7.3. LA MÃ THỜI CỘNG HÒA (510-27 TR.CN)
7.3.6. Sự sụp đổ của chế độ Cộng hoà
Ngoài mâu thuẩn gay gắt chủ nô và nô lệ, mâu thuẫn trong nội bộ quý tộc chủ nô cũng diễn ra quyết liệt. Đó là mâu thuẩn giữa chủ nô ruộng đất và tầng lớp quý tộc chủ nô công thương, kỵ sĩ. Thực chất là mâu thuẫn giữa Viện nguyên lão và Đại hội nhân dân. Mâu thuẩn và cuộc xung đột giữa hai tầng lớp quý tộc La Mã ngày càng quyết liệt và diễn ra theo khuynh hướng sử dụng bạo lực. Nền cộng hoà có nguy cơ tan vỡ.
Năm 88 TCN, Viện nguyên lão cử Xi-la theo phái quý tộc ruộng đất, làm tƣ lệnh quân La Mã tiến sang phía đông đàn áp cuộc nổi dậy của Mi-tơ-ri-đát (ở Tiểu Á). Nhưng khi Xila vừa rời khỏi La Mã, phái công thương binh sĩ đối lập, thông qua Đại hội nhân dân, đã cử Ma-ri-u-xơ người thuộc phe cách mình lên cầm quyền ở La Mã. Đƣợc tin, Xi-la đã đem quân quay về tấn công phái Ma-ri- u-xơ, phái công thương binh sĩ thất thế, Ma-ri-u-xơ phải chạy sang Bắc Phi lánh nạn và chờ thời cơ.
Năm 87 TCN, Xin-na - đại biểu của phái công thương – trúng cử chức vụ chấp chính quan, lợi dụng cơ hội Xi-la đang ở Tiểu á, Ma-ri-u-xơ từ Bắc Phi đã trở về La Mã, phối hợp với Xin-na tấn công phe quý tộc ruộng đất, tịch thu ruộng đất của quý tộc phe Xi-la chia cho bình dân, binh sĩ và thao túng chính quyền La Mã mãi đến năm 82 TCN.
Năm 83 TCN, sau khi đàn áp cuộc nổi dậy ở Mi-tơ-ri-đát và giải quyết tạm ổn tình hình Tiểu Á, Xila kéo quân về Rô-ma. Nội chiến đẫm máu giữa hai phái xảy ra, hàng trăm ngàn người bị giết hại. Phái Xi-la chiếm ưu thế. Năm 82 TCN, phe quý tộc ruộng đất đã đƣa Xi-la lên làm độc tài không thời hạn. Trong thời kỳ cầm quyền của độc tài Xi-la, quyền lực của đại hội nhân sân bị bãi bỏ, ngược lại quyền lực, vai trò của Viện nguyên lão được tăng cường_ Số nghị viện từ 300 người tăng vọt lên 600 người, trao cho viện nguyên lão quyền thẩm phán, phân phối và quản lý ngân quỷ nhà nước. Để tạo chỗ dựa, Xi-la cũng đã giải phóng cho hơn 1 vạn nô lệ và đƣa 12 vạn cựu binh sĩ tới lập nghiệp ở các vùng mới chiếm.
Chế độ độc tài Xi-la đƣợc thiết lập là kết quả của việc giải quyết mâu thuẫn trong nội bộ quý tộc La Mã, xác nhận thắng lợi đầu tiên của quý tộc chủ nô ruộng đất đồng thời cũng báo hiệu sự khủng hoảng của chế độ công hoà. Tuy nhiên, Xi-la và phái quý tộc ruộng đất cũng gặp khó khăn và cùng một lúc phải giải quyết nhiều vấn đề nan giải, mâu thuẫn: Muốn tạo ra chỗ dựa để cũng cố quyền lực, Xi-la phải giải quyết nguyện vọng ruộng đất của binh sĩ, nô lệ (nghĩa là phải thực hiện những bước đi trong chủ trương của phái đối lập Ma-ri-u-xơ).
Tăng cường quyền lực độc đoán nhưng phải giữ cho được hình thức bình đẳng, dân chủ đối với các tỉnh của La Mã do chế độ độc tài là một chế độ quá mới mẻ so với lối sống truyền thống dân chủ của cƣ dân La Mã.
b. Chế độ “Tam hùng lần thứ nhất” và nền độc tài Xê-da
Trong thời gian xảy ra cuộc khởi nghĩa nô lệ do X-pac-ta-cut lãnh đạo, mâu thuẫn và xung đột trong nội bộ giai cấp quý tộc chủ nô tạm thời dịu xuống và hoà hoãn. Nhƣng ngay sau đó, hai quý tộc đối lập lại đối mặt nhau gay gắt hơn. Lúc bấy giờ C-ra-xi-u-xơ và Pom-pê-i-u-xơ nổi bật trên chính trường La Mã. Cũng vào thời điểm này, từ Tây Ban Nha với tƣ cách là tổng đốc xứ này trong nhiệm kỳ 3 năm, Xê-da (100-44 TCN) trở về La Mã với những chiến tích huy hoàng. Cả ba liên kết với nhau và thực chất của ―chính quyền tam hùng lần thứ nhất‖ là liên minh của 3 lực lƣợng: quân sự, kị sĩ và bình dân theo khuynh hướng của quý tộc chủ nô công thương.
Năm 59 TCN, Xê-da đƣợc bầu làm chấp chính quan. Đƣợc sự ủng hộ của đại hội nhân dân, Xê-da thông qua những dự lậut đem lại quyền lợi cho những người bình dân và binh sĩ: giàm 1/3 tổng số tiền nộp thuế đấu thầu, lấy đất đai chia cho hai vạn cựu binh sĩ, dân nghèo. Năm 58 TCN, hết nhiệm kỳ chấp chính quan, Xê-da lại đƣợc cử làm tổng đốc xứ Gaul.
Năm 54 TCN, theo đúng thoả thuận C-ra- xi-u-xơ sang trấn giữ xứ Xi-ri và chết một trận giao chiến. Pom-pê-i-u-xơ, theo thoả thuận, đáng lẽ phải sang Tây Ban Nha, nhƣng ông ở lại La Mã và quay lại dựa vào sự ủng hộ của Viện nguyên lão, hy vọng sẽ độc quyền thâu tóm quyền lực ở La Mã. Vì thế, liên minh ―tam hùng lần thứ nhất‖ tan vỡ. Ở Gau-l, Xê-da liên tục giành đƣợc nhiều chiến thắng: các bộ lạc Gau-l đều khuất phục, các tộc Giéc-man bị dồn đẩy sang hữu ngạn sông Ranh. Lo sợ trước thế lực của Xê-da, Pom-pê-i-u-xơ càng bắt tay chặt chẽ với viện nguyên lão, chống lại Xêda.
Năm 52 TCN, đƣợc Viện nguyên lão ủng hộ, Pompêiuxơ làm chấp chính quan duy nhất – ―Chấp chính quan không cần đủ ban chấp chính‖ - một điều qui định trái với hiến pháp La Mã. Pom-pê-i-u-xơ và Viện nguyên lão buộc Xê-da sau khi hết nhiệm kỳ phải giải tán đội quân và quay về La Mã với tƣ cách là một công dân bình thường. Trước tình thế: hoặc sẽ có tất cả hoặc sẽ mất tất cả, sẵn có trong 13 tay quân đoàn La Mã thiện chiến, lại đƣợc sự ủng hộ của bình dân, kỵ sĩ và quý tộc công thương, ngày 14 tháng 1 năm 49 TCN, Xê-da thống lĩnh đại quân, từ Gaul, bất ngờ tấn công La Mã. Viện nguyên lão và Pom-pê-i-u-xơ không kịp trở tay, buộc phải bỏ La Mã chạy sang Hy Lạp. Để tiêu diệt lực lƣợng của Pom-pê-i-u-xơ, Xê-da quyết định đƣa quân sang tấn công 7 quân đoàn của Pom-pê-i-u-xơ đang ở Tây Ban Nha. Trận kịch chiến đã xảy ra, quân Pompêiuxơ hoàn toàn tan rã. Sau khi thâu tóm Tây Ban Nha Xê-da tiếp tục thống lĩnh đại quân tiếng sang Hy Lạp. Năm 48TCN Xê-da giành đƣợc thắng lợi to lớn, buộc Pom-pê-i-u-xơ phải chạy trốn sang Ai Cập và đã bị thủ hạ của vua Ai Cập giết chết. Từ Bắc Phi, Xê-da kéo quân qua miền Tiểu Á đàn áp các cuộc nổi dậy của quý tộc địa phương chống La Mã.
quan bảo dân vĩnh viễn, tổng tƣ lệnh quân đội La Mã, tăng lữ tối cao,...Nhƣ vậy, Xê-da đã hoàn toàn trở thành kẻ độc tài, thâu tóm vào tay mình mọi quyền lực về chính trị, quân sự, tôn giáo... ―chế độ tam hùng lần thứ nhất‖ kết thúc. Nền cộng hoà La Mã chƣa bị loại bỏ, nhƣng cũng chỉ còn là hình thức mà thôi.
Xê-da đã thực hiện nhiều chính sách mang lại quyền lợi lớn cho quý tộc công thương, kị sĩ, binh lính và những người bình dân. Ban thưởng các chiến lợi phẩm và ruộng đất thu đƣợc cho hành động lộng quyền của các toàn quyền La Mã ở các tỉnh, công nhận quyền công dân La Mã cho nhiều quý tộc địa phương, nới rộng quyền hành cho họ. Ông còn thực hiện nhiều cải cách về thương mại (lưu hành đồng tiền vàng thống nhất), công nghiệp và cải cách lịch pháp. Ông đã tiếng hành cho xây dựng nhiều công trình lớn ở La Mã, cho ra tờ báo đầu tiên có tên là Ac-ta Ur-bis.
Những cải tổ của Xê-da đã mang lại nhiều quyền lợi cho quý tộc công thương, kị sĩ, binh lính và những người bình dân. Do vậy, ông đã bị phái cộng hoà (quý tộc chủ nô ruộng đất) phản đối mạnh mẽ. Lấy cớ bảo vệ nền cộng hoà, quý tộc chủ nô ruộng đất kích động một phong trào chống Xê-da. Tháng 3 năm 44 TCN, Xê-da đã bị hai kẻ thân tín B-ru-tu-xơ và Cát-xui-xơ phản bội, đâm chết ông bằng 22 nhát dao.
c. Chế độ “Tam hùng II”. Sự thắng thế của Ôc-ta-vi-u-xơ - kết thúc nền cộng hoà
Sau khi Xê-da mất, một viên tướng của ông là Lê-pi-đu-xơ chỉ huy kị binh đã kéo về La Mã, An-tô-ni-u-xơ cũng kéo quân về và đƣợc Viện nguyên lão cử làm chấp chính quan.
Mặc dù, ủng hộ An-tô-ni-u-xơ, viện nguyên lão cũng rất lo sợ ông ta thiết lập lại nền độc tài mới theo kiểu Xê-da và có lợi cho quý tộc công thương.
Ngƣợc lại bình dân và binh sĩ cho rằng An-tô-ni-u-xơ đã bị Viện nguyên lão mua chuộc, phản bội lại con đường của Xêda. Cùng lúc đó, Ốc-ta-xu-i-xơ xuất hiện, mới 19 tuổi là cháu gọi Xê-da bằng cậu, do vậy đông đảo bình dân và binh sĩ hy vọng Ốc-ta-xu-i-xơ sẽ tiếp tục sự nghiệp của Xê-da sẽ mang lại quyền lợi cho họ. Đối với Viện nguyên lão, họ cũng muốn dựa vào Ốc-ta-xu-i-xơ để hạn chế quyền lực của An-tô-ni-u-xơ. Nhờ vậy, Ốc-ta-xu-i-xơ nhanh chóng xây dựng đƣợc lực lƣợng riêng của mình và liên kết với hai thế lực nói trên thiết lập nên ―chính quyền tam hùng lần thứ hai‖ (năm 43 TCN).
Theo thoả thuận, Lê-pi-đu-xơ giữ chức chấp chính quan trọng năm 42TCN. Ngoài vùng I-ta-li-a, lãnh thổ rộng lớn đƣợc phân chia để cai quản nhƣ sau: An-tô-ni-u-xơ cai quản của xứ Gô-lơ; Lê-pi-đu-xơ cai quản Tây Ban Nha và nam xứ Gô-lơ, Ốc-ta-xu-i-xơ cai quản đảo Xi-xin, Xac-đen và Bắc Phi. Sau khi thoả ƣớc đƣợc ký kết, cả 3 đã kéo lực lƣợng về La Mã và ép Viện nguyên Lão, Đại hội nhân dân phải trao cho họ những quyền hành vô hạn để quản lý công việc của nhà nước La Mã trong thời hạn 5 năm,... Khi giành được quyền
lực trong tay tam hùng lần thứ hai đã thẳng tay trấn áp lực lƣợng chống đối: 300 nghị viên Viện nguyên lão bị sát hại, tài sản của họ bị tịch thu.
Thỏa hiệp trên đây chỉ tồn tại trong vài năm, đến năm 36 TCN, nhờ đánh thắng lực lƣợng cuối cùng của phe đối lập ở đảo Xi-xin, uy thế của Ốc-ta-vi-u- xơ ngày một mạnh lên và lôi kéo cả binh sĩ và những người ủng hộ Lê-pi-du-xơ về phía mình, quyền lực của Lê-pi-du-xơ ngày càng sút giảm. Đó là dấu ấn tan vở của liên minh Tam hùng thứ hai.
Ở phương đông, An-tô-ni-u-xơ đã kết hôn với nữ hoàng Ai Cập C-lê-ô- pát VII (69-30 tr.CN) vào năm 37 TCN và ban tặng nhiều đất đai của La Mã cho Nữ Hoàng. Lợi dụng thái độ bất bình của quí tộc La Mã trong việc An-tô- ni-u-xơ cắt đất cho Ai Cập, Ốc-ta-vi-u-xơ đã mang quân sang phương Đông tấn công thế lực của An-tô-ni-u-xơ và C-lê-ô-pát VII. Không thể đương đầu với lực lƣợng hùng mạnh của Ốc-ta-vi-u-xơ, An-tô-ni-u-xơ và C-lê-ô-pát VII phải tự sát. Từ đó Ai Cập biến thành một tỉnh của đế quốc La Mã.
Khuynh hướng thiết lập một chính quyền quân sự, tập trung, độc tài, nhằm bảo vệ quyền lợi của quý tộc chủ nô và củng cố nhà nước chiếm hửu nô lệ La Mã đã thắng thế. Mở ra một trang mới trong lịch sử la Mã, thời kỳ thời kỳ thống trị của các đế chế.