Thời Xuân Thu –Chiến Quốc

Một phần của tài liệu Giáo trình lịch sử thế giới cổ đại (Trang 87 - 92)

Bài 5. TRUNG QUỐC CỔ ĐẠI

5.3. TRUNG QUỐC THỜI CỔ ĐẠI

5.3.4. Thời Xuân Thu –Chiến Quốc

Năm 770 trước công nguyên, Chu Bình Vương dời đô sang Lạc Ấp ở phía đông, giai đoạn Đông Chu bắt đầu.

Giai đoạn Đông Chu còn đƣợc gọi là Xuân Thu - Chiến Quốc vì lịch sử của Trung Quốc thời kỳ này đƣợc phản ánh qua hai cuốn sách: sách Xuân Thu và sách Chiến Quốc. Về niên đại của Xuân Thu và Chiến Quốc có hai ý kiến khác nhau:

- Thời Xuân Thu: có ý kiến từ 722 – 481 trước công nguyên (lấy theo niên đại của sách Xuân Thu), ý kiến khác cho bắt đầu từ đời Đông Chu, tức là từ 770 – 475 trước công nguyên.

- Thời Chiến Quốc: Lấy theo sách Chiến quốc thì từ năm 403 – 221 trước công nguyên, có ý kiến khác thì lấy kế ngày thời Xuân Thu, tức năm 475 – 221 trước công nguyên.

a. Sự phát triển kinh tế thời Xuân Thu - Chiến quốc

Từ thời Xuân Thu, sắt bắt đầu đƣợc sử dụng ở Trung Quốc. Ở một số nước trong thời gian này đã có lò luyện sắt: nước Ngô có lò luyện sắt dùng đến sức lao động của 300 người, nước Tấn người ta đúc một chiếc đỉnh lớn và trên đỉnh khắc toàn bộ luật pháp của nước Tấn gọi là ―hình đỉnh‖.

Sau thời Chiến quốc, nghề luyện sắt và kỹ thuật luyện sắt phát triển cao hơn, đồ dùng bằng sắt đƣợc phổ biến rộng rãi hơn so với thời Xuân Thu. Các nước đều có những trung tâm luyện sắt, Hàm Đan nước Triệu, Uyển nước Sở, Đường Khê nước Hàn, Lâm Truy nước Tề,... là những nơi sản xuất sắt nổi tiếng.

Do nghề luyện sắt phát triển, một số nước đặt ra chức ―thiết quan‖ chuyên môn quản lý kinh doanh ngành luyện sắt và thu thuế bằng sắt.

Nhờ công cụ bằng sắt phổ biến nhƣ cày, xẻng, liền,...nên đã tạo ra điều kiện thuận lợi cho việc khai khẩn đất hoang và cho việc nâng cao năng xuất lao động trong nông nghiệp. Thời kỳ này, nhiều công trình thuỷ lợi lớn cũng đƣợc xây dựng như nhà nước Ngô cho đào hệ thống kênh nối Trường giang và sông Hoài với các con sông ở gần lưu vực Hoàng Hà, nước Tần đắp đê Đô Giang tưới cho cả một vùng rộng lớn... Ngoài ra, trong thời Xuân Thu, người Trung Quốc cũng đã biết dùng súc vật làm sức kéo.

Thủ công nghiệp thời Xuân Thu - Chiến quốc cũng tương đối phát triển, biểu hiện chủ yếu là kỹ thuật đƣợc cải tiến, nhiều sản phẩm mới ra đời và một số ngành mới xuất hiện.

Trong các nghề thủ công truyền thống, nghề làm đồ đồng thau có nhiều cãi tiến rõ rệt, sản phẩm làm ra thánh thoát, đƣợc trang trí đẹp và công phu hơn trước. Lúc này, ngoài những sản phẩm có từ thời kỳ trước còn chế tạo được một số sản phẩm mới như: kiếm ngắn, gương đồng,.... Một số nghề thủ công mới xuất hiện nhƣ nghề luyện sắt, nghề sơn,....

Trên cơ sở phát triển của sản xuất nông nghiệp và thủ công nghiệp, thương nghiệp cũng phát đạt hơn. Sự trao đổi hàng hoá trong một nước cũng như giữa các nước được mở rộng và tăng cường, nhiều thành thị lớn xuất hiện như: Lâm Truy của nước Tề, Hàm Đan nước Triệu, Hàm Dương nước Tần, Khai Phong nước Ngụy… Trên thị trường các nước có trưng bày đủ đặc sản của các nơi như các nước ở miền đông, trân châu, ngà voi ở miền nam, da tê ngưu miền tây, ngựa miền bắc…

Đề đáp ứng như cầu phát triển thương nghiệp, các thành thị lớn tự chế ra

đã thịnh hành. Tiền thường đúc bằng đồng, cũng có loại bằng vàng, có mang tên thành thị hoặc nước, hình thức trọng lượng và giá trị tiền tệ các nước rất khác nhau.

Như vậy, dưới thời Xuân Thu – Chiến quốc tuy bị chiến tranh tàn phá nặng nề nhƣng nền kinh tế vẫn phát triển, công cụ bằng sắt đƣợc phổ biến rộng rãi, diện tích canh tác đƣợc mở rộng, nhiều công trình thủy lợi lớn đƣợc xây dựng, thủ công nghiệp, thương nghiệp đều phát triển.

b. Sự thay đổi về quyền sở hữu ruộng đất và quan hệ giai cấp

- Thời Xuân Thu, chế độ ruộng đất của nhà nước dần dần tan rã, ruộng tư xuất hiện ngày càng nhiều.

Trong thời Tây Chu, khi vua Chu phân phong ruộng đất cho các chƣ hầu dựa vào quan hệ họ hàng và quan hệ giữa Tôn chủ và Bồi thần để ràng buộc, nhƣng đến thời Xuân Thu quan hệ họ hàng đã xa xôi và nhà Chu không còn đủ thế lực để bắt những người kế thừa đất phong thực hiện nghĩa vụ của họ. Vì vậy, trên thực tế các nước chư hầu coi lãnh địa được phong cũng như đất đai mà họ thôn tính các nước khác đều là của họ, còn trong các nước chư hầu, thái ấp của các Khanh, Đại phu cũng dần biến thành ruộng đất tƣ của họ.

Chế độ Tỉnh điền cũng tan rã, do công cụ sản xuất tiến bộ và số dân lao động tăng nên rất nhiều đất hoang đƣợc khai khẩn, đồng thời, do kỹ thuật sản xuất tiến bộ, việc đầu tƣ công sức vào ruộng đất cũng khác nhau, nông dân không muốn thực hiện việc định kỳ chia lại ruộng đất, dần dần ruộng đất tƣ hữu bắt đầu xuất hiện, hiện tương mua bán ruộng đất ra đời càng thúc đẩy chế độ ruộng đất tƣ phát triển nhanh chóng.

Sự xuất hiện của chế độ ruộng đất tƣ đã dẫn đến sự phân hóa trong giai cấp thống trị. Do có ruộng đất riêng, một số Khanh, Đại phu, Sĩ đã biến thành những địa chủ mới.

Giai cấp nông dân cũng bị phân hóa do sự tan rã của chế độ tỉnh điền. Số còn giữ được ruộng đất được chia trước kia hoặc tự khai khẩn thêm một ít, trở thành nông dân tự canh, họ phải nộp thuế 1/10 cho nhà nước bằng sản phẩm, đồng thời các việc phục dịch khác (lực dịch, binh dịch,…) vẫn phải thực hiện.

Bộ phận nông dân không giữ đƣợc ruộng đất hoặc còn giữ đƣợc nhƣng ít thì phải lĩnh canh thêm ruộng đất của địa chủ, họ trở thành nông dân lĩnh canh, phải nộp tô 5/10 cho chủ ruộng.

Do các ngành nghề thủ công đƣợc mở rộng nên bấy giờ đã xuất hiện tầng lớp thợ thủ công tƣ nhân, họ có thể vẫn sống ở nông thôn, lập thành các làng nghề thủ công nhƣng phần lớn chuyển lên sống ở thành thị và tổ chức các xưởng thủ công ở thành thị, sống chủ yếu bằng nghề thủ công.

Tầng lớp đại thương nhân xuất hiện trên cơ sở nhiều thành thị lớn ra đời.

Những thương nhân ở Trung Quốc hầu hết đều làm nghề cho vay nặng lãi và

đầu cơ tích trữ lương thực, nuôi nhiều nô lệ phục vụ cho công việc vận chuyển hàng hóa. Một số quí tộc ở Trung Quốc cũng noi gương theo con đường của các thương nhân, tiến hành buôn bán, cho vay nặng lãi. Đặc biệt, một số đại thương nhân, lợi dụng địa vị kinh tế của mình để tiến hành thao túng chính quyền nhƣ nhà buôn kiêm địa chủ nổi tiếng Lã Bất Vi (nước Triệu) thao túng chính quyền nước Tần, nhà buôn Mạnh Thường Quân thao túng chính quyền nước Tề,….

Thời Xuân Thu – Chiến quốc, tầng lớp kẻ sĩ ngày càng nhiều. Họ xuất thân từ hai nguồn chủ yếu, một là từ những gia đình quí tộc bị phá sản, hai là từ những bình dân lớp trên khá giả. Tầng lớp sĩ là tầng lớp có tri thức văn hóa, đồng thời cũng là tầng lớp có nhiều kinh nghiệm trong đấu tranh chính trị, có nhiều thủ đoạn, có tài thao lược, tài thuyết khách. Tầng lớp này thường được vua chúa, quan lại sử dụng, nếu có công sẽ được phong làm quan, thường gọi là

―thực khách‖ (hay du sĩ).

Ở Trung Quốc nhiều vua chúa nuôi rất nhiều kẻ sĩ, đặc biệt có bốn người nuôi nhiều kẻ sĩ nhất là Mạnh Thường Quân (nước Tề), Tín Lăng Quân (Ngụy), Bình Nguyên Quân (Triệu), Xuân Tần Quân (Sở) và vua Tần Doanh Chính (tức Tần Thủy Hoàng).

Giai cấp nô lệ cũng ít nhiều thay đổi, cụ thể số lƣợng nô lệ có giảm đi do cấm việc tuẫn táng nô lệ theo chủ, một số nô lệ đƣợc giải phóng do nhu cầu của sản xuất hoặc chiến tranh, giá cả của nô lệ bây giờ đắt hơn thời Tây Chu, tuy nhiên vai trò chủ yếu của nô lệ vẫn là hầu hạ trong cung đình họăc gia đình của chủ.

c. Tình hình chính trị và sự thống nhất Trung Quốc của nhà Tần Trong thời Xuân Thu – Chiến quốc lãnh địa của nhà Chu ngày càng sa sút do cha con tranh nhau ngôi vua, do đất đai của vua Chu bị lấn chiếm nên ngày càng hẹp, về danh nghĩa tuy vẫn là vua chung cả nước, nhưng thực tế thì không đủ sức điều khiển các nước chư hầu nữa. Trong khi đó thế lực của các vua chư hầu ngày càng mạnh, các nước chư hầu đó thường xuyên xung đột với nhau tranh cướp đất và dân cư của nhau, sau tiến tới các nước chư hầu lớn bắt các nước chư hầu nhỏ triều cống và đặt thành chế độ ―bá chủ chư hầu‖.

Thời Xuân Thu, năm vua chƣ hầu hùng mạnh nhất đã thay nhau làm bá chủ, tạo thành cục diện ―ngũ bá‖, đó là Tề Hoàn Công, Tấn Văn Công, Sở Trang Vương, Ngô Phù Sai và Việt Câu Tiễn. Các nước bá chủ đặt ra lệ ―triều sính‖ và ―minh hội‟ để khống chế và bóc lột các nước nhỏ. (triều sính‖ là các nước chư hầu phải nộp cho nước bá chủ, còn minh hội họp chư hầu để bầu ra minh chủ).

Cuối thời Xuân Thu, nước Tấn bị ba gia đình quý tộc họ Hàn, Triệu, Ngụy cướp chính quyền, chia thành ba nước : nước Hàn, nước Triệu và nước Ngụy. Sự kiện này là mốc kết thúc thời đại Xuân Thu.

Sang thời Chiến quốc (475-221 TCN), một số lớn các nước chư hầu nhỏ được thành lập từ thời Tây Chu đã bị tiêu diệt, chỉ còn lại bảy nước lớn là Hàn, Triệu, Ngụy, Tề, Yên, Sở, Tần và một số nước nhỏ nằm đệm giữa bảy nước lớn này. Cuộc chiến tranh giữa các nước chư hầu này có quy mô lớn hơn, mức độ ác liệt hơn mà lịch sử gọi là ―Thất quốc tranh hùng‖. Trong bảy nước lớn đó chỉ có nước Tần là ở phía tây của Hàm Cốc Quan còn sáu nước kia ở phía đông nên người ta thường gọi chung là ―Sơn đông lục quốc‖.

Lúc đầu nước Tần vốn tương đối lạc hậu nhưng sau đó nhanh chóng trở thành một nước giàu mạnh nhờ cải cách của Thương Ưởng .

Thương Ưởng là một nhà chính trị có tài theo đường lối Pháp gia, đến nước Tần được Tần Hiếu Công trọng dụng. Năm 359 TCN, Hiếu Công cho ban hành các luật cải cách của Thương Ưởng với các nội dung sau :

+ Tăng cường trật tự trị an bằng cách lập hộ tịch nhân dân, 5 nhà họp thành một ngũ, 2 ngũ họp thành 1 thập, các gia đình tự quản lý lẫn nhau và mọi việc thưởng phạt đều chịu chung với nhau.

+ Khuyến khích sản xuất nông nghiệp nhƣ cày cấy, dệt vải, nhà nào sản xuất nhiều thì miễn lao dịch, ai bỏ đi buôn hoặc lười biếng để bị đói thì cả nhà biến thành nô lệ, con trai đã có gia đình phải ra ở riêng để phát triển sản xuất.

+ Xóa bỏ đặc quyền của quí tộc bằng cách hễ ai có công thì có tước vị, công lớn thì tước vị lớn, dựa theo tước vị để hưởng ruộng đất và nô tì còn con quí tộc, nếu không có chiến công sẽ không được phong tước.

Đến năm 350 TCN, Thương Ưởng lại đề ra các chủ trương mới như nhập các thôn ấp lại thành huyện, nhà nước cử quan Lệnh và Thừa đến cai trị;

Bỏ chế độ tỉnh điền, ruộng đất được tự do mua bán; Thống nhất đo lường về độ dài, dung dịch và trọng lƣợng.

Cải cách của Thương Ưởng một mặt khuyến khích nông dân phát triển sản xuất, trọng thưởng tướng sĩ có công, một mặt hạn chế thế lực của quí tộc, tăng cường quyền lực của vua. Chính cải cách này đã làm cho nước Tần nhanh chóng trở thành một nước giàu mạnh.

Sự hùng mạnh của nước Tần làm cho 6 nước phái đông lo sợ, họ đã họp thành một liên minh 6 nước gọi là ―Hợp tung‖ theo sáng kiến của du sĩ Tô Tần, nhưng giữa các nước này vốn có nhiều mâu thuẫn nên liên minh quân sự đó cũng tồn tại trong ba năm rồi bị phá vỡ. Để đối phó lại kế ―Hợp tung‖, Tướng quốc nước Tần là Truơng Nghi đã bày ra kế ―Liên hoành‖ bằng cách dụ dỗ, mua chụộc, gây sức ép, xúi giục các nước đó đánh nhau hoặc lôi kéo một số nước ở xa về phe mình để đánh lại một số nước ở gần. Ngoài các nước nhỏ đã bị các nước lớn thôn tính, Trung Quốc bây giờ còn lại 7 nước lớn và Tần là lực lƣợng vô địch. Cuối cùng, chỉ trong vòng 10 năm, nhà Tần lần lƣợt đánh bại 6 nước: diệt Hàn (230 TCN), Triệu (228 TCN), Ngụy (225TCN), Sở (223TCN),

Yên (222 TCN) và Tề (221 TCN). Thời Chiến quốc đến đây chấm dứt. Nhà Tần đã thống nhất Trung Quốc, mở đầu cho chế độ phong kiến của đất nước này.

Một phần của tài liệu Giáo trình lịch sử thế giới cổ đại (Trang 87 - 92)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(196 trang)