Lịch sử là những gì liên quan đến quá khứ, mà đây lại là lịch sử thế giới, nó rất xa lạ và lạ lẫm đối với học sinh, chính vì vậy tạo biểu tượng về nền văn hóa vật chất trong dạy học lịch
Lịch sử vấn đề
Vấn đề tạo biểu tượng nói chung và tạo biểu tượng về văn hóa vật chất trong dạy học lịch sử nói riêng là những vấn đề quan trọng, góp phần tích cực trong việc cung cấp tri thức lịch sử cho học sinh Thời gian qua, đã có nhiều công trình nghiên cứu lớn nhỏ đề cập đến những vấn đề này
Như trong cuốn “Tâm lý học” (Nxb Thể dục Thể thao Hà Nội, năm 1986) P.A.Ruđich đã định nghĩa “Biểu tượng là những hình ảnh của các sự vật và hiện tượng của thế giới xung quanh được giữ lại trong ý thức và được hình thành trên cơ sở các tri giác và cảm giác xảy ra trước đó”
John J.Macionis, trong cuốn “Xã hội học” (Nxb Thống kê, năm 1987) đã đưa ra định nghĩa, theo cách hiểu đơn giản nhất thì “Biểu tượng là bất cứ thứ gì mang một ý nghĩa cụ thể được thành viên của một nền văn hóa nhận biết” Đối với việc tạo biểu tượng lịch sử, điển hình nhất có cuốn “Phương pháp dạy học lịch sử” tập 1 của Phan Ngọc Liên (chủ biên), Trịnh Đình Tùng, Nguyễn Thị
Côi, xuất bản năm 2002, đã nêu lên những vấn đề liên quan đến việc tạo biểu tượng lịch sử cho học sinh, như về khái niệm, về phân loại và về các biện pháp sư phạm để tạo biểu tượng lịch sử, và cũng đã đưa ra khái niệm Biểu tượng về văn hóa vật chất
Trần Viết Lưu trong Luận án Tiến sĩ Tâm lý – Giáo dục “Tạo biểu tượng lịch sử cho học sinh tiểu học” (Hà Nội, năm 1999) đã đề cập đến việc tạo biểu tượng, biểu tượng lịch sử cho học sinh THCS, đã đưa ra khái niệm cụ thể về biểu tượng và biểu tượng lịch sử
GS.TSKH Trần Ngọc Thêm trong cuốn “Phác thảo chân dung văn hóa Việt
Nam” (Nxb Chính trị Quốc gia, năm 2000), trong phần Khái luận về văn hóa, tác giả đã đưa ra khái niệm về văn hóa, và văn hóa vật chất
Phạm Thị Ngân trong Luận văn Thạc sĩ về phương pháp dạy học lịch sử với đề tài “Tạo biểu tượng về văn hóa vật chất trong dạy học lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến giữa thế kỷ XIX (Lớp10-Chương trình chuẩn)” (Huế, 2011), đã đề cập rõ về việc tạo biểu tượng, biểu tượng lịch sử và tạo biểu tượng về văn hóa vật chất trong dạy học lịch sử Việt Nam lớp 10 ở trường phổ thông
Bên cạnh đó, còn có nhiều bài viết liên quan đến việc tạo biểu tượng trong dạy học lịch sử cho học sinh Tuy nhiên, cho đến nay chưa có công trình nghiên cứu nào nghiên cứu một cách đầy đủ, công phu và toàn diện đến việc Tạo biểu tượng về văn hóa vật chất trong dạy học lịch sử thế giới (lớp 10 – Chương trình chuẩn) Đây chính là vấn đề cần giải quyết của đề tài, kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học, các bài viết liên quan là những tài liệu quý báu giúp chúng tôi có thể tổng hợp và có được cơ sở lý luận khi thực hiện đề tài này.
ối tượng và phạm vi nghiên cứu
Tạo biểu tượng văn hóa vật chất trong dạy học lịch sử thế giới (Lớp 10 – Chương trình chuẩn) ở trường THPT
Không gian: Các trường THPT trên địa bàn Thành phố Đà Nẵng
Thời gian: Lịch sử thế giới lớp 10 (Chương trình chuẩn).
Phương pháp nghiên cứu
Cơ sở phương pháp luận của đề tài: là dựa vào quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, và quan điểm, đường lối giáo dục của Đảng, Nhà nước
Phương pháp nghiên cứu cụ thể:
- Nghiên cứu lí luận về việc tạo biểu tượng cho học sinh trong dạy học lịch sử ở trường THPT
- Nghiên cứu tài liệu: các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học về phương pháp dạy học lịch sử, về khóa trình lịch sử thế giới, về văn hóa, văn hóa vật chất; các tạp chí; các khóa luận …có liên quan để tiến hành đề tài
- Điểu tra cơ bản: tiến hành điều tra tình hình việc tạo biểu tượng văn hóa vật chất của giáo viên trong quá trình dạy học, và mức độ nắm bài của học sinh qua việc tạo biểu tượng của giáo viên Bằng cách trao đổi với giáo viên, học sinh, phát phiếu điều tra và xử lý…
- Thực nghiệm sư phạm: Soạn giáo án và thực nghiệm một bài cụ thể trong khóa trình lịch sử thế giới (Lớp 10 – Chương trình chuẩn).
Cấu trúc của đề tài
ơ sở lý luận
1.1.1 Một số khái niệm liên quan
1.1.1.1 Biểu tượng và biểu tượng lịch sử
Khái niệm biểu tượng là đối tượng được nhiều ngành khoa học xã hội quan tâm nghiên cứu
Theo xã hội học, hiểu theo cách đơn giản nhất “Biểu tượng là bất cứ thứ gì mang một ý nghĩa cụ thể được thành viên của một nền văn hóa nhận biết” Dù là âm thanh, hình ảnh, đồ vật hay hành động của con người thì tất cả đều sử dụng như ký hiệu, và đó là biểu tượng Ngay cả trong cái nháy mắt cũng là biểu tượng dùng để thể hiện sự quan tâm hay hiểu biết nhau…
M.N.Sácđacốp trong Tư duy của học sinh “Biểu tượng là hình ảnh về sự vật hoặc hiện tượng của hiện thực được tri giác, được phản ánh từ trước vào ý thức luôn luôn được giữ lại trong trí nhớ và xuất hiện qua những dấu hiệu chủ yếu của nó” [21;16]
Theo Trần Viết Lưu, một Tiến sĩ Tâm lý – Giáo dục đã đưa ra khái niệm
“Biểu tượng là hình ảnh của sự vật, hiện tượng của thế giới khách quan được giữ lại trong ý thức và hình thành trên cơ sở các cảm giác và tri giác xảy ra trước đó”
Trong quá trình tri giác thế giới bên ngoài, con người phản ánh các sự vật và hiện tượng xung quanh mình dưới dạng hình ảnh của nó, và sự phản ánh đó mang tắnh trực quan Các hình ảnh mang tắnh trực quan đó luôn tác động lên các cõ quan thụ cảm khác nhau của hệ thần kinh, nó phản ánh vào trong ý thức những đặc điểm bên ngoài của những sự vật, hiện tượng mà ta tri giác Những hình ảnh này sẽ được duy trì trong một khoảng thời gian nhất định trong ý thức của người tri giác được Với quan điểm trên P.A.Ruđich cho rằng “Biểu tượng là những hình ảnh của các sự vật và hiện tượng của thế giới xung quanh được giữ lại trong ý thức và được hình thành trên cơ sở các tri giác và các cảm giác xảy ra trước đó” [27;172] Biểu tượng có quan hệ hữu cơ với tất cả các quá trình tâm lý khác như tư duy, cảm xúc, hành động Mối liên kết này sẽ làm cho hình ảnh được tri giác trở nên đầy đủ hơn, phong phú hơn Tuy nhiên, trong thực tế các biểu tượng thường mờ nhạt, kém rõ ràng và rành mạch hơn tri giác; biểu tượng có tính biến dị, tức trong biểu tượng màu sắc, hình dáng, kích thước của vật được biểu tượng có thể thay đổi; hơn nữa, những dấu hiệu về sự vật, hiện tượng đã được tri giác có thể không có trong biểu tượng Những hình ảnh của các sự vật, hiện tượng được giữ lại trong biểu tượng chúng phản ánh mặt bên ngoài của hiện thực, nhưng cũng có trường hợp nhờ tư duy nó phản ánh cả những đặc điểm bên trong của sự vật, hiện tượng mà các cơ quan thụ cảm không tri giác trực tiếp và cụ thể được
Như vậy, biểu tượng là hình ảnh của những sự vật, hiện tượng của thế giới xung quanh, cùng với các tính chất của chúng được tái hiện, được hình dung lại trên cơ sở cảm giác và tri giác đã xảy ra trước đó Biểu tượng là một trong những hình thức quan trọng của sự phản ánh chủ quan hiện thực khách quan Biểu tượng không hoàn toàn là thực tế, đôi lúc đó là sự tưởng tượng, ảo tưởng, bởi vì đó là thực tế được xây dựng lại sau tri giác Tuy nhiên, những hình ảnh đó cũng không hoàn toàn là kết quả chủ quan xuất phát từ những hoạt động tâm lí của chủ thể
- Khái niệm “Biểu tượng lịch sử”
Do đặc trưng của nhận thức lịch sử, học tập lịch sử là sự nhận thức những cái đã qua, những điều đã diễn ra trong quá khứ, nó không tồn tại trên thực tế mà chỉ còn lại những dấu vết, những hình ảnh khách quan nên ta không thể trực tiếp quan sát được Do vậy, muốn học tập môn lịch sử trước hết phải bắt đầu từ việc nắm sự kiện và tạo biểu tượng lịch sử, tức thông qua những nguồn sử liệu để tái tạo lại quá khứ
Lịch sử là quá trình hình thành và phát triển của xã hội loài người, nên những sự kiện, hiện tượng lịch sử mà chúng ta nhắc đến đều là những chuyện đã qua, là quá khứ, do đó học sinh rất khó hình dung và tiếp nhận Giúp học sinh nhận thức đúng đắn lịch sử thì người giáo viên phải nắm bắt kiến thức chắc chắn và phải phong phú để có thể tạo biểu tượng một cách khoa học, giàu hình ảnh và chính xác, để xây dựng cho các em một bức tranh quá khứ chân thực, dễ hiểu Bởi vì, “yêu cầu cơ bản của dạy học lịch sử là phải tái tạo lại những hình ảnh về các sự kiện đúng như nó tồn tại, mà những sự kiện đó, học sinh không được trực tiếp quan sát, xa lạ với đời sống hiện nay, với kinh nghiệm và hiểu biết của các em” [ 12;51 ] Để có những hình ảnh lịch sử chính xác, cụ thể thì cần phải có nguồn sử liệu, những di chỉ khảo cổ học, những dấu vết của quá khứ, hay tài liệu từ những công trình nghiên cứu của các nhà sử học… đóng vai trò không thể thiếu Như vậy, có thể hiểu “Biểu tượng lịch sử là hình ảnh về những sự kiện, nhân vật lịch sử, điều kiện địa lí…được phản ánh trong óc học sinh với những nét chung nhất, điển hình nhất” [9;189]
Việc tạo biểu tượng lịch sử cho học sinh là một vấn đề khó khăn, các biện pháp, thao tác sư phạm khi tạo biểu tượng phải làm cho học sinh như chứng kiến sự kiện đang xảy ra mà các em không hề biết đến ở một thời gian xa xưa, ở một không gian vô cùng rộng lớn Do vậy, trong quá trình tạo biểu tượng “giáo viên phải làm cho các sự kiện lịch sử khách quan xích gần với khả năng hiểu biết của các em” [
9;189 ] Tuy nhiên, cần phải lưu ý là muốn hiểu biết thực chất về lịch sử thì cần phải biết cả cấu trúc lẫn kết cấu của nó, phải tìm cách làm cho những hiện tượng lịch sử được phơi bày trước mắt học sinh Tức là “không chỉ dừng ở việc miêu tả bề ngoài mà còn đi sâu vào bản chất sự kiện, nêu đặc trưng, tính chất của sự kiện” [ 5;35 ] Để có được biểu tượng chính xác, cụ thể phụ thuộc rất lớn vào mức độ tri giác sự kiện ở giai đoạn trước đó Đến lượt mình biểu tượng lịch sử có ý nghĩa quyết định đến mức độ chính xác của khái niệm lịch sử “Nội dung của các hình ảnh lịch sử, của bức tranh quá khứ càng phong phú bao nhiêu thì hệ thống khái niệm mà học sinh thu nhận được càng vững chắc bấy nhiêu” [ 12;51 ] Do đó, biểu tượng lịch sử có ý nghĩa giáo dục lớn đối với học sinh, tác động đến tư tưởng, tình cảm, nhận thức của các em theo nhiều chiều hướng khác nhau
1.1.1.2 Văn hóa và văn hóa vật chất
Theo thống kê của UNESCO, hiện nay có khoảng 400 định nghĩa khác nhau về văn hóa, điều này cho thấy việc xác định khái niệm văn hóa không phải là điều đơn giản Từ ngàn xưa, ở Phương Tây cũng như Phương Đông, đã có rất nhiều người đề cập, thậm chí tranh cãi liên quan đến vấn đề văn hóa Phải xác nhận một thực tế rằng: có bao nhiêu nhà nghiên cứu văn hóa thì có bấy nhiêu định nghĩa về văn hóa
Văn hóa là khái niệm mang nội hàm rộng với rất nhiều cách hiểu khác nhau, liên quan đến mọi mặt đời sống vật chất và tinh thần của con người và rất được quan tâm, bởi bản thân nó ẩn chứa một ngoại diện rộng lớn, là sự sáng tạo của con người từ cái nhỏ nhất đến cái lớn nhất trên mọi lĩnh vực sinh tồn Tuy được dùng theo nhiều nghĩa khác nhau và nhiều cách hiểu khác nhau, nhưng suy cho cùng khái niệm văn hóa bao giờ cũng quy về hai cách hiểu chính là: theo nghĩa hẹp và theo nghĩa rộng
+ Theo nghĩa hẹp, văn hóa được giới hạn theo chiều sâu hoặc chiều rộng, theo không gian hoặc theo thời gian…, hay văn hóa là chỉ một lĩnh vực nào đó của kiến thức như (về toán học, về y học, về hội họa,…), hoặc đó là sự hiểu biết về lối sống và cách ứng xử với môi trường tự nhiên, môi trường xã hội
+ Theo nghĩa rộng, văn hóa là bao gồm tất cả, là tất cả những gì do con người sáng tạo ra, từ những sản phẩm tinh vi hiện đại cho đến phong tục, tập quán, lối sống, lao động sản xuất đến ngôn ngữ, chữ viết, pháp luật,…
Theo định nghĩa của Chủ tịch Hồ Chí Minh thì: “Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu của đời sống và đòi hỏi của sinh tồn” [ 15;431]
Hai từ “văn hóa” nghe qua có vẻ dễ hiểu nhưng thực chất, cụ thể về nó thì lại rất mơ hồ Giáo sư Phan Ngọc cho rằng “Không có cái vật gì gọi là văn hóa cả, và ngược lại, bất cứ mặt gì cũng có cái mặt văn hóa Văn hóa là một quan hệ, là quan hệ giữa thế giới biểu tượng với thế giới thực tại Quan hệ ấy biểu hiện thành một kiểu lựa chọn riêng của một tộc người, một cá nhân so với một tộc người khác, một cá nhân khác”
Thực trạng việc tạo biểu tượng văn hóa vật chất trong dạy học lịch sử ở trường THPT hiện nay
Không chỉ trước đây mà trong cả thời đại hiện nay, đặc biệt là đang trong xu thế toàn cầu hóa thì bộ môn lịch sử đã giữ vai trò quan trọng trong việc giáo dục đạo đức, nhân cách con người và giáo dục truyền thống yêu nước, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, cái gốc của giống nòi,…Một người am hiểu lịch sử thì mới được xem là người hoàn thiện về văn hóa Chính vì vậy, nhà văn Nga Tsecnusepski đã viết “Có thể không biết, không say mê học tập môn toán, tiếng Hi Lạp hoặc Latinh, hóa học, có thể không biết hàng nghìn môn khoa học khác, nhưng dù sao đã là người có giáo dục mà không yêu thích lịch sử thì chỉ có thể là một con người không phát triển đầy đủ về trí tuệ” [28;32] Điều đó cho thấy môn lịch sử có tầm quan trọng như thế nào trong xã hội nói chung và trong giáo dục tại trường phổ thông nói riêng Nhưng một thực tế đáng lo ngại hiện nay chính là môn lịch sử chưa phát huy được hết ưu thế của nó trong vai trò giáo dục con người, vẫn còn tình trạng đánh giá thấp vai trò của môn lịch sử ở một phộ phận phụ huynh, học sinh và cả giáo viên,…Vẫn còn tình trạng cho rằng môn lịch sử là “môn phụ”, không quan trọng, không cần thiết Thậm chí trong các kì tuyển sinh đại học, cao đẳng bài dự thi môn lịch sử có rất nhiều bài dưới điểm 5 và kiến thức về lịch sử thì sai lệnh một cách đáng tiếc
Qua quá trình trò chuyện với một số giáo viên, học sinh và phụ huynh học sinh chúng tôi được biết rằng phần lớn các bậc phụ huynh đều hướng con mình đi theo ngành nghề có tương lai như các môn (toán, lý, hóa, ), vì đây là những môn tự nhiên nếu các em theo đuổi thì sẽ tốt cho tương lai các em sau này Do đó, các phụ huynh ít khuyên con em mình chú trọng đến việc học tập môn lịch sử và đó cũng chính là quan điểm của phần lớn học sinh ở các trường phổ thông hiện nay Ngoài ra các em còn cho rằng, học môn lịch sử khá nhàm chán và khô khan vì có rất nhiều các sự kiện, chép bài thì nhiều, điều đó làm cho các em khó nhớ, khó tiếp thu, và cảm thấy mệt mỏi Vậy nguyên nhân do đâu khiến các em cảm thấy nhàm chán khi học môn lịch sử như vậy? Qua quá trình trao đổi, tiếp xúc với học sinh, chúng tôi đã thấy rằng nguyên nhân quan trọng gây nên hiện trạng này chính là một phần là do bản thân của các em; mặt khác cũng là do sự chi phối của gia đình và nguyên nhân quan trọng đó chính là phương pháp dạy của giáo viên Phương pháp dạy của giáo viên ảnh hưởng trực tiếp đến việc tiếp thu kiến thức của học sinh và các em có hứng thú đối với môn học hay không cũng phụ thuộc vào cách dạy, cách truyền đạt của giáo viên Thế nhưng tâm lý, suy nghĩ của phụ huynh và học sinh cũng có phần tác động ngược trở lại đối với người giáo viên Qua các kì tuyển sinh đại học, cao đẳng thì số lượng thí sinh tham gia thi ngành tự nhiên thì nhiều nhưng ngành xã hội thì ít, không những thế điểm thi đối với môn sử là đặc biệt thấp Do đó, nó cũng tạo nên tâm lý không coi trọng bộ môn mình giảng dạy đối với giáo viên Chính điều đó khiến các giáo viên lơ là trong việc đổi mới phương pháp dạy học, trong việc soạn giáo án Có rất nhiều giáo viên chỉ soạn giáo án một lần nhưng sử dụng nhiều lần, áp dụng cho mọi lớp trong một khối, điều đó là không đúng về mặt phương pháp và không đảm bảo là phù hợp với đối tượng học sinh Nhìn chung, nhiều giáo viên trong quá trình dạy học chỉ làm công việc là truyền đạt nội dung trong sách giáo khoa, sự truyền đạt ấy nhiều khi còn thiếu hình thức tạo biểu tượng, thiếu đồ dùng trực quan dẫn đến thiếu sinh động Ngoài ra, cũng có nhiều giáo viên sa vào việc truyền đạt kiến thức một cách dàn trải, không làm nổi bật được nội dung kiến thức cơ bản,…Điều đó làm cho các sự kiện lịch sử như lắng chìm, bài học trở nên khô cằn và các em khó tiếp thu, thậm chí tiếp thu một cách thụ động, các sự kiện lịch sử các em vẫn có nhớ tuy nhiêm những sự kiện đó tồn tại trong đầu óc các em chưa thật sự bền và vững chắc Vì vậy, chất lượng dạy và học lịch sử bị sút kém đáng kể Để có thể tạo hứng thú của học sinh đối với môn sử và nâng cao vai trò của bộ môn này tại nhà trường phổ thông, cùng với việc đổi mới nội dung sách giáo khoa thì việc đổi mới và nâng cao phương pháp dạy của giáo viên là một việc rất cần thiết Trong quá trình hình thành tri thức lịch sử cho học sinh tại trường phổ thông thì việc tạo biểu tượng là một khâu quan trọng Việc tạo biểu tượng nói chung hay biểu tượng văn hóa vật chất nói riêng có ý nghĩa về mặt giáo dục, giáo dưỡng và phát triển cho học sinh Tuy nhiên, trong quá trình dạy học lịch sử ở trường phổ thông hiện nay thì việc tạo biểu tượng văn hóa vật chất vẫn chưa được chú ý đúng mức Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi đã điều tra, khảo sát tại nhiều trường phổ thông và đã trực tiếp tìm hiểu một số trường phổ thông trên địa bàn thành phố Đà Nẵng như trường THPT Ông Ích Khiêm, THPT Hòa Vang, THPT Phạm Phú
Thứ Kết quả của quá trình điều tra đối với thực trạng việc dạy-học lịch sử và tạo biểu tượng văn hóa vật chất trong dạy học lịch sử như sau:
Qua việc điều tra một số giáo viên có trình độ chuyên môn và đã giảng dạy nhiều năm, chúng tôi nhận thấy rằng vấn đề tạo biểu tượng văn hóa vật chất trong dạy học lịch sử, đặc biệt là lịch sử thế giới lớp 10 các giáo viên đã có áp dụng việc tạo biểu tượng, nhưng việc này vẫn còn nhiều hạn chế Qua quá trình trao đổi thì một số giáo viên cũng cho ý kiến rằng việc tạo biểu tượng thì cần thiết, nhưng đôi lúc cần chú trọng đến nội dung kiến thức hơn vì thời lượng của một tiết học chỉ có 45’ Chúng tôi cũng thấy rằng, nhiều giáo viên có lúc chỉ nêu tên của một công trình vật chất nào đó nhưng không giới thiệu hình ảnh và không thuyết minh cho các em thấy Phần lớn các tiết dạy của giáo viên chỉ đưa kiến thức vào trí óc của các em, cũng có giáo viên truyền đạt kiến thức một cách sa đà và không có thời gian để tạo biểu tượng cho học sinh, tuy các giáo viên có tạo biểu tượng nhưng việc tạo biểu tượng về văn hóa vật chất thì còn hạn chế Điều đó không tạo được sự hứng thú cho các em Nguyên nhân trực tiếp cho tình trạng này đó là do thời gian không có, tiết học 45’ mà nội dung bài học thì nhiều, cũng một phần là do cơ sở vật chất của nhà trường để vận dụng cho việc tạo biểu tượng còn ít so với yêu cầu, về vẫn đề này thì có tới 66,7 % cho rằng đồ dùng ở trường quá ít so với yêu cầu bài học Còn số người cho rằng những đồ dùng đã phù hợp với yêu cầu của bài học thì chỉ chiếm 33,3 % Theo chúng tôi, thì một phần cũng là do giáo viên ngại khó trong việc tìm kiếm, sưu tầm tranh ảnh và những tư liệu liên quan để tạo biểu tượng và gây hứng thú cho các em Điều này đặt ra yêu cầu là giáo viên cần phải có nhận thức đúng đắn về vai trò của việc tạo biểu tượng nói chung và biểu tượng văn hóa vật chất nói riêng trong dạy học lịch sử Cần phải có những biện pháp cụ thể trong việc tạo biểu tượng cho các em Bởi vì, biểu tượng, hình ảnh là cái kích thích được hứng thú học tập của học sinh, là cách tốt nhất để thu hút được sự tập trung chú ý của các em đối với môn học
* Về phía học sinh: Đa số các em học sinh đều cho ý kiến là mình không thích học môn lịch sử, bởi vì có quá nhiều sự kiện và đó là quá khứ nên các em không hiểu, lịch sử lại khô khan, nội dung chữ thì nhiều nên các em không thích, thậm chí còn thấy nặng nề Hơn nữa, các em cũng cho rằng giờ học lịch sử không sôi động, không hứng thú và điều đó không lôi cuốn được các em vào bài học Chúng tôi cho rằng, có tình trạng này thì một phần cũng là do cách dạy của giáo viên đã không gây được hứng thú cho các em Lịch sử nước nào thì cũng có những công trình văn hóa vật chất của riêng họ, vậy thì khi giảng dạy cho các em chúng tôi nghĩ việc tạo biểu tượng văn hóa vật chất, kết hợp với những mẫu chuyện kể, điều đó sẽ có ý nghĩa thiết thực trong việc kích thích sự đam mê, hứng thú của các em đối với môn học
Về mức độ nắm kiến thức lịch sử của học sinh: Để có thể nắm rõ điều này, chúng tôi đã tiến hành cho làm bài kiểm tra 15’ tại 3 trường THPT trên địa bàn thành phố Đà Nẵng với số lượng là 144 học sinh tại 3 trường Nội dung chúng tôi kiểm tra là vốn kiến thức lịch sử các em đã học qua Đề tài nghiên cứu liên quan đến việc tạo biểu tượng văn hóa vật chất nên chúng tôi đặt câu hỏi xoay quanh về nền văn hóa vật chất trong phần lịch sử thế giới Kết quả thu được là 68% học sinh đạt từ điểm 5 trở lên, trong đó chỉ có 2,7% học sinh đạt được điểm 9 và 10; còn lại 32% là học sinh dưới điểm trung bình, tức dưới điểm 5, trong đó có tới 8,7% học sinh có điểm yếu kém, còn lại là điểm 4 và 5 Điều đó cho thấy chất lượng học tập của học sinh chưa cao Nguyên nhân dẫn đến tình trạng này thì do nhiều yếu tố chi phối, có thể là do vốn kiến thức của các em về lịch sử chưa được vững chắc và không được hệ thống lại, có thể là do các em không có nhiều tài liệu tham khảo, hoặc do ý thức, động cơ học tập từ bản thân các em chưa cao Nhưng nguyên nhân quan trọng và ảnh hưởng trực tiếp đến việc này là do giáo viên chưa chú trọng đúng mức đến việc tạo biểu tượng văn hóa vật chất, những công trình văn hóa cho học sinh trong quá trình giảng dạy Điều đó làm cho các em không nắm bắt được và dẫn đến tình trạng là bị hỏng kiến thức lịch sử
Qua thực tiễn nêu trên, chúng tôi nhận thấy rằng việc tạo biểu tượng văn hóa vật chất trong dạy học lịch sử nói chung và dạy học lịch sử thế giới nói riêng vẫn chưa được chú ý đúng mức Hệ quả của việc này là học sinh còn chưa nắm vững về kiến thức lịch sử đã học, đặc biệt là về những công trình văn hóa vật chất Vì vậy, việc nghiên cứu và đề xuất vận dụng các biện pháp tạo biểu tượng văn hóa vật chất trong dạy học lịch sử là vấn đề có ý nghĩa thiết thực và cần thiết cho thực trạng dạy và học lịch sử ở trường THPT hiện nay Ư N 2: Ệ THỐNG CÁC LO I BIỂU TƯỢN VĂN ÓA VẬT CHẤT
SỬ DỤNG TRONG D Y HỌC LỊCH SỬ THẾ GIỚI (LỚP 10- Ư N
Phần lịch sử thế giới trong chương trình lịch sử lớp 10- hương trình chuẩn
Lịch sử xã hội loài người hình thành và phát triển từ xã hội cộng sản nguyên thủy đến thế giới hiện đại ngày nay đã trải qua hàng vạn năm Sự phát triển hợp quy luật như một quá trình tự nhiên, trải qua các phương thức sản xuất từ thấp đến cao: xã hội nguyên thủy, xã hội nô lệ, xã hội phong kiến, xã hội tư bản chủ nghĩa và xã hội xã hội chủ nghĩa Khóa trình lịch sử thế giới trong chương trình lịch sử lớp 10 (chương trình chuẩn) có thể được phân ra làm hai phần Phần thứ nhất là lịch sử thế giới thời nguyên thủy và cổ trung đại, phần thứ hai là đề cập đến lịch sử thế cận đại
* Phần lịch sử thế giới thời nguyên thủy, cổ đại và trung đại:
Lịch sử thời đại cộng sản nguyên thủy bắt đầu từ khi con người xuất hiện và xã hội loài người ra đời Đây là thời đại xa xôi nhất, lâu dài nhất trong số các thời đại lịch sử mà loài người đã trải qua Sự xuất hiện của loài người, quá trình chuyển hóa từ người tối cổ sang người hiện đại, sự hình thành công xã thị tộc với những tiến bộ về công cụ đá mới, tổ chức xã hội, sự phát triển của nền kinh tế: trồng trọt, chăn nuôi ra đời Đồ kim loại ra đời, kinh tế nông, công, thương nghiệp phát triển, tư hữu xuất hiện, xã hội có giai cấp và nhà nước hình thành, xã hội nguyên thủy tan rã
Sự hình thành, phát triển của xã hội cổ đại thông qua hai mô hình chủ yếu (xã hội cổ đại phương Đông và xã hội cổ đại Hy Lạp – Rôma)
+ Châu Á và Đông Bắc Châu Phi là những nơi đầu tiên xuất hiện những nền văn minh cổ xưa nhất của loài người Được thiên nhiên ưu đãi, đất đai phì nhiêu, màu mỡ, kinh tế nông nghiệp phát triển (nguồn sống chính), các quốc gia cổ đại Phương Đông lần lượt được hình thành: Ai Cập, Lưỡng Hà, Ấn Độ, Trung Hoa Trải qua quá trình hình thành và phát triển các quốc gia này đã trở thành cái nôi của nền văn minh nhân loại Mô hình tổ chức nhà nước, những nền văn hóa vật chất và tinh thần được sáng tạo mang sự phong phú và đa dạng, ảnh hưởng ra các khu vực xung quanh
+ Ở khu vực Địa Trung Hải cổ đại, một cái hồ lớn với nhiều vịnh, hải cảng,…sự giao lưu trao đổi hàng có được thuận lợi, hoạt động hàng hải phát triển, và các quốc gia cổ đại Phương Tây đã ra đời trên cơ sở này, điển hình là quốc gia
Hy Lạp và Rô Ma cổ đại Sự phát triển chủ yếu do yếu tố địa lí chi phối, nền kinh tế phát triển với trình độ cao về sản xuất với công cụ chủ yếu là đồ sắt, và sự buôn bán trên biển Trình độ sáng tạo văn hóa đạt đến đỉnh cao, mang đậm nét và có phạm vi ảnh hưởng rộng lớn
Quá trình hình thành, phát triển và suy tàn của xã hội phong kiến, với xã hội phong kiến ở Phương Đông và xã hội phong kiến ở Tây Âu
+ Do những điều kiện lịch sử cụ thể, chế độ phong kiến ở Phương Đông (tập trung ở Châu Á) có những đặc trưng riêng, điển hình có Trung Quốc, Ấn Độ và Đông Nam Á Bộ máy nhà nước ở chủ yếu được tổ chức theo chính thể quân chủ chuyên chế Ở Trung Quốc, xã hội phong kiến bắt đầu được hình thành từ khi Tần Thủy Hoàng thống nhất Trung Quốc (năm 221 TCN), và suy yếu khi triều đại Mãn Thanh lâm vào tình trạng khủng hoảng (1645-1911), giữa thế kỷ XIX các cường quốc thực dân Âu –Mỹ nhảy vào xâm lượt, xã hội phong kiến Trung Quốc suy tàn, Trung Quốc bắt đầu biến thành một nước nửa phong kiến, nửa thuộc địa Sự phát triển của xã hội phong kiến Trung Quốc được thể hiện qua nhiều triều đại thống trị khác nhau Dưới thời phong kiến, nền văn hóa Trung Quốc phát triển rực rỡ đặc biệt là dưới thời nhà Đường, sự phát triển của nền văn hóa trên hầu hết các lĩnh vực từ tư tưởng, tôn giáo đến sử học, văn học, nghệ thuật,… Ở Ấn Độ, có hai con sông rộng lớn là sông Ấn và sông Hằng quanh năm bù đắp phù sa màu mỡ tạo điều kiện phát triển nông nghiệp, đây là quê hương, nơi sinh trưởng nền văn hóa truyền thống của văn minh Ấn Độ Đất nước Ấn Độ cũng trải qua sự trị vì của nhiều vương triều khác nhau Văn hóa Ấn Độ đa dạng, phong phú và sáng tạo Nó đã ảnh hưởng sâu sắc đến sự phát triển văn hóa của nhiều dân tộc Phương Đông, trong đó có Việt Nam Ấn Độ là mảnh đất, quê hương của nhiều tôn giáo (đạo Phật, đạo Bà la môn, đạo Hinđu, đạo Jaina) và những tư tưởng triết học Văn hóa Ấn mang đậm nét tôn giáo, điều này được thể hiện rất rõ qua những công trình kiến trúc Ở Đông Nam Á do điều kiện tự nhiên nên kinh tế nông nghiệp lúa nước rất có điều kiện phát triển
Từ những thế hỷ đầu của Công nguyên, các vương quốc cổ đầu tiên ở Đông Nam Á đã được hình thành, khoảng thế kỷ IX – X thì các quốc gia phong kiến ở đây được xác lập và phát triển thịnh đạt cho tới nửa đầu thế kỷ XVIII Chịu ảnh hưởng sâu sắc của nền văn hóa Ấn, đặc biệt là về tôn giáo, chữ viết
+ Các quốc gia phong kiến ở Châu Âu ra đời trên cơ sở sự tan rã của chế độ chiếm hữu nô lệ, kết hợp với sự tan rã của chế độ công xã nguyên thủy của người Giecmanh Cụ thể là năm 476, đế quốc Rôma bị diệt vong, chế độ chiếm nô kết thúc, chế độ phong kiến ở Châu Âu bắt đầu hình thành Xuất hiện nền kinh tế theo kiểu lãnh địa phong kiến, mỗi lãnh địa là một cơ sở của nền kinh tế tự nhiên, đóng kiến và là một đơn vị chính trị độc lập Nhà vua thực chất cũng là một lãnh chứa lớn Chế độ phong kiến ở đây theo kiểu phân quyền Sự xuất hiện của các thành thị trung đại đóng vai trò quan trọng trong việc phá bỏ chế độ phong kiến phân quyền, xây dựng chế độ phong kiến tập quyền, thống nhất quốc gia dân tộc, tạo tiền đề cho sự ra đời của mầm mống kinh tế tư bản chủ nghĩa Chế độ phong kiến ở Châu Âu dần dần bị tan rã khi những cuộc phát kiến địa lí được tiến hành, sự nảy sinh chủ nghĩa tư bản, sự đấu tranh chống phong kiến của giai cấp tư sản trong phong trào văn hóa phục hưng và trong cải cách tôn giáo
* Phần lịch sử thế giới cận đại:
Hệ thống những kiến thức cơ bản của phần lịch sử thế giới cận đại trong chương trình lịch sử lớp 10 chủ yếu tập trung vào các cuộc cách mạng tư sản, sự ra đời và phát triển của chủ nghĩa tư bản, sự bành trướng thuộc địa của các nước đế quốc và sự hình thành, phát triển của phong trào công nhân quốc tế Cụ thể như sau: + Từ giữa thế kỷ XVI đến cuối thế kỷ XVIII: Diễn ra các cuộc cách mạng tư sản Cách mạng tư sản Hà Lan nổ ra và giành thắng lợi, Hà Lan trở thành trung tâm kinh tế thương mại lớn, có đội thương thuyền mạnh và buôn bán khắp nơi Cách mạng tư sản Anh nổ ra và giành thắng lợi đã lật đổ chế độ phong kiến, mở đường cho chủ nghĩa tư bản phát triển ảnh hưởng lớn đến tiến trình lịch sử thế giới và sự phát triển của xã hội loài người Cuộc chiến tranh giành độc lập ở Bắc Mỹ là cuộc cách mạng tư sản nổ ra và giành thắng lợi ngoài Châu Âu Tiếp theo là cuộc cách mạng tư sản Pháp giành thắng lợi, mở đường cho chủ nghĩa tư bản phát triển
+ Từ đầu thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX: Những cuộc cách mạng trên nổ ra và giành thắng lợi, đến cuộc cách mạng công nghiệp ở Anh thì đủ điều kiện để khẳng định rằng chủ nghĩa tư bản đã thật sự trở thành hệ thống thế giới Bắt đầu sự bành trướng mở rộng lãnh thổ, xâm chiếm thuộc địa Cũng trong khoảng thời gian này phong trào công nhân quốc tế được hình thành và phát triển Sự ra đời của chủ nghĩa xã hội khoa học với những nhà sáng lập là Mác và Ăng ghen…
Nội dung của khóa trình lịch sử thế giới được khái quát đó là lịch sử xã hội loài người thời nguyên thủy, đến các quốc gia cổ đại phương Đông, Phương Tây, và nền văn hóa của các quốc gia này Sự hình thành và tan rã của chế độ phong kiến
Sự xuất hiện mầm mống của chủ nghĩa tư bản, sự bùng nổ của các cuộc cách mạng tư sản, và sự ra đời ra phong trào công nhân, phong trào cộng sản quốc tế
2.1.2 Vị trí, mục tiêu của phần lịch sử thế giới trong chương trình lịch sử lớp 10
* Vị trí của khóa trình:
Trong chương trình lịch sử lớp 10 (chương trình chuẩn), khóa trình lịch sử thế giới gồm 24 bài và phân bố ra 31 tiết :
Bài 1: Sự xuất hiện loài người và bầy người nguyên thủy (1 tiết)
Bài 2: Xã hội nguyên thủy (1 tiết)
Bài 3: Các quốc gia cổ đại Phương Đông (2 tiết)
Bài 4: Các quốc gia cổ đại Phương Tây – Hy Lạp và Rô ma (2 tiết)
Bài 5: Trung Quốc thời phong kiến (2 tiết)
Bài 6: Các quốc gia Ấn và văn hóa truyền thống Ấn Độ (1 tiết)
Bài 7: Sự phát triển lịch sử và nền văn hóa đa dạng của Ấn Độ (1 tiết)
Bài 8: Sự hình thành và phát triển các vương quốc chính ở Đông Nam Á (1 tiết) Bài 9: Vương quốc Campuchia và vương quốc Lào (1 tiết)
Bài 10: Thời kì hình thành và phát triển của chế độ phong kiến Tây Âu (1 tiết) Bài 11: Tây Âu thời hậu kì trung đại (2 tiết)
Bài 12: Ôn tập lịch sử thế giới nguyên thủy, cổ đại và trung đại (1 tiết)
Bài 29: Cách mạng Hà Lan và cách mạng tư sản Anh (1 tiết)
Bài 30: Chiến tranh giành độc lập của các thuộc địa Anh ở Bắc Mĩ (1 tiết) Bài 31: Cách mạng tư sản Pháp cuối thế kỷ XVII (2 tiết)
Bài 32: Cách mạng công nghiệp ở Châu Âu (1 tiết)
Bài 33: Hoàn thành cách mạng tư sản ở Châu Âu và Mĩ giữa thế kỷ XIX (2 tiết) Bài 34: Các nước tư bản chuyển sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa (1 tiết) Bài 35: Các nước Anh, Pháp, Đức, Mĩ và sự bành trướng thuộc địa (2 tiết) Bài 36: Sự hình thành và phát triển của phong trào công nhân (1 tiết)
Bài 37: Mác và Ăng ghen Sự ra đời của chủ nghĩa xã hội khoa học (1 tiết) Bài 38: Quốc tế thứ nhất và công xã Pari 1871 (1 tiết)
Bài 39: Quốc tế thứ hai (1 tiết)
Bài 40: Lê-nin và phong trào công nhân Nga đầu thế kỷ XX (1 tiết)
Trong tiến trình phát triển của lịch sử thế giới thì thời đại nguyên thủy, cổ trung và cận đại đóng một vai trò quan trọng không thể thiếu trong việc phát họa lại bức tranh của lịch sử, của quá khứ Thông qua khóa trình này con người mới biết được nguồn gốc thật sự của mình, biết được dấu vết của con người xuất hiện sớm nhất ở khu vực, quốc gia nào, biết được sự phát triển đi lên hợp quy luật của xã hội loài người thông qua 5 hình thức xã hội và tương đương với 5 phương thức sản xuất.Thời đại nguyên thủy đây là giai đoạn tạo tiền đề, cái móng để cho các giai đoạn sau có cơ sở tồn tại và được củng cố Thông qua thời kì cổ và trung đại thì con người mới biết được cơ sở nào để nhà nước ra đời và sự khác nhau giữa mô hình xây dựng nhà nước giữa Phương Đông và Phương Tây Biết được những nền văn minh của nhân loại bắt đầu từ đâu, với những thành tựu gì và ảnh hưởng như thế nào đến nền văn hóa của dân tộc và đối với nhân loại Biết được chế độ phong kiến được hình thành và tan rã như thế nào, cũng như vai trò của vị vua trong việc tổ chức bộ máy nhà nước Chúng ta sẽ biết được những cuộc cách mạng tư sản tiêu biểu trên thế giới thông qua thời kì cận đại, biết được do đâu mà chủ nghĩa tư bản được xác lập và điều kiện nào để chủ nghĩa tư bản bắt đầu mở rộng xâm chiếm lãnh thổ,…Đây là một khóa trình quan trọng với việc nhận thức môn lịch sử, và đặc biệt là đối với tiến trình lịch sử thế giới, đó là một sự phát triển hợp quy luật, có lôgic Tuy nhiên, điểm đặc biệt ở đây là khóa trình này trong chương trình lịch sử lớp 10 lại bị chia cắt Phần lịch sử thế giới không được trình bày một cách lôgic mà nó có sự chia cắt bởi phần lịch sử Việt Nam ở giữa chương trình Từ phần một
Những nguyên tắc cơ bản của việc tạo biểu tượng văn hóa vật chất trong dạy học lịch sử
Trong quá trình hình thành tri thức lịch sử cho học sinh thì việc tạo biểu tượng là yêu cầu không thể thiếu Việc tạo biểu tượng sẽ làm cho bài giảng của giáo viên phát huy được sự sinh động, thu hút và gây cảm xúc mạnh cho học sinh Không có biểu tượng lịch sử thì học sinh rất khó hình dung cụ thể về quá khứ xa xôi, đặc biệt là lịch sử thế giới, nó quá xa lạ đối với các em Việc tạo biểu tượng lịch sử còn là cơ sở cho tư duy của học sinh trong việc hiểu bản chất và đánh giá sự kiện lịch sử Tạo cho các em những cảm xúc về sự kiện, hiện tượng lịch sử,…khơi dậy ở học sinh sự hồi hộp xúc động, hứng thú hay hiếu kỳ,…điều đó làm tăng sự ham muốn của học sinh đối với việc học tập lịch sử và hình thành nhân cách của các em Tạo biểu tượng lịch sử nói chung và biểu tượng văn hóa vật chất nói riêng đã và đang đóng vai trò quan trọng và có nhiều ưu thế trong quá trình dạy học lịch sử Để phát huy được hết vai trò của việc này thì cần phải đảm bảo các nguyên tắc sau đây:
3.1.1 ảm bảo tính sư phạm Đây là một trong những nguyên tắc quan trọng của việc tạo biểu tượng văn hóa vật chất trong dạy học lịch sử Điều đầu tiên giáo viên cần lưu ý đó chính là có phương pháp tạo biểu tượng phù hợp và hiệu quả Đồng thời, giáo viên cần phải nắm được các loại biểu tượng văn hóa vật chất và có sự kết hợp với các loại biểu tượng lịch sử khác để bức tranh lịch sử được sinh động và thiết thực Bởi vì “Những biểu tượng lịch sử không tách rời nhau mà có mối quan hệ mật thiết với nhau tạo thành một hệ thống trọn vẹn về một bức tranh lịch sử” [9;191] Lịch sử xã hội loài người phát triển theo lôgic từ chế độ công xã nguyên thủy, chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư bản chủ nghĩa rồi đến xã hội xã hội chủ nghĩa Để học sinh thấy được về sự phát triển của xã hội loài người qua từng thời kì thì không chỉ việc tạo biểu tượng văn hóa vật chất mới làm rõ cho các em được Vì vậy, các biểu tượng lịch sử về hoàn cảnh địa lí, về nhân vật chính diện và phản diện, về nền văn hóa vật chất, về những mối quan hệ xã hội của con người giáo viên cũng cần phải nắm vững và khai thác tốt những biện pháp tạo biểu tượng Điều đó đóng vai trò to lớn trong việc học sinh có thể hình dung được lịch sử thế giới một cách đúng đắn hay không
Dạy học lịch sử, không chỉ liên quan riêng đến lịch sử mà nó còn liên quan đến rất nhiều lĩnh vực khác của xã hội như văn học, khảo cổ học, Do đó khi dạy lịch sử, khi tạo biểu tượng giáo viên cũng cần phải kết hợp với việc dạy học liên môn, áp dụng các lĩnh vực khác để bổ trợ, làm rõ bức tranh lịch sử cho các em Một yêu cầu không thể thiếu trong việc tạo biểu tượng lịch sử cho học sinh, đó là giáo viên phải nắm vững kiến thức, yêu cầu của chương trình và nội dung của môn học Có nắm vững kiến thức thì giáo viên mới có thể tái hiện được những sự kiện lịch sử đã xảy ra một cách chính xác được Mới có thể phân biệt được cho học sinh biểu tượng văn hóa vật chất này, văn hóa vật chất kia ra đời trong thời gian nào, thuộc nước nào,…Ví dụ như “Ăng-co-vat, Ăng-co-thom” giáo viên có nắm vững kiến thức thì mới biết nó là biểu tượng của nền văn hóa quốc gia Cam-pu- chia Như “rìu đá”, giáo viên có hiểu rõ thì mới biết nó thuộc về thời đồ đá cũ sơ kì,…
Việc giáo viên nắm vững tính sư phạm khi tạo biểu tượng văn hóa vật chất sẽ làm cho bài học lịch sử không còn khô khan, nhàm chán, xa lạ mà nó trở nên thú vị và hấp dẫn hơn, thu hút học sinh vào bài học hơn Do đó, tiết dạy và học lịch sử của giáo viên và học sinh sẽ trở nên thú vị và sẽ mang lại hiệu quả giáo dục cao hơn
3.1.2 ảm bảo tính khoa học
Ngoài việc phải đảm bảo tính sư phạm khi tạo biểu tượng lịch sử cho học sinh th giáo viên cũng cần phải đảm bảo là những kiến thức giáo viên cung cấp cho học sinh có tính chính xác và có khoa học Tính khoa học nghĩa là đảm bảo các kiến thức đó phải ngắn gọn nhưng xúc tích, là những nội dung cơ bản, chủ yếu để học sinh dễ tiếp thu
Khi tạo biểu tượng lịch sử, đặc biệt là tạo biểu tượng văn hóa vật chất trong dạy học lịch sử thì tính khoa học được đặt lên hàng đầu Tạo biểu tượng về văn hóa vật chất cần đảm bảo đúng nền văn hóa đó, công trình đó, phát minh đó ra đời vào thời gian nào, ở đâu Về vai trò, đóng góp của những công trình, phát minh đó đối với quốc gia, dân tộc nơi nó ra đời nói riêng và đối với nền văn hóa nhân loại nói chung như thế nào Khi tạo biểu tượng văn hóa vật chất cho học sinh thì giáo viên chỉ chọn những cái tiêu biểu, chủ yếu, mang tính đặc trưng để giới thiệu cho các em chứ không giới thiệu tràn lan và tất cả điều đó cần phải đảm bảo tính khoa học, không thể bịa đặt Hơn nữa, việc sử dụng đồ dùng trực quan trong quá trình tạo biểu tượng cho học sinh cũng cần phải đảm bảo tính khoa học và có lôgic, việc miêu tả, thuyết minh về những công trình kiến trúc, những phát minh cần bám sát kiến thức để cung cấp cho các em Đặc biệt là khi miêu tả cho các em về nền văn hóa vật chất của một nước nào đó, hay là thuộc một thời kì nào đó thì giáo viên giới thiệu cần phải có cơ sở, và nguồn kiến thức đó phải đảm bảo là tốt cho việc nhận thức của các em
Việc tạo biểu tượng một cách khoa học thì sẽ giúp cho học sinh có thể hình dung ra bức tranh lịch sử một cách chân thực, tránh tình trạng các em hiện đại hóa lịch sử Bởi vì, nếu giáo viên không tạo biểu tượng đúng và tạo biểu tượng không có khoa học thì học sinh sẽ không hình dung đúng quá khứ khách quan, do đó các em không thể hiểu được bản chất của lịch sử và rơi vào tình trạng “hiện đại hóa lịch sử” là điều không tránh khỏi Vì vậy, việc tạo biểu tượng về văn hóa vật chất, giúp các em từ chỗ biết đến việc hiểu sâu sắc và có thể đánh giá đúng bản chất về cuộc sống của con người qua từng thời kì lịch sử Đồng thời qua đó cũng góp phần giáo dục nhân cách và đạo đức của các em, cho các em nhận thức được sự phát triển của xã hội loài người là hợp với quy luật tự nhiên, và qua đó các em cũng sẽ có nhiều bài học kinh nghiệm rút ra cho ý tưởng xây dựng đất nước của mình,…
3.1.4 ảm bảo tính vừa sức
Học sinh là đối tượng, đồng thời cũng là chủ thể để giáo viên tác động giáo dục Người thầy giáo có vai trò hướng dẫn học sinh khai thác và tiếp thu kiến thức nhưng không phải trình độ học sinh nào cũng giống nhau, có em thông minh tiếp thu rất nhanh kiến thức, nhưng cũng có em rất chậm, tóm lại là trình độ của các em phát triển không đều Do đó, khi giảng dạy giáo viên cần phải lựa chọn những kiến thức phù hợp để cung cấp cho từng nhóm đối tượng học sinh, để đảm bảo em nào cũng hiểu bài và tiếp thu tốt kiến thức Chính vì vậy, trong việc tạo biểu tượng văn hóa vật chất thì tính vừa sức cũng không kém phần quan trọng
Khi tạo biểu tượng văn hóa vật chất thì những kiến thức mà giáo viên đưa vào phải đảm bảo là bám sát đến đối tượng học sinh, giáo viên phải cho các em thấy được những kiến thức cơ bản nào các em cần nắm và những kiến thức nào là cô mở rộng Cụ thể hơn đó là, trong một bài giảng nhưng giáo viên phải có những câu hỏi đơn giản, nhẹ nhàng để dành cho những học sinh cá biệt Tuy nhiên, cũng không phải là hỏi những câu quá dễ trong suốt bài học, bởi điều đó sẽ khiến cho những em học khá cảm thấy nhàm chán và có ý nghĩ “đó là những kiến thức mình biết nên mình không cần quan tâm” Do đó, khi tạo biểu tượng, giáo viên cần phải chú ý lựa chọn những kiến thức cần thiết, đúng và đầy đủ để cung cấp cho các em, tránh việc nhồi nhét kiến thức cho học sinh và tránh tình trạng bài giảng quá khô khan, nhàm chán Đồng thời, giáo viên nên sử dụng những ngôn ngữ gần gũi, chính xác, rõ ràng, ngắn gọn cho học sinh dễ hiểu, không nên dùng những từ ngữ quá trừu tượng, hoa mĩ vào bài học.
Những hình thức và biện pháp tạo biểu tượng văn hóa vật chất trong dạy học lịch sử thế giới lớp 10 (chương trình chuẩn) ở các trường T PT trên địa bàn thành phố à Nẵng
Việc tạo biểu tượng văn hóa vật chất trong dạy học lịch sử nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả của việc dạy học lịch sử ở trường phổ thông, đồng thời góp phần tích cực trong việc tạo hứng thú của các em đối với môn học Tạo biểu tượng văn hóa vật chất được sử dụng rộng rãi trong cả hai hình thức dạy học: nội khóa và ngoại khóa
3.2.1 ối với bài nội khóa
Trong bài nội khóa lịch sử, những kiến thức cung cấp cho học sinh được thể hiện trên nhiều mảng khác nhau: từ sự kiện lịch sử, đến các nhân vật lịch sử, những thành tựu của nền văn hóa, trong đó phải kể đến nền văn hóa vật chất – vật chứng cho sự sáng tạo của loài người qua các thời kì lịch sử Những thành tựu của nền văn hóa vật chất trong bài học nội khóa rất đa dạng và phong phú, do đó việc tạo biểu tượng văn hóa vật chất sẽ tạo điều kiện cho học sinh tiếp thu bài tốt hơn và nắm bắt kiến thức lịch sử dễ dàng, linh hoạt và các em dễ sâu chuỗi hơn Để làm rõ nội dung của bài nội khóa thì chúng tôi đề xuất ra hai hình thức: đó là đối với dạng bài ở trên lớp và với dạng bài ở thực địa, cụ thể trong mỗi dạng bài này đều có những biện pháp cụ thể khác nhau
Dạng bài ở trên lớp là loại cung cấp kiến thức chủ yếu cho học sinh trong quá trình học Nội dung của dạng bài này chính là những kiến thức cơ bản mà học sinh cần phải nắm vững để hiểu rõ về lịch sử, về những thời kì phát triển của lịch sử xã hội loài người Trong nội dung bài học của dạng bài ở trên lớp có rất nhiều loại biểu tượng văn hóa vật chất Do đó, việc tạo biểu tượng lịch sử cũng cần phải tuân thủ theo nguyên tắc dạy học, đồng thời tùy vào điều kiện cụ thể giáo viên có thể áp dụng những biện pháp khác nhau để tạo biểu tượng cho học sinh và đảm bảo cung cấp tốt kiến thức cho các em Những biện pháp đó như sau:
* Sử dụng đồ dùng trực quan kết hợp với miêu tả để tạo biểu tượng cho học sinh: Đây là biện pháp tối ưu và đem lại hiệu quả cao trong quá trình dạy học Với việc sử dụng đồ dùng trực quan kết hợp với miêu tả sẽ làm cho việc tiếp thu kiến thức của học sinh từ chỗ khó khăn trở nên dễ dàng và sự ghi nhớ về lịch sử trở nên bền vững và chính xác hơn Bởi đồ dùng trực quan có vai trò rất lớn trong việc giúp học sinh nhớ kỹ, hiểu sâu những hình ảnh, những kiến thức lịch sử Hình ảnh được giữ lại đặc biệt vững chắc trong trí nhớ của học sinh chính là hình ảnh các em thu nhận được bằng trực quan, cụ thể là hình ảnh về nền văn hóa vật chất với những công trình kiến trúc, những phát minh kĩ thuật Về phần miêu tả thì miêu tả là trình bày cụ thể những đặc trưng của một sự vật, hiện tượng lịch sử để từ đó làm rõ được cấu tạo bên trong cũng như hình dáng bên ngoài, đồng thời cũng toát lên được bản chất của chúng Do vậy, việc miêu tả và có sử dụng đồ dùng trực quan là nhằm phác họa bức tranh trọn vẹn về đối tượng được trình bày, mà ở đây cụ thể là bức tranh về lịch sử, bức tranh về quá khứ Để có thể vận dụng tốt biện pháp này giáo viên cần tiến hành các bước sau:
- Trước hết cần phải xác định đúng đối tượng cần được tạo biểu tượng và biểu tượng văn hóa vật chất đó phải là biểu tượng cơ bản, tiêu biểu phản ánh được nội dung của bài học Không nên tạo biểu tượng một cách dàn trải vì trong một bài học lịch sử thường có nhiều biểu tượng của nền văn hóa vật chất Ví dụ như bài “Cách mạng công nghiệp ở Châu Âu” những biểu tượng chủ yếu, quan trọng cần tạo cho học sinh đó là: máy kéo sợi Gien-ni, máy hơi nước,…
- Thứ hai: lựa chọn, sưu tầm đồ dùng trực quan sinh động phục vụ cho việc tạo biểu tượng như tranh ảnh, phim,…Hơn nữa, việc sử dụng đồ dùng trực quan không phải tiến hành qua loa mà cần có sự chuẩn bị trước và phải chú ý các nguyên tắc sau:
+ Phải phù hợp với nội dung của bài học lịch sử, đảm bảo yêu cầu giáo dưỡng, giáo dục và phù hợp với đối tượng học sinh
+ Đảm bảo phù hợp với điều kiện của giáo viên, của nhà trường
+ Đồ dùng trực quan không quá nhỏ, đảm bảo cho tất cả các học sinh đều quan sát được
+ Phải kích thích được khả năng tư duy của học sinh, thu hút được sự chú ý từ các em
+ Đảm bảo tính chính xác, khoa học và có thẩm mĩ
- Thứ ba: lựa chọn được biểu tượng, đồ dùng trực quan cần sử dụng bước tiếp theo giáo viên cần xây dựng bài miêu tả Bài miêu tả phải đảm bảo bám sát nội dung bài học và phù hợp với biểu tượng và đồ dùng trực quan đã chuẩn bị Bài miêu tả tùy vào thời lượng của giờ học, dung lượng của bài học mà chọn miêu tả khái quát, miêu tả phân tích hay miêu tả toàn cảnh Tránh tình trạng cả tiết học chỉ tập trung tạo biểu tượng và miêu tả về một công trình kiến trúc hay một phát minh nào đó, không còn thời gian cung cấp kiến thức cho học sinh
- Thứ tư: phải có sự kết hợp nhuẫn nhuyễn và có khoa học khi sử dụng đồ dùng trực quan và bài miêu tả Ở bước này lời nói của giáo viên và đồ dùng trực quan giáo viên lựa chọn có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong hoạt động tư duy, nhận thức của học sinh Giáo viên cho học sinh quan sát một lượt loại văn hóa vật chất được tạo biểu tượng (Kim Tự tháp, tượng thần vệ nữ Mi-lô, vườn treo Babilon,…), sau đó cùng với lời nói sinh động và giới thiệu cho học sinh Tránh trường hợp giáo viên giới thiệu xong rồi mới cho học sinh quan sát tranh ảnh, phim,…
Qua quá trình quan sát thực tiễn chúng tôi nhận thấy việc sử dụng đồ dùng trực quan kết hợp với miêu tả là biện pháp quan trọng nâng cao hiệu quả cho quá trình dạy và học Nhưng phải đảm bảo có sự chuẩn bị kĩ và có khoa học, nếu tiến hành sơ sài sẽ phản tác dụng và hậu quả là các em hiểu sai về lịch sử, có thể dẫn đến tình trạng “hiện đại hóa” lịch sử Chúng tôi cho ví dụ cụ thể như sau: Ở bài 3 “Các quốc gia cổ đại Phương Đông”, để học sinh thấy được sự đặc sắc và vĩ đại nền văn hóa vật chất của các quốc gia cổ đại Phương Đông thì giáo viên nên tạo biểu tượng cho các em về những công trình kiến trúc tại những quốc gia này Trong mục 5 “Văn hóa cổ đại phương Đông”, cụ thể là ở mục d “kiến trúc” giáo viên cần giới thiệu cho học sinh về một số công trình kiến trúc tiêu biểu, như:
- Kim tự tháp Ai Cập (giáo viên miêu tả kết hợp với sử dụng tranh ảnh hình 5 SGK, giáo viên có thể sử dụng cách miêu tả toàn cảnh trong trường hợp này) Kim tự tháp là những lăng mộ khổng lồ, được các Pharaông cho xây dựng kiên cố để giữ gìn thi thể của mình Giáo viên giới thiệu cho học sinh một trong những Kim tự tháp lớn và vĩ đại của Ai Cập đó là Kim tự tháp Kêốp: “Kim tự tháp này cao 146,5m, gần bằng một ngôi nhà 50 tầng hiện đại, mỗi cạnh đáy dài 230m, diện tích rộng hơn 52.900mét vuông, xây dựng bằng 2.300.000 tảng đá, mỗi tảng nặng 2,5 tấn Cửa vào Kim tự tháp nằm ở phái Bắc; đi dọc theo hành lang hẹp, dẫn đến một phòng lớn Trong phòng lớn này đặt quan tài có xác ướp Pharaông,…” Miêu tả như vậy sẽ tạo cho học sinh biểu tượng về toàn bộ kiến trúc của công trình hùng vĩ này Cho các em thấy được công trình này được xây dựng từ chính tài nghệ tuyệt vời của nhân dân lao động, trong khi họ chỉ có trong tay những công cụ rất thô sơ là bằng đá, gỗ…nhưng họ đã đẽo đá, mài đá và lắp ghép đá rất công phu Hàng triệu tảng đá sau khi được ghè đẽo và mài nhẵn thì được xếp chồng lên nhau hàng trăm tầng, dù không có một vật liệu kết dính nào vẫn đứng vững bốn, năm ngàn năm nay Việc sử dụng đồ dùng trực quan kết hợp với miêu tả sẽ làm cho việc giảng dạy được tiến hành thuận lợi, đồng thời giúp cho học sinh có hứng thú hơn đối với bộ môn này
* Áp dụng dạy học nêu vấn đề:
Trong quá trình dạy học, đặc biệt đối với bộ môn lịch sử, việc áp dụng hình thức nêu vấn đề có ý nghĩa thiết thực cho việc tư duy của học sinh Con người chỉ tích cực tư duy khi họ rơi vào hoàn cảnh có vấn đề, do đó đây là một hình thức có hiệu quả để kích thích sự phát triển trí tuệ của học sinh, đồng thời phát huy năng lực tự giác từ các em
Việc dạy học nêu vấn đề đang được khá nhiều thầy cô giáo chú ý đến trong quá trình cung cấp tri thức cho học sinh Vì vậy, chúng tôi cho rằng đây cũng là một hình thức tích cực, góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho việc truyền đạt tri thức cho học sinh nói chung và tri thức lịch sử nói riêng Nó đóng vai trò quan trọng trong quá trình tạo biểu tượng lịch sử cho các em Theo quan điểm giáo dục học, từ việc dạy học nêu vấn đề, từ cách giáo viên đưa ra tình huống có vấn đề, sẽ tạo điều kiện cho các em tìm cách giải quyết vấn đề và thông qua đó nắm được kiến thức
Dạy học nêu vấn đề cũng có nhiều hình thức khác nhau, trong những hình thức đó giáo viên có thể áp dụng hình thức tạo tình huống có vấn đề và hướng học sinh vào giải quyết vấn đề Bởi vì, mấu chốt của dạy học nêu vấn đề là tạo ra được các tình huống có vấn đề Khi đi vào tạo biểu tượng về văn hóa vật chất, tùy theo nội dung của bài học, giáo viên áp dụng biện pháp này theo những mức độ khác nhau Đặt tình huống có vấn đề khi có mâu thuẫn xảy ra thì mới kích thích được trí tò mò và tìm hiểu từ các em Đó chính là tâm lý của mỗi người
Thông thường tình huống có vấn đề được đặt ra khi giáo viên mở đầu bài học, dẫn dắt vào bài mới, hay là chuyển giữa các mục, giữa các giai đoạn…và ở đây, khi tạo biểu tượng về một công trình vật chất nào đó, tình huống có vấn đề được đặt ra rất là quan trọng, do đó nó phải đảm bảo những nguyên tắc sau đây:
- Tình huống đặt ra phải phù hợp với nội dung bài học
- Phù hợp với biểu tượng của công trình vật chất sắp giới thiệu
- Phải khơi dậy được sự tò mò, thích thú từ học sinh
- Đảm bảo tình huống không xa vời bài học, phù hợp với khả năng tư duy của học sinh
- Tình huống phải chứa đựng những mâu thuẫn để hướng học sinh vào giải quyết:
+ Mâu thuẫn giữa cái cũ và cái mới (tức điều các em đã biết và những điều chưa biết)
+ Mâu thuẫn về nguồn gốc xuất hiện công trình văn hóa
+ Mâu thuẫn trong cách nhận xét, đánh giá về thành tựu văn hóa đó…
Khi mâu thuẫn lên tới đỉnh điểm, đó cũng là lúc các em bị đặt vào hoàn cảnh phải tháo gỡ thắc mắt của mình Chính điều này, tạo nên tính tự giác giải quyết vấn đề từ các em, rèn luyện được từ năng lực hoạt động độc lập, hoạt động nhóm đến tính chủ động trong mọi tình huống Chỉ khi các em tự mình tháo gỡ những mâu thuẫn, những thắc mắt thì lúc đó các em mới thực sự nắm được kiến thức và hiểu bài
Ví dụ, khi dạy bài “Trung Quốc thời phong kiến”, ở mục 4 “Văn hóa Trung
Phần thực nghiệm sư phạm
Để khẳng định những luận điểm, phương pháp của khóa luận có tính khả thi hay không, chúng tôi đã tiến hành thực nghiệm sư phạm tại 3 lớp ở ba trường THPT trên địa bàn thành phố Đà Nẵng: THPT Hòa Vang, THPT Phạm Phú Thứ, THPT Ông Ích Khiêm với bài: “Cách mạng công nghiệp ở Châu Âu”
Việc thực hiện thực nghiệm sư phạm nhằm mục đích tiến hành kiểm định một cách tổng hợp các phương pháp do khóa luận đề xuất về việc tạo biểu tượng văn hoát vật chất trong dạy học lịch sử thế giới lớp 10 (chương trình chuẩn) ở các trường THPT trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
3.3.2 Nội dung và phương pháp thực nghiệm
* Nội dung: Để áp dụng việc tạo biểu tượng văn hóa vật chất vào dạy học lịch sử thế giới lớp 10, nội dung chúng tôi chọn làm thực nghiệm là bài 32 “Cách mạng công nghiệp ở Châu Âu” Khi dạy bài này cần làm rõ các nội dung:
Mục đích cơ bản của bài học nhằm giúp học sinh nắm được:
- Những tiền đề, điều kiện cần thiết để cách mạng công nghiệp có thể diễn ra
- Một trong những nước tiến hành cách mạng công nghiệp đầu tiên là nước Anh
- Những mốc thời gian, kèm theo những phát minh quan trọng trong cách mạng công nghiệp Anh
- Nắm được hệ quả của Cách mạng công nghiệp về kinh tế, xã hội và ý nghĩa của nó đối với sự phát triển của chủ nghĩa tư bản
- Giáo dục cho học sinh nhận thức đúng đắn về thành tựu của cách mạng công nghiệp đã góp phần nâng cao năng suất lao động, làm biến đổi toàn bộ xã hội, chứng tỏ phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đã thực sự thắng thế phương thức sản xuất phong kiến Đồng thời, còn đưa đến sự phân hóa xã hội và mâu thuẫn giai cấp
- Rèn luyện cho học sinh biết sử dụng, khai thác, tìm kiếm tranh ảnh hoặc tài liệu có liên quan; kỹ năng quan sát tranh ảnh, kĩ năng phân tích, đánh giá bước phát triển của những máy móc, tác động của cách mạng công nghiệp đối với kinh tế xã hội
Tạo biểu tượng về những thành tựu trong cách mạng công nghiệp, đặc biệt là cách mạng công nghiệp Anh, có nghĩa là giáo viên giới thiệu, làm rõ về những phát minh quan trọng được ra đời trong cách mạng công nghiệp như máy kéo sợi, máy dệt, máy hơi nước, tàu chạy bằng hơi nước, Qua đó, các em có thể hiểu rõ bước tiến bộ về máy móc, thấy được hệ quả của cách mạng công nghiệp
* Phương pháp tiến hành Để tạo biểu tượng về những thành tựu văn hóa vật chất trong cách mạng công nghiệp, chúng tôi đã tham khảo, lấy tư liệu từ các sách lịch sử thế giới, tham khảo sách hướng dẫn bộ môn và sưu tầm những tranh ảnh trực quan sinh động có liên quan đến những phát minh quan trọng được đề cập trong bài
Mở đầu bài thực nghiệm dẫn dắt vào bài bằng cách tạo ra tình huống có vấn đề để thu hút sự chú ý của học sinh: “Từ cuối thế kỷ XVIII đến giữa thế kỷ XIX, cuộc cách mạng công nghiệp đã diễn ra tại các nước Châu Âu như Anh, Pháp, Đức Cuộc cách mạng công nghiệp này có những thành tựu gì nổi bật? Có ý nghĩa như thế nào? Để có thể hiểu rõ thì hôm nay chúng ta đi vào tìm hiểu bài 32”
Tiếp theo giáo viên đi vào nội dung cơ bản của bài: Trước tiên, hình thành khái niệm cho các em “cách mạng công nghiệp” Sau đó đi vào nội dung của mục 1: “Cách mạng công nghiệp ở Anh” Trong mục này những vấn đề cần giáo viên làm rõ là tiền đề dẫn đến cách mạng công nghiêp Anh đó là vốn, nhân công và kĩ thuật Giáo viên tiếp tục đặt vấn đề về thời gian tiến hành cách mạng công nghiệp của Anh, sau đó hỏi về thành tựu của cách mạng công nghiệp Anh từ công nghiệp nhẹ, công nghiệp động lực đến công nghiệp nghiệp nặng, giao thông vận tải và những phát minh quan trọng trong từng lĩnh vực này
Giáo viên tạo biểu tượng về những thành tựu văn hóa vật chất này:
- Xác định mốc thời gian ra đời, tên người phát minh:
+ Máy Gien-ni do Giêm Ha-gri-vơ sáng chế vào năm 1764
+ Máy kéo sợi chạy bằng sức nước: năm 1769 của Ác-crai-tơ
+ Máy dệt chạy bằng sức nước: Ét-mơn Các-rai sáng chế vào năm 1785
+ Máy hơi nước: Giêm Oát phát minh năm 1769, đến 1784 đưa vào sử dụng + Đầu máy xe lửa: Xtiphen xơn phát minh ra vào năm 1814
- Nêu đặc điểm cấu tạo, ý nghĩa cụ thể:
+ Máy Gien-ni được cấu tạo với 16 đến 18 cọc suốt, khác xa so với xa quay tay trước đây chỉ có 1 cọc suốt, nét đặc biệt của máy này là chỉ dùng sức lao động của một người, do một người điều khiển Là công cụ giúp ích rất nhiều cho việc kéo sợi
+ Máy kéo sợi chạy bằng sức nước: có ưu điểm là dùng sức nước để vận động, rút bớt nhân công kéo sợi, sợi làm ra chắc Tuy nhiên cũng có nhược điểm là sợi tạo ra chắc nhưng thô, nhà máy phải xây dựng gần những sông, suối nên bất lợi Góp phần nâng cao số lượng sợi cung cấp cho thị trường
+ Máy hơi nước: Quá trình vận động tiêu thụ chủ yếu là than, nước, tạo ra động lực hoàn toàn do con người chi phối Máy có thể di chuyển được nên thuận lợi cho việc sản xuất,…Đưa năng suất lao động tăng lên, được áp dụng rộng rãi
+ Đầu máy xe lửa: Gồm có 8 toa, tốc độ chạy tối đa là 6km/h, điểm đặc biệt là laoij xe lửa này hoạt động bằng hơi nước Góp phần tích cực vào nhu cầu đi lại và vận chuyển hàng hóa của con người
Sang mục 2 “Cách mạng công nghiệp ở Pháp, Đức” giáo viên chỉ giới thiệu sơ qua vì đây là phần giảm tải theo phân phối chương trình
Mục 3 “Hệ quả của cách mạng công nghiệp”, cho các em thấy được tác động tích cực và mặt hạn chế còn tồn tại của cách mạng công nghiệp, trong đó đặc biệt chú trọng đến mặt tích cực đối với các nước tư bản nói riêng và chủ nghĩa tư bản nói chung
3.3.3 Kết quả thực nghiệm Để đo kết quả thực nghiệm sư phạm, chúng tôi tiến hành xây dựng 3 câu hỏi dưới hình thức trắc nghiệm với nội dung kiểm tra sau:
Nội dung 1: Kiểm tra xem học sinh có nhớ biểu tượng văn hóa vật chất trong lịch sử thế giới lớp 10 hay không? (câu 8, phụ lục 1)
Nội dung 2: Kiểm tra xem học sinh có nhớ các sự kiện gắn liền với biểu tượng văn hóa vật chất hay không? (câu 9, phụ lục 1)
Nội dung 3: Kiểm tra xem học sinh có nhớ bản chất của sự kiện gắn liền với biểu tượng văn hóa vật chất hay không? (câu 10, phụ lục 1)