Trong giai đọan này người Hy Lạp đã hoàn thành việc tổ chức các đô thị, kể cả khu vực hải ngoại, đã thành lập nhiều vùng thực dân địa từ bờ Biển Đen cho đến Tây Ban Nha.
6.4.1. Những biến chuyển lớn trong xã hội Hy Lạp a. Chuyển biến trong lĩnh vực kinh tế
Người Hy Lạp đã sử dụng rộng rãi đồ sắt trong sản xuất và đời sống.
Trước kia chăn nuôi có địa vị kinh tế cao thì từ thế kỉ thứ VII TCN nông nghiệp vươn lên. Thủ công nghiệp hoàn toàn tách khỏi nông nghiệp và đạt được những thành tựu lớn. Số lƣợng ngành nghề thủ công, năng suất lao động ngày càng tăng lên, kĩ thuật sản xuất tiến bộ, nhiều ngành thủ công ở một số địa phương đã có sự phân công chuyên môn hóa.
Vào thế kỷ VII TCN tiền bằng vàng hay bằng bạc đã ra đời, thay thế cho vật đổi vật tồn tại phổ biến trước đó.
b. Sự tan rã của chế độ thị tộc Hy Lạp đã diễn ra nhanh chóng.
Chế độ tƣ hữu ngày càng chiếm vị trí quan trọng trong xã hội, quyền sở hữu công cộng của thị tộc ngày càng bị hạn chế. Tầng lớp quý tộc giàu có nắm trong tay nhiều tƣ liệu sản xuất và sống dựa vào lao động của dân nghèo, đó chính là tiền thân của tầng lớp quý tộc chủ nô ruộng đất của Hy Lạp sau này.
Cùng với sự phát triển của thủ công nghiệp, buôn bán, một tầng lớp mới xuất hiện, đó là quý tộc công thương. Đây là tầng lớp có thế lực về kinh tế lẫn chính trị trong suốt chiều dài lịch sử Hy Lạp.
Những thành viên của xã hội thị tộc cũ bị phân hóa sâu sắc, một số hoàn toàn bị tước đoạt ruộng đất phải bán thân làm nô lệ vì nợ, một số khác phải
trên các đồng ruộng hay trong các xưởng thủ công. Đó là nguồn gốc tạo ra tầng lớp bình dân Đê-mốt.
Tầng lớp thứ ba ngày càng chiếm đa số trong xã hội là nô lệ. Nô lệ chủ yếu từ nô lệ chiến tù; nô lệ mua bán từ các chợ nô lệ và nô lệ vì nợ. Vào thế kỷ VI TCN, đảo Ki-ốt có những chợ buôn bán nô lệ. Vì vậy, tính chất gia trưởng của chế độ nô lệ thời Hô-me cũng dần mất đi. Nhƣ vậy, xã hội Hy Lạp đã phân hóa thành ba tầng lớp khá rõ rệt: Quý tộc (ruộng đất và công thương), những người bình dân Đê-mốt và nô lệ.
c. Phong trào tìm đất thực dân diễn ra mạnh mẽ
Từ thế kỷ VIII – VI TCN người Hy Lạp hướng ra biển cả và vượt biển đi tìm những vùng đất mới, mở rộng lãnh thổ Hy Lạp, nên người ta gọi thời kỳ này là thời kì Hy Lạp thực dân hóa. Phong trào người Hy Lạp đi tìm đất mới là do những nguyên nhân nội bộ thúc đẩy:
+ Dân số ngày càng tăng nhƣng đất đai để canh tác, trồng trọt bị hạn chế, không đáp ứng đủ như cầu lương thực cho xã hội
+ Sự phân hóa giai cấp kịch liệt giữa giàu và nghèo làm cho tầng lớp bình dân và dân nghèo bị mất đất phải tìm ra nước ngoài tìm kế sinh nhai
+ Một số người hoạt động chính trị bị thất thế phải chạy ra nước ngoài để mưu đồ sự nghiệp mới.
+ Sự phát triền của mậu dịch và hàng hải, sự đi lại buôn bán kích thích thêm công cuộc đi tìm đất mới của người Hy Lạp.
Ngoài ra, theo phong tục Hy Lạp cổ đại chỉ có người anh cả mới có quyền thừa kế đất đai
Ở thời kỳ Hô-me, bản đồ Hy Lạp chỉ gồm có Hy Lạp ngày nay, các đảo trên biển Ê-giê và vùng ven biển phía tây Tiểu Á. Đến thời kỳ thực dân hóa, thuộc địa của Hy Lạp đã rãi ra khắp ven biển Địa Trung Hải.
Từ thế kỉ thứ VI TCN, ngoài những vùng nói trên, di dân Hy Lạp đã đi tới miền nam Ý, đảo Si-ci-lia, miền bắc châu Phi, Mac-xây của Pháp ngày nay và một phần Tây Ban Nha. Ở miền bắc người Hy Lạp còn di cư xa đến tận bờ biển phía bắc Hắc Hải. Di cư đến đâu người Hy Lạp liền lập tức xây dựng những thành phố mới ở đó; mỗi một khu di dân mới đồng thời cũng là một quốc gia độc lập.
Trên các vùng đất mới dần dần hình thành nên các nhà nước độc lập nhưng luôn có quan hệ với Hy Lạp nhất về phương diện ngôn ngữ, tôn giáo và luật pháp .
Hệ thống đất thực dân Hy Lạp cũng đã tạo nên một cầu nối gắn liền thế giới Hy Lạp với các nền văn minh cổ đại ở cả phương Tây và phương Đông.
Văn minh Hy Lạp đƣợc truyền bá và ngƣợc lại, Hy Lạp có điều kiện thuận lợi
tiếp xúc và tiếp thu những thành tựu của các nền văn minh khác. Đó là chƣa kể đất thực dân là ngay từ buổi đầu đã cung cấp cho Hy Lạp một nguồn nô lệ đáng kể, thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của nô lệ sau này.
d. Sự xuất hiện các quốc gia thành thị Hy Lạp Đặc điểm
Nhà nước Hy Lạp được hình thành trên cơ sở tan rã của chế độ thị tộc và hầu nhƣ không có sự can thiệp của bạo lực từ bên ngoài. Chế độ tƣ hữu đƣợc thiết lập và phát triển, sự phân hóa giai cấp ngày càng sâu sắc, triệt để đã làm cho xã hội thị tôc dần dần tan vỡ từng bước một.
Nhà nước Hy Lạp xuất hiện dưới dạng những quốc gia thành thị - Thị Quốc (po-lis). Điều này có đƣợc là do những đặc trƣng riêng, điều kiện tự nhiên và xu thế phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế công thương nghiệp và mậu dịch hàng hải của chính Hy Lạp. Trong những điều kiện đó lại không bị các thế lực bên ngoài tấn công, can thiệp, nên ngay từ đầu và trong suốt chiều dài lịch sử, yêu cầu thống nhất vùng đất Hy Lạp (vốn do điều kiện tự nhiên xé nhỏ) thành một quốc gia thống nhất không đƣợc đặt ra một cách bức thiết. Do vậy, nhà nước Hy Lạp, về cơ bản, là những thị quốc, có những sắc thái riêng, có sự phát triển khá chênh lệch và cũng có những vận mệnh lịch sử khác nhau.
Quốc gia thành thị
Tiếng Hy Lạp, Thị quốc có nghĩa là thành phố. Cho nên hạt nhân cơ bản của mỗi thị quốc là một thành thị với tƣ cách vừa là trung tâm chính trị, vừa là trung tâm kinh tế công thương nghiệp, có kết hợp và mở rộng với các vùng phụ cận. Diện tích của một thành bang không lớn (lớn nhất cũng không quá 8000km2) với một lượng cư dân vừa phải (khoảng từ 30-40 vạn người). Mặc dù nhỏ hẹp về diện tích, dân cƣ chƣa đông nhƣng mỗi thành bang đều có những đặc trưng của một nhà nước hoàn chỉnh: Có đường biên giới lãnh thổ, có chính quyền, quân đội, luật pháp, hệ thống kinh tế đo lường tiền tệ riêng và có những thần bảo hộ riêng. Mỗi thành bang có xu thế phát triển kinh tế khác nhau và vận mệnh lịch sử cũng không hoàn toàn giống nhau. Mặc dù đều là nền chuyên chính của giai cấpquý tộc chủ nô, nhưng thiết chế chính trị, tổ chức nhà nước ở mỗi thành bang cũng không nhất lọat nhƣ nhau, thậm chí trái ngƣợc nhau.
Các thành bang xây dựng theo thể chế cộng hòa quý tộc (X-pac), hoặc thể chế cộng hào dân chủ ( A-ten). Trong lịch sử Hy Lạp, các quốc gia thành bang đều xuất hiện, sớm hoặc muộn, trong khoảng thời gian từ thế kỷ VIII đến thế kỷ VI TCN. Điển hình nhất cho các quốc gia thành thị ở Hy Lạp là X-pac (ở bán đảo Pê-lô-pô-ne) và A-ten (ở bán đảo At-tích). Đây là hai quốc gia thành bang đại diện hai con đường khác nhau trong quá trình xây dựng nhà nước, sự phát triển kinh tế, cơ cấu xã hội và thiết chế nhà nước. X-pac và A-ten cũng là hai thành bang nồng cốt của lịch sử Hy Lạp.