Văn học và sử học

Một phần của tài liệu Giáo trình lịch sử thế giới cổ đại (Trang 124 - 127)

6.8. VĂN HÓA HY LẠP CỔ ĐẠI

6.8.1. Văn học và sử học

Trên cơ sở mẫu tự của người Phê-ni-xi, người Hy Lạp đã cải biên và sáng tạo ra hệ thống mẫu tự Hy Lạp. Mẫu tự Hy Lạp đạt tới một trình độ cao, có khả năng hòan thiện, khái quát hệ thống các kí hiệu, biểu đạt tƣ duy.

Hệ thống mẫu tự Hy Lạp chính là nguồn gốc của hệ thống chữ viết X-la-vơ hiện nay, là cơ sở để từ đó, người La Mã sáng tạo ra hệ thống mẫu tự La Mã, đƣợc truyền bá và sử dụng rộng rãi ở hầu hết các dân tộc trên thế giới. Nhờ hệ thống mẫu tự này, người Hy Lạp đã để lại cho hậu thế một di sản văn học vô

Hình 22: Bảng So sánh chữ cái Phê-ni-xi-Cổ Hy Lạp& chữ cái La Tinh Nguồn: Bùi Đẹp. Di sản văn hóa thế giới T3. NXB: Trẻ. Trang 77

b. Các hình thái văn học

- Dân ca: Hình thái văn học sớm nhất ở Hy Lạp là dân ca. Qua lao động sản xuất và đời sống thực tiễn, nhân dân lao động đã nói lên những tình cảm và tâm tƣ của mình qua những sáng tác ca dao và tục ngữ. Những câu ca dao và tục ngữ đó dần dần đƣợc chỉnh lý và bổ sung trở thành hình thái văn học xƣa nhất .

- Thần thoại : Là một trong những hình thái văn học xuất hiện sớm nhất ở Hy Lạp. Mô-tô-lô-gia. Mi-tô-lô-gia đƣợc cấu tạo bởi 2 từ: Mi-tôx (truyền thuyết, huyền thoại) và Lô-gôx (ngôn từ, truyện kể). Tiếng Hy Lạp là một tập hợp, tổng thể những chuyện kể dân gian truyền miệng với những nội dung hoang đường, huyền hoặc kì ảo, gồm những truyện sáng tạo và thế giới, các đấng thần linh, các anh hùng dũng sĩ Hy Lạp…

Thần thoại phản ánh nguyện vọng của nhân dân trong cuộc đấu tranh với thiên nhiên, giải thích các hiện tƣợng tự nhiên, phản ánh cuộc sống lao động và những hoạt động đời thường của chính người Hy Lạp.

Thần thoại Hy Lạp đã hình thành và phát triển trong suốt chiều dài lịch sử Hy Lạp (từ thời kỳ văn minh C-rét – My-xen cho tới những năm tháng cuối cùng của sự phồn vinh của các quốc gia thành bang) xuất phát từ thực trạng

kinh tế, xã hội, từ những tiết học phong phú, đa dạng. Do vậy, ở Hy Lạp, ngay từ đầu, thần thoại vừa mang tính lịch sử xác thực, phản ánh thực trạng từ xã hội vừa đậm đà chất hoang đường, duy trì và triết lí. Nhưng nhìn chung, thần thoại Hy Lạp dù hoang đường, dù có thần, thánh, nhưng ít bị tôn giáo đồng hóa, hòa vào văn học, nghệ thuật, đồng thời chính nó lại cung cấp cho văn học nghệ thuật một nguồn đề tài phong phú.

Thần thoại Hy Lạp giải thích về nguồn gốc vũ trụ, nguồn gốc các thần linh . thoạt đầu là Kha-ôx, một vực thẳm vô cùng, vô tận, hung dữ nhƣ biển khơi, tối đen, lang thang, hoang dã. Kha-ôx sinh Ga-ia – tiếng Hy Lạp là đất mẹ – với bộ ngực nở nang, nền móng vững chắc của muôn loài. Ga-ia và Kha-ôx sinh ra E - rép (chốn tối tâm vĩnh cửu), Nix (đêm tối ), Tar-tar (địa ngục), E-ôx (tình yêu), U-ra-nôx (bầu trời sao lấp lánh ), Môn-ta-nhơ (núi non), (biển cả)…

Dớt (Jupter) – người Hy Lạp coi là thần chủ đã xếp lại thế giới thần linh và chọn đỉnh Ô-lim-pơ làm nơi trú ngụ của các thần. Con người được các thần sáng tạo ra sao cùng, thần thoại Hy Lạp kể rằng chính thần P-rô-tê-mê đã lấy đất sét tạo nên con người, rồi sau đó đã đánh cắp lửa của Dớt cho con người tồn tại. Bảo trợ cho các thành bang, cho các ngành nghề có nữ thần A-tê-na - thần bảo trợ cho bang A-ten. Đi-ô-ni-dốt – thần bảo trợ cho nhề làm nho và sản xuất rƣợu, A-pô-lôn – thần ánh sáng và nghệ thuật, A-ph-rô-đit – nữ thần tình yêu và sắc đẹp …

Các thần được mô tả trong thần thoại rất gần gũi với cuộc sống đời thường của người dân Hy Lạp: cũng thương yêu, ghen ghét, cũng giận, đau khổ, nhân từ, độc ác, thủy chung, đố kỵ, đa tình, đa thê, ích kỉ, bội ƣớc … thậm chí cũng bị chảy máu khi bị trúng thương .

- Thơ: là một thể văn học phổ biến và rất thành công của người Hy Lạp.

người đầu tiên đặt nền móng cho nền văn học Hy Lạp là Hô-me, nhà thơ vĩ đại, tác giả của hai tập thơ anh hùng ca I-li-at (dài 12.110 câu thơ và cũng chia thành 24 khúc ca) và Ô-đi-xê (783 câu thơ , chia thành 24 khúc ca) là hai tập thơ lớn nhất và xuất hiện sớm nhất từ lâu đã được coi là hai tập trường ca, hai tập sử thi có giá trị trong văn đàn Hy Lạp.

Gia phả các thần‖ ―Lao động và thời tiết‖ của Hê-di-ốt – người xứ Bê-ô- xi (thế kỷ VIII TCN) đã phản ánh thời kỳ Hy Lạp lúc các thành bang mới ra đời . Từ thế kỷ VII, VI TCN, thơ trữ tình bắt đầu xuất hiện trên thi đàn Hy Lạp với những nhà thơ tiêu biểu: Pa-rốt, Tê-ôn-hit, Ac-ki-lốc, Pan-h-da, và nữ thần Xa-phô (là nhà thơ, nhà giáo 10 nổi tiếng với những bài thơ trữ tình đƣợc người Hy Lạp coi là ―nàng thơ thứ 10‖ sau 9 nàng thơ trong thần thoại) .

- Kịch thơ: là một trong những di sản văn học vô giá của người Hy Lạp đậm đà tính nhân đạo, chủ nghĩa nhân văn có ý nghĩa giáo dục và chính trị.

Hàng năm, vào mùa xuân, người Hy Lạp thường tổ chức những ngày lễ hội,

khóac áo da cừu, hóa trang theo mặt nạ, ca hát diễn lại những sự tích thần thoại.

Nghệ thuật ca kịch bắt đầu từ đó.

Từ thế kỷ V TCN, ở Hy Lạp đã xuất hiện nhiều nhà soạn kịch kiệt xuất với những tác phẩm tuyệt tác gồm hai thể loại: bi kịch và hài kịch. Lúc này , Hy Lạp đã có những nhà hát lớn có sức chứa 17.000 người (kịch trường A-ten), 44.000 người ( kịch trường ở Mê-ga-lô-pô-lít).

c. Sử học

Từ thế kỷ V TCN, người Hy Lạp bắt đầu có lịch sử thành văn và xuất hiện những nhà viết sử chuyên nghiệp. Sử học Hy Lạp đƣợc coi là cội nguồn của lịch sử phương Tây .

Hê-rô-đốt (484 – 420 TCN) là một trong những nhà sử học có tên tuổi, ông không phải là công dân tự do A-ten mà là người Mê-téc, sống ở A-ten và là bạn của nhà chính trị nổi tiếng của nền dân chủ A-ten – Pêriclét ( 459- 492 TCN), là bạn của nhà kịch thơ lỗi lạc, Xô-phốc-lơ ( 497 -406 TCN).

Hê-rô-đốt là một người thông minh, có kiến thức uyên bác, lại từng đi du lịch ở Ai Cập, Ba-bi-lon, Tiểu Á, Hắc Hải … ông đã viết nhiều tác phẩm sử học giá trị, trở thành ông trở thành ông thủy tổ cua nền sử học Phương Tây.

Hê-rô-đốt có 9 tác phẩm viết về lịch sử At-xi-ri, Ba Tƣ, Ai Cập, Ba-bi-lon và nhất là ―Lịch sử cuộc chiến tranh Hy Lạp – Ba Tư‖ viết xong năm 430 TCN.

Tác phẩm ra đời sau cuốn sử ― Xuân Thu‖ của Khổng Tử khoảng vài chục năm do vậy nó còn đƣợc coi là những bộ sử đầu tiên của thế giới cổ đại. Những tác phẩm này ca ngợi tinh thần dũng cảm, yêu nước vì nền độc lập tự do của người Hy Lạp, ca ngợi những chiến thắng lẫy lừng của người Hy Lạp ở Ma-ra-tông, Téc-mô-phin, Sa-la-min … và đề cao tính chất chính nghĩa của cuộc chiến về phía người Hy Lạp.

Tu-xi-đit (460-395 TCN), là nhà sử học đầu tiên làm việc với thái độ nghiêm túc, có sàng lọc: tác giả bộ sử nỗi tiếng ―Lịch sử cuộc chiến tranh Pê- lô-pô-ne”. Ông là nhà sử học đầu tiên ghi chép các sự kiện lịch sử trên cơ sở có khảo sát, nghiên cứu và chỉnh lý, có phê phán và giải thích các sự kiện lịch sử (bằng điều kiện tự nhiên, điều kiện vật chất, chế độ chính trị và tổ chức xã hội đương thời). Bản thân Tu-xi-đít đã từng là chỉ huy quân sự A-ten trong cuộc chiến Pê-lô-pô-ne.

Tác phẩm ―Lịch sử Hy Lạp‖ của Xê-nô-phôn (430 – 359 TCN) dù còn có những hạn chế, nhƣng cũng đã cung cấp cho các nhà sử học sau này nhiều tài liệu quý báo về tiến trình lịch sử Hy Lạp cho đến trước thế kỷ V TCN.

Một phần của tài liệu Giáo trình lịch sử thế giới cổ đại (Trang 124 - 127)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(196 trang)