7.3. LA MÃ THỜI CỘNG HÒA (510-27 TR.CN)
7.3.2. Sự thành lập chế độ cộng hoà
a. Sự thành lập chế độ cộng hoà
- Trong thời kỳ ―Vương chính‖ hầu hết các vua đều là người Ê-tơ-ru-x-cơ.
Đến thời trị vì của vua cuối cùng mâu thuẫn giữa người La Mã và người Ê-tơ- ru-x-cơ đã hết sức căng thẳng. Vào khoảng năm 510 TCN dân chúng La Mã đã nỗi dậy khởi nghĩa lật đổ sự cai trị của các vua Ê-tơ-ru-x-cơ chấm dứt thời kỳ vương chính mở ra một thời kỳ mới – thời kỳ cộng hoà (từ cộng hoà bắt nguồn từ một thành ngữ La-tinh res publica có nghĩa là công việc chung), trong thể chế đó nhân dân đƣợc quản lý bởi các viên quan mà do chính họ lựa chọn ra.
Nhà nước cộng hoà được tổ chức như sau :
Cơ quan quyền lực tối cao của nhà nước cộng hoà là đại hội nhân dân Xen-tu-ri. Đại hội họp một năm hai lần tại quảng trường Mác-xơ – quảng trường thần chiến tranh – để quyết định những vấn đề cơ bản của xã hội La Mã như tuyên chiến hay nghị hoà bầu các quan chức trong bộ máy nhà nước.
Hệ thống quan chấp chính (Con-sul) đứng đầu chính phủ là hai quan chấp chính do đại hội Xen-tu-ri bầu ra với nhiệm kỳ một năm, hai quan chấp chính với quyền lực ngang nhau, thay nhau điều hành mọi công việc của xã hội. Cơ chế này có nghĩa người La Mã không muốn tập trung quyền lực vào tay một
người, các chấp chính quan sát lẫn nhau. Dưới hai chấp chính quan có từng cặp hai viên quan lo công việc toà án, thu thuế, thị chính và ngân khố.
Trong trường hợp tổ quốc lâm nguy, một trong hai quan chấp chính sẽ đƣợc chọn cử làm tƣ lệnh quân đội và trở thành nhà độc tài (Dicature) nhƣng chỉ trong thời hạn 6 tháng, trong thời gian này nhà độc tài có quyền quyết định về tất cả mọi công việc của nhà nước.
Viện nguyên lão (Sê-nát) bao gồm 300 người thuộc tầng lớp quí tộc giàu có, trên nguyên tắc đại hội Xen-tu-ri là cơ quan quyền lực tối cao nhƣng trên thực tế các quyết định phải đƣợc viện nguyên lão thông qua, các quan chức của bộ máy nhà nước được chọn cử trong số các nghị viên Viện nguyên lão, do vậy thực tế viện nguyên lão là cơ quan thường trực của đại hội xenturi, thực thi mọi công việc hành chính, ngân sách, ngoại giao, quân sự, lễ nghi tôn giáo… Nhiệm vụ chính của các nghị viên là tham vấn về luật pháp, tuyên bố chiến tranh, tìm kiếm đồng minh và kí kết các hiệp ƣớc hoà bình.
Nhƣ vậy ngay từ đầu, thể chế cộng hoà đã tỏ rỏ tính ƣu việt của nó và đã mang tính chất hai mặt rõ nét. Một mặt trong thể chế cộng hoà sự bình đẳng công dân và quyền công dân đã đƣợc công khai đảm bảo, mặt khác trên thực tế, mọi quyền hành của nền cộng hoà La Mã lại nằm trong tay bộ phận quí tộc giàu có – Pa-tơ-ri-xi có nhiều đặt quyền trong xã hội, nắm giữ quyền điều phối và chiếm giữ ruộng đất công, nắm giữ mọi chức vụ trọng yếu của bộ máy nhà nước, thao túng mọi hoạt động xã hội. Nền dân chủ và chuyên chính đan xen vào nhau cùng đƣợc tôn trọng và cùng dựa vào nhau để tồn tại, do vậy thể chế cộng hoà đã xác lập đƣợc một quyền lực tập thể, nhờ vậy nó đã ngăn chặn đƣợc quyền chuyên chế cá nhân, đảm bảo đƣợc sự kiểm soát tập thể có hiệu quả tốt nhất trong mọi trường hợp.
b. Cuộc đấu tranh giữa bình dân và quí tộc
Sau cải cách của Xéc-vi-út người Pơ-lép hầu như vẫn không có quyền lợi chính trị, kinh tế, không đƣợc chia ruộng đất công, không đƣợc kết hôn với người gốc La Mã, không được tham gia vào bộ máy nhà nước và thường bị bất bình đẳng trong xét xử nên cuộc đấu tranh giữa bình dân Pơ-lép với quí tộc Pa- tơ-ri-xi vẫn tiếp diễn.
Cuộc đấu tranh này diễn ra từ năm 493 đến năm 287 TCN với các hình thức khác nhau. Năm 493 TCN trong khi quí tộc đang phải đánh nhau với các bộ tộc khác ở bên cạnh, rất cần sự viện trợ quân sự thì bình dân lại rủ nhau rời bỏ La Mã, kéo nhau vào núi và quyết định chỉ trở về khi quí tộc chịu nhƣợng bộ. Cuối cùng Viện nguyên lão buộc phải cử một phái đoàn đến thương lượng và chấp nhận các yêu cầu của bình dân:
+ Người Pơ-lép được quyền cử những đại diện của họ gọi là quan bảo dân để bảo vệ, bênh vực quyền lợi cho người Pơlép, giám sát và có ý kiến đối với những dự luật và việc làm của chính quyền La Mã. Nếu quan bảo dân cho rằng
một đạo luật nào đó vi phạm lợi ích của cá nhân thì có quyền cấm thi hành đạo luật đó. Quan bảo dân cũng có quyền tham dự và theo dõi các phiên hợp của Viện nguyên lão để có thể can thiệp trực tiếp hay phủ quyết tại chỗ những quyết nghị không có lợi cho người Pơ-lép. Tuy vậy theo thoả thuận quan bảo dân không đƣợc quyền chỉ huy quân sự và những quyền lực của quan bảo dân chỉ có hiệu lực trong phạm vi thành La Mã. Đến năm 471 TCN người Pơ-lép tổ chức ra những đại hội bình dân do người bình dân Pơ-lép chiếm tỷ lệ cao trong số dân cư La Mã, nên những người Pơ-lép đã tự coi đại hội bình dân có hiệu lực nhƣ pháp luật với toàn thể công dân La Mã.
Năm 445 TCN người bình dân Pơ-lép lại đạt được một thắng lợi mới, đạo luật Ca-nui-êi-u-xơ đã được ban hành, cho phép người bình dân Pơ-lép được quyền tự do kết hôn với những người ở tầng lớp quí tộc Pa-tơ-ri-xi.
Vào năm 450 TCN cuộc đấu tranh của người Pơ-lép đòi quyền bình đẳng trước pháp luật cũng giành được thắng lợi. Một bộ luật mới, hoàn chỉnh đã được ban hành (bộ luật thành văn đầu tiên của lịch sử La Mã) qui định thể thức tố tụng xét xử, quyền thừa kế tài sản, việc cho vay nợ lãi, quan hệ gia đình địa vị và trách nhiệm của người phụ nữ… Vì bộ luật ấy được khắc trên 12 tấm bảng đồng và đặt công khai ở các quảng trưởng cũng như ở các nơi công cộng nên lịch sử thường gọi là luật 12 bảng.
Năm 326 TCN thông qua đạo luật cấm biến người mắc nợ thành nô lệ đạo luật này tương tự như cải cách của Xô-lông ( Hy Lạp).
* Cuộc đấu tranh của những người bình dân Pơ-lép kéo dài gần 300 năm, những mục đích yêu cầu của những người Pơ-lép trên mọi phương diện, từng bước một đã được thoả mãn. Thắng lợi của cuộc đấu tranh này có ý nghĩa quan trọng:
Trước hết, đây là thắng lợi của nhà nước có giai cấp đối với chế độ thị tộc, thắng lợi này đã làm cho chế độ thị tộc tan rã triệt để (không còn khái niệm ở trong thị tộc và ở ngoài thị tôc là bình dân).
Thứ hai, thắng lợi của bình dân đã làm cho nhà nước cộng hoà La Mã đƣợc hoàn thiện hơn đƣợc dân chủ hơn đã dẫn tới sự thống nhất cộng đồng người La Mã, tạo nên khối công dân La Mã, cơ sở xã hội bền vững của thể chế cộng hoà.
Tuy nhiên, cũng từ đó trong xã hội La Mã cũng bắt đầu xuất hiện những cơ cấu giai cấp mới, những tiền đề của sự phân hoá. Trong hàng ngũ những người bình dân đã xuất hiện một bộ phận nhỏ bình dân có chức, có quyền vươn lên hoà nhập dần với giai cấp quí tộc cũ hinh thành nên tầng lớp quí tộc mới.
Khái niệm bình dân vì thế cũng thay đổi đi ngƣợc lại cũng có một bộ phận quí tộc do bị sa sút về kinh tế mất quyền chính trị … trở thành bình dân.