các lực lượng vũ trang

Cuối năm 1573, thêm nhiều tỉnh ở miền Bắc Nêđeclan tuyên bố độc lập (tỉnh Ixixlan Utơrết, Thượng Ixen, Ghenđeclan) Tây Ban Nha điều quân đến đàn

áp nhưng không khuất phục được nhân dân Nêđeclan

Thắng lợi của nhân dân Miền Bắc lan nhanh xuống Miền Nam nhưng do

sự phản bội của bọn quý tộc miền Nam, phong trào khởi nghĩa không phát triển được

Ngày 23 - 1 - 1579, 7 tỉnh ở Miền Bắc và 5 thành phố lớn nhất đã thành lập đồng minh Utơrêt Đồng minh đã lập ra cơ quan quyền lực cao nhất là Hội nghị 3 cấp gồm đại biểu của các tỉnh quyết định những vấn đề hệ trọng của Đồng minh như tuyên chiến, ban hành pháp luật, thuế khóa

Tháng 7 - 1581, Tây Ban Nha tiếp tục đưa quân sang tấn công nhưng nhân dân các tỉnh miền Bắc đã chiến đấu ngoan cường Mãi đến năm 1609, Tây Ban Nha mới ký hiệp định đình chiến 12 năm, thừa nhận nền độc lập của miền Bắc Nêđeclan Vimhem Orăng được nhân dân miền Bắc cử làm thống đốc

Mặc dù đến năm 1648, Tây Ban Nha mới chính thức công nhận nền độc lập của Hà Lan nhưng với việc ký hiệp định đình chiến 12 năm (1609) đã đánh dấu cuộc đấu tranh kéo dài nửa thế kỷ của các tỉnh miền Bắc Nêđeclan đã giành được thắng lợi

III Tính chất, kết quả, ý nghĩa lịch sử và hạn chế của cách mạng Nêđeclan

Về kinh tế - xã hội thì kinh tế tư bản ở Nêđeclan đã phát triển nhưng bị thế lực phong kiến Tây Ban Nha và phong kiến trong nước kìm hãm

Vì vậy, nhiệm vụ của cách mạng Nêđeclan là phải đánh đuổi bọn thống trị Tây Ban Nha để giành độc lập dân tộc, đồng thời lật đổ chế độ phong kiến nhằm xóa bỏ những ràng buộc, kìm hãm sự phát triển kinh tế tư bản

Lãnh đạo cuộc cách mạng Nêđeclan là giai cấp tư sản và tầng lớp quý tộc mới

Động lực của cách mạng là quần chúng nhân dân bao gồm nông dân và bình dân thành thị (thợ thủ công, công nhân, thị dân nghèo)

2 Kết quả

Trang 16

Cách mạng Nêđeclan giành được thắng lợi ở 7 tỉnh miền Bắc, thành lập

nên nước Cộng hòa Hà Lan

Sau khi nước Cộng hòa Hà Lan ra đời, kinh tế tư bản chủ nghĩa ở Hà Lan

phát triển vượt bậc về mọi mặt Amxtecđam trở thành thủ đô kinh tế của Hà Lan,

là trung tâm thương mại thế giới Đầu thế kỷ XVII, Hà Lan trở thành nước tư bản

chủ nghĩa tiên tiến nhất thế giới

3 Hạn chế

Cách mạng Nêđeclan chỉ giành được thắng lợi ở 7/17 tỉnh của Nêđeclan

Mặc dù theo chính thể Cộng hòa, nhưng chức thống đốc, chức vụ cao nhất của

nhà nước giao cho dòng họ Ôrăng giữ một thời gian dài Nhân dân không được

hưởng quyền tự do, dân chủ, số người được quyền bầu cử chỉ có 0,2 % dân số

Sở dĩ có những hạn chế trên là vì:

Cách mạng Nêđeclan diễn ra trong điều kiện chủ nghĩa tư bản phát triển

chưa chín muồi: kinh tế Nêđeclan phát triển nặng về thương nghiệp, nhưng

thương nghiệp lại có những hạn chế như buôn bán chưa thống nhất, thị trường

chung chưa hình thành (cả nước với hai trung tâm khác nhau đó là Amxtecđam và

Anvecpen Các chế độ đo lường, tiền tệ, thể lệ kinh doanh chưa thống nhất)

Công nghiệp phát triển chưa tương xứng với thương nghiệp đang còn ở

trình độ công trường thủ công

Mối liên hệ văn hóa chưa chặt chẽ; cả nước chưa có một ngôn ngữ chung

thống nhất (Miền Bắc nói tiếng Flamăng, miền Nam nói tiếng Pháp, miền Đông

nói tiếng Đức)

Mặc dù vậy, với tất cả những gì cách mạng tư sản Hà Lan đã làm được nó

vẫn xứng đáng là mốc mở đầu cho thời kỳ Cận đại của lịch sử nhân loại

4 Ý nghĩa lịch sử

Cách mạng Nêđeclan đã giải phóng Hà Lan ra khỏi ách thống trị của chính

quyền phong kiến Tây Ban Nha Đây là cuộc cách mạng tư sản thành công đầu

tiên và là nước Cộng hòa tư sản đầu tiên trên thế giới, mở đầu thời đại mới cho

lịch sử nhân loại: thời Cận đại Dấu hiệu đầu tiên của sự thắng lợi tất yếu của chế

độ tư bản chủ nghĩa đối với chế độ phong kiến

Câu hỏi ôn tập

1 Trình bày nguyên nhân bùng nổ, diễn biến của cuộc cách mạng tư sản

Hà Lan Tính chất, kết quả, ý nghĩa lịch sử và hạn chế của cuộc cách mạng này

2 Vì sao nói cuộc cách mạng ở Hà Lan(1556) là cuộc cách mạng tư sản

nổ ra dưới hình thức cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc?

3 Tại sao trước đây, giới sử học C Mác xit không lấy cách mạng Hà Lan

làm mốc mở đầu thời kỳ lịch sử thế giới Cận đại?

Bài 2 CÁCH MẠNG TƯ SẢN ANH GIỮA THẾ KỶ XVII

I Tình hình nước Anh trước cách mạng

1 Kinh tế

Trang 17

Nông nghiệp:

Quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa đã xâm nhập mạnh mẽ vào nông nghiệp

Nguyên nhân là: do giá lông cừu tăng vọt, nghề nuôi cừu trở nên đặc biệt

có lãi Mặt khác, nông thôn Anh đang chịu tác động mạnh của cuộc “cách mạng giá cả” nên đồng tiền mất giá trầm trọng, vì thế việc thu địa tô bằng tiền không đem lại nhiều lợi nhuận như trước đây, tình hình đó khiến nhiều quý tộc địa chủ chuyển hướng kinh doanh bằng phong trào “rào đất cướp ruộng”

Hậu quả của “rào đất cướp ruộng” (hay của quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa xâm nhập vào nông thôn) là hàng đoàn nông dân bị mất ruộng đất, nhà cửa phiêu bạt khắp nơi và trở thành người tự do bán sức lao động cho giai cấp tư sản

Công nghiệp:

Đại công trường thủ công xuất hiện trong nhiều ngành, mạnh nhất trong các ngành len dạ, khai mỏ tập trung hàng ngàn công nhân Ngành len dạ của Anh vừa cung cấp nhu cầu trong nước vừa xuất ra nhiều nước châu Âu Giữa thế kỷ XVI, số lượng len bán ra ngoài chiếm 80% hàng hóa xuất khẩu Trong ngành khai

mỏ, từ giữa thế kỷ XVI đến giữa thế kỷ XVII, số lượng than khai thác tăng lên 14 lần, chiếm 4/5 lượng than sản xuất toàn châu Âu Nhiều ngành sản xuất mới như bông, giấy, tơ lụa, thủy tinh, xà phòng… xuất hiện và ngày càng phát triển

Thương nghiệp Anh phát triển cả về nội thương lẫn ngoại thương Trong nước, thị trường dân tộc dần hình thành Ngoài nước, thương nhân Anh buôn bán khắp châu Âu, Bắc Phi, Ấn Độ và cả châu Mỹ, nhiều công ti thương mại được thành lập trong đó nổi tiếng nhất là công ti Đông Ấn và Tây Ấn Luân Đôn trở thành trung tâm tài chính, công nghiệp, thương mại bậc nhất ở châu Âu

Như vậy, trước khi cách mạng bùng nổ (1640), kinh tế tư bản chủ nghĩa đã phát triển mạnh ở Anh Sự phát triển này là nguyên nhân của những biến đổi lớn trong đời sống chính trị, xã hội dẫn tới cuộc cách mạng năm 1640 xóa bỏ quan hệ sản xuất phong kiến mở đường cho chủ nghĩa tư bản phát triển

2 Về chính trị - xã hội

Dưới tác động của kinh tế tư bản chủ nghĩa, chính trị xã hội Anh chia làm

2 trận tuyến rõ rệt:

Phe phản động: gồm tập hợp bọn địa chủ và quý tộc phong kiến triều đình

đứng đầu là vua Anh

Lực lượng này quyết tâm bảo vệ chế độ phong kiến đến hơi thở cuối cùng

Cụ thể : năm 1603, khi triều Xtiuác thiết lập, Giêm I, sau đó là Saclơ I (con trai Giêm I) cai trị rất độc đoán Năm 1625, Saclơ I giải tán Quốc hội, đặt thêm thuế mới, đặt ra nhiều quy chế ngặt nghèo để kiểm soát công – thương, tăng cường thế lực và quyền lợi cho quý tộc phong kiến và giáo hội

Phe cách mạng: tập hợp các lực lượng, các giai cấp, tầng lớp khác nhau,

có lợi ích không giống nhau gồm:

Quý tộc mới: xuất hiện là do sự xâm nhập của chủ nghĩa tư bản vào nông thôn làm cho giai cấp quý tộc Anh phân hóa Một bộ phận quý tộc chuyển sang kinh doanh theo hướng tư bản chủ nghĩa Ruộng đất của họ không chỉ thu địa tô

Trang 18

tộc mới được hưởng những đặc quyền và địa vị như quý tộc phong kiến nhưng lại

có thế lực kinh tế hơn Họ cũng có điều kiện thuận lợi hơn giai cấp tư sản vì họ

đang giữ chức vụ trong triều đình phong kiến và địa phương Họ có thể dùng đặc

quyền và địa vị của mình chống lại sự can thiệp của chính quyền phong kiến để

phát triển kinh doanh Quý tộc mới có quyền lợi gắn với giai cấp tư sản, muốn

hoàn toàn thoát khỏi sự ràng buộc của chế độ phong kiến Bởi vậy, tư sản và quý

tộc mới dễ dàng liên minh với nhau trong cuộc đấu tranh chống phong kiến

Quý tộc mới có số lượng khá đông ở Anh, họ sẽ đóng vai trò lãnh đạo

cuộc cách mạng tư sản Anh cùng với giai cấp tư sản Sự liên minh giữa quý tộc

mới và tư sản là một đặc điểm nổi bật của cách mạng tư sản Anh và là nguyên

nhân cơ bản khiến cho cách mạng tư sản Anh còn những hạn chế và bảo thủ

Giai cấp tư sản:(chủ công trường thủ công, nhà buôn…) là lực lượng đại

diện cho phương thức sản xuất mới, họ là giai Cấp tiến bộ, cách mạng Tuy nhiên,

trong số họ có một số đại tư sản quyền lợi gắn liền với chế độ phong kiến nên họ

không muốn cách mạng mà chỉ muốn tiến hành một số cải cách Bộ phận đông

đảo còn lại của giai cấp tư sản không thỏa mãn với địa vị xã hội hiện có, bất mãn

với sự đè nén của chế độ phong kiến nên kiên quyết đấu tranh chống phong kiến

giành địa vị thống trị Họ là những người lãnh đạo cách mạng

Giai cấp nông dân phân hóa sâu sắc: tầng lớp phú nông cho vay lãi, bóc lột

lao động làm thuê, có quyền lơi gắn liền với quý tộc mới, họ chống lại chế độ

phong kiến Bần nông (tá điền) chiếm 60 – 75 % nông dân, bị bọn địa chủ quý tộc

phong kiến bóc lột địa tô và thuế rất nặng, đời sống khổ cực, họ là bộ phận kiên

quyết và lực lượng chủ yếu trong cuộc cách mạng chống phong kiến Cố nông có

số lượng khoảng 40 vạn, họ không có ruộng đất cày cấy, ra thành thị kiếm sống,

trở thành công nhân làm thuê (dân nghèo thành thị), chịu hai tầng áp bức của quý

tộc phong kiến và tư sản họ có thái độ triệt để cách mạng, đây là lực lượng

thường đưa cuộc cách mạng tư sản đi quá xa so với mục tiêu của cách mạng tư

sản

Như vậy, quý tộc mới, tư sản, nông dân, dân nghèo thành thị hợp thành

một mặt trận đông đảo chống phong kiến

Tóm lại, cuối những năm 30 của thế kỷ XVII, yêu cầu khách quan của xã

hội Anh lúc đó là lật đổ chế độ phong kiến và chính quyền chuyên chế của dòng

Xtiuác mở đường cho chủ nghĩa tư bản phát triển

3 Cuộc đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng

Đấu tranh tư tưởng diễn ra dưới hình thức là cuộc đấu tranh giữa hai tôn

giáo là Anh giáo và Thanh giáo

Anh giáo là trụ cột, chỗ dựa tinh thần của nhà vua và chế độ phong kiến

Anh Thực chất Anh giáo là đạo Thiên chúa giáo nhưng khác ở chỗ, con chiên có

quyền lấy được nhiều vợ

Thanh giáo (tôn giáo trong sạch) xuất hiện ở Anh vào những năm 60 của

thế kỷ XVI, tôn giáo này mang nội dung giáo lý Can Vanh, chủ trương “chúa

trong lòng người”, đây là tôn giáo của giai cấp tư sản và quý tộc mới Tuy nhiên

nội bộ Thanh giáo cũng chia làm hai phái:

Trang 19

Phái Trưởng lão: gồm những đại tư sản có quyền lợi gắn với chế độ phong kiến nên tinh thần cách mạng không kiên định, dễ thỏa hiệp với các thế lực phong kiến

Phái Độc lập: gồm tư sản và quý tộc phong kiến loại vừa và nhỏ, họ có tinh thần chống phong kiến mạnh mẽ

Cuộc đấu tranh tôn giáo giữa Anh giáo và Thanh giáo về hình thức là cuộc đấu tranh giữa hai tôn giáo, nhưng thực chất đó là cuộc đấu tranh giữa hai luồng

tư tưởng: tư tưởng tư sản và tư tưởng phong kiến Đó là sự chuẩn bị về mặt tư tưởng cho cuộc cách mạng sắp tới

II Diễn biến cách mạng

1 Giai đoạn 1640 – 1660

Thời kỳ chuẩn bị cách mạng(1640 – 1642)

Tháng 7/1637, nhân dân Xcốtlen nổi dậy khởi nghĩa chống lại việc Anh muốn đem chế độ chuyên chế và Anh giáo áp đặt lên nhân dân Xcốtlen Mùa xuân năm 1639, Xcốtlen tập trung lực lượng tấn công vào Anh

Nhà vua Anh cần tiền mộ lính đánh thuê đàn áp cuộc nổi dậy của Xcốtlen nên phải triệu tập Quốc hội để thông qua những khoản thuế mới

Tháng 4/1640, tại Quốc hội, quý tộc mới và tư sản không chấp nhận thuế mới, hơn nữa họ lên án chính sách thống trị bạo ngược của Saclơ I Vì vậy, ngày 5/5/1640 vua giải tán Quốc hội Ngày 10/10/1640, vua triệu tập Quốc hội mới nhưng Quốc hội mới này cũng chống đối lại Saclơ I, không khí cách mạng ở Luân Đôn lúc bấy giờ rất sôi sục

Thấy rõ Luân Đôn không theo mình, ngày 10/1/1642 Saclơ I cùng quần thần chạy lên Iooc ở phía Bắc tập hợp lực lượng phát động nội chiến

Thời kỳ nội chiến(1642 – 1649)

Giai đoạn đầu quân đội nhà vua chiến thắng liên tiếp, quân Quốc hội thua liên tục Nguyên nhân, quân đội nhà vua là quân chính quy có kinh nghiệm tác chiến Quân Quốc hội là quân mới mộ, chưa được tập luyện, chưa có kinh nghiệm tác chiến Trong hàng ngũ lãnh đạo của quân Quốc hội có bọn quý tộc mới đang

do dự, muốn thỏa hiệp với nhà vua

Đến khi xuất hiện Ôlivơ Crôm Oen thì tình thế thay đổi Ông xây dựng quân đội kiểu mới mà hạt nhân là đội quân “Sườn sắt” (quân Sườn sắt lấy từ nông dân nghèo) Năm 1644, quân “Sườn sắt” thắng lớn ở Maxtơn, giết 4.000 tên, bắt sống 1.500 tên

Từ chiến thắng này, uy tín của Crôm Oen lên cao, nhân dân đòi Quốc hội cải tổ quân đội và đặt dưới sự chỉ huy của Crôm Oen

Ngày 14/6/1645, tại trận Nêdơbi, quân đội nhà vua tan rã, Saclơ I chạy lên Xcốtlen bị người Xcốtlen bắt nộp cho Quốc hội Đến đầu năm 1647, nội chiến lần

I kết thúc

Sau nội chiến lần I, mâu thuẫn trong nội bộ phe cách mạng lại nổi lên, đó

là mâu thuẫn giữa phái Trưởng lão đang chiếm đa số trong nghị viện và phái Độc lập đang nắm quân đội do Crôm Oen đứng đầu Nguyên nhân là, phái Trưởng lão

Trang 20

trên, họ muốn thỏa hiệp với nhà vua, không muốn cách mạng tiếp tục phát triển

Trong khi đó, nội chiến lần I đã kết thúc nhưng quần chúng nhân dân không được

hưởng một quyền lợi gì, họ nổi dậy đấu tranh Lúc bấy giờ trong quần chúng xuất

hiện phái “San bằng” muốn cân bằng lợi ích cho quần chúng, lãnh tụ là Giônliubơc, phái này có cảm tình với phái Độc lập

Năm 1647, phái Trưởng lão muốn giải tán quân đội của Crôm Oen, đưa

Saclơ I trở lại nắm quyền

Crôm Oen cương quyết chống lại, Ông thành lập Hội đồng toàn quân, sau

đó đem quân về Luân Đôn bắt giam các trưởng lão phản động

Mùa xuân năm 1648, Saclơ I trốn thoát lên Xcốtlen tập hợp lực lượng

phát động nội chiến lần II

Crôm Oen dựa vào phái San bằng, lãnh đạo quân đội chống lại Saclơ I

Nội chiến lần II kết thúc với thắng lợi thuộc về Crôm Oen

Trong khí thế sôi sục cách mạng ở Luân Đôn ngày 30/1/1649, Saclơ I bị

xử tử Crôm Oen tuyên bố thành lập nền Cộng hòa Sự kiện này đánh dấu cách

mạng tư sản Anh đạt đến đỉnh cao

Thời kỳ cách mạng ổn định dưới chế độ Cộng hòa và chế độ Bảo

hộ (1649 – 1660)

Sau khi nắm chắc chính quyền trong tay, đại diện cho liên minh quý tộc

mới và tư sản, Crôm Oen đã:

- Đàn áp các lực lượng cách mạng và trấn áp bọn phản cách mạng: các lực

lượng cách mạng là phái San bằng và phái “Đào đất” lãnh tụ phái này là Uynxtanlây Bọn phản cách mạng là bọn Bảo hoàng, tàn dư của Saclơ I

- Biến quân đội cách mạng thành quân đội phản cách mạng: quân đội

không được trả lương, khiến họ bất bình Trước tình hình đó, Crôm Oen cho xâm

lược Ailen – Xcốtlen, cho họ tự do cướp bóc Sáp nhập Ailen, Xcốtlen vào lành

thổ của Anh

- Tiến hành chiến tranh với các nước để mở rộng thanh thế nhằm bá quyền

mặt biển và đất thực dân bên ngoài: gây chiến tranh với Hà Lan và Tây Ban Nha

đưa ra hai đạo luật: Luật hàng hải và Luật lúa mì, cấm tàu Hà Lan chở hàng hóa

của Châu Âu

Năm 1653, Crôm Oen tuyên bố xóa bỏ nền Cộng hòa thiết lập chế độ Bảo

hộ do Ông ta làm Bảo hộ công, nắm mọi quyền hành: tổng tư lệnh quân đội, hải

quân, kiểm tra tài chính, tòa án, quyết định chính sách đối nội, đối ngoại, ban

hành luật lệ, và được cha truyền con nối Chế độ Bảo hộ công thực chất là nền độc

tài của Crôm Oen

2 Giai đoạn 1660 - 1889

Thời kỳ phục hồi Vương triều Xtiuac (1660 – 1688)

Năm 1658, Crôm Oen chết, con là Risac lên thay, là tên bất tài vô dụng

Năm 1660, giai cấp tư sản lật đổ Risac đưa Saclơ II (con Saclơ I) lên làm vua

Saclơ II đã phản bội, đàn áp những người tham gia cách mạng, trả lại ruộng đất

cho quý tộc, quay lại Anh giáo (quật mộ Crôm Oen)… đây là thời kỳ đen tối trong

lịch sử nước Anh

Trang 21

Cuộc chính biến 1688 – 1689

Tháng 11/1688, Vimhem Ôrăng(Quốc trưởng Hà Lan, rể vua Anh) thống lĩnh 12.000 quân đổ bộ vào nước Anh, tiến về Luân Đôn, Giêm II chạy trốn sang Pháp (Giêm II, em của Saclơ II lên thay năm 1685)

Tháng 2/1689, Vimhem lên làm vua nước Anh và thiết lập ở Anh chế độ Quân chủ lập hiến (thể hiện trong “Đạo luật về quyền hành” được Nghị viện Anh thông qua tháng 2/1689) Từ đây, giai cấp tư sản cùng với quý tộc mới thực sự thỏa hiệp với quý tộc phong kiến bảo vệ quyền lợi của chúng chống lại nhân dân Anh

III Tính chất và ý nghĩa lịch sử của cách mạng tư sản Anh

từ trước cách mạng Tư sản và quý tộc mới đã biến quân đội cách mạng thành lực lượng phản cách mạng tiến hành chiến tranh ăn cướp Ailen, Xcốtlen Trong suốt tiến trình cách mạng, lực lượng lãnh đạo cách mạng luôn thương thuyết, thỏa hiệp với bọn Bảo hoàng Cách mạng kết thúc bằng sự nhượng bộ của quý tộc mới, tư sản cầm quyền đối với thế lực phong kiến cũ bằng việc thiết lập chế độ Quân chủ lập hiến

mô hình nhà nước Quân chủ lập hiến

Cách mạng tư sản Anh thức tỉnh tinh thần đấu tranh chống phong kiến của

nhân dân các nước châu Âu, châu Mỹ C Mác đánh giá: “Cách mạng năm 1640

không chỉ là cách mạng Anh mà còn là cuộc cách mạng của châu Âu”

Câu hỏi ôn tập

1 Trình bày nguyên nhân dẫn đến quá trình xâm nhập chủ nghĩa tư bản vào nông nghiệp và tình hình phát triển công - thương nghiệp ở Anh trước năm

1640

Trang 22

2 Trình bày tình hình chính trị - xã hội, tư tưởng ở nước Anh trước cách

mạng (1640), nêu rõ thái độ, tinh thần cách mạng của các giai tầng trong xã hội

Anh lúc bấy giờ

3 Trình bày những diễn biến chính của cách mạng tư sản Anh từ năm

1640 – 1689 Những nguyên nhân đưa đến việc thiết lập chế độ Quân chủ lập hiến

ở Anh Nêu vai trò của Ôlivơ Crôm Oen trong cuộc cách mạng này

4 Tại sao nói cuộc cách mạng ở Anh năm 1640 mang tính chất một cuộc

cách mạng tư sản diễn ra dưới hình thức nội chiến? Tại sao các nhà sử học C

Mácxí cho rằng, cách mạng tư sản Anh năm 1640 là cuộc cách mạng tư sản

không triệt để? Anh (chị) hãy nêu quan điểm của mình

5 Ý nghĩa lịch sử trọng đại của cách mạng tư sản Anh năm 1640

Bài 3 CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP ANH

I Những tiền đề của cách mạng công nghiệp ở Anh

1 Tiền đề chính trị

Bằng cuộc cách mạng tư sản (1640) thành công với việc thành lập chế độ

Quân chủ lập hiến, giai cấp tư sản và quý tộc mới ở Anh đã sử dụng chính quyền

tạo điều kiện thuận lợi cho cách mạng công nghiệp phát triển

2 Tiền đề vốn, lao động, kỹ thuật

Vấn đề vốn

Để tiến hành sản xuất kinh doanh, chủ nghĩa tư bản phải có vốn, để thỏa

mãn yếu tố này, giai cấp tư sản Anh đã tích lũy được số vốn khổng lồ từ các

nguồn:

- Cướp bóc dã man các thuộc địa, đặc biệt là ở Ấn Độ(năm 1770, có 10

triệu dân xứ Ben gan chết đói)

- Đẩy mạnh buôn bán nô lệ da đen(buôn bán gỗ mun) Năm 1739, Anh gây

chiến tranh với Tây Ban Nha để nắm lấy độc quyền buôn bán nô lệ da đen sang

châu Mỹ Sau khi hạ được đối thủ cạnh tranh là Tây Ban Nha và Pháp, Anh đi đầu

trong việc buôn bán nô lệ da đen Trong 15 triệu nô lệ da đen bán sang châu Mỹ

thì Anh là nước bán nhiều nhất

- Buôn bán bất bình đẳng với các nước nông nghiệp châu Âu

- Tăng cường bóc lột nhân dân trong nước

Vấn đề nguồn lao động

Anh có nguồn lao động dồi dào do “rào đất cướp ruộng” trước cách mạng

Sau cuộc đảo chính năm 1689, Anh thực hiện cuộc cách mạng trong nông nghiệp,

thực chất là cướp đoạt ruộng đất của nông dân, khiến họ mất hết ruộng đất phải đi

lang thang kiếm việc làm, đây là nguồn cung cấp lao động rẻ mạt và dồi dào cho

giai cấp tư sản Anh

Vấn đề kỹ thuật

Trang 23

Các đại công trường thủ công xuất hiện ở Anh đầu thế kỷ XVII là cơ sở để tạo nên những phát minh về kỹ thuật, bởi vì chuyên môn hóa lao động kích thích con người có những phát minh sáng kiến để tăng năng suất lao động

Ngoài ra, Anh còn có những điều kiện rất thuận lợi cho việc phát triển công nghiệp như: rất giàu tài nguyên khoáng sản nhất là than đá và sắt, có vị trí địa lý thuận lợi tránh được những cuộc chiến tranh

II Diễn biến cách mạng công nghiệp ở Anh

1 Khái niệm Cách mạng công nghiệp

Thực chất là cuộc cách mạng trong kỹ thuật sản xuất, bước nhảy vọt trong

sự phát triển của lực lượng sản xuất tư bản chủ nghĩa từ sản xuất thủ công sang sản xuất cơ khí

Cách mạng công nghiệp diễn ra đầu tiên ở Anh (những năm 60 của thế kỷ XVIII), sau đó ở Mỹ, Pháp, Đức… cách mạng công nghiệp một mặt đẩy mạnh sản xuất, mặt khác hình thành hai giai cấp cơ bản trong xã hội tư bản là giai cấp tư sản

và giai cấp vô sản

Sau thế chiến II, nhờ cách mạng công nghiệp, một số nước đang phát triển trở thành nước công nghiệp mới Việt Nam đang đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa

Cách mạng công nghiệp hoàn toàn tự phát, diễn ra thầm lặng và có ý nghĩa rất lớn lao

Cách mạng công nghiệp Anh diễn ra đầu tiên trong công nghiệp nhẹ

Crơmtơn cải tiến máy kéo sợi cho sợi nhỏ và chắc

Như vậy, đến đây số lượng và chất lượng sợi tăng lên nhiều lần đòi hỏi phải cải tiến trong ngành dệt

Năm 1785, kỹ sư Etmônacraitơ phát minh ra máy dệt năng suất tăng lên 39 lần

Đầu thế kỷ XIX, máy dệt đã thay thế dệt thủ công Tuy nhiên ngành dệt vẫn phải phụ thuộc vào tự nhiên, các nhà máy phải đặt bên nguồn nước của sông, suối tự nhiên

3 Trong ngành luyện kim

Năm 1735, Abraham Đacbi phát minh ra phương pháp nấu than cốc và dùng than cốc để luyện gang

Trang 24

Năm 1784, Cooctơ xây dựng lò luyện gang để sản xuất gang thép Từ đó

những lò luyện gang cao lớn gấp 50 lần lò cũ được xây dựng

4 Trong ngành chế tạo máy

Năm 1705, Nicômen sáng chế ra máy hơi không khí

Năm 1769, Giêmoát phát minh ra máy hơi nước đơn và đến năm 1784 chế

tạo ra máy hơi nước kép Phát minh này tạo ra bước nhảy vọt trong sản xuất,

người ta coi đây là phát minh quan trọng nhất của cách mạng công nghiệp, bởi vì

nó giải quyết được khâu quan trọng nhất trong sản xuất là vấn đề động lực, giúp

cho các ngành khai mỏ, dệt, giao thông vận tải… phát triển

Máy hơi nước sản xuất ra động lực do con người chi phối nên từ đây sản

xuất diễn ra bất kỳ ở nơi nào thuận lợi cho sản xuất, không cần phải nhất thiết xây

dựng ở ven sông, ven suối nữa

Tuy nhiên, việc chế tạo máy hơi nước vẫn còn tiến hành bằng phương

pháp thủ công nên số lượng máy hơi nước chưa nhiều, phải mất một thời gian dài

nữa ngành chế tạo máy móc bằng cơ khí mới thiết lập ở Anh

Đầu thế kỷ XIX, tàu thủy và xe lửa sử dụng máy hơi nước xuất hiện Năm

1807 Phơntơn chế tạo tàu thủy chạy bằng hơi nước Năm 1802, có đầu máy xe lửa

chạy trên đường lát đá Năm 1814, có xe lửa chạy trên đường ray Lúc bấy giờ

Anh trở thành “công xưởng của thế giới”

Cách mạng công nghiệp từ nước Anh lan nhanh sang các nước châu Âu

khác

Ở Pháp, cách mạng công nghiệp bắt đầu từ những năm 30 của thế kỷ XIX

Ở Đức diễn ra từ những năm 40 của thế kỷ XIX với tốc độ phát triển rất nhanh

III Hệ quả của cách mạng công nghiệp

1 Về kinh tế

Làm thay đổi hẳn bộ mặt kinh tế của nhiều nước châu Âu, đặc biệt là nước

Anh, đưa Anh từ một nước nông nghiệp bình thường trở thành một nước công

nghiệp tiên tiến đi đầu thế giới suốt hai thế kỷ sau đó

Làm thay đổi bản đồ địa lý kinh tế Anh Trước đây vùng Đông Nam là nơi

sầm uất nhất nhưng khi cách mạng công nghiệp triển khai thì lại chuyển sang vùng Tây Bắc

Dân số thành thị tăng lên nhanh chóng, giữa thế kỷ XIX có 2/3 dân số Anh

sống ở thành thị Nước Anh trở thành nước giàu mạnh nhất thế giới

2 Về chính trị - xã hội

Dưới tác động của cách mạng công nghiệp, xã hội Anh hình thành thêm

hai giai cấp mới cơ bản: giai cấp tư sản công nghiệp và giai cấp vô sản công nghiệp Lúc bấy giờ tư sản công nghiệp trở thành đại diện cho quan hệ sản xuất tư

bản chủ nghĩa Vô sản công nghiệp có nguồn gốc từ dân nghèo thành thị, nông

dân mất đất, ngay từ khi mới ra đời họ đã tiến hành đấu tranh chống sự áp bức của

giai cấp tư sản dưới nhiều hình thức

3 Ý nghĩa lịch sử

Trang 25

Cách mạng công nghiệp phá vỡ tận gốc cơ sở kinh tế của phương thức sản xuất phong kiến, tạo điều kiện đảm bảo cho sự chiến thắng của chủ nghĩa tư bản đối với chế độ phong kiến

Cách mạng công nghiệp làm cho năng suất lao động tăng lên hàng trăm lần, tạo ra bước phát triển nhảy vọt của lực lượng sản xuất, thúc đẩy hơn nữa sự phù hợp giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất đã được thiết lập sau cách mạng tư sản

Câu hỏi ôn tập

1 Trình bày những tiền đề của cách mạng công nghiệp Anh Tại sao cách mạng công nghiệp lại diễn ra đầu tiên ở nước Anh chứ không phải ở những nước khác?

2 Thế nào là cách mạng công nghiệp? Cách mạng công nghiệp Anh diễn

ra trong các ngành cụ thể như thế nào? Bước nhảy vọt của cách mạng công nghiệp Anh đánh dấu bằng sự kiện nào, tại sao? Tại sao cách mạng công nghiệp Anh lại diễn ra đầu tiên trong công nghiệp nhẹ?

3 Trình bày hệ quả kinh tế, chính trị - xã hội của cách mạng công nghiệp

ở Anh Ý nghĩa lịch sử của nó

Bài 4 CHIẾN TRANH GIÀNH ĐỘC LẬP CỦA 13 THUỘC ĐỊA ANH

Ở BẮC MỸ, SỰ THÀNH LẬP NƯỚC MỸ (HỢP CHỦNG QUỐC CHÂU MỸ (THE UNITED STATES OF AMERICA - USA )

Vài nét về nước Mỹ ngày nay

Nước Mỹ ngày nay gồm 50 bang, 48 bang nằm ở khu vực trung tâm trải dài từ bờ Tây Thái Bình Dương đến bờ Đông Đại Tây Dương

Bang Alaxca được Nga bán cho Mỹ ngày 30/3/1867 với giá 7,2 triệu USD (5 xu/1ha)

Bang đảo Ha Oai được chính thức sáp nhập vào Mỹ năm 1898, nơi đây là căn cứ hải quân lớn của Mỹ mang tên là Pơc-Ha-bơ (Pearl Ha bour – cảng Trân Châu)

Diện tích tự nhiên của nước Mỹ là 9.170.002 Km2, đứng thứ tư thế giới sau Liên Bang Nga, Canađa, Trung Quốc

Dân số có 274.028.000 người đứng thứ 3 thế giới sau Trung Quốc và Ấn

Độ, là nhà nước Liên bang theo chế độ Cộng hòa Tổng thổng (số liệu niên giám thống kê năm 2002)

Từ sau chiến tranh thế giới thứ hai đến nay, Mỹ trở nên giàu mạnh nhất thế giới cả về kinh tế, khoa học và quân sự Mỹ vươn lên lãnh đạo hệ thống tư bản chủ nghĩa và luôn có âm mưu bá chủ thế giới

Để có được nước Mỹ hùng mạnh như ngày nay, Mỹ đã trải qua gần 300 năm phát triển và bành trướng liên tục từ thân phận là 13 thuộc địa của Anh

Vài nét về sự hình thành, vị trí địa lý, tài nguyên thiên nhiên và dân

cư của 13 thuộc địa Anh ở Bắc Mỹ

Trang 26

13 thuộc địa Anh ở Bắc Mỹ được thành lập dần dần từ năm 1607 đến năm

1732, là kết quả của sự tranh giành thắng lợi của thực dân Anh với nhiều thực dân

châu Âu khác và sự tiêu diệt, dồn đuổi thổ dân Inđian về phía Tây, du nhập nô lệ

da đen từ châu Phi sang để kinh doanh đồn điền

Ranh giới tự nhiên: phía Đông giáp với Đại Tây Dương, phía Tây giáp dãy

núi Alêganit chạy dài từ bang Masachusét ở phái Bắc đến giáp Phlorida thuộc Tây

Ban Nha ở phía Nam

Bắc Mỹ là miền đất phì nhiêu, có khí hậu ôn đới và cận nhiệt đới, có tài

nguyên thiên nhiên phong phú

Đến năm 1732, dân số Bắc Mỹ có khoảng 1,3 triệu người bao gồm cư dân

các nước châu Âu như Tây Ban Nha, Pháp, Hà Lan, Thụy Điển, Đức… trong đó

đông và chiếm ưu thế nhất là cư dân nước Anh

I Tình hình 13 thuộc địa ở Bắc Mỹ trước chiến tranh

1 Tình hình kinh tế

Vào giữa thế kỷ XVIII, kinh tế tư bản chủ nghĩa ở 13 thuộc địa phát triển

mạnh với nhiều khu vực kinh tế khác nhau:

Khu vực miền Bắc và miền Trung có hải cảng Niu Ooc và Bôxtơn đây là

khu vực kinh tế chủ yếu với những trung tâm công nghiệp lớn: luyện kim, đóng

tàu(1/3 hạm đội Anh được đóng tại đây), sản xuất toa xe… khu vực này gồm 8

bang

Khu vực miền Nam gồm 5 bang, đây là khu vực kinh tế đồn điền, nơi tập

trung đông đảo tầng lớp nô lệ, ở đây tồn tại hai phương thức bóc lột đó là bóc lột

nô lệ tàn bạo kiểu chiếm hữu nô lệ và bóc lột tư bản chủ nghĩa

Miền Tây là cả khu vực rộng lớn từ dãy Alêganit chạy mãi đến bờ Tây

Thái Bình Dương, đây là vùng đất còn hoang vu, dân di cư đến đây lập nên những

trang trại, cho nên kinh tế trang trại là chủ yếu

Tuy nhiên, sự phát triển kinh tế của Bắc Mỹ gặp vô vàn khó khăn cản trở

từ phía thực dân Anh

Chính phủ Anh luôn xem 13 thuộc địa là nơi cung cấp nguyên liệu và thị

trường tiêu thụ cho chính quốc Vì thế, trước sự lớn mạnh kinh tế tư bản chủ nghĩa

của 13 bang thuộc địa, chính phủ Anh đưa ra một loạt các chính sách nhằm hạn

chế sự phát triển của 13 thuộc địa:

- Cấm Bắc Mỹ sản xuất nhiều loại hàng công nghiệp, cấm mở doanh nghiệp, cấm cả việc đem máy móc và thợ lành nghề từ Anh sang

- 13 thuộc địa phải mua hàng công nghiệp của Anh Những mặt hàng chủ

yếu của 13 thuộc địa chỉ được phép bán sang Anh

- Từ năm 1763, vua Anh cấm dân di cư không được khai hoang miền Tây

- Năm 1764, rút quyền phát hành giấy bạc của các thuộc địa

- Năm 1765 ban bố luật thuế tem (buộc phải dán tem đối với các giấy tờ,

tài liệu giao dịch thương mại – sách giáo khoa lớp 11 nâng cao; thuế tem đánh

vào các kiện hàng nhập khẩu – sách giáo trình)

Trang 27

Những chính sách trên của chính phủ Anh đã cản trở sự phát triển kinh tế

tư bản chủ nghĩa của 13 thuộc địa, gây nên mâu thuẫn sâu sắc trong mọi tầng lớp nhân dân 13 thuộc địa với chính phủ Anh

2 Về chính trị - xã hội

13 thuộc địa đặt dưới sự cai trị của viên toàn quyền người Anh và theo pháp luật của Anh Chính phủ Anh thực hiện chính sách chia để trị: 5 bang miền Nam có quyền tự trị rộng rãi, còn 8 bang miền Bắc và miền Trung, Anh trực tiếp cai trị

Trong khi đó, sau một thời gian dài di thực, trong quá trình sinh tụ, một dân tộc đã được hình thành ở Bắc Mỹ một cách rõ nét:

- Cư dân 13 thuộc địa nói cùng chung ngôn ngữ tiếng Anh

- Có chung một nền kinh tế, thị trường dân tộc đang hình thành

- Cùng định cư trên một vùng lãnh thổ

- Đã hình thành nên một nền văn hóa Mỹ, tâm lý Mỹ

Như vậy, tình hình kinh tế, chính trị - xã hội ở Bắc Mỹ lúc bấy giờ đặt ra hai nhiệm vụ cần giải quyết:

Nhiệm vụ giải phóng lực lượng sản xuất: xóa bỏ ách áp bức, kìm hãm, mở đường cho kinh tế tư bản chủ nghĩa phát triển ở Bắc Mỹ

Nhiệm vụ giải phóng dân tộc: giải phóng nhân dân 13 thuộc địa ra khỏi ách áp bức thống trị của thực dân Anh nhằm thành lập quốc gia dân tộc mới

3 Về tư tưởng

Trước khi chiến tranh bùng nổ, ở Bắc Mỹ xuất hiện tổ chức “Hội những người con tự do” của giai cấp tư sản, tiểu tư sản và các tầng lớp nhân dân lao động Tổ chức này lấy tư tưởng của Lốccơ và Giônmintơn làm mục tiêu đấu tranh Thực chất đó là tư tưởng cách mạng Anh lan sang Mỹ Đi đầu trong trào lưu tư tưởng này là Thomát Giecphecsơn(1743 – 1826) và Oasinhtơn(1732 – 1799)

Như vậy, tình hình kinh tế, chính trị - xã hội, tư tưởng ở Bắc Mỹ đang vận động đến một cuộc cách mạng Sự kiện chè Bôxtơn sẽ là ngòi nổ trực tiếp cho chiến tranh giành độc lập ở Bắc Mỹ

II Diễn biến của cuộc chiến tranh

1 Giai đoạn thứ nhất của cuộc chiến tranh (1775 – 1781)

Ngày 16/12/1773, sự kiện Bôxtơn làm cho không khí cách mạng ở Bắc

Mỹ thêm sôi sục Để thống nhất ý chí chung, Hội nghị lục địa lần thứ nhất gồm 56 đại biểu của 12 bang(trừ bang Gioocgiơ) họp từ ngày 5/9 đến ngày 26/10/1774 đã thông qua bản kiến nghị ôn hòa với vua Anh, nhưng bản kiến nghị đó bị vua Anh bác bỏ Sự kiện này thúc đẩy hai bên ráo riết chuẩn bị chiến tranh Ngày 19/4/1775, quân Anh đánh chiếm kho vũ khí của nhân dân ở Côncooc, chiến tranh giành độc lập bùng nổ

Khi chiến tranh bùng nổ ở Bắc Mỹ diễn ra sự phân hóa lực lượng:

Trang 28

- Lực lượng phản cách mạng gồm chính quyền và quân đội thực dân Anh

cùng với một số quan chức cao cấp của chính quyền bù nhìn và đại tư sản, đại địa

chủ người Mỹ

- Lực lượng phe cách mạng gồm giai cấp tư sản, các tầng lớp quần chúng

nhân dân như nông dân, trại chủ, nô lệ da đen

Hội nghị lục địa lần thứ hai họp ngày 10/5/1775 nhằm giải quyết những

vấn đề của chiến tranh:

- Thành lập quân đội lục địa, cử Oasinhtơn làm tổng chỉ huy quân đội, kêu

gọi nhân dân giúp đỡ

- Cử Phalan KlinBengiamin sang châu Âu kêu goị các nước giúp đỡ (Hà

Lan, Pháp gởi quân sang giúp sức, trong đó Pháp giúp nhiều nhất)

- Lập ủy ban 5 người, đứng đầu là Tômát Giecphecsơn soạn thảo Tuyên

ngôn độc lập và đã long trọng công bố ngày 4/7/1776, nội dung:

+ Tuyên ngôn khẳng định quyền tự nhiên của con người cao hơn tất thảy

“Tất cả mọi người sinh ra đều bình đẳng, tạo hóa đã ban cho họ những quyền bất

khả xâm phạm Trong những quyền ấy, có quyền sống, quyền tự do và quyền mưu

cầu hạnh phúc” (quyền tự do gồm các quyền: tự do ngôn luận, tự do lập hội, tự do

chống áp bức, tự do kinh doanh, tự do tư hữu tài sản của mình Quyền bình đẳng

gồm các quyền bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt giàu nghèo, sang hèn…)

+ Khẳng định chủ quyền tối cao của quốc gia thuộc về nhân dân Nhà nước là để bảo vệ quyền tự nhiên của con người (để đảm bảo quyền lợi tự do và

bình đẳng, nhân dân thành lập chính phủ, quyền lực của chính phủ là từ nhân dân,

nếu chính phủ làm tổn hại tới lợi ích của nhân dân, nhân dân có quyền thay đổi

hoặc phế truất chính phủ, thành lập chính phủ mới)

+ Tố cáo tội ác mà chính quyền thực dân Anh đã gây ra với các thuộc địa

Khẳng định nhân dân Mỹ quyết hy sinh tính mạng tài sản, danh dự của mình vì tự

do của nước Mỹ và tuyên bố Mỹ thoát ly hoàn toàn khỏi nước Anh

Tuyên ngôn độc lập của Mỹ là văn kiện lịch sử vô giá, có tính chất tiến bộ

thời bấy giờ Đây là bản tuyên ngôn nhân quyền đầu tiên, được thảo ra theo tinh

thần dân chủ, thấm nhuần triết học ánh sáng của Pháp cũng như triết học tiến bộ

của Anh Tuy nhiên với tuyên ngôn, chế độ nô lệ vẫn được duy trì

Việc thông qua bản Tuyên ngôn độc lập đánh dấu thắng lợi của quần

chúng nhân dân, thắng lợi của phe chủ trương giành độc lập, cổ vũ mạnh mẽ tinh

thần chiến đấu của quân dân thuộc địa

Cuộc chiến tranh diễn ra lúc đầu ưu thế thuộc về quân Anh (số quân Anh

lên đến 9 vạn, có kỷ luật, quen chiến đấu, trang bị vũ khí hiện đại, Anh lại có hải

quân mạnh) nhưng càng về sau, quân thuộc địa chiếm được ưu thế, nhờ sáng tạo

ra cách đánh du kích lợi dụng địa hình, địa vật gây cho quân Anh nhiều thiệt hại

Ngày 14/10/1777, quân thuộc địa thắng lớn ở Xaratôga bắt sống 5.000 tù

binh, tạo nên bước ngoặt của cuộc chiến tranh

Sau chiến thắng Xaratôga, Đại hội lục địa tiếp tục nhóm họp và thông qua

một số điều khoản tiến bộ:

Trang 29

- Thông qua luật về chế độ nô lệ, vì trong chiến tranh họ đã xả thân tham gia chiến đấu, nhưng chỉ có các bang miền Bắc giải phóng nô lệ

- Thông qua luật đất đai, tịch thu đất đai của các quan chức thân Anh và bọn Bảo hoàng đem bán

- Cho phép dân di cư Mỹ khai khẩn đất đai ở miền Tây

- Cử Bengiamin sang châu Âu tìm kiếm thêm viện binh giúp đỡ

Đại hội thông qua Hiến pháp 1777, bắt đầu thực hiện từ năm 1781 nên gọi

là Hiến pháp năm 1781

2 Giai đoạn thứ hai(1781 – 1787)

Ngày 19/11/1781, quân thuộc địa thắng lớn ở Iooctao, quân Anh tổn thất nặng và xin đình chiến

Ngày 3/9/1783, Hiệp ước Vecxai ký kết, Anh phải thừa nhận nền độc lập của các thuộc địa ở Bắc Mỹ và đến đây nước Mỹ (Hoa Kỳ) ra đời

Hiệp ước Vecxai đánh dấu sự thắng lợi của cuộc đấu tranh giành độc lập

tự do của nhân dân Bắc Mỹ nó có ý nghĩa:

- Tuyên bố sự thắng lợi của cuộc cách mạng mở đường cho phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa phát triển

- Tuyên bố với thế giới một quốc gia mới ở Bắc Mỹ ra đời, đó là Hợp chúng quốc châu Mỹ (The United States of America - USA)

1 Nội dung Hiếp pháp 1787

Mỹ là một quốc gia Liên bang theo chế độ Cộng hòa Tổng thống Chính quyền được tổ chức theo nguyên tắc Tam quyền phân lập

Quyền hành pháp:

- Tổng thống nắm quyền hành pháp cao nhất, vừa là người đứng đầu chính phủ, vừa là nguyên thủ quốc gia, nắm quyền tổng chỉ huy quân đội, phủ quyết những vấn đề liên quan đến lập pháp

- Bộ máy chính phủ và quan tòa liên bang đều do Tổng thống quyết định

bổ nhiệm (thẩm phán tòa án tối cao do Tổng thống bổ nhiệm, dưới tòa án tối cao

có 11 tòa phúc thẩm có tất thảy 68 thẩm phán do Tổng thống bổ nhiệm)

- Một nhiệm kỳ Tổng thống là 4 năm Quy định người ứng cử Tổng thống phải có tuổi đời từ 35 tuổi trở lên, cư trú tại Mỹ ít nhất 15 năm

Trang 30

- Tổng thống do đại cử tri bầu ra, số đại cử tri bằng tổng số thượng nghị sĩ

và hạ nghị sĩ Hiện nay là 538, trong đó có 438 là hạ nghị sĩ, quy định này có từ

năm 1919 đến nay

Quyền lập pháp thuộc về Nghị viện gồm 2 Viện:

- Thượng viện, do mỗi bang bầu ra 2 đại biểu với nhiệm kỳ 6 năm, cứ 2

năm bầu lại 1/3 Điều kiện là người được ứng cử phải có tuổi đời từ 30 tuổi, cư trú

tại Mỹ ít nhất 7 năm

- Hạ viện, bầu theo tỉ lệ số dân trong bang, cứ 30.000 dân được bầu một hạ

nghị sĩ (quy định này đến năm 1919 không còn phù hợp), có nhiệm kì 2 năm

Điều kiện ứng cử, tuổi đời từ 25 tuổi, cư trú tại Mỹ ít nhất 7 năm

- Mọi điều luật có hiệu lực khi được hai viện thông qua với 2/3 số phiếu

- Chủ tịch Thượng nghị viện đương nhiên là phó Tổng thống và không có

quyền bỏ phiếu(trừ trường hợp đặc biệt)

Quyền tư pháp:

- Cơ quan tư pháp tối cao nằm trong tay tòa án liên bang gồm 9 người,

trong đó có một chánh án và 8 phó chánh án do Tổng thống trực tiếp bổ nhiệm, có

sự đồng ý của thượng viện

- Quyền lực: tòa án có quyền giải thích các đạo luật, hiệp ước, nhưng cũng

có quyền tuyên bố sự mất hiệu lực của các văn bản đó

Hiến pháp được phê chuẩn vào tháng 7/1788 và có hiệu lực từ ngày 4/3/1789

Hiến pháp 1787 thực chất là sự thỏa hiệp giữa hai tầng lớp lãnh đạo cách

mạng của giai cấp tư sản Bắc Mỹ đó là tư sản chủ nô miền Nam và tư sản miền

Bắc Tư sản miền Bắc phải nhân nhượng phần nào với chủ nô miền Nam Cả hai

tầng lớp này thống nhất với nhau về vấn đề cơ bản là tập hợp lực lượng chống

phong trào dân chủ nhân dân

Với hiến pháp ngày 4/3/1789, nền thống trị của giai cấp tư sản Bắc Mỹ đã

- Trong suốt cuộc chiến tranh, giai cấp tư sản nắm quyền lãnh đạo tập hợp

lực lượng quần chúng cách mạng đánh bại thực dân Anh, giải phóng 13 thuộc địa

khỏi ách áp bức bóc lột, đưa giai cấp tư sản Mỹ lên nắm chính quyền thúc đẩy

kinh tế tư bản chủ nghĩa ở Mỹ phát triển

- Cuộc chiến tranh đã thu hút được mọi tầng lớp nhân dân tham gia, kể cả

nô lệ da đen, đã ban bố nhiều chính sách tiến bộ đáp ứng phần nào nhu cầu lợi ích

của một số tầng lớp nhân dân

Tuy nhiên cách mạng tư sản Mỹ còn nhiều hạn chế: tình trạng kì thị phân

biệt chủng tộc vẫn duy trì và ngày càng phát triển gay gắt:

Trang 31

- Đối với thổ dân da đỏ, chính quyền Mỹ đàn áp thẳng tay cướp đất đai của

họ, chỉ trong vòng hai thế kỷ (từ thế kỷ 17 – 19), người da đỏ từ 2.400.000 người chỉ còn lại 240.000 người

- Chế độ nô lệ không bị xóa bỏ, quyền tuyển cử, bầu cử, tự do xã hội còn rất hạn chế

2 Ý nghĩa lịch sử

Cuộc chiến tranh giành độc lập của 13 bang thuộc địa Bắc Mỹ đã thắng lợi

vẻ vang trước kẻ thù là thực dân Anh đang giàu mạnh nhất thế giới có ý nghĩa lịch

sử sâu sắc:

Đối với nhân dân Mỹ: cuộc chiến tranh thắng lợi đã giải phóng nhân dân

13 thuộc địa ra khỏi ách áp bức thống trị của thực dân Anh, đem lại nền độc lập chắc chắn cho nhân dân Mỹ và khai sinh ra nước Mỹ Đồng thời cuộc chiến tranh

đã giải phóng lực lượng sản xuất nhờ đó chỉ sau một thế kỷ, Mỹ đã vươn lên đứng đầu thế giới về kinh tế

Đối với thế giới: cuộc chiến tranh giành độc lập của 13 thuộc địa giành thắng lợi trước kẻ thù lớn mạnh là thực dân Anh gây tiếng vang lớn, đặc biệt tinh thần của bản Tuyên ngôn độc lập trở thành ngọn cờ tự do với những nguyên lý bất

hủ Nó không chỉ là lời hiệu triệu nhân dân Bắc Mỹ và những chiến sĩ dân chủ châu Âu đấu tranh vì độc lập tự do của Mỹ mà còn là mục tiêu lý tưởng cho nhiều cuộc đấu tranh giải phóng trên thế giới về sau

Đây là cuộc cách mạng tư sản diễn ra dưới hình thức một cuộc chiến tranh giành độc lập, chứng tỏ tính phong phú, nhiều hình, nhiều vẻ của cách mạng tư sản

Câu hỏi ôn tập

1 Hãy trình bày vài nét về quá trình hình thành, vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên và dân cư của 13 bang thuộc địa Anh ở Bắc Mỹ

2 Hãy nêu những nét cơ bản về sự phát triển các vùng kinh tế của 13 bang thuộc địa ở Bắc Mỹ trước khi chiến tranh bùng nổ

3 Tại sao Anh lại ra sức kìm hãm sự phát triển kinh tế tư bản chủ nghĩa của 13 bang thuộc địa ở Bắc Mỹ? Nêu những chính sách kìm hãm của thực dân Anh Phân tích thái độ của các tầng lớp nhân dân 13 thuộc địa trước những chính sách đó

4 Nêu chính sách cai trị của thực dân Anh đối với 13 bang thuộc địa Dựa vào đâu để nói rằng: một dân tộc Mỹ đã hình thành?

5 Từ tình hình kinh tế, chính trị - xã hội ở Bắc Mỹ đặt ra những nhiệm vụ gì?

6 Khái quát diễn biến của cuộc chiến tranh giành độc lập(1775 – 1783)

7 Nêu những quyết sách của Hội nghị lục địa lần II(10/5/1775)

8 Nêu và phân tích những nội dung chính của bản Tuyên ngôn độc lập ngày 4/7/1776, tác dụng của Tuyên ngôn đối với cuộc chiến

9 Nêu những chính sách của Đại hội lục địa sau thắng lợi ở Xaratôga (14/10/1777)

Trang 32

10 Nêu lý do ban hành, nội dung của hiến pháp 1787

11 Nêu tính chất, ý nghĩa lịch sử của cuộc chiến tranh ở 13 bang thuộc

địa Anh

Bài 5 CÁCH MẠNG TƯ SẢN PHÁP CUỐI THẾ KỶ XVIII

Giữa hai cuộc cách mạng: cách mạng tư sản Anh 1640 và cách mạng tư

sản Pháp 1789 là một khoảng thời gian 150 năm Trong khoảng thời gian ấy, thế

giới có những chuyển biến quan trọng:

Cách mạng công nghiệp đang triển khai, ảnh hưởng rất lớn đến sự phát

triển lực lượng sản xuất ở châu Âu và Bắc Mỹ

Cuộc chiến tranh giành độc lập của 13 bang thuộc địa Anh ở Bắc Mỹ

thắng lợi đã khai sinh ra một quốc gia tư sản mới – quốc gia Hoa Kỳ

Sự vận động nội tại của kinh tế - chính trị - xã hội Pháp ở thế kỷ XVII –

XVIII chịu tác động sâu sắc bởi hai sự kiện trọng đại trên Đây là nguyên nhân

giải thích cách mạng tư sản Pháp là cuộc cách mạng to lớn nhất, triệt để nhất, là

- Sản xuất công nghiệp tăng gấp đôi so với trước năm 1715

- Từ 1715 đến 1789, ngoại thương tăng lên gấp 4 lần

Nguyên nhân, Pháp được thừa kế những thành quả của cách mạng công

nghiệp Anh Pháp có đội thương thuyền mạnh cạnh tranh có hiệu quả với các nước, đồng thời Pháp thường xuyên tổ chức các hội chợ quốc tế (Hội chợ Pari,

Lyông)

Nhiều trung tâm công nghiệp lớn mạnh nhanh chóng như Boocđô, Năngtơ,

Harvơ, Andat – Loren…Một số thành phố đông dân xuất hiện như Pari với 50 vạn

dân, Lyông 1.3 vạn dân

Có thể nói, cuối thế kỷ XVIII, công – thương nghiệp của nước Pháp đã

phát triển mạnh ở một số vùng, yếu tố tư bản chủ nghĩa ngày càng rõ nét, nhưng

sự phát triển đó gặp phải vô vàn khó khăn do sự cản trở của chế độ phong kiến

như: nông dân bị phong kiến bóc lột thậm tệ, sức mua yếu, chế độ phường hội với

những quy chế ngặt nghèo của nhà nước, thuế quan nội địa nhiều tầng, hệ thống

đo lường, tiền tệ không thống nhất…

Nông nghiệp, là nền tảng của nền kinh tế Pháp nhưng rất lạc hậu:

Khác với Anh, quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa chưa xâm nhập vào nông

nghiệp, hơn 90% dân số Pháp là nông dân, họ áp dụng chế độ hưu canh (canh tác

luân canh 3 mảnh, mỗi năm làm một mảnh 2 mảnh kia bỏ hoang cho đất nghỉ),

năng suất rất thấp, một bao thóc giống thường chỉ thu hoạch được 5 bao

Trang 33

Nguyên nhân là do sự tồn tại của chế độ lãnh chúa, trong đó chế độ sở hữu ruộng đất phong kiến là nguyên nhân chủ yếu làm mất hết sáng kiến, hào hứng tăng gia sản xuất của nông dân

Nền nông nghiệp lạc hậu với chế độ hưu canh không đáp ứng được nhu cầu về lương thực, thực phẩm ngày càng tăng của nhân dân Pháp, càng không thể phục vụ được cho nền công – thương nghiệp đang trên đà phát triển

Tóm lại, cuối thế kỷ XVIII, nền kinh tế Pháp phát triển gặp vô vàn khó khăn, cản trở từ chế độ phong kiến Yêu cầu bức thiết của nền kinh tế nước Pháp

là phải đập tan những quan hệ sản xuất phong kiến, mở đường cho lực lượng sản xuất phát triển

Tăng lữ cấp dưới, gồm các thầy tu, thầy cả, thầy trợ tế xuất thân từ thường dân, họ sống âm thầm giữa đám con chiên đói nghèo nên dễ thông cảm với quần chúng, ít phản động hơn

Đẳng cấp Quý tộc: chiếm khoảng 80 ngàn người/24 triệu chia làm 2 loại:

Quý tộc cung kiếm: là tầng lớp quý tộc dòng dõi có bổng lộc cao, được vua phong tước, ân huệ nhiều, sống xa hoa trụy lạc, có quyền sinh tử đối với dân sống trong thái ấp của mình

Quý tộc áo dài: chủ yếu là quý tộc tư pháp được quý tộc hóa từ thế kỷ XVI – XVII, gồm các đại tư sản bỏ tiền ra mua chức tước, họ có học thức, thế lực ngày càng lớn

Giữa hai tầng lớp quý tộc này khinh ghét nhau nhưng đều có điểm chung

là bảo vệ chế độ phong kiến đến cùng (ở Pháp không xuất hiện quý tộc mới, vì quý tộc Pháp có quá nhiều đặc quyền đặc lợi về tư pháp và thuế khóa: quý tộc được miễn thuế, nắm mọi quyền hành trong triều và trong quân đội, tự cho mình

là dòng dõi cao quý, khinh ghét lao động tay chân và kinh doanh, chỉ biết ăn không ngồi rồi)

Triều đình do vua đứng đầu, nắm mọi quyền hành, ý vua là pháp lệnh Vua sống ở cung điện Vecxai (cách Pari 18km) Vua Lui sống xa hoa (trong cung điện

có 20.000 người phục vụ, một năm chi tiêu hết 50 triệu phrăng, bằng 1/3 thu nhập của nước Pháp)

Đẳng cấp 3: bao gồm giai cấp tư sản, nông dân, bình dân thành thị (công

nhân, thợ thủ công, tiểu thương, những người bán hàng rong, đàn dạo, đi ở, thất nghiệp…) chiếm 99% dân số, phải đóng góp của cải, chịu mọi thứ thuế và nghĩa

vụ, là đẳng cấp bị áp bức bóc lột

Trang 34

Giai cấp tư sản đứng đầu đẳng cấp 3, có thế lực về kinh tế, có hệ tư tưởng

riêng (trào lưu triết học ánh sáng) Trong giai cấp tư sản có nhiều tầng lớp:

Đại tư sản tài chính, là tầng lớp phục vụ chủ yếu cho bộ máy nhà nước

phong kiến, tiêu biểu là các nhà thầu thuế gồm 40 gia đình lớn, là chủ ngân hàng

chuyên cho nhà nước phong kiến vay Quyền lợi của đại tư sản tài chính gắn liền

với chế độ phong kiến cho nên họ chỉ đòi cải tổ chính trị, kinh tế cho phù hợp với

quyền lợi của họ

Đại tư sản công thương, có vai trò lớn trong đời sống kinh tế, thế lực kinh

tế của họ gắn liền với sự lớn mạnh của các thành phố, hải cảng Pháp Họ độc lập

hơn đại tư sản tài chính đối với vương quyền Họ đòi tự do kinh doanh, đòi quyền

chính trị, có hướng đấu tranh tích cực muốn thiết lập chế độ chính trị mới tạo điều

kiện cho kinh tế công – thương phát triển

Tư sản công – thương vừa và nhỏ, là tầng lớp đông đảo nhất, họ chống

phong kiến mãnh liệt hơn đại tư sản

Trí thức tiểu tư sản, người phát ngôn cho quyền lợi của các tầng lớp tư

sản, họ là tầng lớp có học thức, hiểu biết, tiếp thu nhanh những tư tưởng tiến bộ

Mặc dù chia thành nhiều tầng lớp có quyền lợi khác nhau, nhưng các tầng

lớp tư sản đều thống nhất với nhau ở những điểm:

- Chống đặc quyền, chống phong kiến

- Có thế lực kinh tế lớn nhưng không có quyền lực chính trị

So với cách mạng tư sản Anh (1640), giai cấp tư sản Pháp có những ưu

thế:

- Giai cấp tư sản Pháp độc tôn nắm quyền lãnh đạo vì ở Pháp không có

quý tộc mới

- Có thế lực kinh tế lớn, lại đứng đầu đẳng cấp 3

- Có nhiều người tham gia chiến tranh giành độc lập ở Mỹ nên có nhiều

kinh nghiệm trong lãnh đạo cách mạng và chiến đấu

- Được soi sáng bởi hệ tư tưởng riêng (trào lưu triết học ánh sáng)

Với những ưu điểm trên, giai cấp tư sản Pháp sẽ là giai cấp lãnh đạo cuộc

cách mạng tư sản sắp tới

Bình dân thành thị, gồm công nhân, tiểu thương, thợ thủ công, những

người bán hàng rong, đàn dạo, thất nghiệp… đây là những tầng lớp xã hội không

có quyền hành, với thân phận cùng khổ, họ bị bóc lột bởi chế độ phong kiến và

giai cấp tư sản vì vậy, trong tiến trình cách mạng, họ là tầng lớp cách mạng nhất

Nông dân, chiếm khoảng 90% dân số, chịu 3 tầng áp bức bóc lột của chế

độ phong kiến:

- Nông dân đóng thuế cho vương quyền (nhà nước phong kiến): Đóng thuế

trực thu 1/20 hoa lợi, thuế đinh Đóng thuế gián thu: thuế rượi, muối, lao dịch,

công ích cho nhà nước

- Nông dân đóng thuế cho tăng lữ: đóng thuế 1/10 (thập phân)

Trang 35

- Nông dân đóng thuế cho lãnh chúa là nặng nhất: đóng tô thuế, nghĩa vụ, phụ thu…

Nông dân bị bóc lột đến tận xương tủy (hình trong sách giáo khoa) Họ căm thù chế độ phong kiến, nguyện vọng tha thiết của họ là được chia ruộng đất

“Ánh sáng” nghĩa bóng là: giai cấp tư sản đem ánh sáng khoa học rọi vào cuộc sống

Trào lưu triết học ánh sáng ở Pháp là tiếng nói của nhiều bộ phận tầng lớp

tư sản khác nhau, về cơ bản chia làm 3 loại:

a Trào lưu tư tưởng tư sản

Là tiếng nói của tầng lớp đại tư sản quý tộc, tiêu biểu là Môngtecxkiơ, Vônte và phái bách khoa Toàn thư

Môngtecxkiơ lên án gay gắt chế độ phong kiến, người khởi xướng ra nguyên tắc tam quyền phân lập, mơ ước xây dựng chế độ Quân chủ lập hiến với một ông vua sáng suốt

Vônte: Ông toàn tài trên nhiều lĩnh vực, được mệnh danh là “vua Vônte” hoặc “thế kỷ Vônte” Trong tác phẩm “Những bức thư triết học”, Ông lên án không thương tiếc chế độ phong kiến, đặc biệt tấn công mạnh vào tôn giáo “Hãy đập nát bọn ti tiện ấy đi” Tuy nhiên, Ông lại chủ trương dùng tôn giáo để ngu dân, Ông cho rằng đừng để dân chúng biết lý luận Mô hình nhà nước lý tưởng của Ông cũng là chế độ Quân chủ lập hiến

Phái Bách khoa Toàn thư: đi đầu là Điđơrô, Đalămbe đưa ra nhiều chủ trương phải tự do hoàn toàn trong hoạt động kinh tế, xóa bỏ mọi đặc quyền về chính trị, thực hiện quyền tự do chính trị cho nhân dân Chủ trương bảo vệ triệt để quyền tư hữu, phương pháp đấu tranh của họ là ôn hòa về chính trị xã hội

Nhìn chung, trào lưu tư tưởng tư sản không nhằm lật đổ chế độ quân chủ chuyên chế hiện hành mà chỉ đấu tranh bằng phương pháp ôn hòa nhằm hạn chế quyền hành của nhà vua và mở rộng quyền hạn của giai cấp tư sản trong việc tham gia vào việc quản lý nhà nước Trào lưu tư tưởng này ảnh hưởng rất lớn trong cách mạng Pháp, nhất là phái tư sản Lập hiến và phái Ghirôngđanh

b Trào lưu tư tưởng dân chủ tư sản

Đại diện cho tiếng nói của tầng lớp trung lưu và thị dân ở thành thị, đại biểu xuất sắc là Rútxô, Mara

Trong tác phẩm “Khế ước xã hội” Rútxô khẳng định chế độ tư hữu là nguồn gốc bất công trong xã hội, nhưng không thể xóa được tư hữu mà chỉ hạn

Trang 36

chế bằng cách đánh thuế tài sản và hạn chế quyền thừa kế Lý tưởng của Ông là

xây dựng nền cộng hòa dân chủ của những người tư hữu nhỏ Theo Ông, thể chế

cộng hòa đại nghị với vai trò to lớn của Quốc hội là thích hợp nhất

Mara: là đồ đệ của Rútxô, nhưng trên vài lĩnh vực, Ông lại vượt xa người

thầy của mình Ông nhận thức được vai trò của bạo lực trong các cuộc cách mạng,

vai trò của quần chúng trong cách mạng Ông đã nhận thấy trước rằng, cuộc cách

mạng Pháp sắp tới không đem lại hạnh phúc cho người nghèo mà chỉ thay thế

hình thức áp bức khác mà thôi (Ông có tầm nhìn đi trước thời đại)

Như vậy, trào lưu tư tưởng dân chủ tư sản muốn thủ tiêu chế độ quân chủ

chuyên chế hiện hành và thiết lập chế độ cộng hòa của những người tư hữu nhỏ

Trào lưu tư tưởng này ảnh hưởng lớn trong cách mạng Pháp nhất là đối với phái

Giacôbanh

c Trào lưu tư tưởng cộng sản sơ kỳ

Đại diện cho tiếng nói của quần chúng nghèo khổ nhất trong xã hội, khác

với hai trào lưu tư tưởng trên, trào lưu này phủ nhận hoàn toàn chế độ tư hữu và

mong muốn thiết lập chế độ công hữu đem lại sự ấm no hạnh phúc cho mọi người

trong xã hội Ba đại biểu xuất sắc nhất là Môrenly, Mably và Mêliê

Do những tư tưởng này vượt quá xa yêu cầu của giai cấp tư sản nên không

được vận dụng trong cách mạng Pháp

Tóm lại, trong cuộc đấu tranh tư tưởng chống chế độ phong kiến, giai cấp

tư sản đưa ra được hệ tư tưởng tiên tiến cách mạng Hệ tư tưởng của giai cấp tư

sản đã chứng minh trong thực tế rằng: chế độ phong kiến bất công tàn bạo, cần

phải xóa bỏ, đồng thời đưa ra những mô hình kiểu mẫu nhà nước tương lai Tuy

nhiên, do đại diện cho quyền lợi của các tầng lớp, giai cấp khác nhau, nên các trào

lưu cũng không giống nhau, điều này sẽ phản ánh mâu thuẫn trong nội bộ lực

lượng của cách mạng tư sản Pháp Những trào lưu tư tưởng trên được truyền bá

sâu rộng, góp phần thúc đẩy nhân dân Pháp đứng lên làm cuộc cách mạng thay

đổi chế độ

4 Tiến tới cách mạng

Cuối thế kỷ XVIII, nền quân chủ chuyên chế Pháp lâm vào khủng hoảng

trầm trọng biểu hiện:

- Cuộc khủng hoảng kinh tế công – thương nghiệp năm 1787 – 1789 làm

đình đốn sản xuất kinh tế, khiến cho giai cấp tư sản Pháp điêu đứng, nạn thất

nghiệp tràn lan

- Thiên tai mất mùa xảy ra trong những năm 1788 – 1789, nhân dân khắp

nơi đói kém, họ nổi dậy đấu tranh: trong năm 1789 có 800 cuộc nổi dậy của nông

dân và bình dân thành thị

- Vương triều bị lún sâu vào khủng hoảng tài chính Nguyên nhân là do chi

phí chiến tranh giành độc lập ở Bắc Mỹ, đặc biệt là do tiêu phí vô độ của Hoàng

gia Đến năm 1789, số nợ của nhà nước tăng lên 4,5 tỷ Livrơ và không có khả

năng trả nợ

Để giải quyết khó khăn về tài chính, ngày 5/5/1789, vua Lui XVI triệu tập

hội nghị 3 đẳng cấp để vay tiền và đánh thêm thuế mới

Trang 37

Hội nghị 3 đẳng cấp được triệu tập với 270 đại biểu quý tộc, 300 đại biểu của tăng lữ và 600 đại biểu của đẳng cấp 3 Với ưu thế về số đại biểu và được sự ủng hộ của quần chúng nhân dân, nhân danh đại diện cho 99% dân số, đại biểu Đẳng cấp 3 tuyên bố thành lập Hội đồng dân tộc, đến ngày 9/7, Hội đồng dân tộc

tự tuyên bố là Quốc hội lập hiến với nhiệm vụ soạn thảo bản hiến pháp làm cơ sở cho chế độ mới Lui XVI bề ngoài tỏ ý chấp nhận, nhưng bên trong đang tập hợp lực lượng chuẩn bị đàn áp

II Diễn biến của cuộc cách mạng tư sản Pháp (1789 – 1799)

1 Cách mạng bùng nổ và nền thống trị của đại tư sản Lập hiến(14/7/1789 – 10/8/1792)

Mặc dù bề ngoài tỏ ý chấp nhận nhưng ngay từ tháng 6/1789, Lui XVI đã điều 20 ngàn quân về xung quanh Pari để giải tán Quốc hội và bóp nghẹt cách mạng ngay trong trứng nước Ngày 11/7 Lui cách chức Nếchke Ngay lập tức ngày 12/7, quần chúng đổ ra đường đi cướp vũ khí, đến ngày 14/7 quần chúng Pari đã đoạt được 32 ngàn khẩu súng từ trại thương binh

Ngày 14/7/1789, quần chúng nhân dân Pari kéo đến ngục Baxti, sau 4 giờ chiến đấu, ngục Baxti bị thất thủ, toàn bộ thủ đô Pari về tay cách mạng (đọc ngục Baxti trong “những mẫu chuyện lịch sử thế giới” tập 2)

Ý nghĩa: việc chiếm ngục Baxti đánh dấu sự thắng lợi của cách mạng, bởi

vì ngục Baxti kiên cố, sừng sững hàng trăm năm tượng trưng cho chế độ quân chủ chuyên chế hà khắc Ngày 14/7 hằng năm trở thành ngày Quốc khánh của nước Cộng hòa Pháp

Từ Pari, cách mạng lan nhanh về các vùng nông thôn, chỉ trong vòng 1 tháng, cách mạng đã thành công trên toàn bộ lãnh thổ nước Pháp

Thắng lợi ngày 14/7 đã đưa một bộ phận tư sản lên nắm chính quyền đó là đại tư sản Tài chính, bộ phận này chiếm đa số trong Quốc hội lập hiến (nên gọi là phái tư sản Lập hiến)

Khi lên nắm chính quyền, tư sản Lập hiến đã làm được những việc:

Ngày 26/8/1789, Quốc hội Lập hiến thông qua bản Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền do Xiâyet khởi thảo được sự giúp đỡ của Thomat Giecphecson (người khởi thảo bản Tuyên ngôn Độc lập của Hoa Kỳ)

Dựa vào tư tưởng của triết học ánh sáng, Tuyên ngôn nêu lên khẩu hiệu nổi tiếng “Tự do – Bình đẳng – Bác ái”

Tự do, bình đẳng, bác ái được thể hiện rõ trên màu cờ Tam tài của nước Pháp

Bản Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền gồm 17 điều, xác định các quyền tự do, dân chủ, quyền bình đẳng giữa các công dân trước pháp luật, đồng thời khẳng định quyền tư hữu là quyền thiêng liêng bất khả xâm phạm, cụ thể là:

Tuyên ngôn xác lập quyền tự do cá nhân của công dân: “Mọi người sinh ra đều tự do và bình đẳng về quyền lợi”

Những quyền tự do như: tự do ngôn luận, tự do tín ngưỡng, tự do đi lại, tự

do hội họp Quyền hưởng an ninh, quyền chống áp bức, quyền tự do kinh doanh, quyền được bảo vệ tài sản… được xem là những quyền tự nhiên và tuyệt đối của

Trang 38

con người và của mọi công dân Dưới chế độ phong kiến, những quyền này bị

tước đoạt

Tuyên ngôn xác định quyền bình đẳng giữa các công dân trước pháp luật:

“người với người bình đẳng với nhau, không phân biệt đẳng cấp, sang hèn”

Tuyên ngôn xác định quyền tối cao là của dân tộc, tức là của toàn thể công

dân

Tuyên ngôn khẳng định quyền tư hữu là quyền thiêng liêng bất khả xâm

phạm, điều này bộc lộ rõ tính chất tư sản của Tuyên ngôn, đồng thời phủ nhận

quyền bình đẳng xã hội thực sự giữa người và người, hợp pháp hóa sự bất bình

đẳng về tài sản và sự bóc lột của người giàu với người nghèo

Mặc dù còn hạn chế, nhưng Tuyên ngôn vẫn xứng đáng là bản khai tử chế

độ phong kiến và là cương lĩnh của chế độ tư bản chủ nghĩa Nó phản ánh khát

vọng tự do không chỉ của nhân dân Pháp mà còn là của toàn nhân loại qua các

thời đại Do đó nó được coi là văn kiện lịch sử vô giá, là tài sản văn hóa chung

cho toàn nhân loại

Những chính sách của Quốc hội lập hiến:

Để xoa dịu quần chúng, đêm 4/8/1789 Quốc hội lập hiến ban bố một số

chính sách như:

Tuyên bố xóa bỏ chế độ phong kiến

Bãi bỏ một số đặc quyền phong kiến không quan trọng như, quyền săn

bắn, quyền nuôi chim bồ câu…

Tịch thu ruộng đất của bọn quý tộc phong kiến chia thành từng lô lớn đem

bán với giá cao

Về công – thương nghiệp:

Quốc hội quyết định bãi bỏ quy chế phường hội cho phép tự do buôn bán

Từ tháng 5 đến thánh 6 /1790, Quốc hội chia toàn quốc thành 83 quận với

cơ cấu tổ chức thống nhất, xóa bỏ thuế quan nội địa nhiều tầng… những biện

pháp tiến bộ trên đã gạt bỏ những nhân tố kìm hãm sự phát triển công – thương

nghiệp, góp phần vào quá trình hình thành dân tộc tư sản Pháp

Tịch thu tài sản của nhà thờ làm tài sản quốc gia, quyết định giáo hội phải

phục tùng quốc gia Các linh mục, giám mục phải do bầu cử, ăn lương của nhà

nước, chuyển giao công việc hộ tịch thuộc giáo hội sang nhà nước

Năm 1791, Quốc hội thông qua hiến pháp mới với những chính sách phản

động:

- Dựa vào tài sản chia công dân thành hai loại: công dân tích cực và công

dân tiêu cực Chỉ có công dân tích cực mới được quyền bầu cử Trong 24 triệu dân

Pháp chỉ có 4,28 triệu dân là công dân tích cực

- Quy định nước Pháp theo chế độ Quân chủ lập hiến do vua Lui XVI

đứng đầu với quyền lực rất lớn

- Thông qua luật Lơsapơliê (14/6/1791) cấm công nhân lập hội và bãi công

Trang 39

Mặc dù giai cấp tư sản rất ưu ái nhưng vua Lui XVI quyết tâm chống lại Quốc hội Đêm 20/6/1791 Lui XVI trốn ra nước ngoài kêu gọi các nước phong kiến giúp đỡ nhưng nhanh chóng bị bắt lại và vẫn giữ ngôi vua cho đến tháng 8/1792

Cuộc cách mạng Pháp làm rung chuyển châu Âu, không chỉ làm các nước phong kiến kinh hoàng, lo lắng mà còn kích thích tinh thần đấu tranh của nhân dân các nước đó

Đáp lại lời kêu gọi của Lui XVI, liên minh phong kiến gồm Phổ, Áo, Nga, Anh hình thành và chuẩn bị tấn công vào nước Pháp

Đầu năm 1792, liên quân phong kiến đang tấn công ào ạt vào nước Pháp, quân Pháp chống cự yếu ớt vì lãnh đạo là bọn đại tư sản nên rất chần chừ Hoàng hậu Mari Ăngtoanet thì chuyển kế hoạch tác chiến cho địch Nước Pháp rất nguy ngập, Quốc ước buộc phải tuyên bố “Tổ quốc lâm nguy” Trong bối cảnh ấy, bài

ca “Hành khúc của đội quân sông Ranh” đầy khí thế chiến đấu (bài ca Mac Xâye

do Ru Giêđơlixlơ sáng tác đêm 24/4/1792 vang lên kích thích tinh thần quật khởi của nhân dân Pháp chống nội phản và ngoại xâm

Ngày 10/8/1792, quần chúng cách mạng tấn công cung điện Tuylơri bắt giam Vua và Hoàng hậu, lật đổ chính quyền của tư sản lập hiến, đưa phái tư sản công – thương Ghirôngđanh lên nắm chính quyền, đẩy cách mạng Pháp tiếp tục tiến lên

2 Thời kỳ cầm quyền của phái Ghirôngđanh (10/8/1792 – 2/6/1793)

Sau khi lên nắm chính quyền, phái Ghirôngđanh tuyên bố nhiều chính sách tiến bộ hơn phải tư sản Lập hiến:

- Tịch thu ruộng đất của bọn quý tộc, tư sản di cư chia thành từng lô vừa đem bán

- Phái Ghirôngđanh có 200 đại biểu

- Phái Giacôbanh có 100 đại biểu

- Phái Đầm lầy có số đại biểu còn lại không có quan điểm rõ rệt

Cuộc đấu tranh gay gắt giữa hai phái Ghirôngđanh và phái Giacôbanh về việc quyết định số phận của nhà vua Phái Ghirôngđanh muốn cứu vua Phái

Trang 40

Giacôbanh kiên quyết xử tử vua Cuối cùng thông qua một cuộc bỏ phiếu công

khai với 387/721 phiếu, do vậy vua Lui XVI bị xử tử

Ngày 21/1/1793, vua Lui XVI bị xử tử, ít lâu sau Hoàng hậu Mari Ăngtoanet cũng bị xử tử

Việc xử tử vua Lui XVI gây chấn động cả châu Âu Đầu năm 1793, các

nước phong kiến như Tây Ban Nha và một loạt các nước phong kiến khác của

Đức, Ý và hai nước tư sản Anh, Hà Lan liên minh lại chống nước Pháp (Anh

không muốn nước Pháp lớn mạnh)

Trong khi đó nước Pháp đã trải qua 4 năm chiến tranh, kinh tế suy sụp,

nông dân vẫn không có ruộng đất cày cấy, đời sống rất khổ cực Nạn đầu cơ tích

trữ đẩy giá tăng vọt, làm cho mọi tầng lớp nhân dân điêu đứng Nhiều cuộc nổi

dậy của nông dân nghèo đã bùng phát

Trước tình hình đó, phái Ghirôngđanh tỏ ra bất lực và muốn ngả sang thỏa

hiệp với liên minh phong kiến

Ngày 26/5/1793 tại câu lạc bộ Giacôbanh, Rôbexpie kêu gọi nhân dân đứng lên khởi nghĩa

Ngày 2/6/1793, Ăngriô, một người Giacôbanh cánh tả đã chỉ huy tám vạn

quân vệ quốc bao vây Quốc ước lật đổ chính quyền phái Ghirôngđanh, đưa phái

Giacôbanh (đại diện cho quần chúng và tư sản hạng vừa) lên nắm chính quyền

3 Thời kỳ chuyên chính dân chủ Giacôbanh (2/6/1793 – 27/7/1794)

Phái Giacôbanh lên nắm chính quyền vào lúc nước Pháp nguy kịch hơn

bao giờ hết:

- Ngoài mặt trận, liên quân phong kiến liên tiếp đánh bại quân Pháp và

đang ồ ạt tiến về Pari

- Trong nước, bọn phản động và bọn Ghirôngđanh nổi dậy cướp chính quyền khắp nơi; có tới 60/83 quận nằm trong tay bọn phản động

Ngày 13/7/1793, Mara bị bọn phản động giết chết, lúc này người ta cứ

nghĩ nền Cộng hòa đang sống những giây phút cuối cùng Nhưng chỉ trong vòng

sáu tuần lễ, phái Giacôbanh đã làm được tất cả những gì mà cách mạng Pháp không làm được trong 4 năm qua:

Với nông dân

- Sắc lệnh ngày 3/6 của Quốc ước (Hiệp hội dân tộc) tịch thu toàn bộ

ruộng đất của địa chủ quý tộc di cư chia thành từng mảnh nhỏ đem bán cho nông

dân, cho trả dần trong 10 năm

- Sắc lệnh 10/7 chia hẳn ruộng đất công cho nông dân

- Sắc lệnh 17/7 xóa bỏ hoàn toàn không bồi thường mọi nghĩa vụ phong

kiến cho nông dân

Ý nghĩa của ba sắc lệnh trên:

Phá hoại cơ sở kinh tế của chế độ phong kiến, biến nông dân phụ thuộc

chế độ phong kiến thành những người tiểu tư hữu tự do và thiết lập chế độ kinh tế

Ngày đăng: 08/03/2021, 14:44

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w